1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ HAY đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường không khí và đề xuất phương án xử lý trong nhà máy sản xuất phân bón tại KCN phú thành, xã phú thành, huyện thủy, tỉnh hòa bình​

103 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường không khí và đề xuất phương án xử lý trong nhà máy sản xuất phân bón tại KCN Phú Thành, xã Phú Thành, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình
Tác giả Trần Ngọc Hoàng
Người hướng dẫn PGS.TS. Đỗ Thị Lan
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Khoa học môi trường
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 3,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TRẦN NGỌC HOÀNG ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KHÔNG K

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN NGỌC HOÀNG

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ VÀ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ TRONG NHÀ MÁY SẢN XUẤT PHÂN BÓN TẠI KCN PHÚ THÀNH, XÃ PHÚ THÀNH, HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Thái Nguyên, Năm 2020

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN NGỌC HOÀNG

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ VÀ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ TRONG NHÀ MÁY SẢN XUẤT PHÂN BÓN TẠI KCN PHÚ THÀNH, XÃ PHÚ THÀNH, HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH

Ngành: Khoa học môi trường

Mã số ngành : 8 44 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ THỊ LAN

Thái Nguyên, Năm 2020

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 3

Tôi luôn luôn nỗ lực, cố gắng và trung thực trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn

Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sửa dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận văn

Trần Ngọc Hoàng

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Để hoàn thành được luận văn này, Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện để Tôi có cơ hội được học tập và nghiên cứu tại Trường

Tôi xin chân thành cảm ơn đến toàn thể quý thầy cô Khoa Môi trường, Phòng Quản Lý Sau Đại Học - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đã tận tình truyền đạt kiến thức, hướng dẫn Tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS.TS Đỗ Thị Lan

đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cám ơn đến Lãnh đạo và cán bộ của UBND huyện Lạc Thủy, các phòng ban chuyên môn Huyện, cùng bà con nhân dân nơi đây đã giúp đỡ tôi thu thập các tài liệu và số liệu phục vụ cho luận văn trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu trên địa bàn

Cuối cùng, Tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân

và bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên và giúp đỡ cho Tôi trong quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn

Trong thời gian nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan và khách quan nên không tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy, cô giáo, bàn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày …….tháng … năm 2020

Tác giả

Trần Ngọc Hoàng

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH xx

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học thực tiễn 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

CHƯƠNG I 4

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4

1.1.Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Khái niệm môi trường và ô nhiễm môi trường 4

1.1.2 Hiện trạng phân bón sử dụng tại Việt Nam 5

1.1.3 Tình hình tổng quan phân bón trên thế giới 17

1.1.3.1 Lịch sử phát triển và vòng đời ngành phân bón thế giới 17

1.3.2 Chuổi giá trị ngành phân bón trên thế giới 21

1.1.4 Tổng quan về tình hình ô nhiễm do phân bón trên thế giới và Việt Nam 24

1.2 Cơ sở pháp lý 28

1.3 Cơ sở thực tiễn 31

1.3.1 Xử lý mùi bằng Chế phẩm sinh học WEVIRO 36

1.3.2 Xử lý ô nhiễm mùi trong khí thải phương pháp hấp thụ 38

1.3.3 Xử lý ô nhiễm mùi trong khí thải phương pháp hấp Phụ 39

1.3.4 Xử lý ô nhiễm mùi trong khí thải phương pháp thiêu đốt 40

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 42

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 42

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 42

2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 42

2.3 Nội dung nghiên cứu 42

2.4 Phương pháp nghiên cứu 42

CHƯƠNG 3 46

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực thực hiện dự án 46

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 46

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 53

3.1.3 Mối tương quan của khu vực dự án với các đối tượng tự nhiên và kinh tế, xã hội xung quanh khu vực Dự án 55

3.1.4 Hiện trạng chất lượng các thành phần môi trường nước, không khí 56

3.2 Hiện trạng sản xuất của nhà máy 63

3.3 Hiện trạng ô nhiễm môi trường không khí tại nhà máy 71

3.3.1 Ô nhiễm Bụi và khí thải từ hoạt động của phương tiện giao thông 72

3.3.2 Bụi và mùi hôi từ các công đoạn sản xuất phân bón hữu cơ sinh học 75

3.3.3 Bụi và mùi hôi từ các công đoạn sản xuất phân bón NPK khoáng đa, trung lượng trộn hữu cơ dạng bột và viên nén 77

3.3.4 Mùi từ quá trình ủ hảo khí sinh khối phân hữu cơ 78

3.4 Đề xuất được các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường không khí 81

3.4.1 Giảm thiểu các tác động do bụi khí thải từ phương tiện vận chuyển nguyên vật liệu sản phẩm 82

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 7

sản xuất phân bón NPK khoáng đa, trung lượng trộn hữu cơ dạng bột và viên

nén 84

3.4.3 Giảm thiểu mùi từ hoạt động sản xuất ủ hảo khí sinh khối phân hữu cơ 87

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90

1 Kết luận 90

2 Kiến nghị 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trờng

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 9

Bảng 1 1 Tác hại của khí NO2 33

Bảng 2.1 Các chỉ tiêu đã đánh giá tại nhà máy……… 44

Bảng 3 1 Tọa độ các điểm mốc ranh giới khu đất dự án……… 46

Bảng 3.2 Lượng mưa trung bình các tháng trong năm 49

Bảng 3.3 Số giờ nắng các tháng trong năm 49

Bảng 3.4 Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm 50

Bảng 3.5 Độ ẩm tương đối trung bình các tháng trong năm 51

Bảng 3.6 Kết quả phân tích môi trường không khí xung quanh tại khu vực thực hiện Dự án 56

Bảng 3.7 Kết quả phân tích chất lượng nước mặt 58

Bảng 3.8 Kết quả phân tích chất lượng nước dưới đất 60

Bảng 3.9 Kết quả phân tích chất lượng đất khu vực thực hiện Dự án 61

Bảng 3 10 Danh mục sản phẩm của nhà máy 63

Bảng 3.11 Nguyên liệu, hóa chất sử dụng cho quá trình sản xuất 69

Bảng 3.12 Danh mục máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất ở Nhà máy 70

Bảng 3.13 Các nguồn gây ô nhiễm không khí chính hiện nay 72

Bảng 3.14 Lượng xe ra vào nhà máy 73

Bảng 3.15 Hệ số ô nhiễm do khí thải giao thông 74

Bảng 3.16 Tải lượng ô nhiễm không khí của các phương tiện giao thông 74

Bảng 3.17 Nồng độ bụi tại một số vị trí khu vực sản xuất phân bón 75

Bảng 3.18 Nồng độ các chất khí phát sinh trong khu vực sản xuất 76

Bảng 3.19 Nồng độ bụi đặc trưng tại một số công đoạn sản suất phân bón NPK khoáng đa, trung lượng trộn hữu cơ dạng bột và viên nén 77

Bảng 3.20 Nồng độ các chất khí phát sinh trong khu vực sản xuất phân bón NPK khoáng đa, trung lượng trộn hữu cơ dạng bột và viên nén 78

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Bảng 3 22 Tổng hợp kết quả ý kiến người dân 80 Bảng 3.23 Thông số kỹ thuật của thiết bị lọc bụi túi vải 85 Bảng 3.24 Nồng độ bụi tại một số vị trí khu vực sản xuất phân bón 86 Bảng 3.25 Nồng độ bụi đặc trưng tại một số công đoạn sản suất phân bón NPK khoáng đa, trung lượng trộn hữu cơ dạng bột và viên nén sau khi 87 Bảng 3.26 Nồng độ các chất khí phát sinh trong khu vực ủ men tại nhà máy 89

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 11

Hình 1 1 Sản lượng tiêu thụ phân bón và tốc độ tăng trưởng trung bình năm

1961 – 2018 7

Hình 1 2 Bản đồ lượng tiêu thụ phân bón trên một hecta đất canh tác 8

Hình 1 3 Bản đồ lượng tiêu thụ phân bón trên một hecta đất canh tác các quốc gia trong khu vực 8

Hình 1 4 Bản đồ tăng trưởng nhu cầu tiêu thụ phân bón thế giới từ những năm 1960 19

Hình 1 5 Một số sự kiện ảnh hưởng đến ngành phân bón thế giới 20

Hình 1 6 Cung - cầu phân bón giai đoạn 2015-2016 trên thế giới 20

Hình 1 7 Năng lực sản xuất phân bón của các quốc gia trên thế giới 21

Hình 1 8 Chuổi giá trị ngành phân bón trên thế giới 22

Hình 1 9 Phân bố nguyên liệu sản xuất phân bón trên toàn cầu 22

Hình 1 10 Một số hình ảnh tại nhà máy sản xuất phân bón 32

Hình 1.11 Công nghệ xử lý khi thải bằng phương pháp hấp thụ 38

Hình 1.12 Công nghệ xử lý khi thải bằng phương pháp hấp Phụ 39

Hình 1.13 Công nghệ xử lý khí thải bằng phương pháp thiêu đốt 41

Hình 3.1.Vị trí của Dự án và mối tương quan với các đối tượng xung quanh……… 47

Hình 3 2 Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ sinh học 66

Hình 3 3 Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất phân bón NPK khoáng đa, trung lượng trộn hữu cơ dạng bột và viên nén 68

Hình 3 4 Sơ đồ tổ chức của Công ty cổ phần vệ sinh môi trường đô thị Hà Nội 71 Hình 3 5 Quy trình xử lý bụi tại khu vực nghiền, trộn và sàng 84

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong cuộc sống không ngừng phát triển hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường đang là vấn đề nhức nhối đối với nhà nhà, người người Không riêng gì tại Việt Nam, tại mỗi quốc gia, mỗi nước, mỗi địa phương đều xảy ra tình trang ô nhiễm Có thể là ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm môi trường nước, ô nhiễm biển, ô nhiễm mùi hôi…

Để đưa ra bàn luận về vấn đề ô nhiễm môi trường, chúng ta nhắc tới rất nhiều, rất nhiều nguyên nhân, từ chủ quan tới khách quan, từ con người tới thiên nhiên, từ ý thức tới chính sách luật pháp xã hội là điều mang theo nhiều trăn trở

Sự nghiêm trọng của tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng thấy rõ hơn và mạnh hơn bao giờ hết Nó không chỉ ảnh hưởng gián tiếp tới thiên nhiên mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng cuộc sống và gây biến đổi khí hậu nghiêm trọng

Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp phân bón là một trong những vật

tư quan trọng và được sử dụng với một lượng khá lớn hàng năm Phân bón đã góp phần đáng kể làm tăng năng suất cây trồng, chất lượng nông sản, đặc biệt

là đối với cây lúa ở Việt Nam Theo đánh giá của Viện Dinh dưỡng cây trồng Quốc tế (IPNI), phân bón đóng góp khoảng 30-35% tổng sản lượng cây trồng

Tuy nhiên, phân bón cũng chính là những loại hoá chất nếu được sử dụng đúng theo quy định sẽ phát huy được những ưu thế, tác dụng đem lại sự mầu mỡ cho đất đai, đem lại sản phẩm trồng trọt nuôi sống con người, gia súc

Ngược lại nếu không được sử dụng đúng theo quy định, phân bón lại chính là một trong những tác nhân gây nên sự ô nhiễm môi trường sản xuất nông nghiệp và môi trường sống

Ô nhiễm mùi là một dạng ô nhiễm không khí vô cùng phức tạp bởi

lẽ mùi được tạo ra từ sự kết hợp của hàng trăm hợp chất khác nhau với nồng độ rất thấp Ô nhiễm mùi được đặc biệt quan tâm do đặc tính mùi hôi của nó,

sự tác động đến sức khỏe con người, và ngoài ra chúng còn có khả năng phát tán trên diện rất rộng Các ảnh hưởng của nó đến sức khỏe là dị ứng da, cay

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 13

mắt, mệt mỏi, nhức đầu, mất ngủ, chóng mặt… đã được báo cáo Mặt khác, sự

ô nhiễm mùi này có thể phát tán trên một diện rộng ở mức độ địa phương hoặc khu vực

Sự ô nhiễm mùi có thể là do một hợp chất bay hơi riêng lẻ, hoặc là do một hỗn hợp của nhiều hợp chất Mũi người thường rất nhạy cảm, dù cho chất ô nhiễm mùi có nồng độ rất thấp thì vẫn khó có thể đạt chuẩn, ví dụ như ngưỡng mùi đối với chất ô nhiễm thông thường mà mũi người có thể nhận biết được là 0,00001 ppm, và mũi người có khả năng phân biệt đến hơn 5 triệu loại mùi khác nhau Bên cạnh đó, các tiêu chuẩn và văn bản hướng dẫn để đánh giá sự ô nhiễm mùi hiện nay còn thiếu và chúng chưa có sự đồng bộ với nhau Vì thế, việc xác định nguồn gốc phát sinh mùi, đo đạc nồng độ mùi cũng như việc kiểm soát ô nhiễm mùi là rất khó khăn

Vì những vẫn đề cấp thiết nêu trên, dưới sự hướng dẫn của giảng viên

Khoa học PGS.TS Đỗ Thị Lan, tôi đã nghiên cứu và lựa chọn đề tài “Đánh giá

mức độ ô nhiễm môi trường không khí và đề xuất phương án xử lý trong nhà máy sản xuất phân bón tổng hợp tại KCN Phú Thành, xã Phú Thành, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình”

2 Mục tiêu đề tài

- Đánh giá thực trạng sản xuất của nhà máy phân bón

- Đánh giá các tác động gây ô nhiễm môi trường không khí, các tác động gây ô nhiễm

- Đề xuất các giải pháp giảm thiểu Ô nhiễm môi trường không khí

3 Ý nghĩa khoa học thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

Hướng nghiên cứu xử lý mùi hôi tại các nhà máy này là vấn đề thời sự mà các nhà khoa học trên thế giới đang quan tâm Nghiên cứu này góp phần làm sáng tỏ thực trạng ô nhiễm mùi tại các nhà máy, làm cơ sở cho các nghiên cứu khoa học khác

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo về công tác xử lý mùi hôi tại các nhà máy phân bón Đề tài góp phần làm

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

sáng tỏ cơ sở lý luận và khoa học trong công tác quản lý ô nhiễm môi trường không khí tại Việt Nam

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Công nghệ sẽ được áp dụng tại Nhà máy sản xuất phân bón tổng hợp và các nhà máy sản xuất phân bón hiện nay nhằm giảm thiểu mùi hôi trong không khí, hạn chế mức ảnh hưởng thấp nhất tới môi trường Đề tài sẽ góp phần giảm thiểu ô nhiễm Môi trường không khí trong khu vực

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 15

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Hiện nay tiến bộ khoa học kỹ thuật mới được áp dụng vào sản xuất trong ngành phân bón, các doanh nghiệp cung cấp cho nhân dân ngày càng phong phú và đa dạng nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị cho sản phẩm cây trồng ngày càng có tính cạnh tranh, cây trồng cần phải được cung ứng đầy đủ phân bón nhất là phân hữu cơ Tình hình hiện nay việc sử dụng phân vô cơ của người dân là quá nhiều đã làm cho đất ngày càng bạc màu và sản phẩm sản xuất ra khó đạt được tiêu chuẩn để cung cấp ra thị trường Cùng với quá trình phát triển và hội nhập của đất nước trong những năm qua, nền kinh tế nông nghiệp áp dụng khoa học kĩ thuật đang trên đà phát triển Nắm bắt được nhu cầu đó và với thế mạnh và kinh nghiệm của một tập thể, cùng với đó là tiềm lực tài chính, sức mạnh đoàn kết, quyết tâm đã thúc đẩy công ty hoạt động tốt, cung cấp cho thị trường những sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng mong muốn của người tiêu dùng và góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.1.1 Khái niệm môi trường và ô nhiễm môi trường

Môi trường: Theo khoản 1, điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt

Nam 2014: “ Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.”

(Quốc hội, 2014)

Ô nhiễm môi trường: Theo khoản 8, điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường

Việt Nam 2014: “ Là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật” (Quốc hội, 2014)

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Thành phần môi trường: Theo Khoản 2, Điều 3, Luật Bảo vệ môi

trường 2014: Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật

chất khác

Quan trắc môi trường: Theo Khoản 20, Điều 3, Luật Bảo vệ môi

trường 2014: Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về thành phần môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối

với môi trường

Ô nhiễm mùi: Theo tạp chí môi trường Ô nhiễm Mùi là dạng ô nhiễm

không khí rất phức tạp do mùi được tạo ra từ sự kết hợp hàng trăm hợp chất khác nhau ở nồng độ rất thấp Ô nhiễm mùi được đặc biệt quan tâm vì đặc trưng mùi hôi của nó, khả năng tác động đến sức khỏe con người, và khả năng phát tán trên diện rất rộng

Ô nhiễm không khí: Theo tạp chí môi trường, Ô nhiễm không khí là sự

thay đổi lớn trong thành phần của không khí, chủ yếu do khói, bụi, hơi hoặc các khí lạ được đưa vào không khí, có sự tỏa mùi, làm giảm tầm nhìn xa, gây biến đổi khí hậu, gây bệnh cho con người và cũng có thể gây hại cho sinh vật khác như động vật và cây lương thực, nó có thể làm hỏng môi trường

1.1.2 Hiện trạng phân bón sử dụng tại Việt Nam

1.1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển ngành phân bón Việt Nam

Việt Nam là nước nông nghiệp với quá trình phát triển lâu đời Những thế

kỷ trước, người nông dân chủ yếu sử dụng phân bón hữu cơ tự chế từ tro, xác thực vật, phân chuồng,… để bón cho cây trồng Từ khi công nghiệp hóa chất bắt đầu phát triển, phân bón hóa học ra đời đã thúc đẩy ngành sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh mẽ, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng Ngành phân bón Việt Nam hình thành và phát triển theo 04 giai đoạn:

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 17

▪ Giai đoạn trước 1960: Ngành nông nghiệp kém phát triển do chiến tranh, người nông dân chỉ sử dụng phân hữu cơ tự chế để bón cho cây trồng

▪ Giai đoạn 1961 – 1980: Sản xuất và tiêu thụ phân Urê, lân ở mức thấp, các nhà máy phân bón ra đời: Nhà máy phân lân Văn Điển (1961), Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao (1962) Nhà máy đạm Hà Bắc (1975) – nhà máy đạm đầu tiên ở Việt Nam, cũng mới chỉ đáp ứng được 8% nhu cầu phân đạm

cả nước, vẫn phải nhập khẩu bổ sung từ Trung Quốc Tốc độ tăng trưởng nhu cầu phân bón giai đoạn này đạt CAGR = 6,2%/năm, nhu cầu kali cho cây trồng vẫn chưa được chú trọng

▪ Giai đoạn 1981 – 2000: Ngành phân bón đạt tốc độ tăng trưởng cao ở hầu hết các phân khúc, tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 10,1%/năm Đặc biệt,

sự ra đời của phân phức hợp NPK là một đóng góp rất quan trọng cho nền sản xuất nông nghiệp do đầy đủ chất dinh dưỡng và tiện lợi khi sử dụng, giúp tiết kiệm chi phí và công chăm sóc Giai đoạn này, các nhà sản xuất trong nước đầu tư công nghệ tiên tiến để gia tăng nguồn cung cả chất và lượng Ước tính, sản xuất toàn ngành tăng trưởng trung bình 22% giai đoạn 1991 - 1997, mức đầu tư toàn ngành tăng từ 63,5 tỷ đồng năm 1991 lên 102 tỷ đồng năm 1997

Tăng trưởng sản xuất đã nhanh chóng bù đắp phần nào nhu cầu thiếu hụt các mảng sản phẩm NPK, Urê, lân

▪ Giai đoạn 2001 – nay, ngành phân bón tiếp tục tăng trưởng nhưng tốc độ chậm lại so với giai đoạn trước Nhu cầu tiêu thụ phân bón đang có tốc độ tăng trưởng giảm dần, CAGR cả giai đoạn đạt 3,1%/năm Tiêu thụ phân bón cả nước tăng từ 6,5 triệu tấn năm 2002, đến năm 2018 đạt gần 11 triệu tấn, trong khi nguồn cung trong nước vẫn tiếp tục gia tăng Tính đến 6T/2018, cả nước có

735 cơ sở sản xuất kinh doanh phân bón được cấp phép với tổng công suất lên tới 29,5 triệu tấn/năm Trong đó, có 10 doanh nghiệp lớn thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem) và 2 doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Nam (PVN) chiếm phần lớn sản lượng phân bón hàng năm Còn lại là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chủ yếu tham gia vào phân khúc phân hỗn hợp NPK

Tuy vậy, phân Kali và SA vẫn phải phụ thuộc lớn vào nhập khẩu do trong

nước chưa có doanh nghiệp sản xuất

1.1.2.2 Vòng đời ngành phân bón Việt Nam

(Nguồn: báo cáo ngành phân bón tháng 09/2019)

Ngành phân bón Việt Nam đã bước vào giai đoạn bão hòa, tốc độ tiêu thụ sụt giảm nhanh chóng, CAGR giai đoạn 2001 – 2015 chỉ dao động từ 2,5%

– 3,9%/năm và giảm còn 1,96%/năm giai đoạn 2016 – 2018 Một số sản phẩm phân NPK, Urê, lân (chiếm gần 70% tổng nhu cầu phân bón) đã bắt đầu dư cung Sản xuất phân DAP trong nước đáp ứng 35% tổng nhu cầu, phần còn lại vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu Trong giai đoạn tới, việc triển khai các dự án NPK chất lượng cao thay thế sản phẩm nhập khẩu kỳ vọng tạo nền tảng tăng trưởng cho ngành phân bón trong nước Tuy nhiên mức độ cạnh tranh sẽ càng trở nên gay gắt, đòi hỏi các doanh nghiệp phải thay đổi công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng trưởng bền vững

Hình 1 1 Sản lượng tiêu thụ phân bón và tốc độ tăng trưởng trung bình

Trang 19

1.1.2.3 Vị thế ngành phân bón Việt Nam

( Nguồn: báo cáo ngành phân bón tháng 09/2019)

Trên thế giới, lượng tiêu thụ phân bón trên một hecta đất canh tác của Việt Nam ở mức khá cao Năm 2016, Việt Nam tiêu thụ 430 kg phân bón trên một hecta đất canh tác, chỉ sau một số quốc gia như New Zealand (1.717 kg/ha), Malaysia (1.539 kg/ha), Ai Cập (645,5 kg/ha), Trung Quốc (503 kg/ha) Mức tiêu thụ tại Việt Nam cao gấp 3,1 lần mức trung bình thế giới (138 kg/ha năm 2016)

Hình 1 3 Bản đồ lượng tiêu thụ phân bón trên một hecta đất canh tác

Hình 1 4 Bản đồ lượng tiêu thụ phân bón trên một hecta đất canh tác các

quốc gia trong khu vực

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

(Nguồn: báo cáo ngành phân bón tháng 09/2019)

So với các quốc gia sản xuất nông nghiệp trong khu vực, Việt Nam chỉ đứng sau Trung Quốc về mức độ tiêu thụ phân bón Các quốc gia còn lại tiêu thụ phân bón trên một hecta đất canh tác ở mức khá thấp: Ấn Độ (166 kg/ha), Thái Lan (162 kg/ha), Philippin (157 kg/ha), Campuchia (17,8 kg/ha) (số liệu năm 2016) Nhìn chung, lượng tiêu thụ phân bón của Việt Nam ở mức cao và đang chững lại Trong thời gian tới, khi diện tích đất canh tác không được mở rộng thêm, các kỹ thuật canh tác giúp tiết kiệm phân bón, nhu cầu phân bón ở Việt Nam được dự báo không tăng trưởng mạnh như giai đoạn trước

1.1.2.4 Nhu cầu phân bón

Nhu cầu phân bón ở Việt Nam hiện nay vào khoảng trên 10 triệu tấn các loại Trong đó, Urea khoảng 2 triệu tấn, DAP khoảng 900 000 tấn, SA 850.000 tấn, Kali 950.000 tấn, phân Lân trên 1,8 triệu tấn, phân NPK khoảng 3,8 triệu tấn, ngoài ra còn có nhu cầu khoảng 400 – 500.000 tấn phân bón các loại là vi sinh, phân bón lá

1.1.2.5 Tình hình sản xuất trong nước

Phân Urea, hiện tại năng lực trong nước đến thời điểm hiện tại là 2,340 triệu tấn/năm, bao gồm Đạm Phú Mỹ 800.000 tấn, Đạm Cà Mau 800.000 tấn, Đạm Hà Bắc 180.000 tấn, Đạm Ninh Bình 560.000 tấn Dự kiến cuối năm

2014, Đạm Hà Bắc nâng công suất từ 180.000 tấn lên 500.000 tấn/năm, cả nước sẽ có 2,660 triệu tấn/năm Như vậy, về Urea đến nay, sản xuất trong nước không những phục vụ đủ cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp mà còn có lượng

để xuất khẩu

Phân DAP, hiện sản xuất trong nước tại nhà máy DAP Đình Vũ 330.000 tấn/năm, đến hết 2015 có thêm nhà máy DAP Lào Cai công suất 330.000 tấn/năm và theo kế hoạch của Thủ tướng từ nay đến hết năm 2015 sẽ có thêm

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 21

một nhà máy DAP nữa hoặc nâng công suất hiện có của DAP Đình Vũ lên thêm 330.000 tấn/năm Như vậy sau 2015 sản xuất trong nước có thể đạt tới gần 1 triệu tấn DAP/năm, cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu trong nước Hiện tại từ nay đến hết năm 2014, chúng ta vẫn phải nhập khẩu DAP thêm từ 500.000 – 600.000 tấn/năm

Phân Lân: Hiện tại Supe Lân sản xuất trong nước có công suất 1,2 triệu tấn/năm, bao gồm nhà máy Lâm Thao công suất 800.000 tấn/năm, Lào Cai 200.000 tấn/năm và Long Thành 200.000 tấn/năm

Sản xuất Lân nung chảy hiện tại vào khoảng 600.000 tấn/năm bao gồm nhà máy Văn Điển và nhà máy Ninh Bình Dự kiến tương lai sẽ có thêm khoảng 500.000 tấn/năm của 3 nhà máy mới ( Lào Cai, Thanh Hóa,…)

Như vậy sản xuất phân Lân trong nước cũng đáp ứng được về cơ bản cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp trong nước

Phân NPK: Hiện cả nước có tới cả trăm đơn vị sản xuất phân bón tổng hợp NPK các loại Về thiết bị và công nghệ sản xuất cũng có nhiều dạng khác nhau, từ công nghệ cuốc xẻng đảo trộn theo phương thức thủ công bình thường đến các nhà máy có thiết bị và công nghệ tiên tiến Về quy mô sản xuất tại các đơn vị cũng khác nhau từ vài trăm tấn/năm tới vài trăm ngàn tấn/năm và tổng công suất vào khoảng trtên 3,7 triệu tấn/năm Nói chung là sản xuất NPK ở Việt Nam vô cùng phong phú cả về thiết bị, công nghệ đến công suất nhà máy

Chính điều này đã dẫn tới sản phẩm NPK ở Việt Nam rất nhiều loại khác nhau

cả về chất lượng, số lượng đến hình thức bao gói

Phân Kali: Hiện trong nước chưa sản xuất được do nước ta không có mỏ quặng Kali, vì vậy 100% nhu cầu của nước ta phải nhập khẩu từ nước ngoài

Phân SA: Hiện tại nước ta chưa có nhà máy nào sản xuất SA và nhu cầu của nước ta vẫn phải nhập khẩu 100% từ nước ngoài

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Phân Hữu cơ và vi sinh: Hiện tại sản xuất trong nước vào khoảng 400.000 tấn/năm, tương lai nhóm phân bón này vẫn có khả năng phát triển do tác dụng của chúng với cây trồng, làm tơ xốp đất, trong khi đó nguyên liệu được tận dụng từ các loại rác và phế thải cùng than mùn sẵn có ở nước ta

1.1.2.6 Tình hình nhập khẩu

Theo số liệu thống kê thì nhập khẩu 8 thàng đầu năm 2013 ở nước ta vào khoảng gần 3 triệu tấn phân bón các loại Trong đó DAP gần 550.000 tấn, Kali trên 560.000 tấn, SA khoảng 750.000 tấn, Urea 420.000 tấn, NPK 350.000 tấn

Về DAP, so với nhu cầu về cơ bản chúng ta đã nhập khẩu đủ cho lượng dùng của cả năm ( SX trong nước 330.000 tấn, nhu cầu cả nước vào khoảng 900.000 tấn/năm) Hiện tại giá DAP Quốc tế đang có xu hướng giảm, nếu các doanh nghiệp không có giải pháp tốt, một lượng DAP giá thấp hơn sẽ tiếp tục chảy về Việt Nam gây thua lỗ cho các doanh nghiệp đã nhập khẩu chờ cung ứng,

Về Kali, nhập khẩu còn thiếu so với nhu cầu vào khoảng 400.000 tấn cho năm 2013 Tuy nhiên, hiện tại thị trường Kali trên thế giới đang có nhiều biến động và rất có khả năng gây biến động cho thị trường trong nước cả về mặt giá

cả lẫn lượng hàng nhập khẩu vào các tháng cuối của năm 2013, đầu năm 2014

Riêng về SA, lượng nhập khẩu từ đầu năm tới nay là khá lớn (750.000/

nhu cầu 850.000 tấn) Do mất cân đối về cung cầu SA trên thế giới nên từ quý

II năm nay đến giờ, giá SA Quốc tế liên tục giảm Các doanh nghiệp Việt Nam

đã tranh thủ nhập “cứ lô sau giá thấp hơn gỡ cho lô trước giá cao…” đã dẫn tới lượng nhập về cho năm nay là quá nhiều, tính đến thời điểm hiện nay Kết quả của việc nhập khẩu SA từ đầu năn đến nay của các doanh nghiệp là thua lỗ và hiện tại giá SA Quốc tế vẫn chưa khẳng định được là đã dừng lại Đây cũng là một bài học cho việc cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam về giá cả trong bối cảnh thị trường Quốc tế có chiều hướng đi xuống

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 23

Về Urea, mặc dù lượng sản xuất trong nước không thiếu nhưng do để giá chênh lệch quá lớn giữa Urea sản xuất trong nước và Urea nhập khẩu dẫn tới một lượng khá lớn (420.000 tấn) Urea ngoại được nhập vào Việt nam Giá thành Urea sản xuất trong nước không biết cao hơn giá Urea nước ngoài sản xuất không, chất lượng không biết cao hơn cỡ nào nhưng giá bán Urea trong nước thời gian qua cao hơn giá Urea ngoại chừng 1,2 – 2 triệu đồng/tấn (60 -

100 usd/mt) Đây cũng là một nghịch lý cần phải xem xét đê thị trường phân bón được lành mạnh và người nông dân thực sự có chi phí hợp lý cho giá thành sản phẩm của họ trong sản xuất nông nghiệp

Về NPK, lượng nhập khẩu năm nay đến thời điểm này (350.000 tấn) là khá cao Hầu hết các loại NPK nhập vào Việt Nam có công thức 16-16-8-13S, 15-15-15, 20-20-0… Do nước ngoài triển khai kênh bán độc quyền và tâm lý sính ngoại của một bộ phận nông dân nên mặc dù chất lượng, hàm lượng hữu hiệu của các loại phân bón này không hơn chất lượng các sản phẩm NPK trong nước nhưng vẫn bán được với giá cao hơn hẳn hàng cùng loại sản xuất trong nước Hiện tại nguồn NPK sản xuất trong nước khá dồi dào, nhập khẩu NPK ngoại lại tốn một lượng ngoại tệ không nhỏ… điều này chỉ ra rằng công tác tuyên truyền sản phẩm NPK trong nước, công tác khuyến nông … của chúng

ta chưa tốt dẫn tới chi phí SXNN của một bộ phận bà con nông dân bị cao trong khi giá nông sản năm 2013 là chưa cao

1.1.2.7 Phân bón gây nên tác động ô nhiễm môi trường

 Bón dư thừa các yếu tố dinh dưỡng hoặc bón phân không đúng cách

Trước hết tác động của phân bón đối với việc gây ô nhiễm môi trường phải kể đến đó là lượng dư thừa các chất dinh dưỡng do cây trồng chưa sử dụng được hoặc do bón không đúng cách… như đã được tính toán ở phần trên

Do tập quán canh tác, do chưa được đào tạo, tập huấn rất nhiều nông dân hiện nay bón phân chưa đúng lượng và đúng cách

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Hầu hết người nông dân hiện nay đều bón quá dư thừa lượng đạm, gây nên hiện tượng lúa lốp, tăng quá trình cảm nhiễm với sâu bệnh, dễ bị đổ ngã

Biểu hiện của việc bón dư thừa đạm qua quan sát bằng mắt thường cho thấy màu lá cây thường xanh mướt hoặc nếu quá dư thừa thì lá màu xanh đậm Nếu

sử dụng bảng so màu lá thì độ đậm của màu lá càng được thấy rõ hơn Chương trình 3 giảm, 3 tăng cũng là những minh chứng cho việc lạm dụng bón quá dư thừa lượng đạm

Cách bón phân hiện nay chủ yếu là bón vãi trên mặt đất, phân bón ít được vùi vào trong đất Xét về mặt hoá học đất, các keo đất là những keo âm () còn các yếu tố dinh dưỡng hầu hết là mang điện tích dương (+) Khi bón phân vào đất, được vùi lấp cẩn thận thì các keo đất sẽ giữ lại các chất dinh dưỡng và nhả ra một cách từ từ tuỳ theo yêu cầu của cây trồng theo từng thời kỳ sinh trưởng của cây Như vậy, bón phân có vùi lấp không chỉ có tác dụng hạn chế

sự mất dinh dưỡng, tăng hiệu suất sử dụng phân bón mà còn làm giảm bớt ô nhiễm môi trường Các nghiên cứu cho thấy việc bón phân có vùi lấp làm tăng hiệu suất sử dụng phân bón của cây trồng có thể đạt được từ 70-80% so với bón rải trên bề mặt chỉ đạt được từ 20-30%

Các yếu tố dinh dưỡng vi lượng như Đồng (Cu), Kẽm (Zn)… rất cần thiết cho cây trồng sinh trưởng và phát triển và có khả năng nâng cao khả năng chống chịu cho cây trồng Ở một số vùng đất và một số cây trồng, loại cây trồng biểu hiện triệu chứng thiếu ding dưỡng Zn hoặc Cu khá rõ rệt Tuy nhiên khi lạm dụng các yếu tố trên lại trở thành những loại kim loại nặng khi vượt quá mức sử dụng cho phép và gây độc hại cho con người và gia súc Hiện nay với kỹ thuật sử dụng phân bón lá các loại phân bón vi lượng trong đó có Cu và

Zn được bón trực tiếp cho cây dưới dạng Chelate (dạng mạch vòng) hoặc kết hợp với các chất mang khác để quá trình hấp thu vào cây được nhanh và thuận lợi, nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón Tuy nhiên nếu sử dụng cho các loại cây rau ăn lá, cho chè và các loại quả không có vỏ bóc mà không chú ý tới thời

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 25

gian cách ly và liếu lượng sử dụng theo đúng quy thì các yếu tố dinh dưỡng trên lại trở thành các yếu tố độc hại cho người tiêu dùng

 Ô nhiễm do từ các nhà máy sản xuất phân bón

Không chỉ do bón dư thừa dinh dưỡng mà ô nhiễm do phân bón còn gây ra do từ nguồn các nhà máy sản xuất phân bón Các minh chứng trong thực

tế đã cho thấy, vào khoảng đầu thập niên 80 của thế ký trước, khi nhà máy phân đạm Hà Bắc được xây dựng và đi vào hoạt động, do quá trình xử lý môi trường chưa đảm bảo, nước thải của nhà máy đã thải ra nguồn nước của khu vực lân cận gây chết hàng hoạt các loại động, thực vật Gần đây, một số nhà máy sản xuất các loại phân bón hữu cơ sinh học, hữu cơ vi sinh sử dụng nguyên liệu là các phế phụ phẩm cây trồng hoặc chăn nuôi hay nguyên liệu của quá trình sản xuất mía đường, bột sắn… với các công nghệ xử lý môi trường thô sơ đã gây nên ô nhiễm cho nguồn nước do thải ra các chất độc hại chưa được xử lý triệt để và thải các chất có mùi gây ô nhiễm không khí cho các khu vực dân cư sống lân cận

 Phân bón có chứa một số chất độc hại

Ngay trong bản thân một số loại phân bón đã có chứa một số chất gây độc hại cho cây trồng và cho con người như các kim loại nặng hoặc các vi sinh vật gây hại, các chất kích thích sinh trưởng khi vượt quá mức quy định Theo quy định hiện hành, các loại kim loại nặng có trong phân bón gồm Asen (As), Chì (Pb), Thuỷ ngân (Hg) và Cadimi (Cd); các vi sinh vật gây hại có trong phân bón gồm: E Coli, Salmonella, Coliform là những loại gây nên các bệnh đường ruột nguy hiểm Phân bón có chứa kim loại nặng và vi sinh vật gây hại thường gặp trong những hợp sau đây:

- Phân bón được sản xuất từ nguồn nguyên liệu là rác thải đô thị, phế thải công nghiệp chế biến từ nông sản, thực phẩm, phế thải chăn nuôi Để tận dụng nguồn hữu cơ, đồng thời giải quyết những vấn đề về môi trường cho các

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

đô thị, các trại chăn nuôi tập trung, các nhà máy chế biến nông sản hiện nay

đã có một số nhà máy sử dụng các nguồn nguyên liệu nêu trên để sản xuất ra các loại phân bón hữu cơ, hữu cơ sinh học, hữu cơ vi sinh để bón trở lại cho cây trồng Các loại phân bón được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu nêu trên

sẽ gây nên sự ô nhiễm thứ cấp do có chứa các kim loại nặng hoặc vi sinh vật gây hại vượt quá mức quy định Kết quả điều tra của Viện Thổ nhưỡng Nông hoá từ năm 2004 -2007 cho thấy trong số các kim loại nặng thì Thuỷ ngân, còn đối với các vi sinh vật gây hại thì Coliform là những yếu tố thường vượt quá mức cho phép ở nhiều mẫu phân bón được kiểm tra thuộc nhóm trên

- Phân bón được sản xuất từ nguồn phân lân nhập khẩu từ nước ngoài do

có chứa hàm lượng Cadimi quá cao, vượt quá mức quy định được phép sử dụng Đã có rất nhiều tài liệu cho thấy nguồn phân lân từ các nước vùng Nam

Mỹ hoặc Châu Phi thường có hàm lượng Cd cao ở mức trên 200 ppm

- Theo quy định, một số chất kích thích sinh trưởng như axit giberillic (GA3), NAA, một số chất kích thích sinh trưởng có nguồn gốc từ thực vật được phép sử dụng trong phân bón để kích thích quá trình tăng trưởng, tăng tỷ

lệ đậu hoa, đậu quả, tăng quá trình trao đổi chất của cây trồng, tăng hiệu suất

sử dụng phân bón làm tăng năng suất, phẩm chất cây trồng Mức quy định hiện hành cho phép tổng hàm lượng các chất kích thích sinh trưởng không được vượt quá 0,5% khối lượng có trong phân bón Tuy nhiên trên thực tế một số tổ chức, cá nhân khi sản xuất, nhập khẩu đã không tuân thủ theo các quy định trên, đưa ra thị trường các loại phân bón có chứa hàm lượng các chất kích thích sing trưởng vượt quá mức quy định, gây tác hại cho sản xuất và ảnh hưởng tới chất lượng nông sản Việc sử dụng phân bón có chứa các chất kích thích sinh trưởng không đúng theo hướng dẫn về liếu lượng, đối tượng cây trồng cũng làm thiệt hại tới sản xuất Do thiếu hiểu biết, hơn 20 ha mạ vụ Đông xuân 2007/2008 ở Phú Xuyên Hà Nội (Hà Tây cũ) đã bị thiệt hại do sử dụng phân bón Tăng trưởng AC GABA CYTO có chứa chất kích thích sinh trưởng mà chỉ

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 27

khuyến cáo dùng cho chè và rau xanh nhưng đã sử dụng cho mạ, do dùng sai đối tượng cây trồng Cần thiết phải có những điều tra tổng thể về hàm lượng các chất kích thích sinh trưởng trong phân bón để đưa ra những quy định, các biện pháp quản lý chặt chẽ và có hiệu quả đối với đối tượng này, tuy nhiên việc điều tra đòi hỏi tiêu tốn khá nhiều kinh phí vì mẫu phân tích các chỉ tiêu

về chất kích thích sinh trưởng thường rất đắt, số lượng phòng phân tích có khả năng phân tích được các chỉ tiêu này trên cả nước còn rất ít

 Phân bón đối với vệ sinh an toàn thực phẩm và sức khoẻ con người

Dư thừa đạm trong đất hoặc trong cây đều gây nên những tác hại đối với môi trường và sức khoẻ con người Do bón quá dư thừa hoặc do bón đạm không đúng cách đã làm cho Nitơ và phospho theo nước xả xuống các thủy vực là nguyên nhân gây ra sự ô nhiễm cho các nguồn nước Các chất gây ô nhiễm hữu cơ bị khử dần do hoạt động của vi sinh vật, quá trình này gây ra sự giảm oxy dưới hạ lưu Đạm dư thừa bị chuyển thành dạng Nitrat (NO3-) hoặc Nitrit (NO2-) là những dạng gây độc trực tiếp cho các động vật thuỷ sinh, gián tiếp cho các động vật trên cạn do sử dụng nguồn nước (Tabuchi and Hasegawa, 1995) Đặc biệt gây hại cho sức khoẻ con người thông qua việc sử dụng các nguồn nước hoặc các sản phẩm trồng trọt, nhất là các loại rau quả ăn tươi có hàm lượng dư thừa Nitrat Theo các nghiên cứu gần đây, nếu trong nước và thực phẩm hàm lượng nitơ và photpho, đặc biệt là nitơ dưới dạng muối nitrit và nitrat cao quá sẽ gây ra một số bệnh nguy hiểm cho người đặc biệt là trẻ em TS Lê Thị Hiền Thảo (2003) đã xác định, trong những thập niên gần đây, mức NO3- trong nước uống tăng lên đáng kể mà nguyên nhân là do sự

sử dụng phân đạm vô cơ tăng, gây rò rỉ NO3- xuống nước ngầm Hàm lượng NO3- trong nước uống tăng gây ra nguy cơ về sức khoẻ đối với cộng đồng Ủy ban châu Âu quy định mức tối đa của NO3- trong nước uống là 50 mg/l, Mỹ là

45 mg/l, Tổ chức y tế thế giới (WHO) là 100 mg/l Y học đã xác định NO2

Trang 28

-Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ảnh hưởng đến sức khoẻ với 2 khả năng sau: gây nên chứng máu Methaemoglobin và ung thư tiềm tàng

Các nghiên cứu về y học gần đây đã xác định, dư thừa Phospho trong các sản phẩm trồng trọt hoặc nguồn nước làm giảm khả năng hấp thu Canxi

vì chất này lắng đọng với Canxi tạo thành muối triphosphat canxi không hòa tan và tạo thuận lợi cho quá trình sản xuất para thormon, điều này đã huy động nhiều Canxi của xương, và nguy cơ gây loãng xương ngày một tăng, đặc biệt ở phụ nữ

 Như vậy, để khắc phục hiện trạng các vấn đề trên các nhà máy sản xuất phân bón hiện nay phải khắc phục được các vấn đề tồn tại của nó

1.1.3 Tình hình tổng quan phân bón trên thế giới

1.1.3.1 Lịch sử phát triển và vòng đời ngành phân bón thế giới

Hàng ngàn năm trước, con người đã biết sử dụng hợp chất hữu cơ làm nguồn phân bón cho cây trồng Nhưng ngành phân bón thế giới chỉ mới bắt đầu hình thành và phát triển từ cách đây hơn hai thế kỷ, gắn liền với những phát minh hình thành ngành công nghiệp hóa chất ngày nay

 Thế kỷ 18 – 19: Khởi đầu từ công nghiệp Phosphate

Cuối thế kỷ 18, lần đầu tiên người Anh phát hiện hợp chất supe

phosphate có trong xương động vật, có thể bổ sung chất dinh dưỡng cho cây trồng Đầu thế kỷ 19, Justus Von Liebig – nhà hóa học người Đức đã thử nghiệm thành công dùng axit sunfuric để hòa tan phốt phát trong xương động vật, mở đầu cho ngành công nghiệp phân bón trên thế giới

Những năm 1840, cách điều chế supe phosphate bằng cách dùng axit

sunfuric hòa tan quặng apatit ra đời Cùng thời điểm đó, các mỏ quặng phốt phát được khai thác lần đầu tại Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Đức (1860) và ở Mỹ (1867), đưa công nghiệp Phosphate bước sang hướng mới với nguồn nguyên liệu dồi dào và hiệu quả hơn

 Thế kỷ 20 – Phát triển hoàn thiện chuỗi giá trị ngành

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 29

Công nghiệp Phosphate tiếp tục phát triển khi sản phẩm ammoni

phosphate (DAP, MAP) được phát hiện lần đầu tiên ở Mỹ năm 1916 Đây là loại phân lân được ưa chuộng trên thế giới, với tốc độ tăng trưởng nhanh do tính hiệu quả và hàm lượng phốt pho dồi dào

Công nghiệp phân kali khởi nguồn từ cuối thế kỷ 19, khi các mỏ

potash lớn được khai thác ở Tây Âu Đức là nước khai thác và sản xuất phân kali lớn nhất trong giai đoạn này Ngày nay, với lợi thế từ những mỏ potash trữ lượng lớn, Bắc Mỹ và các khu vực trên là những nước có lợi thế sản xuất và xuất khẩu phân kali trên thế giới

Bước đột phá của ngành phân bón là khi nhận biết được tầm quan trọng của Ni-tơ đối với cây trồng Năm 1909, nhà khoa học người Đức -

Fritz Haber đã phát hiện ra phản ứng hóa học của Ni-tơ và hydrogen tạo ra ammonia, làm cơ sở cho sản xuất phân bón Ni-tơ Năm 1920, phương pháp tổng hợp Urê từ than lần đầu tiên được giới thiệu ở Đức Những năm 1950, công nghệ sản xuất Urê từ khí bắt đầu được sử dụng, khu vực Đông Âu và Trung Đông có trữ lượng khí dồi dào đã tăng cường sản xuất và xuất khẩu loại phân này

Từ năm 1953 – 1960, các loại phân NPK lần lượt ra đời với tỉ lệ ba

thành phần chính Ni-tơ, Phốt-pho và Kali khác nhau, do nhu cầu bổ sung đồng

thời các chất dinh dưỡng Ban đầu, các loại phân hỗn hợp được sản xuất bằng cách trộn trực tiếp các loại phân đơn Năm 1962, phương pháp tạo hạt phân NPK ra đời Ở Mỹ, số lượng nhà máy sản xuất NPK đã tăng lên nhanh chóng

để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ

Giữa thế kỷ 20, thế giới đã trải qua Cuộc cách mạng Xanh bắt đầu ở Mexico năm 1944 Sự ảnh hưởng mạnh mẽ và rộng khắp của cuộc cách mạng này đã thúc đẩy sự phát triển nền nông nghiệp thế giới, kéo theo nhu cầu tiêu thụ phân bón tăng trưởng nhanh nhất lịch sử trong giai đoạn từ năm 1960 -

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1990 Ngành công nghiệp phân bón cũng theo đó mà phát triển mạnh mẽ, hoạt động xuất nhập khẩu phân bón diễn ra nhộn nhịp giữa các khu vực trên thế giới

(Nguồn: báo cáo ngành phân bón tháng 09/2019)

 Thế kỷ 21 – Bước vào giai đoạn bão hòa, hình thành xu hướng

Hình 1 5 Bản đồ tăng trưởng nhu cầu tiêu thụ phân bón thế giới từ

những năm 1960

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 31

(Nguồn: báo cáo ngành phân bón tháng 09/2019)

(Nguồn: báo cáo ngành phân bón tháng 09/2019)

Năng lực sản xuất của các quốc gia, khu vực trên thế giới phụ thuộc vào

sự phân bố nguồn nguyên liệu đầu vào như than, khí, đá phosphate hay quặng potash,… Khu vực Đông Á có sản lượng sản xuất và tiêu thụ phân bón cao nhất thế giới, chiếm lần lượt 34% và 36,7% sản lượng toàn cầu Trong đó,

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Nga là những quốc gia dẫn đầu về sản lượng sản xuất các loại phân bón trên toàn thế giới

(Nguồn: báo cáo ngành phân bón tháng 09/2019)

Nhu cầu phân bón thế giới có mức độ tập trung khá cao, top 10 quốc gia tiêu thụ phân bón lớn nhất chiếm đến 73% tổng lượng tiêu thụ toàn cầu Nằm ở khu vực Đông Á, Trung Quốc không chỉ là quốc gia dẫn đầu thế giới về sản lượng phân bón với tỷ trọng 25,6% mà còn là quốc gia tiêu thụ phân bón lớn nhất thế giới chiếm đến 24,2% về sản lượng Tiếp theo là khu vực Nam Á và Bắc Mỹ tiêu biểu là Ấn Độ và Mỹ lần lượt chiếm 13,8% và 12% tổng lượng tiêu thụ toàn cầu

1.3.2 Chuổi giá trị ngành phân bón trên thế giới

Hình 1 8 Năng lực sản xuất phân bón của các quốc gia trên thế giới

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 33

(Nguồn: báo cáo ngành phân bón tháng 09/2019)

Do các sản phẩm phân bón vô cơ bao gồm những thành phần hóa học khác nhau nên nguyên liệu đầu vào sản xuất các loại phân bón này cũng khác nhau: than, khí thiên nhiên – sản xuất phân đạm; quặng bồ tạt – sản xuất phân kali; đá phosphate, quặng apatit – sản xuất phân lân Ngoài ra, một số nguyên liệu như lưu huỳnh – sản xuất axit sulfuric là một thành phần tạo nên phân DAP, MAP và một số thành phần vi lượng khác,… Bên cạnh sự phát triển trình độ kỹ thuật – công nghệ và nguồn lực tài chính thì nguồn cung nguyên liệu cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển ngành phân bón của các quốc gia trên toàn cầu

(Nguồn: báo cáo ngành phân bón tháng 09/2019)

Ngành phân bón thế giới và trong nước đã bước vào giai đoạn bão hòa, tốc độ tăng trưởng ngành chậm lại, đặt ra thách thức cho động lực phát triển của ngành phân bón giai đoạn tới Thế kỷ 21 đi liền với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và xu hướng nông nghiệp hữu cơ, khiến việc sử dụng phân bón chất lượng cao, hàm lượng dinh dưỡng dồi dào, sử dụng tiết kiệm và không gây ô

nhiễm môi trường được coi trọng hơn Xu hướng sử dụng phân NPK chất lượng cao kết hợp với các loại phân bón hữu cơ, vi sinh kỳ vọng là động lực tăng trưởng cho ngành phân bón thế giới và Việt Nam trong giai đoạn tới…

Hình 1 9 Chuổi giá trị ngành phân bón trên thế giới

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Năm 2018, tiêu thụ phân bón thế giới chỉ tăng 1% yoy, ước đạt 189,4 triệu tấn chất dinh dưỡng CAGR giai đoạn 2009 - 2018 đạt 2,12%/năm, nguồn cung dư thừa ở một số khu vực Xu hướng sử dụng phân NPK chất lượng cao kết hợp với phân hữu cơ, vi sinh kỳ vọng tạo động lực tăng trưởng cho ngành phân bón giai đoạn tới Trong ngắn hạn, không có yếu tố hỗ trợ đáng kể cho tăng trưởng nhu cầu phân bón toàn cầu Ngành nông nghiệp thế giới năm 2019 không khởi sắc hơn so với năm 2018 Sản xuất ngũ cốc toàn cầu niên vụ 2019/2020 kỳ vọng tăng trưởng khoảng +2% yoy Giá các mặt hàng nông sản được dự báo tăng nhẹ Trong trung hạn, nguồn cung tiếp tục gia tăng trong khi nhu cầu phân bón duy trì ổn định Nhu cầu phân bón được dự báo sẽ tăng trưởng đạt 1,3%/năm từ năm 2019 - 2023 FAO và IFA dự báo tăng trưởng nhu cầu phân bón cao ở khu vực Châu Phi, EECA và Nam Mỹ, những khu vực

có tiềm năng tăng trưởng nông nghiệp cao nhất giai đoạn này Trong khi đó, nguồn cung toàn cầu được dự báo tăng trưởng trung bình 1,6%/năm, tình trạng

dư cung vẫn sẽ tiếp diễn trong giai đoạn tới NGÀNH PHÂN BÓN VIỆT NAM Ngành phân bón trong nước đang trong giai đoạn bão hòa, tốc độ tiêu thụ sụt giảm nhanh chóng Giai đoạn 2001 – 2015, tốc độ tăng trưởng đạt từ 2,5% – 3,9%/năm và giảm còn 1,96%/năm trong 2016 – 2018 Một số mảng sản phẩm NPK, Urê, lân (chiếm gần 70% tổng nhu cầu) đã bắt đầu dư cung

Sản xuất phân DAP trong nước đáp ứng được 35% tổng nhu cầu, phần còn lại vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu Nhu cầu tiêu thụ phân bón hàng năm đạt ~11 triệu tấn, với hơn 90% là phân bón vô cơ, còn lại là phân hữu cơ, vi sinh Phân NPK chiếm tỷ trọng lớn nhất (35,5%), theo sau là phân Urê (22,2%), DAP (10,1%) và phân lân đơn (9%) Trong ngắn hạn, nhu cầu phân bón trong nước năm 2019 được dự báo giảm nhẹ (-1,2% yoy) do ảnh hưởng xấu từ hiện tượng

El Nino đến sản xuất nông nghiệp, trong đó nhu cầu phân NPK giảm mạnh nhất Nguồn cung phân bón được dự báo tăng nhẹ ở phân khúc Urê, DAP và giảm trong phân khúc NPK Giai đoạn 2019 – 2023, dự báo nhu cầu phân bón

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 35

Việt Nam tăng trưởng ở mức 1,6%/năm nhờ tăng trưởng sản xuất các mặt hàng nông sản (lúa: +1%/năm, ngũ cốc: +2%/năm, cà phê: +1,7%/năm) Các doanh nghiệp sản xuất trong nước kỳ vọng được hỗ trợ từ các chính sách của Chính phủ Trong dài hạn, xu hướng nông nghiệp hữu cơ tạo cơ hội phát triển bền vững cho ngành phân bón thế giới và Việt Nam Sản xuất phân bón hữu cơ Việt Nam chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng bắt đầu tăng nhanh trong 02 năm gần đây

Cơ chế chính sách Nhà nước đang dần hoàn thiện, giúp xóa bỏ các rào cản gia nhập lĩnh vực phân bón hữu cơ, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp phân bón trong nước

1.1.4 Tổng quan về tình hình ô nhiễm do phân bón trên thế giới và Việt Nam

1.1.4.1 Trên thế giới

Tình trạng ô nhiễm không khí đang ngày càng trở nên nghiêm trọng, ảnh hưởng tới tất cả các khu vực trên thế giới Theo dữ liệu chất lượng không khí của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có tới 97% số thành phố ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình với dân số từ 100.000 người không đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng không khí của WHO, kéo theo đó là gánh nặng lên hệ thống y tế cộng đồng

 Tác động của ô nhiễm không khí

Một thống kê đầu năm nay của LHQ đã chỉ ra rằng, bảy trong số 10 thành phố ô nhiễm nhất thế giới nằm ở Ấn Độ Theo Tổ chức Giám sát chất lượng không khí AirVisual và Tổ chức Hòa bình xanh (Greenpeace), thì vào năm 2018, Gurugram - thành phố cách Thủ đô New Delhi khoảng 30 km về phía tây nam, là nơi có mức độ ô nhiễm nặng nhất thế giới

Ngoài ra, còn có ba thành phố khác của Ấn Độ và TP Faisalabad của Pakistan nằm trong nhóm năm thành phố ô nhiễm hàng đầu Tổng cộng 18 trong số 20 thành phố ô nhiễm nhất trên thế giới thuộc về các nước Nam Á, gồm Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh New Delhi, nơi sinh sống của hơn 20

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

triệu người được xếp hạng 11 và trở thành thủ đô ô nhiễm nhất thế giới, xếp trên thủ đô Dhaka của Bangladesh và Kabul của Afghanistan

Còn tại châu Âu, theo báo cáo mới đây của Ủy ban Môi trường châu Âu (EEA), ô nhiễm cũng là một tác nhân gây nên tình trạng khẩn cấp trong ngành

y tế công ở châu lục này Tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng làm giảm tuổi thọ con người và góp phần gây nên nhiều loại bệnh như tim mạch, các bệnh liên quan hệ hô hấp, thậm chí là ung thư Ô nhiễm môi trường cũng gây ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế của mỗi quốc gia, khi khiến chi phí thuốc men tăng cao và giảm năng suất lao động

Ô nhiễm không khí làm ảnh hưởng chất lượng cuộc sống, kéo theo đó là gánh nặng chi phí y tế và thiếu hụt lao động Giám đốc điều hành của Greenpeace khu vực Đông - Nam Á, ông Yeb Sano cho biết, ngoài ảnh hưởng cuộc sống của người dân, ước tính toàn thế giới thiệt hại 225 tỷ USD do giảm năng suất lao động và hàng nghìn tỷ USD chi phí y tế để giải quyết các vấn đề sức khỏe do ô nhiễm không khí “Ô nhiễm không khí đang đánh cắp sinh kế và tương lai của chúng ta”, ông nói

Trong hai năm qua, cơ sở dữ liệu của WHO thu thập từ hơn 4.300 thành phố và khu định cư ở 108 quốc gia đã cho thấy, ngày càng nhiều địa điểm tham gia hệ thống đo mức độ ô nhiễm không khí nhận thấy các tác động về sức khỏe Khi chất lượng không khí suy giảm, những người sống trong khu vực ô nhiễm có nguy cơ đột quỵ, mắc bệnh tim, ung thư phổi, các bệnh hô hấp mạn tính và cấp tính, bao gồm cả hen suyễn Theo đó, chỉ riêng ô nhiễm không khí ngoài trời đã được coi là nguyên nhân đứng thứ tư gây ra những ca chết yểu trên toàn thế giới

“Tuyên chiến” với ô nhiễm Các chuyên gia của hai tổ chức AirVisual và Greenpeace đã thu thập dữ liệu từ hàng chục nghìn trạm quan trắc chất lượng không khí trên thế giới

Theo đó, 92 thành phố ô nhiễm nhất đều có sự xuất hiện của các hạt bụi mịn

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 37

PM2.5 Đây là hạt bụi có đường kính nhỏ hơn 2,5 micromet, tương đương khoảng 3% đường kính của một sợi tóc người và có thể gây ra nhiều tác động xấu cho sức khỏe Các hạt này có thể thâm nhập sâu vào phổi và máu, gây ra một loạt các bất lợi cho người hít phải, thậm chí gây tử vong trong những trường hợp xấu nhất

WHO cũng ước tính, khoảng bảy triệu người thiệt mạng mỗi năm do ô nhiễm không khí Ngoài ra, việc tiếp xúc quá nhiều với hạt bụi mịn cũng gây các tác động như nhịp tim không đều, hen suyễn nặng và suy giảm chức năng phổi… Theo Al Jazeera, ông Lauri Myllyvirta - chuyên gia phân tích thuộc đơn vị theo dõi ô nhiễm không khí toàn cầu của Greenpeace cho rằng, có một

số lý do giải thích cho số lượng các hạt bụi mịn tăng cao ở các nước Nam Á kể trên Nguồn gốc chính phát sinh các hạt đó là từ khí thải của hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải, khói bụi do xây dựng ồ ạt nhiều công trình Khí thải

từ hoạt động sinh hoạt của các hộ gia đình cũng là một trong số những nguyên nhân gây ô nhiễm không khí

“Cuộc sống của rất nhiều hộ gia đình ở Nam Á phụ thuộc vào nhiên liệu rắn, thường là than, để nấu ăn và sưởi ấm Bụi mịn cũng xuất hiện ở các thành phố có ngành công nghiệp quy mô lớn nhưng lại kiểm soát khí thải kém”, ông Myllyvirta cho biết Ông Myllyvirta cũng cho rằng mật độ dân số cao của Nam

Á là một yếu tố góp phần gây ra chất lượng không khí kém của khu vực Châu

Á là châu lục đông dân nhất thế giới, còn Nam Á lại là khu vực có mật độ dân

số cao nhất ở châu Á “Một số khu vực có mức phát thải tương tự, nhưng vì mật độ dân số thấp hơn nên mức độ ô nhiễm chưa tồi tệ như vậy”, ông chia sẻ

Ấn Độ là quốc gia đông dân nhất Nam Á, với khoảng 1,3 tỷ người Các nhà nghiên cứu cảnh báo rằng mức độ ô nhiễm không khí hiện nay thể hiện

“tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng” và kêu gọi Ấn Độ cần có phản ứng khẩn cấp để khắc phục tình hình từ cấp độ chính quyền địa phương và toàn quốc Tuy nhiên, bà Jyoti Pande Lavakare, nhà sáng lập của tổ chức phi

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

chính phủ Care for Air India có trụ sở tại New Delhi cho rằng, giới chức Ấn

Độ mới chỉ quan tâm nguyên nhân chứ chưa có biện pháp hữu hiệu để cải thiện tình hình chất lượng không khí kém như hiện nay

Các nhà khoa học cũng chỉ trích giới chức nhiều nước chỉ ưu tiên phát triển kinh tế mà không giải quyết thỏa đáng các vấn đề môi trường kèm theo, bao gồm ô nhiễm không khí Các chương trình hành động kêu gọi cắt giảm nồng độ hạt bụi mịn PM2.5 triển khai chậm và mới ở quy mô nhỏ “Để làm sạch không khí triệt để, chúng tôi cần các biện pháp thường xuyên ở quy mô quốc gia, cần có nhiên liệu sạch hơn để thay thế hoàn toàn cho hoạt động vận tải và cơ giới, loại bỏ trợ cấp cho nhiên liệu bẩn, thực thi các biện pháp kiểm soát chặt chẽ đối với hành vi đốt chất thải, và phải giảm khí thải công nghiệp…”, bà Jyoti Pande Lavakare cho biết

Tuy vậy, cũng đã có một số quốc gia ở châu Á được ghi nhận về nỗ lực cải thiện chất lượng không khí, điển hình là Trung Quốc Nước này đã giảm nồng độ bụi mịn PM2.5 liên tục từ năm 2017 đến nay nhờ các biện pháp tiếp cận tích cực và toàn diện để giảm lượng khí thải Theo đó, từ năm 2017, Bắc Kinh đã công bố kế hoạch hành động quốc gia về chất lượng không khí, yêu cầu mọi khu vực đô thị phải giảm nồng độ ô nhiễm bụi mịn ít nhất 10%, một

số thành phố bị yêu cầu cao hơn Để đạt chỉ tiêu giảm ô nhiễm 25%, Bắc Kinh

đã chi 120 tỷ USD cho nỗ lực này

Bên cạnh đó, Trung Quốc đã đóng cửa gần 2.500 nhà máy, từ chối gần 20.000 đơn xin xây dựng nhà máy mới Chính quyền cũng tuyên bố trong kế hoạch giảm ô nhiễm không khí, tới năm 2020 sẽ đóng cửa khoảng 1.000 nhà máy nữa tại Bắc Kinh Khu vực Bắc Kinh - Thiên Tân - Hà Bắc, vốn là nơi ô nhiễm nghiêm trọng, được xác định là trọng điểm trong cuộc chiến chống ô nhiễm Ngoài ra, nước này cũng ban hành chính sách năng lượng chuyển từ than đá sang khí đốt tự nhiên Chính sách này buộc các hộ gia đình thay thế

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Trang 39

các nguồn nhiên liệu rắn gây ô nhiễm như than, gỗ hoặc lõi ngô bằng các nguồn năng lượng sạch hơn như điện, hay khí đốt tự nhiên

Theo WHO, một số xu hướng tích cực cho thấy trong vài năm gần đây, chất lượng không khí ở các nước công nghiệp phát triển đã dần được cải thiện

Theo đó, ngày càng nhiều chính phủ đã gia tăng các cam kết giám sát về môi trường, cũng như hành động toàn cầu từ ngành y tế và một số ngành khác như giao thông, nhà ở, năng lượng, với nỗ lực nhằm giảm ô nhiễm không khí

1.1.4.2 Tại Việt Nam

Hiện trạng trên thế giới nó chung cũng như Việt Nam nói riêng, vấn đề ô nhiễm do các nhà máy sản xuất phân bón nói riêng và ô nhiễm môi trường không khí nói chung đang được dự luận quan tâm đặc biệt

Ô nhiễm không khí làm cho mọi người phải tiếp xúc với các hạt mịn trong không khí bị ô nhiễm Các hạt mịn này thâm nhập sâu vào phổi và hệ thống tim mạch, gây ra các bệnh đột quỵ, bệnh tim, ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính và các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp Các ngành công nghiệp, giao thông vận tải và nhà máy nhiệt điện chạy than cùng với việc sử dụng nhiên liệu rắn là các nguồn chủ yếu gây ra ô nhiễm không khí Ô nhiễm không khí tiếp tục gia tăng với tốc độ đáng báo động và ảnh hưởng tới các nền kinh tế và chất lượng cuộc sống của con người

Ô nhiễm không khí đe dọa sức khỏe của người dân ở khắp mọi nơi trên thế giới Ước tính mới đây năm 2018 cho thấy rằng 9/10 người dân phải hít thở không khí chứa hàm lượng các chất gây ô nhiễm cao Ô nhiễm không khí cả ở bên ngoài và trong nhà gây ra khoảng 7 triệu ca tử vong hàng năm trên toàn cầu; chỉ tính riêng khu vực Tây Thái Bình Dương, khoảng 2,2 triệu người tử vong mỗi năm Ở Việt Nam, khoảng 60.000 người chết mỗi năm có liên quan đến ô nhiễm không khí

1.2 Cơ sở pháp lý

“Nhà máy sản xuất phân bón tổng hợp” do Công ty cổ phần vệ sinh môi

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

trường đô thị Hà Nội làm chủ đầu tư, xây dựng tại Cụm công nghiệp Phú Thành II, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình, được đầu tư phù hợp với các chủ trương, định hướng phát triển của cụm công nghiệp cụ thể như sau:

- Quyết định số 55/QĐ-UBND ngày 17/10/2016 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư số 13/QĐ- UBND ngày

14 tháng 3 năm 2016 của UBND tỉnh Hòa Bình thực hiện dự án “Nhà máy sản

xuất phân bón tổng hợp” tại Cụm công nghiệp Phú Thành II, xã Phú Thành,

huyện Lạc Thủy;

- Quyết định số 2095/QĐ-UBND ngày 17/12/2014 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hòa Bình về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 Cụm công nghiệp Phú Thành II, huyện Lạc Thủy;

Trên cơ sở những văn bản liên quan dự án, nghiên cứu còn dựa trên các căn cứ pháp luật chi tiết cụ thể như sau:

- Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005;

- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản

lý chất thải và phế liệu;

- Nghị định số 202/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ về quản lý phân bón;

- Thông tư số 15/2017/TT-BCT ngày 31/8/2017 của Bộ Công Thương quy định, hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 68/2017/NĐ-CP;

- Thông tư số 31/2016/TT-BTNMT ngày 14/10/2016 của Bộ Tài nguyên

và Môi trường về bảo vệ môi trường cụm công nghiệp, khu kinh doanh dịch vụ tập trung, làng nghề và cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ);

- Thông tư số 24/2017/TT-BTNMT ngày 01/09/2017 của Bộ Tài nguyên

và Môi trường về Quy định kỹ thuật quan trắc môi trường

- Quyết định số 679/QĐ-UBND ngày 04/4/2007 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hòa Bình về việc phê duyệt Quy hoạch chi tiết cụm công nghiệp phú

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com

Ngày đăng: 20/12/2022, 05:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w