1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ HAY đánh giá thử nghiệm bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững quốc gia theo tiêu chuẩn FSC quốc tế tại công ty lâm nghiệp và dịch vụ hương sơn, hà tĩnh​

81 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Quốc gia theo tiêu chuẩn FSC quốc tế tại Công ty Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn, Hà Tĩnh
Tác giả Vũ Thị Trang
Người hướng dẫn PGS.TS. Bùi Thế Đồi
Trường học Trường đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Quản lý rừng bền vững
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (11)
    • 1.1. Hệ thống các Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng trên thế... giới (11)
    • 1.2. Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng ở Việt Nam (21)
    • 1.3. Quá trình hình thành Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững quốc gia theo tiêu.... chuẩn FSC (25)
      • 1.3.1. Quá trình hình thành nhóm phát triển Bộ tiêu chuẩn (0)
      • 1.3.2. Các yêu cầu của quy trình cho sự phát triển và duy trì Bộ Tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Quốc gia (28)
      • 1.3.3. Tiến trình thực hiện và kết quả thực hiện quá trình phát triển Bộ tiêu chuẩn (30)
    • 1.4. Thảo luận (32)
  • Chương I: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (35)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (35)
      • 2.1.1. Mục tiêu tổng quát (35)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (35)
    • 2.2. Giới hạn nghiên cứu (35)
      • 2.2.1. Đối tƣợng nghiên cứu (0)
      • 2.2.2. Phạm vi nghiên cứu (35)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (35)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (36)
      • 2.4.1. Quan điểm (36)
      • 2.4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể (36)
        • 2.4.2.1. Phương pháp kế thừa (36)
        • 2.4.2.2. Phương pháp điều tra, đánh giá (37)
    • Chương 3: ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU (40)
      • 3.1. Đặc điểm khu vực nghiên cứu (40)
        • 3.1.1. Vị trí địa lý (40)
        • 3.1.2. Địa hình (41)
        • 3.1.3. Khí hậu (42)
        • 3.1.4. Thủy văn (42)
        • 3.1.5. Đặc điểm thổ nhƣỡng (43)
      • 3.2. Đặc điểm kinh tế xã hội (44)
    • Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (46)
      • 4.1. Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng của Công ty Lâm nghiệp (46)
        • 4.1.1. Hiện trạng tài nguyên rừng (46)
        • 4.1.2. Cơ sở khoa học đảm bảo kinh doanh rừng bền vững (49)
      • 4.2. Đánh giá sự phù hợp của Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia tại Công ty.............. LN&DV Hương Sơn (7)
      • 4.3. Đánh giá thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia (55)
        • 4.3.1. Đánh giá thử nghiệm các chỉ số thuộc nguyên tắc 7, 8, 10 thuộc nhóm kinh... tế (56)
        • 4.3.2 Đánh giá thử nghiệm các chỉ số thuộc nguyên tắc 1, 2, 3, 4 thuộc nhóm xã....... hội (59)
        • 4.3.3 Đánh giá thử nghiệm các chỉ số thuộc nguyên tắc 5, 6, 9 thuộc nhóm môi......... trường (0)

Nội dung

PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Viết tắt Viết đầy đủ ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ITTO Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế LN&DV Lâm nghiệp và dịch vụ MTCC Hệ thống chứng chỉ gỗ Ma

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Hệ thống các Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng trên thế giới

Để thúc đẩy quản lý rừng bền vững, năm 1992, Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO) đã đề ra các tiêu chí nhằm hướng dẫn quản lý rừng nhiệt đới bền vững Trong những năm sau đó, vấn đề này ngày càng được quan tâm và thảo luận rộng rãi trên toàn thế giới, dẫn đến việc thành lập nhiều tổ chức quốc tế và quốc gia thúc đẩy chứng chỉ rừng như Hội tiêu chuẩn Canada (CSA, 1993), Hội đồng quản trị rừng (FSC, 1994), Sáng kiến lâm nghiệp bền vững (SFI, 1994), The Programme for the Endorsement of Forest Certification (PEFC, 1999), Tổ chức nhãn sinh thái Indonesia (LEI, 1998), Hội đồng chứng chỉ gỗ Malaysia (MTCS, 1998), và chứng chỉ rừng Chi Lê (CertforChile) Các tổ chức này đã góp phần thúc đẩy thực hành quản lý rừng bền vững và phát triển các hệ thống chứng nhận rừng hiệu quả trên toàn cầu.

1999, quốc gia), và Chương trình phê duyệt các quy trình chứng chỉ rừng (PEFC, 1999, Châu Âu) (Nguyễn Thị Thu Phương, 2016) [11]

Tại hội nghị Helsinki năm 1993, 38 quốc gia châu Âu đã thiết lập 6 tiêu chuẩn cùng 28 chỉ tiêu quản lý rừng bền vững phù hợp với các vùng như Địa Trung Hải, ôn đới và Bắc Âu Trong khi đó, đại hội Montreal chứng kiến 12 nước thành viên đồng ý xây dựng 7 tiêu chuẩn và 67 chỉ tiêu để quản lý rừng Bắc Mỹ Ở khu vực khô hạn Châu Phi, 27 quốc gia đã thống nhất 7 tiêu chuẩn và 47 chỉ tiêu quản lý rừng bền vững trong cuộc họp chuyên gia UNEP/FAO tại Nairobi, Kenya năm 1995 Bên cạnh đó, các chuyên gia từ 7 nước thuộc hệ thống CCAD đã xác định 8 tiêu chuẩn cùng 52 chỉ tiêu cấp quốc gia, và 4 tiêu chuẩn cùng 40 chỉ tiêu cấp vùng để hướng tới quản lý rừng bền vững, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững rừng cho các quốc gia trong khu vực.

Tiêu chí và chỉ số là các công cụ quan trọng để đánh giá và quản lý rừng bền vững, giúp xác định các yếu tố cần thiết và các điều kiện để thực hiện quản lý rừng phù hợp Các tiêu chí mô tả các yếu tố cốt lõi, trong khi các chỉ số phản ánh sự thay đổi theo thời gian dựa trên các tiêu chuẩn chung, từng quốc gia sẽ có tiêu chuẩn và tiêu chí riêng phù hợp với điều kiện địa phương Ở cấp độ quản lý, việc phát triển các tiêu chuẩn địa phương dựa trên các chỉ số giúp nâng cao hiệu quả quản lý rừng bền vững Các tổ chức như Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế, Mạng lưới Rừng Quốc tế và các đại học đã phát triển công cụ hỗ trợ cộng đồng xây dựng tiêu chuẩn và chỉ số phù hợp địa phương Đồng thời, tiêu chí và chỉ số còn là cơ sở để các chương trình cấp chứng chỉ rừng của bên thứ ba như tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững của Canada, đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong quá trình đánh giá.

Năm 1999, các chủ rừng ở châu Âu thành lập Chương trình chứng nhận chứng chỉ rừng Châu Âu (PEFC), là tổ chức phi chính phủ hoạt động dựa trên việc công nhận và chứng thực hệ thống CCR của các quốc gia thành viên PEFC hiện là hệ thống chứng chỉ rừng lớn nhất thế giới, với 43 quốc gia thành viên, hợp tác với các tổ chức quốc tế như xã hội dân sự, doanh nghiệp, cơ quan chính phủ và các tổ chức liên chính phủ Hệ thống của PEFC dựa trên phương pháp từ dưới lên, dựa trên hệ thống chứng chỉ của các quốc gia thành viên, phù hợp với nhiều đối tượng như công ty lâm nghiệp, doanh nghiệp chế biến và các hộ gia đình, cộng đồng chủ rừng qua chứng chỉ nhóm hoặc vùng Tính đến tháng 3 năm 2017, hơn 300 triệu ha rừng đã được PEFC chứng nhận, với hơn 750.000 chủ rừng và trên 18.800 công ty tham gia chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) Diện tích rừng được cấp chứng chỉ PEFC đã tăng nhanh từ 0 ha năm 1999, đến nay đạt 301,6 triệu ha, trong đó Canada là quốc gia sở hữu diện tích lớn nhất với 131,1 triệu ha, tiếp theo là Hoa Kỳ với 333,25 triệu ha, Australia với 26,6 triệu ha Ở châu Á, các quốc gia như Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia đang sử dụng hệ thống chứng chỉ PEFC, trong khi các nước như Hàn Quốc, Thái Lan, Lào đang xây dựng và triển khai hệ thống này.

Hình 1.1 Diện tích rừng cấp chứng chỉ rừng PEFC theo các năm

Nguồn: https://www.pefc.org/

Diện tích rừng đạt Chứng chỉ rừng PEFC tập trung cao nhất tại khu vực Bắc Mỹ với tỷ lệ chiếm tới 54%, tiếp theo là khu vực Châu Âu với 31% Trong khi đó, khu vực Châu Á có tỷ lệ diện tích rừng đạt chứng chỉ PEFC thấp hơn nhiều, chỉ khoảng 4% (xem hình 1.2 để biết thêm chi tiết).

Để trở thành thành viên chính thức của Chương trình chứng nhận chứng chỉ rừng Châu Âu (PEFC), các quốc gia cần đáp ứng hai điều kiện chính: có tổ chức bộ máy chứng chỉ rừng quốc gia do cơ quan có thẩm quyền thành lập, có tư cách pháp nhân và là đầu mối của quốc gia về chứng chỉ rừng (gọi tắt là NGB), và có Bộ tiêu chuẩn quốc gia về quản lý rừng bền vững cùng các quy trình thủ tục đánh giá, đạt các nguyên tắc của PEFC và phù hợp luật pháp của quốc gia Tổ chức này điều hành toàn bộ hoạt động thực hiện chiến lược, kế hoạch về chứng chỉ rừng và liên hệ với PEFC quốc tế; đồng thời, để hài hòa chứng chỉ quốc gia với PEFC, NGB phải là thành viên của PEFC để yêu cầu chứng thực hệ thống CCR quốc gia NGB là các tổ chức có tư cách pháp nhân, mục tiêu triển khai chứng chỉ rừng PEFC, có sự hỗ trợ từ chủ rừng hoặc cơ quan quản lý lâm nghiệp, có thể là tổ chức phi lợi nhuận, hiệp hội, viện nghiên cứu hoặc cơ quan chính phủ, và ủy quyền cho các tổ chức trong nước đủ năng lực tiến hành đánh giá, cấp chứng chỉ Việc quản lý, vận hành, giám sát và cấp chứng chỉ thuộc hệ thống chứng chỉ rừng quốc gia chủ động, trong khi PEFC chỉ thu phí thành viên của NGB (khoảng 400 triệu đồng/năm) và phí đánh giá cấp chứng chỉ.

Gỗ có chứng chỉ PEFC được công nhận rộng rãi trên toàn cầu, phù hợp với chính sách mua sắm gỗ của nhiều quốc gia như Bỉ, Anh, Đan Mạch, Hà Lan, Phần Lan, Pháp, Đức, Nhật Bản và Thụy Sỹ Bên cạnh đó, gỗ có chứng chỉ PEFC còn được khuyến cáo trong Hướng dẫn Xanh về Mua sắm công của Ủy ban Châu Âu và được sử dụng trong các hoạt động của Hội đồng Xây dựng Xanh tại Úc, Italy, Singapore, Mỹ, giúp thúc đẩy các tiêu chuẩn bền vững trong ngành chế biến gỗ quốc tế.

Tháng 10 năm 1993, cuộc họp sáng lập FSC với 130 thành viên đến từ 26 quốc gia diễn ra tại Toronto (Canada) đã bầu ra Hội đồng Quản trị FSC đầu tiên

Vào năm 1994, các thành viên sáng lập FSC đã phê duyệt các nguyên tắc và tiêu chí hoạt động, xây dựng hệ thống tổ chức dựa trên hội đồng chứng chỉ và các thành viên tự nguyện tham gia Kể từ đó, FSC đã phát triển mạnh mẽ với hệ thống chứng chỉ quản lý rừng bền vững được công nhận trên toàn cầu, trở thành tổ chức uy tín nhất thế giới trong lĩnh vực này Chứng chỉ FSC được chấp nhận rộng rãi tại các thị trường lớn như Bắc Mỹ và Tây Âu, và FSC cấp chứng nhận quản lý rừng bền vững cho các loại rừng ôn đới, nhiệt đới, rừng tự nhiên, rừng trồng cũng như mở rộng sang lĩnh vực rừng sản xuất lâm sản ngoài gỗ Trụ sở chính của FSC đặt tại thành phố Bonn, Đức, với cơ cấu quản trị dựa trên các nguyên tắc tham gia, dân chủ và công bằng, và tổ chức này có đại diện tại hơn 82 quốc gia trên thế giới.

Thành viên FSC bao gồm các nhóm xã hội, môi trường và kinh tế, chia thành nhóm Bắc (các nước công nghiệp) và nhóm Nam (các nước đang phát triển), mở rộng cơ hội cho những ai hỗ trợ quản lý rừng bền vững toàn cầu Hội đồng quản trị FSC đề xuất 10 nguyên tắc và 56 tiêu chí quản lý rừng, đồng thời phối hợp với Ủy ban Phát triển Bền vững (CSD) để đưa ra các chỉ thị về rừng bền vững Các tiêu chuẩn quốc tế như ISO 14000 và tiêu chuẩn CSA của Canada đã xây dựng hệ thống quản lý ngành lâm nghiệp giúp nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý rừng FSC xây dựng tiêu chuẩn Quản lý Rừng Bền vững (QLRBV) và ủy quyền các tổ chức đánh giá thứ ba để cấp Chứng chỉ Rừng Bền vững (CCR), hiện có 15 tổ chức quốc tế được FSC phê duyệt để thực hiện quá trình này Quá trình đánh giá và cấp chứng chỉ tuân thủ nghiêm ngặt theo quy định của FSC, đồng thời vai trò của các quốc gia trong quá trình này gần như không tác động, đảm bảo tính khách quan và minh bạch trong chứng nhận rừng bền vững.

Theo Christopher Upton và Stephen Bass (1996), hầu hết các tiêu chuẩn quản lý rừng do các tổ chức quốc tế đề ra đều được công nhận ở mức cao, đặc biệt các tiêu chuẩn của FSC được xem là thực tế và có khả năng ứng dụng rộng rãi hơn Tuy nhiên, thực trạng quản lý rừng bền vững trên toàn cầu vẫn chưa có nhiều chuyển biến tích cực, nhiều khu rừng vẫn đối mặt với nguy cơ bị tàn phá nghiêm trọng Đến nay, đã có 82 quốc gia được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững cho 1.479 khu rừng với diện tích lên tới 195.094.757 ha.

Năm 2010, hơn 125 triệu ha rừng của hơn 80 quốc gia đã được chứng nhận đạt tiêu chuẩn FSC, với gần 16.000 chứng chỉ CoC Canada dẫn đầu thế giới với hơn 23 triệu ha rừng có chứng chỉ FSC, theo sau là Nga với hơn 21 triệu ha Giá trị của các sản phẩm dán nhãn FSC ước tính trên 20 tỷ USD (2008), phản ánh tầm ảnh hưởng toàn cầu của chứng nhận này Diện tích rừng được FSC cấp chứng chỉ chủ yếu tập trung tại châu Âu (47%) và Bắc Mỹ (35%), trong khi châu Á, châu Phi và châu Đại Dương chỉ chiếm 7%, cho thấy phân bố chứng nhận không đồng đều giữa các khu vực.

Trong tương lai, Châu Á, Châu Phi và Châu Đại Dương dự kiến trở thành các khu vực rộng lớn được FSC đánh giá cấp chứng chỉ CCR, phản ánh xu hướng mở rộng của chứng chỉ này trên toàn cầu Tới tháng 3 năm 2017, đã có hơn 195 triệu ha rừng được cấp chứng chỉ FSC trên hơn 82 quốc gia, thể hiện sự phát triển mạnh mẽ của ngành quản lý rừng bền vững Riêng vùng Châu Á đã có hơn 8,3 triệu ha rừng đạt chứng chỉ FSC, với 14 quốc gia tham gia, góp phần nâng cao tiêu chuẩn quản lý và bảo vệ rừng tại khu vực này.

Indonesia dẫn đầu với 2.751.122 ha chứng chỉ, tiếp theo là Thổ Nhĩ Kỳ với 2.350.078 ha, Trung Quốc có 894.869 ha, Malaysia đạt 676.150 ha, Ấn Độ với 505.630 ha, Việt Nam chiếm 228.927 ha, cùng các nước khác trong khu vực có tổng diện tích 1.787.282 ha (xem bảng 1.1) [33].

Bảng 1.1: Diện tích rừng đạt chứng chỉ FSC khu vực Châu Á đến tháng 3/2017

TT Quốc gia Diện tích (ha) Tỷ lệ % Tổng số giấy chứng nhận

Dữ liệu từ bảng 1.1 cho thấy tỷ lệ cấp chứng chỉ rừng của Việt Nam đạt 2,76%, thấp hơn so với các quốc gia trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, mặc dù chưa phải là mức thấp nhất Tuy nhiên, việc thúc đẩy và nâng cao tỷ lệ cấp chứng chỉ rừng tại Việt Nam là cần thiết để tăng cường quản lý tài nguyên rừng bền vững Trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tỷ lệ này thấp nhất là 4,25%, cho thấy còn nhiều cơ hội để cải thiện hoạt động cấp chứng chỉ rừng trong khu vực này.

Việt Nam hiện chưa đạt được mức độ diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC so với tổng diện tích rừng trên toàn cầu, cho thấy đất nước cần thúc đẩy nhanh chóng quản lý rừng bền vững để bắt kịp các nước trong khu vực và thế giới Tổ chức FSC, là tổ chức cấp chứng chỉ đầu tiên trên thế giới, đặc biệt chú trọng đến việc cấp chứng chỉ rừng cho các nhóm chủ rừng, với 354 chứng chỉ nhóm dành cho 126.468 thành viên, góp phần thúc đẩy quản lý rừng bền vững tại Việt Nam.

Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng ở Việt Nam

Khái niệm “bền vững” bắt đầu được thế giới sử dụng từ những năm đầu thế kỷ 18 để mô tả lượng gỗ lấy khỏi rừng không vượt quá khả năng sinh trưởng của rừng, đặt nền tảng cho quản lý rừng bền vững sau này Tại Việt Nam, đến cuối thế kỷ 20, khái niệm “Điều chế rừng” được áp dụng để quản lý và kinh doanh lâm nghiệp nhằm duy trì sản lượng rừng qua các lần khai thác tiếp theo Phương án điều chế rừng đầu tiên của Việt Nam được thực hiện tại lâm trường Mã Đà (Đồng Nai) với sự hỗ trợ của chuyên gia nước ngoài thông qua Dự án VIE/82/002 do UNDP/FAO viện trợ Nhiệm vụ chính của dự án là xây dựng mẫu phương án tiêu chuẩn, hướng dẫn lập kế hoạch điều chế và đề xuất các giải pháp để đảm bảo hoạt động điều chế rừng hiệu quả cho lâm trường Mã Đà.

Từ năm 1993 đến nay, nhờ vào sự nỗ lực lớn của nhà nước và nhân dân thông qua các chương trình như 327, 661, đã phục hồi trên 2 triệu ha rừng, góp phần nâng cao chất lượng và chức năng của rừng Tuy nhiên, số lượng không phản ánh đầy đủ, vì nếu không quản lý bền vững, việc mất rừng vẫn sẽ diễn ra song song với quá trình phục hồi, ảnh hưởng đến các mục tiêu môi trường, xoá đói giảm nghèo và phát triển bền vững Chiến lược lâm nghiệp quốc gia (LNQG) giai đoạn 2006-2020 đang được xây dựng và dự kiến triển khai từ đầu năm 2006, trong đó chương trình Quản lý bền vững rừng và bảo vệ môi trường (QLRBV) là ưu tiên hàng đầu Để thực hiện QLRBV hiệu quả, cần tạo ra các điều kiện pháp lý, xã hội và thị trường phù hợp, đồng thời xác định một lâm phận ổn định không chỉ trên bản đồ mà còn trên thực địa của cả nước và từng khu rừng, đảm bảo quản lý rừng bền vững và phát huy các chức năng hệ sinh thái.

Các chương trình trồng rừng chỉ có ý nghĩa khi diện tích rừng hiện có được quản lý và bảo vệ tốt, góp phần bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên Năm 1998, một hội thảo quốc gia đã được tổ chức tại TP.HCM với sự phối hợp của Bộ NN&PTNT, tổ chức FSC quốc tế, WWF Đông Dương và đại sứ quán Hà Lan để xây dựng chương trình Quản lý Rừng Bền vững và Bảo vệ Rừng Hội thảo đã thành lập Tổ công tác quốc gia về QLRBV và CCR (NWG), tham gia soạn thảo tiêu chuẩn quốc gia dựa trên các khái niệm của ITTO, Hiệp Ước Helsinki và các nguyên tắc của FSC quốc tế, với hệ thống gồm 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí và các chỉ số cụ thể phù hợp cho Việt Nam Quản lý rừng bền vững và bảo vệ rừng là các phương pháp đặc thù nhằm thúc đẩy ngành lâm nghiệp phát triển bền vững theo các nguyên tắc quốc tế.

Chứng chỉ rừng là kết quả cuối cùng của quá trình Quản lý rừng bền vững, phản ánh việc quản lý rừng đạt các tiêu chuẩn về bền vững Nếu Quản lý rừng chưa đáp ứng các tiêu chuẩn này, thì không thể có Chứng chỉ rừng Vì vậy, việc đạt được chứng chỉ này đóng vai trò quan trọng trong việc xác nhận tính bền vững của hoạt động quản lý rừng.

Trong thời gian qua, dự án REFAS nhận được sự tài trợ từ Đại sứ quán Hà Lan, FSC quốc tế, quỹ FORD và chương trình lâm nghiệp GIZ, góp phần thúc đẩy phong trào quản lý rừng bền vững (QLRBV) Các hoạt động ban đầu như phát động phong trào và thực hiện các công việc cần thiết đã được tiến hành nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành lâm nghiệp Việt Nam.

Trong bối cảnh ASEAN đang xây dựng dự thảo bộ tiêu chuẩn Quản lý Rừng Bền vững (QLRBV) dựa trên 7 tiêu chí của ITTO, tổ công tác cũng đã chủ động soạn thảo bộ tiêu chuẩn QLRBV phù hợp cho Việt Nam Việc này nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế, nâng cao năng lực quản lý rừng bền vững và đáp ứng các yêu cầu của thị trường toàn cầu Chuẩn hóa các tiêu chuẩn này sẽ giúp nâng cao vị thế của ngành lâm nghiệp Việt Nam, đồng thời đảm bảo phát triển bền vững tài nguyên rừng của đất nước.

10 nguyên tắc của FSC, đã hoàn tất vào năm 2007

Chương trình tuyên truyền giới thiệu về chứng chỉ rừng và quản lý rừng bền vững đã được tổ chức rộng rãi dành cho cán bộ lâm nghiệp từ cấp trung ương đến cấp tỉnh thông qua các hội thảo quốc gia, hội thảo vùng, tỉnh, báo chí, truyền hình và giảng dạy cho sinh viên cao đẳng, đại học Các hoạt động khảo sát và tập huấn được triển khai cho mọi loại chủ rừng, bao gồm lâm trường, ban quản lý, công ty và trang trại Đến nay, khái niệm về chứng chỉ rừng và quản lý rừng bền vững đã trở nên quen thuộc trong lĩnh vực quản lý, đào tạo và sản xuất lâm nghiệp, đặc biệt khi đây là một trong ba chương trình phát triển trọng điểm trong chiến lược lâm nghiệp quốc gia.

Chương trình xây dựng mạng lưới các chủ rừng tự nguyện nhằm nâng cao năng lực quản lý rừng bền vững đang được triển khai hiệu quả qua phân công rõ ràng giữa tổ công tác quốc gia, WWF và TFT Các mô hình điển hình trong mạng lưới gồm các công ty lâm nghiệp như Long Đại (Quảng Bình), Hương Sơn (Hà Tĩnh), Công ty Lâm nghiệp Hoà Bình; các rừng trồng như Con Cuông (Nghệ An), Hà Nừng và Sơ Pai (Gia Lai) và Xí nghiệp trồng rừng tự nhiên Đỗ Thập (Yên Bái) Các tổ chức hỗ trợ khác như WWF, TFT, GIZ cũng đang thử nghiệm nhiều mô hình để nâng cao hiệu quả quản lý rừng bền vững Gần đây, nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ danh tiếng đã tham gia vào các hoạt động này, góp phần thúc đẩy phát triển ngành lâm nghiệp bền vững tại Việt Nam.

(Trường Thành, IKEA, Hải Vương) muốn trồng rừng bền vững để chủ động tự túc một phần nguyên liệu gỗ có chứng chỉ [18]

Từ tháng 6/2006, Viện Quản lý Rừng Bền vững và Chuỗi Cung ứng Rừng (SFMI) chính thức được thành lập nhằm nâng cao năng lực quản lý rừng bền vững tại Việt Nam Viện đóng vai trò cầu nối giữa các chủ thể quản lý rừng Việt Nam và tổ chức Forest Stewardship Council (FSC), thúc đẩy hợp tác quốc tế và thu hút các nguồn hỗ trợ để phát triển ngành lâm nghiệp bền vững.

Việt Nam thường xuyên mở rộng quan hệ quốc tế thông qua việc tham gia các hội nghị, hội thảo chuyên đề và các hoạt động theo vùng của FSC, cũng như các hội nghị cấp chuyên gia và ASOF về quản lý rừng bền vững (QLRBV) và chống biến đổi khí hậu (CCR) trong khu vực ASEAN Năm 2006, đất nước ta mới chỉ có khoảng 10.000 ha rừng trồng đạt tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững (QLRBV) và đã được cấp chứng chỉ FSC, đánh dấu bước tiến trong phát triển bền vững ngành lâm nghiệp.

Năm 2008, SFMI đã tiến hành đánh giá độc lập về quản lý rừng trồng theo mô hình chứng chỉ rừng “theo nhóm” tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái Các hộ trồng rừng đã chung tay hợp thành Chi Hội trồng rừng Yên Bái để xin cấp chứng chỉ CCR Kết quả đánh giá cho thấy, các hộ trong Chi Hội đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững của Việt Nam.

Trong giai đoạn từ 2008 đến 2010, Viện Quản lý Rừng Bền vững và CCR đã hỗ trợ Tổng Công ty Giấy Bãi Bằng Việt Nam đánh giá quản lý rừng bền vững cho 11 công ty lâm nghiệp, hướng tới việc đạt chứng chỉ FSC theo nhóm Đến năm 2011, FSC ủy quyền cho tổ chức Smart Wood tiến hành đánh giá rừng và chuỗi hành trình sản phẩm (FM/CoC) cho hai công ty lâm nghiệp là CTLN Đoan Hùng và Xuân Đài thuộc Tổng Công ty Giấy Việt Nam Smart Wood ban đầu cho biết, hai công ty này đã đáp ứng cơ bản 10 nguyên tắc quản lý rừng bền vững và 09 yêu cầu của quản lý chuỗi hành trình sản phẩm, tiến tới việc được FSC cấp chứng chỉ rừng.

Năm 2010, Việt Nam lần đầu tiên chứng kiến một nhóm hộ trồng rừng quy mô nhỏ được cấp chứng nhận quản lý rừng FSC đạt tiêu chuẩn quốc tế về bền vững Chứng nhận này xác nhận rằng các hộ trồng rừng tuân thủ các tiêu chí về môi trường, mang lại lợi ích xã hội và tạo ra giá trị kinh tế bền vững Đây là bước đột phá quan trọng thúc đẩy phát triển bền vững ngành lâm nghiệp tại Việt Nam.

Nhóm trồng rừng gồm 118 hộ sinh sống tại năm thôn thuộc hai huyện Gio Linh và Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, quản lý 317 ha rừng Keo đã được cấp chứng chỉ FSC Hoạt động cấp chứng chỉ nằm trong khuôn khổ dự án “Quản lý rừng và kinh doanh lâm sản bền vững” của Quỹ quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên (WWF), nhằm kết nối thị trường quốc tế với các khu rừng ở Việt Nam Ngoài lợi ích kinh tế, các hộ dân được hoàn thiện kỹ năng quản lý rừng đồng thời góp phần bảo vệ đa dạng sinh học và thúc đẩy trồng cây bản địa để giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và nâng cao khả năng chống chịu sâu bệnh.

Theo văn bản số 455/TTg-NN ngày 20/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ, việc thí điểm xây dựng mô hình Công ty Lâm nghiệp nhằm thực hiện quản lý rừng bền vững đã được triển khai Đến nay, đã có 10 phương án được phê duyệt và chính thức triển khai, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ rừng.

- Công ty Lâm nghiệp Đại Thành, Thị trấn Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông (thực hiện năm 2008);

- Công ty Lâm nghiệp Long Đại (Chi nhánh Lâm trường Trường Sơn), tỉnh Quảng Bình (thực hiện năm 2009);

- Công ty Lâm nghiệp Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk (thực hiện năm 2009);

- Công ty Lâm nghiệp M’Đrăk, tỉnh Đắk Lắk (thực hiện năm 2009);

- Công ty Lâm nghiệp Đắk Tô, tỉnh Kon Tum (thực hiện năm 2009);

- Công ty Lâm nghiệp Ninh Sơn tỉnh Ninh Thuận (thực hiện năm 2009)

- Công ty Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (thực hiện năm 2011);

- Công ty Lâm nghiệp Đắk N’Tao, tỉnh Đắk Nông (thực hiện năm 2011);

Quá trình hình thành Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững quốc gia theo tiêu chuẩn FSC

1.3.1 Quá trình hình thành Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia

Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững quốc gia được xây dựng dựa trên nguyên tắc minh bạch và có sự tham gia công khai của các bên liên quan Quy trình xây dựng và công bố bộ tiêu chuẩn tuân thủ theo quy định của chương trình chứng nhận hệ thống chứng chỉ rừng FSC, nhằm đảm bảo sự chấp nhận rộng rãi trong cả thị trường nội địa và quốc tế.

Bộ tiêu chuẩn đƣợc hình thành qua 2 giai đoạn chính nhƣ sau:

* Giai đoạn 1: Xây dựng bộ Nguyên tắc QLRBV của Việt Nam (1998-2014)

Tháng 2/1998, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tổ chức Hội thảo quốc gia về Quản lý rừng bền vững tại TP Hồ Chí Minh với sự hỗ trợ từ tổ chức FSC quốc tế, WWF Đông Dương và đại sứ quán Hà Lan Hội thảo này đã thành lập Tổ công tác quốc gia về Quản lý rừng bền vững và CCR (American Forest Certification) – NWG, gồm 10 thành viên, nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng các chính sách và cơ chế quản lý rừng hiệu quả.

+ Năm 2004, NWG đƣa ra dự thảo lần thứ 8 với 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí và

143 chỉ số (chỉ ở dạng dự thảo, chƣa đƣợc công bố)

Đến năm 2006, NWG đã tăng lên 43 thành viên và chuyển thành tổ chức NGO theo quy chế thành viên FSC, mang tên tiếng Anh là SFMI và trực thuộc Hội Khoa học Kỹ thuật Lâm nghiệp Việt Nam Tổ công tác này đã chủ trì xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia về Quản lý rừng bền vững (QLRBV), dự thảo tiêu chuẩn này tuân theo các nguyên tắc do FSC hướng dẫn và phù hợp chính sách quản lý rừng của Việt Nam.

Năm 2007, bản dự thảo 9c của NWG được hoàn thiện dựa trên Bộ tiêu chuẩn của FSC quốc tế, có sự tham gia góp ý của nhiều nhà quản lý và doanh nghiệp lâm nghiệp trong nước và quốc tế Mục tiêu của quá trình này là đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế phù hợp với thực tế của Việt Nam Bộ tiêu chuẩn này được gọi là Bộ tiêu chuẩn quốc gia về Quản lý bền vững rừng và vẫn chưa được công bố chính thức bởi các cơ quan quản lý hoặc tổ chức chứng nhận rừng tại Việt Nam.

Trong giai đoạn 2013-2014, Tổng cục Lâm nghiệp phối hợp cùng Quỹ TFF đã triển khai dự án “Xây dựng chính sách Quản lý rừng bền vững và thúc đẩy Chứng chỉ rừng tại Việt Nam”, nhằm thúc đẩy phát triển bền vững ngành lâm nghiệp trong nước Bên cạnh đó, với sự tư vấn từ Viện SFMI và Trường Đại học Lâm nghiệp, Bộ Nguyên tắc Quản lý rừng bền vững Việt Nam đã được xây dựng dựa trên kết hợp giữa bộ tiêu chuẩn phiên bản 9c và việc hàu hòa hóa năm bộ tiêu chuẩn tạm thời của các tổ chức quốc tế (do FSC ủy quyền), bao gồm tiêu chuẩn SGS của Thụy Sỹ.

The certification bodies including Smartwood/Rainforest Alliance (USA), GFA (Germany), Woodmark (UK), and Control Union Certification (South Africa) enforce a set of principles outlined in an appendix of Directive No 38/2014/TT-BNNPTNT issued on November 3, 2014, by the Ministry of Agriculture and Rural Development This certification framework provides comprehensive guidelines on forest management practices, featuring 10 core principles and 51 specific criteria to ensure sustainable and responsible forest management aligned with national standards.

Bộ tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Việt Nam (QLRBV) được xây dựng dựa trên văn bản quy phạm pháp luật theo Thông tư số 38/2014/TT-BNNPTNT Tuy nhiên, mặc dù bộ tiêu chuẩn này đã được phối hợp và hài hòa với năm bộ tiêu chuẩn tạm thời của tổ chức quốc tế FSC, nó vẫn chưa nhận được sự công nhận chính thức từ FSC quốc tế Bộ tiêu chuẩn chỉ đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước, nhưng vẫn chưa hội nhập hoàn toàn vào thị trường toàn cầu vì chưa được quốc tế công nhận.

* Giai đoạn 2: Xây dựng, phát triển và hài hòa hóa Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia theo tiêu chuẩn FSC quốc tế phiên bản V5.0

Năm 2013, Tổng cục Lâm nghiệp thành lập Nhóm phát triển Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững quốc gia (SDG Việt Nam) với sự tham gia của 12 thành viên từ các bên liên quan Trong thời gian này, Việt Nam còn cử 3 đại diện tham dự Hội thảo về xây dựng Bộ nguyên tắc quản lý rừng bền vững vùng (IGIs) tổ chức tại Malaysia, đánh dấu bước khởi đầu trong quá trình xây dựng Bộ tiêu chuẩn QLRBV quốc gia.

Bộ tiêu chuẩn Quản lý và Bảo vệ Rừng Quốc gia theo tiêu chuẩn FSC được xây dựng dựa trên Bộ tiêu chuẩn V5.0 của FSC nhằm xác định các nguyên tắc và tiêu chí còn thiếu hoặc chưa phù hợp để điều chỉnh phù hợp với điều kiện của Việt Nam và tiêu chuẩn quốc tế Việc xây dựng Bộ tiêu chuẩn này bắt nguồn từ việc phân tích các tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số đã được chọn lựa, dựa trên thực trạng quản lý rừng và hoạt động cấp chứng chỉ rừng tại các khu vực lâm nghiệp Việt Nam trong thời gian qua Qua quá trình này, đã nhận diện rõ các điểm mạnh, điểm thuận lợi cũng như những khó khăn và hạn chế trong việc thực hiện chính sách quản lý rừng bền vững Mục tiêu của bộ tiêu chuẩn là đề xuất các nguyên tắc, tiêu chí và chỉ số cụ thể nhằm thúc đẩy việc cấp chứng chỉ rừng bền vững tại Việt Nam, phù hợp với mục tiêu quản lý rừng bền vững.

Chúng tôi xây dựng kế hoạch phát triển bộ tiêu chuẩn dựa trên nguyên tắc bao gồm việc chấp nhận và không chấp nhận các chỉ số phù hợp với mục tiêu, đồng thời chỉnh sửa các chỉ số còn thiếu sót để hoàn chỉnh tiêu chuẩn phù hợp với yêu cầu của Việt Nam.

1.3.2 Các yêu cầu của quy trình cho sự phát triển và duy trì Bộ Tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Quốc gia

Bộ tiêu chuẩn thể hiện tính đại diện và cân bằng lợi ích của các bên liên quan trong quá trình phát triển, đảm bảo tính khách quan và hợp tác Chỉ khi Bộ Tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Quốc gia được công nhận mới phản ánh đầy đủ các tiêu chí về bền vững và cam kết bảo vệ rừng Việc này giúp nâng cao uy tín và hiệu quả thực hiện các nguyên tắc quản lý rừng bền vững của quốc gia.

- Đƣợc đăng ký với FSC;

- Đƣợc xây dựng phù hợp với các yêu cầu quy định trong tài liệu bản đề xuất;

Bộ Tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Quốc gia đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của tất cả các tài liệu FSC liên quan về cấu trúc và nội dung Tiêu chuẩn này đảm bảo sự phù hợp trong quản lý rừng bền vững theo các quy định của FSC, giúp các tổ chức thực hiện các hoạt động khai thác rừng một cách có trách nhiệm Việc tuân thủ tiêu chuẩn FSC-STD-60- hướng tới thúc đẩy quản lý rừng bền vững, nâng cao tiêu chuẩn đạo đức và trách nhiệm xã hội trong ngành lâm nghiệp Việt Nam.

002 V1-0) (Bộ chỉ số Quốc tế)

* Các bước thực hiện phát triển Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia

1) Đề xuất phát triển Bộ Tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Đề xuất đƣợc thực hiện theo mẫu FSC-TPT-60-007 (V2-2) EN;

2) Thông báo chính thức về bộ tiêu chuẩn mới đang đƣợc phát triển trên mạng lưới của FSC

3) Thành lập Nhóm Phát triển Bộ Tiêu chuẩn, xây dựng điều khoản tham chiếu và Kế hoạch phát triển Bộ tiêu chuẩn

4) Chuẩn bị bản dự thảo và tham vấn

Hình 1.3 Quy trình phát triển Bộ tiêu chuẩn và tham vấn cộng đồng

5) Dự thảo Bộ tiêu chuẩn trình nộp để ra quyết định:

- Bản dự thảo tiền phê duyệt;

- Tóm tắt biên bản họp của SDG (1 - 2 trang)

6) Xem xét và sửa đổi Bộ Tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia

- Văn phòng FSC khu vực châu Á Thái Bình Dương, phòng chính sách và tiêu chuẩn đánh giá bộ tiêu chuẩn

- Bao gồm hỗ trợ kỹ thuật và quản lý hành chính và xây dựng báo cáo đánh giá

- Ban Chính sách và Tiêu chuẩn FSC đánh giá bộ tiêu chuẩn

- Bao gồm việc ra quyết định khi phê duyệt, chấp thuận với những sửa đổi nhỏ hoặc bác bỏ dự thảo bộ tiêu chuẩn

- Khiếu nại liên quan đến nội dung của bộ tiêu chuẩn đã đƣợc phê duyệt đƣợc trả lời bằng cách giải thích:

+ Tại sao không bao gồm các quan điểm cụ thể, + Quan điểm này có thể được sửa đổi như thế nào trong tương lai

- Nhóm SDG sẽ trả lời những khiếu nại liên quan đến các vấn đề về thủ tục trình duyệt

Nếu người khiếu nại không hài lòng với phản hồi của nhóm SDG, các tranh chấp sẽ được giải quyết qua Quy trình Giải quyết tranh chấp của FSC Sau khi Bộ Tiêu chuẩn Quản lý Rừng Bền vững Quốc gia được hoàn chỉnh và FSC công nhận, bộ tiêu chuẩn này sẽ trở thành bộ tiêu chuẩn đánh giá duy nhất tại Việt Nam Lưu giữ hồ sơ bao gồm các tài liệu liên quan đến quá trình xử lý và quyết định tranh chấp nhằm đảm bảo tính minh bạch và truy cập dễ dàng theo quy định của FSC.

- Văn bản đề nghị phát triển bộ tiêu chuẩn và tên và vị trí của các thành viên SDG và các thành viên của Diễn đàn tƣ vấn;

- Biên bản cuộc họp SDG;

Bản sao dự thảo bộ tiêu chuẩn lưu hành để lấy ý kiến đóng góp từ các bên liên quan, nhằm hoàn thiện nội dung tiêu chuẩn phù hợp với thực tiễn Đồng thời, có bản sao của tất cả các ý kiến nhận xét về dự thảo bộ tiêu chuẩn tham vấn để đảm bảo tính minh bạch và rõ ràng trong quá trình xây dựng tiêu chuẩn Việc thu thập và tổng hợp ý kiến phản hồi này giúp nâng cao chất lượng và tính khả thi của bộ tiêu chuẩn trước khi chính thức ban hành.

- Tóm tắt các ý kiến nhận đƣợc đối với từng bản dự thảo tham vấn + phản hồi chung cho những ý kiến đó;

- Báo cáo SDG và ý kiến nhận đƣợc trong quá trình tham vấn cộng đồng;

- Mô tả lộ trình từ thủ tục quy định và hành động đƣợc thực hiện đối với lộ trình này;

- Quyết định của FSC về các yêu cầu của bộ tiêu chuẩn v.v

1.3.3 Tiến trình thực hiện và kết quả thực hiện quá trình phát triển Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia

Hiện tại nhóm phát triển Bộ tiêu chuẩn SDG đã thực hiện xong đến bước thứ

11 trong tiến trình phát triển Bộ tiêu chuẩn Hiện đang triển khai bước công việc 12-

Bảng 1.3 Tiến trình thực hiện và kết quả quá trình phát triển Bộ tiêu chuẩn

TT Hoạt động Thời gian Chịu trách nhiệm Kết quả đạt đƣợc

Xây dựng kế hoạch phát triển bộ tiêu chuẩn quản lý rừng Quốc gia theo FSC

12/2012 và rà soát lại năm 2015

ForCES, VNFOREST Đề xuất đƣợc FSC phê duyệt 5/2015

2 Thiết lập và tập huấn cho nhóm SDG 3-4/2015 FSC, SDG,

Các thành viên nhóm đƣợc tập huấn về tiến trình, yêu cầu phát triển

Dịch Bộ tiêu chuẩn FSC V5.0 (IGIs) và thuê tƣ vấn biên soạn bản 01 Bộ tiêu chuẩn

IGIs tiếng Việt, bản thảo đầu tiên Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia đƣợc biên soạn

Biên soạn bản số 1 Bộ tiêu chuẩn FSC quốc gia

Thông qua các cuộc họp của nhóm SDG để thống nhất

ForCES, tƣ vấn SDG, VNFOREST

Bản thảo 01 đƣợc thống nhất, đƣa ra tham vấn rộng rãi

Tổ chức hội thảo tham vấn rộng rãi 02 hội thảo Tháng

Tham vấn rộng rãi bản

Biên bản tham vấn, góp ý kiến

Rà soát và tổng hợp ý kiến, biên soạn bản 02 Bộ tiêu chuẩn, chuẩn bị đƣa ra xin ý kiến thống nhất của nhóm SDG

Thảo luận với đơn vị đánh giá để thống nhất việc thử nghiệm bộ tiêu chuẩn

Bản 02 Bộ tiêu chuẩn đƣa ra tham vấn lần 02 và đánh giá hiện trường

Họp nhóm SDG thống nhất bản 02 Bộ tiêu chuẩn

Lập kế hoạch thử nghiệm thực địa

ForCES, FSC Các hiện trường Hương Sơn, Quảng Trị

Hợp đồng đánh giá thử nghiệm với đơn vị đánh giá và kế hoạch đánh giá

Thử nghiệm hiện trường tại Công ty LN Hương Sơn và Nhòm hộ tại Quảng Trị 9/ 2016

ForCES, FSC, GFA, WWF, SDG, VNFOREST Hương Sơn, Quảng Trị,

Báo cáo đánh giá thử nghiệm bộ tiêu chuẩn

9 Biên soạn bản số 3 bộ tiêu chuẩn

Bản 03 Bộ tiêu chuẩn thống nhất với SDG

Tham vấn rộng rãi, bao gồm 01 hội thảo do GIZ tài trợ 01/2017 GIZ, FSC,

Biên bản tham vấn, các góp ý

Biên soạn bản cuối và các báo cáo cần thiêt để trình 1-3/2017

Bản cuối Bộ tiêu chuẩn

Các báo cáo và tài liệu

12 Họp SDG để thống nhất Bản cuối Bộ tiêu chuẩn 3/2017

Các tài liệu đƣợc đƣa ra SDG thống nhất

13 Gửi FSC phê duyệt/công nhận Trước

Hồ sơ gửi FSC phê duyệt

Theo dõi tiến trình và giải trình với FSC phê duyệt bởi FSC 3-10/2017

(FSC), SDG, VNFOREST, GIZ, WWF…

Liên hệ với FSC và giải trình các câu hỏi đề nghị chỉnh sửa FSC

15 Giới thiệu SDG và các tài liệu hướng dẫn 9-12/ 2017

(FSC), SDG, VNFOREST, GIZ, WWF…

Các tài liệu giới thiệu về bộ tiêu chuẩn

Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững tại Việt Nam được xây dựng dựa trên quá trình thực hiện và phát triển công phu, bao gồm nhiều nội dung công việc theo yêu cầu của tổ chức FSC, đồng thời qua nhiều lần tham vấn rộng rãi để hài hòa hóa tiêu chuẩn phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam Việc đánh giá thử nghiệm bộ tiêu chuẩn là bước quan trọng nhằm xác định những khoảng trống về các chỉ số phù hợp với đặc thù của Việt Nam Quá trình phát triển tiêu chuẩn này có sự góp mặt của nhiều đối tượng tham gia như cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức phi chính phủ, chủ rừng, các chuyên gia trong nước và quốc tế, cũng như các bên liên quan như Hội phụ nữ Việt Nam, Ủy ban dân tộc và Hội nông dân, cho thấy Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững quốc gia đã cân bằng lợi ích của các bên để đưa ra tiêu chuẩn phù hợp nhất với điều kiện của Việt Nam.

Thảo luận

Quản lý rừng bền vững và phát triển nguồn tài nguyên rừng là mục tiêu cốt lõi trong Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Quốc gia đến năm 2020, hướng đến bảo vệ, duy trì và nâng cao giá trị của tài nguyên rừng để thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành lâm nghiệp Việt Nam.

Diện tích rừng có chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo phụ lục 02 hiện vẫn còn quá thấp so với mục tiêu đặt ra là 1,8 triệu hécta, khiến việc đạt được mục tiêu này trở nên cực kỳ khó khăn hoặc gần như không thể Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này bao gồm các yếu tố như thiếu các chính sách hỗ trợ, năng lực quản lý còn hạn chế và khó khăn trong quá trình chứng nhận khai thác bền vững Để thúc đẩy phát triển rừng bền vững, cần tăng cường các hoạt động xúc tiến, nâng cao nhận thức và cải thiện các điều kiện về pháp lý cũng như kỹ thuật trong quản lý rừng.

Hiện nay, Việt Nam chưa ban hành Bộ tiêu chuẩn quốc gia về quản lý rừng bền vững, làm cho việc xây dựng phương án quản lý rừng bền vững chưa được quốc tế công nhận Mặc dù đã có nhiều chính sách nhằm thúc đẩy quản lý rừng bền vững, các hoạt động liên quan vẫn chỉ dừng lại ở mức độ thí điểm và thường nhận được sự hỗ trợ từ các dự án tài trợ quốc tế.

Hiện nay, Việt Nam vẫn chưa xây dựng được hệ thống tổ chức chứng chỉ rừng cũng như cơ quan quản lý tiêu chuẩn về chứng chỉ rừng; đồng thời, hệ thống các tổ chức đánh giá trong nước vẫn chưa được hình thành Sự thiếu hụt này đang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai giải quyết, dự kiến đến năm 2018 mới thành lập được văn phòng quản lý chứng chỉ rừng.

Nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý rừng bền vững (QLRBV) còn hạn chế về số lượng và chất lượng, đặc biệt là thiếu hụt đội ngũ kiểm toán viên đạt chuẩn quốc tế Đội ngũ cán bộ và chuyên gia trong nước về chứng chỉ rừng vẫn còn mỏng và yếu, gây ảnh hưởng đến năng lực thực hiện các tiêu chuẩn quốc tế trong ngành lâm nghiệp Việc này đòi hỏi các hoạt động đào tạo, nâng cao năng lực và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu của thị trường và các chứng chỉ quốc tế về quản lý rừng bền vững.

Chi phí đánh giá để cấp chứng chỉ rừng rất cao, khiến nhiều chủ rừng không đủ nguồn lực thực hiện do các yếu tố khác nhau như tình trạng rừng, diện tích và địa hình đa dạng Mức phí này còn phụ thuộc vào quy mô và đặc điểm của khu vực rừng, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận chứng chỉ bền vững trong ngành lâm nghiệp.

Để có chứng chỉ quyền sử dụng đất hợp pháp, chủ rừng cần sở hữu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), nhưng hiện nay phần lớn các chủ rừng là tổ chức vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận này Nguyên nhân chính bao gồm tranh chấp về ranh giới đất đai giữa chủ rừng và người dân địa phương, cùng với việc diện tích đất giao cho các hộ dân là rất nhỏ, manh mún Do đó, việc khuyến khích các hộ dân tạo thành nhóm hộ để cấp chứng chỉ rừng gặp nhiều khó khăn, trừ khi có sự hình thành các chuỗi liên kết trong ngành lâm nghiệp.

Các tồn tại và hạn chế đã nêu cần được khắc phục đồng bộ và hệ thống trong quá trình triển khai tổ chức quản lý rừng bền vững (QLRBV) và cấp chứng chỉ rừng tại Việt Nam Để đảm bảo hiệu quả, cần giải quyết các vấn đề tồn đọng ngay lập tức, phù hợp với chiến lược phát triển bền vững của ngành lâm nghiệp, góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp gỗ và bảo vệ môi trường.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách về quản lý rừng bền vững và xây dựng hệ thống cấp chứng chỉ rừng tại Việt Nam là các mục tiêu quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển bền vững ngành lâm nghiệp Việc xây dựng Bộ tiêu chuẩn Việt Nam về Quản lý rừng bền vững quốc gia (QLRBV) cho hệ thống chứng chỉ rừng giúp đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam Đồng thời, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao nhận thức của các bên liên quan là yếu tố then chốt để thúc đẩy quá trình thực thi các chính sách và hệ thống chứng chỉ rừng hiệu quả hơn.

Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia đã chính thức ban hành nhằm hướng tới việc được công nhận bởi FSC, góp phần nâng cao tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững Việc xác định rõ các nguyên tắc, tiêu chí và chỉ số của bộ tiêu chuẩn này là cần thiết để đảm bảo tính phù hợp và đáp ứng yêu cầu quốc tế Đồng thời, cần điều chỉnh các nội dung còn thiếu hoặc chưa phù hợp của Bộ tiêu chuẩn để hài hòa với bộ tiêu chuẩn FSC quốc tế, thúc đẩy hiệu quả trong công nhận và thúc đẩy quản lý rừng bền vững trên toàn cầu.

Hiện nay, lý luận và thực tiễn quản lý rừng bền vững ở Việt Nam còn khá mới mẻ và còn nhiều khoảng trống cần được khắc phục, đặc biệt là trong việc xây dựng Bộ tiêu chuẩn QLRBV quốc gia Việt Nam cần phải thực hiện bước đi này, nhất là khi ngành gỗ chế biến xuất khẩu của đất nước đang tham gia sâu vào thị trường quốc tế Gỗ có chứng chỉ quốc tế sẽ giúp các doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu pháp lý khi xuất khẩu sang Mỹ theo Luật Lacey sửa đổi và thị trường Châu Âu theo các quy định của FLEGT và EU Trong tương lai, Bộ tiêu chuẩn QLRBV quốc gia dựa trên FSC sẽ đóng vai trò quan trọng trong chính sách quản lý rừng, mở ra cơ hội mở rộng diện tích rừng được cấp chứng chỉ và thúc đẩy phát triển bền vững ngành lâm nghiệp Việt Nam.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Việc xây dựng Bộ tiêu chuẩn Quản lý Rừng Bền vững (QLRBV) Quốc gia hài hòa với bộ tiêu chuẩn của FSC nhằm thúc đẩy quá trình cấp chứng chỉ rừng tại Việt Nam phù hợp với yêu cầu thị trường trong nước và quốc tế Đề án này góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho ngành lâm nghiệp Việt Nam thông qua việc đảm bảo tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững và tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm gỗ trên thị trường toàn cầu.

2.1.2 Mục tiêu cụ thể Đánh giá thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn QLRVB Quốc gia nhằm xác định các chỉ số chƣa phù hợp của bộ tiêu chuẩn góp phần hài hòa hóa giữa Bộ tiêu chuẩn QLRVB Quốc gia với bộ tiêu chuẩn QLRBV FSC quốc tế.

Giới hạn nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tƣợng Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia đƣợc áp dụng cho rừng tự nhiên đang thực hiện quản lý rừng bền vững ở Việt Nam

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung đánh giá thử nghiệm tại Công ty Lâm nghiệp và dịch vụ Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

Nội dung nghiên cứu

+ Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng của Công ty Lâm nghiệp và dịch vụ Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh

+ Đánh giá sự phù hợp của Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia

+ Đánh giá việc thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia

Nội dung này nhằm xác định các chỉ số chưa phù hợp và đề xuất các chỉnh sửa cần thiết nhằm hài hòa hóa Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia với điều kiện của Việt Nam Điều này giúp đảm bảo các tiêu chuẩn phù hợp với đặc thù địa phương, đồng thời vẫn tuân thủ đầy đủ yêu cầu của FSC để duy trì quản lý rừng bền vững Việc điều chỉnh các chỉ số này góp phần nâng cao hiệu quả thực thi tiêu chuẩn FSC tại Việt Nam, đảm bảo phát triển bền vững ngành lâm nghiệp quốc gia.

Phương pháp nghiên cứu

Việt Nam đồng ý với quan điểm về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng của ITTO, thể hiện cam kết bảo vệ tài nguyên rừng hiệu quả Hiện nay, đất nước đã xây dựng Bộ tiêu chuẩn Quản lý Rừng Bền vững (QLRBV) nhằm thúc đẩy việc quản lý và bảo vệ rừng dựa trên nhận thức mới về bảo tồn tài nguyên Bộ tiêu chuẩn này cũng được thiết kế để hài hòa với Bộ tiêu chuẩn FSC phiên bản V5.0, góp phần nâng cao tính minh bạch và khả năng cạnh tranh của ngành lâm nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Bộ tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững quốc gia Việt Nam được xây dựng dựa trên các chỉ số của FSC, kết hợp ý kiến đóng góp từ các nhà quản lý và nhà sản xuất lâm nghiệp trong nước và quốc tế để đảm bảo tiêu chuẩn toàn diện Mục tiêu của bộ tiêu chuẩn là đảm bảo sự phù hợp giữa tiêu chuẩn quốc tế FSC và điều kiện thực tế ở Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý rừng bền vững trong nước Dự kiến, Bộ tiêu chuẩn này sẽ được Tổ chức Quản trị rừng (FSC) phê duyệt vào cuối năm 2017, mở ra cơ hội thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá lâm nghiệp có chứng nhận FSC chính hãng.

Việc áp dụng Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia cần linh hoạt để phù hợp với các điều kiện thực tế tại Việt Nam, do các tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số này được xây dựng dựa trên các quy định chung của toàn quốc và tiêu chuẩn quốc tế Vì vậy, không thể áp dụng một cách cứng nhắc và hoàn toàn phù hợp cho mọi địa phương và hoàn cảnh khác nhau Để đảm bảo hiệu quả, cần có sự điều chỉnh, mềm dẻo trong phạm vi nhất định phù hợp với các yêu cầu của FSC và điều kiện thực tế của từng địa phương tại Việt Nam.

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 2.4.2.1 Phương pháp kế thừa

Phương pháp kế thừa tập trung vào việc tổng hợp và phân tích các tài liệu đã có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để rút ra những kết luận chính xác và phù hợp Các tài liệu kế thừa được sử dụng để phân tích nhằm mở rộng kiến thức, xác định các yếu tố ảnh hưởng và cung cấp cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp phù hợp Phương pháp này giúp nghiên cứu tổng hợp thông tin một cách logic, có hệ thống, đảm bảo tính khách quan và toàn diện của kết quả nghiên cứu.

- Các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội

- Tài liệu về hiện trạng tài nguyên rừng

- Các tài liệu, báo cáo kết quả quá trình thực hiện các hoạt động quả lý rừng của Công ty LN&DV Hương Sơn

- Các tài liệu về phương án quản lý rừng bền vững giai đoạn 2016 – 2050 của Công ty LN&DV Hương Sơn

- Kế thừa có chọn lọc các tài liệu thứ cấp khác có liên quan

2.4.2.2 Phương pháp điều tra, đánh giá a) Phương pháp đánh giá sự phù hợp của Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia tại Công ty Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn

Bộ tiêu chuẩn Quy trình quản lý rừng bền vững Quốc gia (QLRBV) theo tiêu chuẩn FSC phiên bản V2.0 được đánh giá dựa trên khảo sát trực tiếp cán bộ công nhân viên tại Công ty Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn Đánh giá dựa trên hệ thống gồm 10 nguyên tắc, 70 tiêu chí và 205 chỉ số của Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia, đảm bảo tính toàn diện và phù hợp với các yêu cầu về quản lý rừng bền vững (chi tiết tham khảo tại phụ lục 03).

Tổng số phiếu điều tra là 20 phiếu

Phương pháp điều tra là kỹ thuật chọn lọc các đối tượng đại diện, tiêu biểu liên quan đến hoạt động quản lý rừng, nhằm thu thập thông tin chính xác và chất lượng cao Phương pháp này giúp đảm bảo dữ liệu thu thập phản ánh đúng tình hình thực tế, hỗ trợ quá trình ra quyết định hiệu quả trong lĩnh vực quản lý rừng Việc sử dụng phương pháp điều tra có chọn lọc không những nâng cao độ tin cậy của dữ liệu mà còn tối ưu hóa nguồn lực và thời gian trong quá trình nghiên cứu.

Hiện nay, đội ngũ cán bộ công nhân viên của công ty LN&DV Hương Sơn gồm 147 người, hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực Lâm nghiệp, chăn nuôi và dịch vụ khác như làm ghạch Trong đó, có 75 người làm việc trong lĩnh vực Lâm nghiệp, chính những người này sẽ được phát phiếu điều tra để thu thập dữ liệu phục vụ công tác nghiên cứu và phát triển.

+ Lãnh đạo 3 người: chọn 1 người để phát phiếu điều tra;

+ Phòng kế toán 9 người: chọn 2 người để phát phiếu điều tra;

+ Phòng tổ chức hành chính 8 người: chọn 2 người để phát phiếu điều tra;

+ Phòng Quản lý bảo vệ rừng có 40 người: chọn 11 người để phát phiếu điều tra;

+ Phòng điều tra thiết kế có 15 người: chọn 4 người để phát phiếu điều tra

Thông qua phiếu điều tra, chúng tôi sẽ đánh giá các chỉ số phù hợp, rất phù hợp, phù hợp thấp, khó thực hiện và không phù hợp để xác định mức độ phù hợp của tiêu chuẩn Phương pháp đánh giá việc thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia giúp đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của các tiêu chuẩn, từ đó nâng cao chất lượng và hiệu suất thực hiện trong thực tiễn.

Hình 2.1: Các bước đánh giá thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia

Các bước tiến hành đánh giá cụ thể:

Trong bước đầu tiên của quy trình, chủ rừng cần cung cấp các tài liệu liên quan đến quản lý rừng như bản kế hoạch sản xuất kinh doanh, bản đồ chi tiết các khu rừng và hoạt động, cùng các văn bản hướng dẫn bảo vệ và phát triển rừng theo quy định pháp luật Ngoài ra, các tài liệu kiểm tra đánh giá, hợp đồng khai thác, hợp đồng lao động, chứng từ nộp lệ phí và thuế, báo cáo hoạt động cũng cần được trưng cầu để đảm bảo đầy đủ và minh bạch trong quản lý rừng.

- Bước 2: Đánh giá hiện trường

Do điều kiện thời tiết, kinh phí và thời gian nên không tiến hành đánh giá hiện trường

Để xác định các tiêu chí chưa phù hợp trong đánh giá quản lý rừng, cần chú ý đến các chỉ số không rõ ràng, khó đánh giá hoặc thực hiện, và không phù hợp với đặc thù của Việt Nam Quá trình đánh giá theo Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững quốc gia gồm việc đánh giá hồ sơ tài liệu trong phòng và tham vấn các bên liên quan để đảm bảo tính chính xác và toàn diện.

Để đạt hiệu quả cao, cần xác định rõ mục tiêu cụ thể của dự án Việc đánh giá mức độ phù hợp và hài hòa hóa Bộ tiêu chuẩn giúp đảm bảo các tiêu chí được thiết lập phù hợp với thực tế Sau đó, đề xuất các giải pháp hoặc chứng minh minh chứng rõ ràng nhằm hỗ trợ quá trình phát triển Cuối cùng, cần chỉnh sửa các chỉ số sau khi thực hiện đánh giá thử nghiệm để hoàn thiện và nâng cao chất lượng của dự án.

Kết luận đề xuất chỉnh sửa

Bộ tiêu chuẩn tham chiếu

Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia theo tiêu chuẩn FSC phiên bản V2.0

- Bước 3: Trao đổi phỏng vấn

Tiến hành phỏng vấn cán bộ, công nhân viên của công ty để đánh giá khả năng thích ứng dựa trên các nguyên tắc, tiêu chí và chỉ số trong Bộ tiêu chuẩn Công ty cung cấp minh chứng, bằng chứng cho từng tiêu chí để xác định mức độ phù hợp và không phù hợp Dựa trên đó, đề xuất các giải pháp nhằm hài hòa hóa các tiêu chí và chỉ số trong bộ tiêu chuẩn quốc gia, giúp công ty thực hiện hiệu quả phương án quản lý và kiểm soát theo Bộ tiêu chuẩn quốc gia.

- Bước 4: Xác định các tiêu chí và chỉ số không phù hợp điều kiện Việt Nam đề xuất chỉnh sửa

Trong quá trình đánh giá, sẽ xác định các nguyên tắc, tiêu chí và chỉ số chưa được chủ rừng thực hiện hoặc không thể thực hiện, nhằm đảm bảo xác định rõ những tiêu chí và chỉ số chưa phù hợp để cải thiện hiệu quả quản lý rừng.

Quá trình đánh giá thử nghiệm sẽ được tổng hợp chi tiết trong bảng 2.1 dựa trên kết quả đánh giá thử nghiệm và điều tra cán bộ công nhân viên tại công ty LN&DV Hương Sơn Các dữ liệu này sẽ làm cơ sở đề xuất các chỉnh sửa cần thiết đối với các chỉ số trong Bộ tiêu chuẩn để đảm bảo phù hợp với điều kiện Việt Nam, đồng thời vẫn đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn FSC nhằm duy trì chất lượng và tính phù hợp của hệ thống quản lý.

Bảng 2.1: Đánh giá thử nghiệm và định hướng sửa chữa, thay đổi, bổ sung chỉ số trong Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia

TT Nguyên tắc Tiêu chí

Các chỉ số chƣa phù hợp

Những điểm chƣa phù hợp Khuyến nghị Đề xuất sửa đổi

2.4.2.3 Phương pháp xử lý số liệu

ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu

Công ty Lâm nghiệp Hương Sơn nằm ở phía tây huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, trong phạm vi của 5 xã gồm Sơn Hồng, Sơn Tây, Sơn Kim 1, Sơn Kim 2 và Thị trấn Tây Sơn Nằm cách thành phố Hà Tĩnh 90 km, cảng Vũng Ánh 110 km về phía Tây và cách cửa khẩu Cầu Treo 18 km về phía Đông, công ty có vị trí chiến lược thuận tiện cho hoạt động sản xuất và vận chuyển.

Tuyến đường Quốc lộ 8A đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối Quốc lộ 1A với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động vận chuyển lâm sản và trao đổi hàng hóa Sự hiện diện của tuyến đường này đã nâng cao khả năng giao thương và phát triển kinh tế của khu vực Với vị trí chiến lược, Quốc lộ 8A góp phần thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Lào, thúc đẩy phát triển bền vững khu vực biên giới.

+ Từ 18015’ đến 18037’ vĩ độ Bắc;

+ Từ 104007’ đến 105020’ kinh độ Đông

- Phía Đông có gần 80 km đường ranh giới giáp các xã Sơn Hồng, Sơn Tây, Sơn Kim 2;

- Phía Tây có hơn 60 km đường ranh giới Quốc gia giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào;

- Phía Nam có gần 4 km đường ranh giới giáp Vườn Quốc gia Vũ Quang;

- Phía Bắc có khoảng 6 km đường ranh giới giáp huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An

Hình 3.1: Bản đồ hành chính Công ty LN&DV Hương Sơn

Tổng diện tích đất của Công ty quản lý trước năm 2012 là 38.448,0 ha theo Quyết định số 1630/QĐ/UB - NL2 ngày 29/6/2006 của UBND tỉnh Hà Tĩnh Tuy nhiên, ngày 28/10/2012, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Quyết định số 978/QĐ-UBND về việc điều chỉnh diện tích đất, trong đó chuyển một phần đất của Công ty cho Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Ngàn Phố Đến thời điểm hiện tại, tổng diện tích đất của Công ty TNHH MTV LN đã thay đổi phù hợp với các quyết định điều chỉnh của tỉnh.

DV Hương Sơn quản lý và bảo vệ tổng diện tích 19.745,6 ha, gồm 19 tiểu khu và các loại đất đa dạng Trong đó, đất có rừng tự nhiên chiếm 18.493,4 ha, đất có rừng trồng bán tự nhiên là 235,1 ha, đất chưa có rừng quy hoạch cho lâm nghiệp đạt 624,0 ha, và các loại đất khác chiếm 393,1 ha.

Công ty LN&DV Hương Sơn nằm trong khu vực núi thấp và trung bình, ở đầu nguồn sông Ngàn Phố, với độ cao trung bình khoảng 500m và đỉnh Bà Mụ cao tới 1.357m Địa hình nơi đây có đặc điểm dốc dần theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, với độ dốc trung bình từ 15-17 độ, lớn nhất lên tới 35 độ Địa hình bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi và các sông suối lớn, tạo thành 5 vùng rõ rệt: Sông Con, Ngã Đôi.

Công ty Lâm nghiệp Hương Sơn

Rào Mắc, Nước Suối và Rào Àn Khu vực Công ty quản lý bảo vệ có độ dốc trung bình khoảng từ 15-17 0 , nơi có độ dốc cao nhất khoảng 35 0

Vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa của khu vực này trải qua hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 với khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều; trong khi đó, mùa khô diễn ra từ tháng 11 đến tháng sau với thời tiết khô hanh, lạnh và ít mưa.

Khu vực có chế độ nhiệt đa dạng với nhiệt độ trung bình năm khoảng 26°C theo số liệu của 5 năm gần nhất Nhiệt độ cao nhất trung bình trong năm đạt 30,6°C, trong khi nhiệt độ thấp nhất trung bình là 8,5°C Nhiệt độ tối đa tuyệt đối ghi nhận được lên đến 39-40°C, phản ánh sự biến động lớn của khí hậu nơi đây Trong khi đó, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối có thể xuống dưới 10°C, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động nông nghiệp và sinh hoạt phù hợp với đặc điểm khí hậu từng thời kỳ.

- Độ ẩm: Độ ẩm bình quân năm là 85%, độ ẩm cao nhất đo đƣợc là 95%, thấp nhất là 50%

Chế độ mưa trung bình hàng năm tại khu vực này là khoảng 1800mm, với mức cao nhất đạt 2300mm thường xảy ra vào tháng 10 hàng năm, và mức thấp nhất khoảng 1000mm thường rơi vào tháng 2 hàng năm.

- Chế độ gió: Khu vực chịu tác động của 3 loại gió chính:

+ Gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mang về không khí lạnh và có mƣa phùn;

+ Gió mùa Đông Nam thổi từ tháng 5 đến tháng 10;

Gió mùa Tây Nam (gió Lào) từ tháng 6 đến tháng 8 khiến không khí khô và nóng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác bảo vệ, phòng cháy và chữa cháy rừng.

Khu vực có hệ thống sông dày đặc nhưng chiều dài các con sông lại khá ngắn, trong đó sông Con dài 49km là dài nhất, còn sông Rào Àn chỉ dài 10km là ngắn nhất Các con sông này đều đổ ra sông Ngàn Phố, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông và sinh hoạt vùng này Tuy nhiên, hệ thống sông suối dày đặc cũng mang lại không ít khó khăn trong việc xây dựng và phát triển hạ tầng.

Sông Con bắt nguồn từ biên giới Việt Nam - Lào và huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Dòng sông có khả năng vận chuyển các loại lâm sản, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và hỗ trợ các hoạt động khai thác, vận chuyển tài nguyên thiên nhiên.

Sông Rào Mắc dài 17 km, bắt nguồn từ biên giới Việt Nam – Lào và chảy theo hướng Đông Dòng sông có nhiều nước quanh năm, nhưng vận chuyển lâm sản bằng đường thủy gặp nhiều khó khăn Ngoài ra, cần đề phòng lũ lụt trong mùa mưa để đảm bảo an toàn và hiệu quả trong hoạt động logistics.

Sông Rào Qua dài 15 km, bắt nguồn từ Ngả Đôi, với phần lớn chiều dài về phía hạ lưu (chiếm 2/3) chứa nhiều nước thuận lợi cho hoạt động vận chuyển bằng đường thủy, góp phần phát triển giao thương khu vực.

Sông Nước Sốt dài 15 km, bắt nguồn từ các dãy núi giáp biên giới Việt Lào và quanh năm có nhiều nước và thác nghềnh Trong mùa mưa, cần đề phòng lũ quét và việc vận chuyển bằng đường thủy gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, nơi đây còn có suối nước nóng Sơn Kim, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch.

Suối Rào Àn dài 10 km, bắt nguồn từ biên giới Việt Lào, nổi bật với nhiều nước lớn quanh năm Phần thượng nguồn của suối chứa nhiều thác ghềnh phức tạp, gây khó khăn cho hoạt động vận chuyển đường thủy.

3.1.5 Đặc điểm thổ nhưỡng Địa bàn công ty đƣợc hình thành từ các loại đá mẹ chủ yếu: Phiến thạch sét,

Sa thạch hỗn hợp, Trầm tích, Cuội kết hợp Granit, quá trình phong hóa hình thành các nhóm đất sau:

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1.1 Hiện trạng tài nguyên rừng a) Diện tích, trữ lƣợng các loại rừng Qua kết quả điều tra khảo sát hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp của nhóm chuyên gia SNV và đội ngũ kỹ thuật của Công ty thực hiện năm 2015, hiện trạng diện tích các loại đất đai, trữ lƣợng rừng đƣợc thể hiện ở bảng 4.1 và hình 4.1

Bảng 4.1: Thống kê diện tích các loại đất đai, trữ lƣợng rừng

(1000 cây) Tổng diện tích tự nhiên 19.903,69 99,85 1.972.070 10.854

- Rừng hỗn giao gỗ, giang nứa 2.636,71 13,25 143.579 5.057

- rừng hỗn giao giang, nứa gỗ 1.979,74 9,95 43.045 5.798

II Đất lâm nghiệp chƣa có rừng 392,51 1,97

1,0 Đất có rừng trồng chƣa thành

2,0 Đất trống không có cây gỗ tái sinh 305,66 1,54 3,0 Đất trống có cây gỗ tái sinh 86,85 0,44

Nguồn: Công ty Lâm nghiệp Hương Sơn, 2015

Hình 4.1: Hiện trạng tài nguyên rừng Công ty LN Hương Sơn

Khu vực quản lý của Công ty LN & DV Hương Sơn có tổng diện tích lên tới 19.903,69 ha với tổng trữ lượng gỗ đạt 1.972.070 m³ Trong đó, rừng sản xuất chiếm diện tích 12.229,94 ha với trữ lượng 1.110.764 m³, còn rừng phòng hộ rộng 7.673,75 ha chứa 861.307 m³ gỗ.

Tổng diện tích đất có rừng của công ty là 18.725 ha, chiếm 94,8%

Diện tích rừng trồng là 191.2 ha, chiếm 0.96 % diện tích tự nhiên

Tổng diện tích rừng tự nhiên chiếm 96.09% diện tích tự nhiên trong đó:

Rừng giàu: 1.174,69 ha; trữ lƣợng bình quân 241 m 3 /ha;

Rừng trung bình: 7.107,79 ha; trữ lƣợng bình quân 136,6 m 3 /ha;

Rừng nghèo: 4.614,40 ha; trữ lƣợng bình quân 84,3 m 3 /ha;

Rừng nghèo kiệt: 226,08 ha; trữ lƣợng bình quân 27 m 3 /ha;

Rừng non: 1.385,68 ha; trữ lƣợng bình quân 90,2 m 3 /ha;

Rừng hỗn giao gỗ, giang nứa: 4.616,44 ha; trữ lƣợng bình quân 186.624 m 3 gỗ và 10.854 nghìn cây tre nứa

Trong các trạng thái rừng, rừng giàu và trung bình có chất lượng tốt nhất, với đầy đủ cấu trúc tầng tán và chất lượng cây gỗ tương đối cao, chiếm 43% tổng diện tích rừng tự nhiên (8.282,48 ha) Rừng nghèo có đủ tầng tán nhưng chất lượng suy giảm, nhiều cây cong queo, sâu bệnh, rỗng ruột, chiếm 24% tổng diện tích (4.614,40 ha) Rừng non phục hồi tốt, chủ yếu gồm các loài cây tiên phong mọc nhanh, diện tích 7%, tương đương 1.385,68 ha Rừng hỗn giao gỗ, giang nứa phát triển tốt, chiếm 14% (2.636,71 ha) Trong khi đó, rừng nghèo kiệt và rừng hỗn giao bị suy thoái nghiêm trọng, không còn khả năng phục hồi tự nhiên và cần biện pháp trồng mới hoặc cải tạo, diện tích 12% (2.205,82 ha).

Thực vật rừng thuộc khu vực Công ty Lâm nghiệp Hương Sơn quản lý, rất đa dạng, phong phú, có khoảng 26 họ với 400 loài của 5 ngành thực vật;

- Hệ thực vật nhiệt đới Bắc Việt Nam- Nam Trung Hoa tiêu biểu là các loài thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae), Ba mảnh vỏ (Euphobiaceac)…

- Hệ thực vật á nhiệt đới Vân Nam- Hymalya- Quý Châu- Miến Điện với các loài đặc trƣng thuộc họ Giẻ (Fagaceae), họ Re (Lauraceae)…

- Hệ thực vật phân bố ở cả vùng nhiệt đới và á nhiệt đới nhƣ các họ Cúc (Asteraceae), họ Trinh nữ (Mimosaceae)…

Các loài cây có giá trị kinh tế nổi bật bao gồm Táu mật, Re, Giẻ, Giổi, Sến mật, Lim xanh, Nang, Vạng, Trám, Ngát, Máu chó, Chẹo tía và Lòng mang, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Bên cạnh đó, còn có những loài cây quý hiếm và nguy cấp như Pơ mu, Hoàng đàn giả, Hồng tùng, Kim giao, cần được bảo tồn và gìn giữ để duy trì sự đa dạng sinh học Việc khai thác những loài cây này cần phải tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo cân bằng sinh thái và phát triển bền vững.

Ngoài gỗ, các loại lâm sản khác như Giang, Nứa, Song mây và các cây có giá trị dược liệu như Hoàng đằng, Thiên nhiên kiện, Thạch xương bồ đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng Bắc Trung Bộ Theo báo cáo đa dạng sinh học của Phân viện ĐTQH rừng Bắc Trung Bộ xây dựng tháng 6 năm 2005, các loài này góp phần duy trì cân bằng sinh thái và cung cấp nguồn lợi kinh tế, dược liệu phong phú cho cộng đồng địa phương Hệ động vật rừng tại đây còn phong phú, đa dạng, phản ánh sự đa dạng sinh học đặc thù của khu vực này.

Hệ động vật rừng trên địa bàn Công ty quản lý rất đa dạng và phong phú

Theo báo cáo đa dạng sinh học của Phân viện ĐTQH rừng Bắc Trung Bộ xây dựng tháng 6 năm 2005, khu vực này gồm 4 lớp với tổng cộng 87 loài động vật Đặc biệt, có 22 loài động vật quý hiếm đặc hữu được ghi nhận trong sách đỏ Việt Nam và sách đỏ IUCN năm 1996, cần được ưu tiên bảo vệ để duy trì đa dạng sinh học và phòng ngừa tuyệt chủng.

4.1.2 Cơ sở khoa học đảm bảo kinh doanh rừng bền vững a) Kinh tế Xây dựng phương án quản lý rừng bền vững, nhằm thúc đẩy quá trình sinh trưởng, phát triển của lâm phần bằng các giải pháp lâm sinh thích hợp cho từng lô, khoảnh, tiểu khu rừng Trên cơ sở đó làm tăng trữ lƣợng, chất lƣợng của rừng, nâng cao tỷ lệ sinh trưởng của lâm phần, nhằm cung cấp trên 3.125 m 3 gỗ lớn/năm và trên 520 m 3 gỗ tận dụng/năm, các lâm sản ngoài gỗ nhƣ Song, Mây, Tre, Nứa và cây dƣợc liệu tiêu dùng trên địa bàn và xuất khẩu, mang lại hiệu quả kinh tế ngày càng cao, nhưng vẫn duy trì tính ổn định và tăng trưởng của rừng Cụ thể:

- Diện tích trồng thâm canh rừng dự kiến cho toàn luân kỳ là 2.111,07 ha, năng suất rừng trồng bình quân dự kiến đạt từ 80 đến 110 m 3 /ha

Diện tích rừng tự nhiên kém chất lượng đã được cải tạo bằng các biện pháp lâm sinh, góp phần nâng cao độ che phủ của thảm thực vật và tăng trữ lượng rừng Các giải pháp này còn giúp tăng cường khả năng phòng hộ, cải tạo đất và hướng tới mục tiêu sử dụng đất bền vững.

Trong tổng diện tích rừng là 12.229,94 ha với trữ lượng gỗ 1.110.764 m³, diện tích rừng quy hoạch đưa vào khai thác đã được chọn theo chu kỳ 35 năm nhằm đảm bảo tính bền vững của rừng Chính sách này giúp duy trì các hệ sinh thái tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của rừng, góp phần phát triển kinh tế bền vững mà không gây tổn hại đến môi trường tự nhiên.

Diện tích rừng đạt 5.238,4 ha với trữ lượng bình quân khoảng 174 m³/ha, góp phần đáp ứng cơ bản nhu cầu nguyên liệu cho hoạt động chế biến, xây dựng và tiêu dùng trong khu vực.

Dựa trên nghiên cứu về tình hình sinh trưởng và tăng trưởng của rừng, Công ty đã xây dựng kế hoạch khai thác hàng năm cũng như kế hoạch dài hạn từ 2016 đến 2050, nhằm đảm bảo phát triển bền vững và tối ưu hóa nguồn tài nguyên rừng.

Bảng 4.2: Kế hoạch khai thác giai đoạn 1

Nguồn: Công ty Lâm nghiệp Hương Sơn, 2015

Hiện tại, công ty quản lý rừng tự nhiên chủ yếu thực hiện phương thức khoanh nuôi bảo vệ với diện tích đẩy vào bảo vệ là 18.061,2 ha và diện tích khoanh nuôi là 1.063,9 ha, trong khi các biện pháp lâm sinh khác như khai thác chọn rừng tự nhiên, cải tạo rừng và nuôi dưỡng rừng vẫn chưa được triển khai Hiệu quả kinh tế từ hoạt động rừng mang lại còn thấp, nguồn kinh phí bảo vệ và phát triển rừng chủ yếu dựa vào sự hỗ trợ của Nhà nước, còn các dịch vụ hệ sinh thái chưa được phát huy thành hàng hóa để kinh doanh và nâng cao công tác bảo vệ rừng.

Công ty sở hữu nguồn nhân lực dồi dào với trình độ chuyên môn cao và hiểu biết pháp luật, giúp khai thác hiệu quả tiềm năng của rừng và đất rừng Nhờ lợi thế về nhân lực, công ty có khả năng thực hiện thành công các mục tiêu và nhiệm vụ đề ra, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững và khai thác tối đa nguồn tài nguyên hiện có.

Công ty quản lý thực hiện rà soát lại quỹ đất nhằm đáp ứng nhu cầu về đất sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn Hoạt động này được thực hiện thông qua hình thức giao khoán rừng đến từng hộ gia đình, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.

Giải quyết một phần nhu cầu về gỗ và lâm sản của người dân sống gần rừng giúp giảm áp lực khai thác trái phép và phù hợp với quy hoạch bảo vệ rừng Công tác này còn góp phần giảm thiểu mâu thuẫn giữa các doanh nghiệp khai thác với cộng đồng địa phương, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội bền vững tại khu vực.

Ngày đăng: 20/12/2022, 05:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Vũ Nhâm (2007), Quản lý rừng bền vững. Tập bài giảng cho cao học Lâm nghiệp và nghiên cứu sinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý rừng bền vững
Tác giả: Vũ Nhâm
Năm: 2007
11. Vũ Thị Thu Phương, Trần Văn Con (2015), “Nghiên cứu, đánh giá Mô hình thí điểm quốc gia về quản lý rừng bền vững của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp và dịch vụ Hương Sơn hướng tới đạt chứng chỉ FSC toàn phần”, luận văn Thạc sỹ, trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, đánh giá Mô hình thí điểm quốc gia về quản lý rừng bền vững của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp và dịch vụ Hương Sơn hướng tới đạt chứng chỉ FSC toàn phần”
Tác giả: Vũ Thị Thu Phương, Trần Văn Con
Năm: 2015
12. Tô Xuân Phúc, 2012. Chứng chỉ rừng bền vững, cơ hội và thách thức đối với Việt Nam. Tổ chức Forest Trends, Hoa Kỳ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chứng chỉ rừng bền vững, cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
13. Ban quản lý rừng bền vững (2014), Báo cáo tổng kết điều tra đánh giá thực địa Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững Việt Nam. Tổng cục Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết điều tra đánh giá thực địa Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững Việt Nam
Tác giả: Ban quản lý rừng bền vững
Năm: 2014
14. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2017), Phương án thành lập văn phòng chứng chỉ rừng Việt nam theo chương trình chứng nhận chứng chỉ rừng (PEFC). Tổng cục Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2017), "Phương án thành lập văn phòng chứng chỉ rừng Việt nam theo chương trình chứng nhận chứng chỉ rừng (PEFC)
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2017
18. Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương sơn (2015), Phương án quản lý rừng bền vững Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương sơn (Giai đoạn 2016 – 2050) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương sơn (2015)
Tác giả: Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương sơn
Năm: 2015
20. Chương trình Lâm nghiệp WWF Chương trình Việt Nam (2004), Sách hướng dẫn Chứng chỉ nhóm FSC về quản lý rừng (Ngọc Thị Mến dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách hướng dẫn Chứng chỉ nhóm FSC về quản lý rừng
Tác giả: Chương trình Lâm nghiệp WWF Chương trình Việt Nam
Năm: 2004
22. Tổng cục Lâm nghiệp (2017), Báo cáo kế hoạch thực hiện tháng 3 triển khai kế hoạch tháng 4 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng cục Lâm nghiệp (2017)
Tác giả: Tổng cục Lâm nghiệp
Năm: 2017
23. Tổng cục Lâm nghiệp, Tổng kết công tác chỉ đạo điều hành năm 2015 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2016 ngày 29 tháng 12 năm 2015, Tài liệu Hội nghị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết công tác chỉ đạo điều hành năm 2015 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2016 ngày 29 tháng 12 năm 2015
24. Tổng cục Lâm nghiệp (2015), Hội thảo Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng ở Việt Nam, Tài liệu hội thảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng ở Việt Nam
Tác giả: Tổng cục Lâm nghiệp
Năm: 2015
26. Văn bản số 455/TTg – NN ngày 20/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ, về việc giao Bộ Nông nghiệp và PTNT chủ trì, phối hợp với các Bộ, Ngành liên quan, xây dựng thí điểm “Mô hình Lâm trường quản lý rừng bền vững” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình Lâm trường quản lý rừng bền vững
27. Viện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng - SFMI (2007), Tiêu chuẩn quốc gia quản lý rừng bền vững (dự thảo 9C tháng 7/2007).Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chuẩn quốc gia quản lý rừng bền vững (dự thảo 9C tháng 7/2007)
Tác giả: Viện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng - SFMI
Năm: 2007
28. Alistair Monument, 2013. Forest Stewardship Council in Asia Pacific. FSC Asia pacific regional Sách, tạp chí
Tiêu đề: Forest Stewardship Council in Asia Pacific
29. Christopher Upton and Stephen Bass, 1996. Discussion Paper on Forest Certification. Program on Forest Certification. Global Institute of Sustainable Forestry. Yale School of Forestry and Environmental Studies Sách, tạp chí
Tiêu đề: Discussion Paper on Forest Certification. Program on Forest Certification. Global Institute of Sustainable Forestry
30. Henning Peter, Ngo Tri Dung (2016), Report of field test FSC national Forest stewardship standard of Viet Nam 2.0.31. FSC Annual Report 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Report of field test FSC national Forest stewardship standard of Viet Nam 2.0
Tác giả: Henning Peter, Ngo Tri Dung
Năm: 2016
15. Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (2006), Cẩm nang ngành Lâm nghiệp: Chương quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng Khác
16. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2015), Quyết định số 2810/QĐ-BNN- TCLN ngày 16/7/2015 của Bộ NN&PTNT Phê duyệt kế hoạch hành động về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng giai đoạn 2015-2020 Khác
17. Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (2016), Quyết định số 83/QĐ-BNN- TCLN ngày 12/1/2016 Phê duyệt Đề án thực hiện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng giai đoạn 2016-2020 Khác
21. Thủ tướng chính phủ (2007), Quyết định số 18/2007/QĐ – TTg, ngày 5 tháng 2 năm 2007 của Thủ tướng chính phủ về Phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 – 2020 Khác
25. Tổ chức FSC (2001), Về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng, tài liệu hội thảo Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w