1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận án tiến sĩ quản lý văn hóa quản lý lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố hà nội

273 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tác giả Nguyễn Thu Phượng
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Việt Hương
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý văn hóa
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 273
Dung lượng 194,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng hợp các kết quả nghiên cứu, cụ thể như tổng hợp số liệu về lễ hội, về số liệu, tư liệu minh chứng cho thực trạng vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong QLLH truyền thống làng nghề.

Trang 1

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

NGUYỄN THU PHƯỢNG

QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG LÀNG NGHỀ

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

HÀ NỘI, 2022

Trang 2

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

NGUYỄN THU PHƯỢNG

QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG LÀNG NGHỀ

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Quản lý văn hóa

Mã số: 9229042

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Việt Hương

Trang 3

HÀ NỘI, 2022

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Kết quả nghiên

cứu của luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đó Tôi xin chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên là đúng sự thật

Tác giả luận án

Nguyễn Thu Phượng

1

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ 3

MỞ ĐẦU 4

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG LÀNG NGHỀ, KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 12

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 12

Trang 4

1.2 Cơ sở lý luận về quản lý lễ hội truyền thống làng nghề 22

1.3 Khái quát về lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội 38

Tiểu kết chương 1 52

Chương 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VÀ CỘNG ĐỒNG TRONG QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 54

2.1 Các chủ thể quản lý, mối quan hệ phối hợp trong thực hiện vai trò 54

2.2 Vai trò của các chủ thể thông qua hoạt động quản lý 62

Tiểu kết chương 2 111

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VÀ CỘNG ĐỒNG TRONG QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 112

3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 112

3.2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề 130

Tiểu kết chương 3 147

KẾT LUẬN 148

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

PHỤ LỤC 162

2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Trang 5

VH&TT Văn hóa & thể thao

VHTT&DL Văn hóa Thể thao và Du lịch

3

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 01 Đối chiếu thang điểm và mức độ đánh giá theo thang đo Likert 9

Sơ đồ 1.1 Lý thuyết vai trò áp dụng QLLH truyền thống làng nghề 30

Sơ đồ 1.2 Vai trò của Nhà nước và cộng đồng QLLH truyền thống làng nghề 31

Trang 6

4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lễ hội truyền thống là một trong những loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian

tiêu biểu, sản phẩm văn hóa tinh thần của cha ông ta được hình thành trong lịch sử và tồn tại cho đến ngày nay Lễ hội có vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá của cộng đồng, nơi lưu giữ, bảo tồn và trao truyền nhiều giá trị văn hóa tốt đẹp, phản ánh những nhu cầu, ước vọng tạo sự gắn kết, mối quan hệ gắn bó, gần gũi giữa những con người khi cùng chung sống trong một làng xã, khu vực, vùng miền và cả ở phạm vi quốc gia, dân tộc

Hà Nội là thành phố của sự đa dạng, có lịch sử ngàn năm văn hiến, nguồn tài

nguyên dồi dào, đa dạng về loại hình và có giá trị cao về lịch sử, văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật với 5.922 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 2.396 di tích đã được xếp hạng, bao gồm: 01 di sản văn hóa thế giới, 12 di tích quốc gia cấp đặc biệt (Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội vừa là di sản văn hóa thế giới vừa là di tích quốc gia đặc biệt), 1.182 di tích quốc gia, 1.202 di tích cấp thành phố Di sản văn hóa phi vật thể Hà Nội

có 1.793 di sản, trong đó 1.206 lễ hội: 01 di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại là Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc Sơn, 26 di sản được ghi danh vào di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, trong đó có các lễ hội khá nổi tiếng như: Lễ hội làng Bình

Đà (Thanh Oai), lễ hội làng Lệ Mật (Long Biên), lễ hội làng Triều Khúc (Thanh Trì), lễ hội đền Và (Sơn Tây)…[76]

Hà Nội còn là nơi hội tụ tinh hoa nghề thủ công truyền thống của cả nước Trong

số khoảng 5.400 làng nghề ở Việt Nam, riêng Hà Nội chiếm 1/3 số làng nghề với khoảng 1.350 làng nghề và làng có nghề, trong đó có hơn 300 làng nghề thủ công truyền thống tiêu biểu Mạng lưới làng nghề thủ công rộng khắp cùng hàng trăm nghệ

Trang 7

nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú lĩnh vực thủ công mỹ nghệ đã được Chủ tịch nước

phong tặng, cùng cộng đồng thợ giỏi và rất nhiều nhà sáng tạo trẻ đã đưa Hà Nội trở thành nơi nuôi dưỡng, hội tụ và thúc đẩy cảm hứng sáng tạo, lan tỏa trong xã hội, nơi tôn vinh văn hóa Việt, đưa sản phẩm thủ công truyền thống ra thị trường quốc tế

Công tác tổ chức, QLLH truyền thống, công tác bảo tồn, phát huy giá trị DSVH đã

được Đảng và Nhà nước quan tâm chú trọng Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định

số 1230/QĐ-TTg ngày 15/7/2021 về phê duyệt Chương trình Bảo tồn và phát huy bền

nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, trong đó mục tiêu phấn đấu ngành công nghiệp văn hóa Thủ đô phát triển thương hiệu “Thủ đô ngàn năm văn hiến”, “Thành phố vì hòa bình”, “Thành phố sáng tạo” [77]… Bên cạnh đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đã ban hành Quyết định số 2139 /QĐ-BVHTTDL ngày 16/7/2021 phê duyệt Đề án “Số hóa dữ liệu lễ hội tại Việt Nam” giai đoạn 2021-2025 nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước

về hoạt động lễ hội Nâng cao vai trò, trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước của các

Bộ, ngành, địa phương và người dân trong hoạt động lễ hội [10]

Tuy nhiên, trong bối cảnh đời sống hiện nay khi quá trình công nghiệp hóa, hiện

Trang 8

đại hóa diễn ra mạnh mẽ với sự phát triển đa dạng các ngành nghề, sự tăng dân số

nhanh chóng, sự biến đổi của đời sống văn hóa, Hà Nội một mặt đang đón nhận những

cơ hội và thách thức của sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, mặt khác cũng đang phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt trong việc giữ gìn và bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống Bởi vậy, công tác tổ chức và QLLH đã trở thành vấn đề cấp thiết Hiện nay, vấn đề này còn

nhiều bất cập, việc thực hiện vai trò của Nhà nước và cộng đồng ở một số lễ hội truyền thống làng nghề tại Hà Nội chưa hiệu quả, chưa đáp ứng cao kỳ vọng của từng chủ thể Vai trò thiết kế của Nhà nước qua hoạt động hướng dẫn tổ chức lễ hội, điều chỉnh qua kiểm tra giám sát chưa được chặt chẽ Vai trò phối hợp giữa Nhà nước và cộng đồng còn nhiều hạn chế Một số lễ hội truyền thống làng nghề, vai trò của cộng đồng bị quá tải, việc chỉ đạo, triển khai tổ chức lễ hội chủ yếu do cộng đồng dân cư thực hiện, dẫn đến hiệu quả tổ chức, QLLH truyền thống làng nghề chưa cao, vấn đề về quyền lợi và nghĩa vụ chưa đồng thuận cao

6

Trên thực tế, nghiên cứu về di tích lịch sử văn hóa, lễ hội làng nghề ở Hà Nội hay lễ hội truyền thống Hà Nội đã có rất nhiều công trình, đặc biệt trong giai đoạn kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội đã có hàng trăm đầu sách được xuất bản Tuy nhiên nghiên cứu

về lễ hội truyền thống dưới góc độ quản lý thì chưa có nhiều, nhất là việc quản lý lễ hội truyền thống làng nghề trong bối cảnh đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng, sự tăng dân số

cơ học cũng như sự biến đổi của đời sống văn hóa ở cả đô thị và nông thôn Đặc biệt, tiếp cận nghiên cứu từ lý thuyết nghiên cứu liên ngành - lý thuyết vai trò trong QLLH truyền thống còn khan hiếm tại Việt Nam, việc nghiên cứu QLLH truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội từ lý thuyết vai trò vẫn còn là một khoảng trống trong nghiên cứu, nhất là nghiên cứu từ lý thuyết vai trò để nhìn nhận việc thực hiện vai trò của từng chủ thể

Trang 9

quản lý thông qua các hoạt động quản lý Trong khi đó vai trò của Nhà nước và cộng đồng rất quan trọng trong QLLH truyền thống làng nghề Nếu có sự tương tác, phối hợp chặt chẽ của hai chủ thể này sẽ phát huy tốt hiệu quả QLLH truyền thống làng nghề, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, văn hoá làng nghề trong giai đoạn hội nhập

Chính vì những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Quản lý lễ hội truyền thống

làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội" làm đề tài nghiên cứu luận án Tiến sĩ

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá vai trò của các chủ thể quản lý lễ hội truyền thống làng nghề trên địa

bàn thành phố Hà Nội để đề xuất một số giải pháp phát huy vai trò của các chủ thể này trong việc nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu trên, luận án đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về QLLH truyền thống làng nghề

- Xây dựng khung phân tích của luận án

- Đánh giá vai trò của các chủ thể trong QLLH truyền thống làng nghề trên địa

bàn thành phố Hà Nội trong thời gian qua

- Xem xét những vấn đề đặt ra từ thực trạng dưới góc nhìn của lý thuyết vai trò,

khoa học quản lý, từ đó đưa ra một số giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong QLLH truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội

7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong QLLH truyền thống làng nghề được tổ

chức ở quy mô cấp phường/xã, quận/huyện, thành phố theo 4 nhóm loại hình làng nghề

Trang 10

khác nhau để có thể khảo sát và đánh giá được tương tác vai trò của các chủ thể, bao gồm cả quản lý Nhà nước và cộng đồng

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Phạm vi nội dung

Vai trò của Nhà nước và cộng đồng thể hiện qua hoạt động quản lý LHTT làng

nghề Các bên liên quan khác không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án

3.2.2 Phạm vi không gian

Luận án tiến hành nghiên cứu hoạt động QLLH truyền thống làng nghề trên địa

bàn thành phố Hà Nội và được tập trung nghiên cứu ở 04 lễ hội thuộc cấp quận/ huyện, phường/xã mang tính đại diện

- Quận trung tâm nội thành: Hoàn Kiếm, Ba Đình: Lễ hội Đình Kim Ngân, Hàng Bạc, đại diện cho mô hình lễ hội truyền thống phố nghề

- Quận nội thành mới được thành lập: Hà Đông: Lễ hội làng nghề Lụa Vạn Phúc, đại diện cho mô hình lễ hội truyền thống làng nghề thương mại liên vùng

- Huyện, xã ngoại thành: huyện Gia Lâm: Lễ hội làng nghề Gốm Bát Tràng, đại

diện cho mô hình lễ hội truyền thống làng nghề thương mại - du lịch; huyện Thanh Oai:

Lễ hội làng pháo Bình Đà, đại diện cho mô hình lễ hội truyền thống làng nghề nông

nghiệp, chuyển đổi ngành nghề

Trong một số phân tích, phạm vi không gian có thể mở rộng để so sánh vai trò

của Nhà nước và cộng đồng trong QLLH với một số lễ hội truyền thống ở những làng không có nghề thủ công ở quy mô nhiều hộ gia đình

3.2.3 Phạm vi thời gian

Nghiên cứu lễ hội truyền thống làng nghề lấy số liệu khảo sát từ năm 2015 đến

năm 2021

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

4.1.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Thu thập các tài liệu có liên quan tới đề tài nghiên cứu, phân tích, tổng hợp

Trang 11

những tư liệu, các hiện tượng, các hoạt động của các chủ thể có liên quan trực tiếp đến

8

QLLH truyền thống làng nghề, khái quát hóa để xây dựng cơ sở lý luận cho luận án

Ngoài ra, tác giả cũng phân tích, tổng hợp các chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước về QLLH truyền thống để khái quát, luận giải về các quan điểm, tư tưởng có liên quan tới đề tài nghiên cứu Tổng hợp các kết quả nghiên cứu, cụ thể như tổng hợp

số liệu về lễ hội, về số liệu, tư liệu minh chứng cho thực trạng vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong QLLH truyền thống làng nghề

4.1.2 Phương pháp mô hình hóa

Từ góc độ nghiên cứu lý thuyết vai trò, tác giả mô phỏng được vai trò của Nhà

nước và vai trò của cộng đồng trong QLLH truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội thông qua các hoạt động quản lý được thể hiện sơ đồ 1.1 và 1.2

4.1.3 Phương pháp điều tra khảo sát bằng bảng hỏi

- Đối tượng khảo sát: cán bộ quản lý cấp huyện, xã; cộng đồng cư dân sinh sống tại

làng nghề; doanh nghiệp, hiệp hội làng nghề đóng trên địa bàn LHTT làng nghề

- Nội dung khảo sát

Khảo sát thực trạng vai trò của Nhà nước và cộng đồng thông qua các hoạt động QLLH truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian qua Mức độ hài lòng và mức độ đáp ứng vai trò của Nhà nước và cộng đồng qua các hoạt động QLLH truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Phương pháp khảo sát

Phương pháp này được tiến hành thông qua việc tổ chức những chuyến đi khảo

sát thực địa, điều tra xã hội học đối với một số lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội: Khảo sát tại các lễ hội ở các địa bàn quận nội thành (Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hà Đông) và huyện ngoại thành (Gia Lâm, Thanh Oai)

+ Số lượng mẫu khảo sát: tổng số Phiếu khảo sát phát ra là 350 phiếu, trong

Trang 12

đó CBQL 32 phiếu, cộng đồng cư dân làng nghề 318 phiếu (cộng đồng bao gồm:

người dân sinh sống ở làng nghề, hiệp hội làng nghề, doanh nghiệp đóng trên địa

bàn làng nghề) Số phiếu thu về 32 phiếu CBQL, 298 phiếu cộng đồng

+ Đối với phiếu khảo sát: Tác giả sử dụng phương pháp điều tra xã hội học

Phiếu khảo sát được nhập và phân tích bằng phần mềm Microsoft Excel để thống kê số liệu và xử lý các câu hỏi mở Ngoài ra, còn áp dụng tính điểm theo thang đo Likert để đánh giá mức độ hài lòng và mức độ đáp ứng vai trò

9

Kết quả điểm trung bình theo thang đo Likert được đối chiếu trong bảng 01

Sau khi nhập dữ liệu, tiến hành kiểm dò, điều chỉnh dữ liệu (nếu sai sót) và xử lý

kết quả khảo sát

Bảng 01 Đối chiếu thang điểm và mức độ đánh giá theo thang đo Likert

Điểm Mức đánh giá

1 - 1.8 Rất kém

1.81 - 2.6 Kém, phải lập kế hoạch để điều chỉnh ngay

2.61 - 3.4 Chấp nhận được, cần tiếp tục cải thiện các hoạt động

- Số lượng người phỏng vấn: thực hiện 20 cuộc phỏng vấn chuyên sâu

- Đối tượng phỏng vấn: Cán bộ quản lý văn hóa quận/huyện, phường/xã,

BQLDT các LHTT, người dân sinh sống tại các làng nghề, Chủ tịch Hiệp hội các làng nghề, các doanh nghiệp

- Nội dung: Thực trạng những hoạt động quản lý, những khó khăn bất cập trong

hoạt động quản lý, sự phối hợp của các đơn vị với chủ thể quản lý, vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong công tác tổ chức, QLLH truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà

Trang 13

Nội trong thời gian qua Một số đề xuất giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong QLLH truyền thống làng nghề Kỳ vọng về vai trò của các chủ thể quản lý và đánh giá mức độ hài lòng của người trả lời phỏng vấn khi xem xét các hoạt động quản lý

- Phương pháp phỏng vấn: Tác giả đưa ra các câu hỏi, ghi âm câu trả lời của các

chuyên gia và phân tích, chuyên gia trả lời được mã hóa từ PV01 đến PV31 để đảm bảo thông tin cá nhân

4.1.5 Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh

vực QLLH truyền thống làng nghề về các giải pháp đề xuất: Chuyên gia Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, chuyên gia Phòng văn hóa quận Hà Đông, huyện Gia Lâm

4.1.6 Phương pháp so sánh: Phương pháp này được vận dụng để so sánh vai trò

của Nhà nước và cộng đồng trong QLLH truyền thống làng nghề giữa các lễ hội làng nghề

có các mô hình làng nghề khác nhau thông qua hoạt động quản lý So sánh sự khác nhau giữa các lễ hội truyền thống làng nghề với các lễ hội truyền thống chung

10

4.2 Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, luận án tiếp cận các lĩnh

vực liên ngành: Văn hóa học, Dân tộc học, Xã hội học, Quản lý văn hóa

5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

1 Nhà nước và cộng đồng có vai trò như thế nào trong QLLH làng nghề truyền

thống làng nghề?

2 Tương tác vai trò của Nhà nước và cộng đồng có ảnh hưởng như thế nào đến

QLLH truyền thống làng nghề? Có những điểm khác biệt nào trong QLNN về LHTT làng nghề?

3 Những vấn đề đặt ra khi thực hiện vai trò của từng chủ thể? Liệu có xuất hiện

quá tải vai trò khi vai trò của cộng đồng ngày càng tăng?

4 Cần những giải pháp nào để nâng cao vai trò của Nhà nước và cộng đồng

trong QLLH truyền thống làng nghề?

Trang 14

5.2 Giả thuyết nghiên cứu

1 Nhận thức của Nhà nước và cộng đồng về giá trị của LHTT làng nghề càng tốt

thì càng nâng cao được vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong QLLH truyền thống làng nghề

2 Nếu có sự đồng thuận giữa vai trò của Nhà nước và vai trò của cộng đồng thì

sẽ nâng cao được vai trò QLLH làng nghề truyền thống của cả Nhà nước và cộng đồng

3 Vai trò định hướng, thiết kế, duy trì và thúc đẩy lễ hội truyền thống làng nghề

càng được phát huy tốt thì càng nâng cao được vai trò của Nhà nước trong QLLH

truyền thống làng nghề

4 Cộng đồng càng tự chủ, chủ động, tích cực, phối hợp với nhau tốt thì càng

nâng cao được vai trò QLLH truyền thống làng nghề

5 Đã có sự xuất hiện dấu hiệu quá tải vai trò của cộng đồng khi Nhà nước

tham gia ít hơn vào QLlH truyền thống làng nghề

6 Kết quả và đóng góp của luận án

6.1 Về lý luận

- Luận án làm sáng tỏ một số khái niệm, trong đó tổng hợp, bổ sung để đưa ra

thêm được khái niệm LHTT làng nghề, QLLH truyền thống làng nghề

- Đã sử dụng lý thuyết vai trò vận dụng vào trường hợp quản lý lễ hội truyền

thống làng nghề, xây dựng khung phân tích của luận án Từ lý thuyết nghiên cứu đã xác

11

định vai trò của Nhà nước bao gồm: (1) Vai trò định hướng chỉ đạo; (2) Vai trò thiết kế; (3) Vai trò duy trì, thúc đẩy; (4) Vai trò điều chỉnh; (5) Vai trò phối hợp Vai trò của cộng đồng gồm: (1) Vai trò tự chủ; (2) Vai trò chủ động, tích cực; (3) Vai trò thực hiện; (4) Vai trò quyết định; (5) Vai trò phối hợp Luận án đã xây dựng các nội dung cơ bản các hoạt động quản lý của Nhà nước và cộng đồng khi thực hiện vai trò của mình trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề

- Căn cứ vào vai trò của các chủ thể đã được xây dựng trong khung nghiên cứu

để khảo sát đánh giá kết quả thực hiện vai trò quản lý lễ hội truyền thống làng nghề của Nhà nước và cộng đồng Luận án đã dẫn ra các tư liệu, số liệu và phân tích các trường hợp cụ thể trong đó có bốn lễ hội làng nghề lựa chọn để nghiên cứu Qua đó nêu được vai trò khác nhau của các chủ thể tại các loại hình làng nghề khác nhau, làm cơ sở để

đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý phù hợp với từng loại hình

- Đánh giá chung về thực hiện vai trò, mức độ tương tác vai trò và kỳ vọng của các chủ thể trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề (phân tích sự đồng thuận, đồng thuận chưa cao, quá tải vai trò giữa các chủ thể) Bước đầu nêu được những điểm khác biệt trong QLlH truyền thống làng nghề so với QLLH các loại hình làng khác

Trang 15

6.2 Về thực tiễn

Luận án đề xuất xuất hai nhóm giải pháp: Nhóm giải pháp nâng cao vai trò của

Nhà nước và nhóm giải pháp nâng cao vai trò của cộng đồng trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề, trên cơ sở phân tích những vấn đề đặt ra hiện nay trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề và bối cảnh của Thủ đô Hà Nội ảnh hưởng đến lễ hội làng nghề

Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo cho cơ quan quản lý văn

hóa Ngoài ra luận án còn là cơ sở tư liệu tham khảo cho các tác giả sau này nghiên cứu

về QLLH truyền thống làng nghề

7 Nội dung của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận án được

chia thành 03 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về quản lý lễ hội truyền

thống làng nghề, khái quát về lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chương 2: Thực trạng vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong quản lý lễ hội

truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chương 3: Giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong quản lý

lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội

12

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN

VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG LÀNG NGHỀ, KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về quản lý lễ hội

1.1.1.1 Những công trình nghiên cứu về vai trò của Nhà nước trong quản lý lễ hội

Trong công tác QLLH, Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu

xây dựng, củng cố và hoàn thiện hệ thống chính sách và luật pháp có liên quan đến

việc duy trì và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội, vai trò định hướng, chỉ đạo, vai trò thiết kế, phối hợp Vai trò này đã được khẳng định qua nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới

Trang 16

Đề cập đến vấn đề này, các công trình nghiên cứu trên thế giới tập trung xem xét

vai trò của Nhà nước và mối liên hệ giữa các bên liên quan trong QLLH Có thể kể đến các công trình tiêu biểu của các tác giả: Frisby, W., & Getz, D (1989), tác giả đề cập đến việc Nhà nước có vai trò hoạch định chính sách, chỉ đạo các hoạt động của lễ hội và

có mối quan hệ mật thiết với các bên liên quan trong QLLH [116] Trong nghiên cứu về

lễ hội ở hai xã hội phương Tây, 7 lễ hội ở Canada (thành phố Calgary) và 6 lễ hội ở Thụy Điển các tác giả Donald Getz, Tommy Andersson và Mia Larson (2006) đã cho thấy vai trò của các bên liên quan Các bên liên quan được phân nhóm gồm người quản

lý, người điều phối, người đồng sản xuất, nhà cung cấp, cộng tác viên, khán giả và người bị ảnh hưởng, kết quả cho thấy các bên liên quan chính có nhiều vai trò như: vai trò thực hiện, phối hợp ảnh hưởng đến tổ chức lễ hội Để đánh giá mức độ quan trọng của các bên liên quan, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp khảo sát đánh giá với các cấp độ: quan trọng nhất, quan trọng trung bình và ít quan trọng Kết quả cho thấy, trong

7 lễ hội tại Canada, vai trò của cấp thành phố và các tiểu bang là quan trọng nhất (mức 1) trong 2/7 lễ hội (Folk và Jazz) Trong khi 6 lễ hội ở Thụy Điển vai trò của cấp thành phố được đánh giá mức quan trọng nhất là 3/6 lễ hội Vì vậy, cấp thành phố trở thành một nhà tổ chức rất quan trọng Ở Calgary hỗ trợ rất ít tài chính cho các lễ hội, bởi họ làm tốt công tác xã hội hóa [112] Cũng nghiên cứu về các lễ hội, tác giả Andersson, Tommy D và Donald Getz (2008), khảo sát trên các lễ hội truyền thống tại Thụy Điển

13

cho thấy mức độ phụ thuộc của lễ hội này với Nhà nước chỉ đạt ở 2,85/7, điều này chắc chắn phản ảnh mức độ hỗ trợ từ Nhà nước trong các hoạt động tổ chức lễ hội này là rất thấp Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, mặc dù mức độ hỗ trợ của Nhà nước thấp nhưng không thể phủ nhận vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý

lễ hội [103] Tác giả Angelo Presenza và Simone Iocca (2012) đã cho thấy mối quan hệ

Trang 17

phối hợp giữa người tổ chức lễ hội, Nhà nước, các cá nhân và doanh nghiệp trong quản

lý lễ hội âm nhạc ở Ý, đồng thời cũng cho thấy sự tương tác giữa các bên liên quan trong mối quan hệ này Kết quả cho thấy có 14,58% số lễ hội được tổ chức bởi cơ quan Nhà nước và cho thấy rằng Nhà nước và doanh nghiệp có vai trò quan trọng đối với vấn

đề liên quan đến kinh phí tổ chức lễ hội [129] Trái ngược lại với nghiên cứu này, vai trò của Nhà nước lại được đánh giá ở mức độ phụ thuộc rất thấp trong việc tổ chức lễ hội âm nhạc tại Thụy Điển Trong nghiên cứu của B Shine Cho và cộng sự (2019) cho rằng: tại Hàn Quốc có rất nhiều lễ hội do Nhà nước tổ chức, trong đó Nhà nước tham gia rất nhiều vào việc quản lý và phân bổ một lượng khá lớn các nguồn lực công Tuy nhiên, việc quản lý các lễ hội đó như thế nào hiếm khi được kiểm tra, đặc biệt là những

lễ hội vượt quá khả năng quản lý của Nhà nước [109]

Các nghiên cứu trên đều cho thấy vai trò rất quan trọng của chính quyền địa

phương trong vấn đề quản lý lễ hội Ngoại trừ Thụy Điển thì vai trò của Nhà nước là rất quan trọng, bởi ở hầu hết các quốc gia trong các nghiên cứu trên đều không có ảnh hưởng lớn Một số quốc gia việc nhận được tài trợ tổ chức lễ hội từ Nhà nước là không nhiều, một số lễ hội ở các nước thì được hưởng các dịch vụ công Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng chính quyền địa phương thường dễ tiếp thu các chiến lược du lịch lễ hội; quan hệ đối tác giữa Nhà nước và bên tổ chức lễ hội là cần thiết để củng cố lĩnh vực này

Trong bối cảnh điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa ở Việt Nam, nhiều

công trình nghiên cứu đã được các tác giả ở Việt Nam phân tích vai trò của Nhà nước trong công tác tổ chức, quản lý lễ hội

Khẳng định vai trò của Nhà nước trong QLLH, tác giả Bùi Hoài Sơn (2009) cho

rằng công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lễ hội

truyền thống [74] Cùng bàn về vai trò của Nhà nước, tác giả Nguyễn Hữu Thức (2011) cho rằng: chính quyền sở tại là cơ quan quản lý, hướng dẫn tổ chức lễ hội, đồng thời

Trang 18

cũng là thành phần giám sát và hỗ trợ người dân thực hiện các loại hình di sản, trong đó

14

tiêu biểu là lễ hội truyền thống [85] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2012), một số tác giả đã khẳng định vai trò của Nhà nước trong tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống: Nhà nước có vai trò, trách nhiệm trong việc quản lý/ điều tiết việc bảo tồn và phát huy

lễ hội bằng các chủ trương, chính sách và thông qua hệ thống tổ chức chính quyền và các ngành chuyên môn ở các cấp… Nhà nước và cộng đồng cần thiết lập được mối quan hệ gắn bó, hài hòa, đặc biệt phát huy tốt nhất vai trò chủ thể của cộng đồng [8] Tác giả Trần Hữu Sơn (2015) cũng đã đề cập đến vai trò của Nhà nước qua một số giải pháp QLLH: (1) Mô hình quản lý, và tổ chức lễ hội do cộng đồng tự quản, có sự giám sát của Nhà nước ở cơ sở Vai trò quản lý của Nhà nước thể hiện ở chỗ: giám sát và chỉ đạo, giải quyết kịp thời những vướng mắc xảy ra Mặt khác, vai trò quản lý Nhà nước cũng cần được phân cấp dần tới cộng đồng và thể chế hóa bằng hệ thống hương ước, quy ước chung của làng; (2) Mô hình kết hợp vai trò tự quản của cộng đồng với sự giúp

đỡ của Nhà nước: Các hoạt động lễ và hội vẫn do cộng đồng quyết định và thực hiện là chính, tuy nhiên, đã có sự chỉ đạo, định hướng và tham gia của các ban, ngành chính quyền và đoàn thể Kinh phí tổ chức lễ hội cũng được Nhà nước tài trợ một phần Vai trò của Nhà nước thể hiện rõ trong vấn đề đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn thực phẩm; (3) Mô hình quản lý, tổ chức lễ hội có sự chỉ đạo chặt chẽ của Nhà nước: Các lễ hội này đều có Ban tổ chức do lãnh đạo chính quyền (tỉnh, huyện, thành phố ) làm trưởng ban

Cả bộ máy chính quyền tổ chức lễ hội từ khâu kịch bản, luyện tập, dàn dựng, khai hội, màn bế mạc… Loại hình này tổ chức có vẻ hoành tráng, nhưng người dân ít được tham gia hoặc tham gia với vai trò thụ động, có “lễ” mà không thành “hội” [75]

Bên cạnh đó, có một số công trình đề xuất giải pháp nhằm phát huy vai trò của

Nhà nước trong tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống ở Việt Nam hiện nay Tiêu biểu

Trang 19

tác giả Nguyễn Thu Linh, Phan Văn Tú (2004) [41], tác giả Phạm Thị Thanh Quy

(2009) [69], tác giả đề xuất để nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội, muốn vậy phải chú trọng công tác quản lý Nhà nước về bảo tồn các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, tác giả cũng nhấn mạnh phải xác định rõ vai trò trách nhiệm của chính quyền các cấp trong tổ chức, QLLH theo phân cấp cụ thể Bộ Văn hóa, Thể Thao & Du lịch (2012) [8], tác giả Trần Hữu Sơn (2015) [75], các tác giả đưa ra giải pháp đều nhằm góp phần đổi mới công tác tổ chức và quản lý lễ hội ở nước

ta như: Nâng cao nhận thức về quản lý lễ hội; Giáo dục các thế hệ biết và hiểu về lịch

sử - văn hóa dân tộc địa phương mình qua các trải nghiệm hội hè, trò chơi, trò diễn dân

15

gian có giá trị, tìm lại môi trường phục sinh và tôn tạo; trao quyền tự quản cho cộng đồng, có sự giám sát của Nhà nước; mô hình kết hợp vai trò tự quản của cộng đồng với

sự giúp đỡ của Nhà nước…

Đề xuất về các giải pháp QLLH, trong thời gian gần đây, một số nhà nghiên cứu

quản lý văn hóa đã dựa trên các vấn đề lý thuyết về quản lý lễ hội nhằm đưa ra các giải pháp quản lý lễ hội ở Việt Nam Với quan điểm quản lý lễ hội với tư cách là di sản văn hóa, tác giả Bùi Hoài Sơn (2007) đặt vấn đề quản lý lễ hội trong khoa học quản lý văn hóa, tác giả cho rằng: lễ hội truyền thống được xem là một phạm trù thuộc khái niệm di sản văn hóa phi vật thể, có sự biến đổi, tích lũy và lựa chọn văn hóa qua thời gian, bởi vậy Nhà nước giữ vai trò chỉ đạo và định hướng [73] Tác giả Từ Thị Loan (2010) [47], tác giả Từ Thị Loan (2012) [48], đều khẳng định vai trò chỉ đạo, định hướng của Nhà nước Ngoài ra, tác giả Đặng Thị Bích Liên (2013) cho rằng, trong thời gian tới cần nâng cao vai trò chỉ đạo, định hướng của Bộ chủ quản về văn hóa [43]

Như vậy có thể thấy, hầu hết các công trình đã đề cập đến vai trò của Nhà nước

và cộng đồng trong tổ chức, QLLH truyền thống, một số công trình đã đề xuất các giải

Trang 20

pháp QLLH truyền thống, tuy nhiên các công trình chỉ đề cập đến vai trò của Nhà nước

và cộng đồng trong tổ chức, QLLH truyền thống chung, chưa khai thác nhiều về QLLH truyền thống làng nghề

1.1.1.2 Những công trình nghiên cứu về vai trò của cộng đồng trong quản lý

lễ hội

Nghiên cứu về vai trò của cộng đồng trong quản lý di sản văn hóa, các học giả

nghiên cứu trên thế giới đã đề cập đến vấn đề này rất sớm, từ khi sự xuất hiện các công ước về di sản văn hóa cho đến nay Tiêu biểu: Lewinskin, Von Silke (2008), tác giả phân tích về vấn đề quyền của dân tộc bản địa, các nguồn lực địa phương trong sáng tạo, duy trì các loại hình văn hóa truyền thống [124]; Dawnhee Yim (2009) cho rằng: để quản lý các di sản văn hóa phi vật thể, nhất thiết phải có sự tham gia của chủ thể di sản đó để quyết định các cách thức quản lý… [110] Arizpe, Lourdes (2013), tác giả cho rằng: Cộng đồng được nhận diện và nhận thức rõ hơn về chính di sản của họ; tự hào, quan tâm đến bảo vệ di sản [103]; trong nghiên cứu Stefano, Michelle L., Peter Davis,

Greard (2014), tác giả cũng đã xác nhận vai trò của cộng đồng trong việc tạo ra giá trị và bảo vệ DSVHPVT [135]

16

Cùng nghiên cứu về vai trò của cộng đồng trong tổ chức và QLLH, các công trình

nghiên cứu của các học giả Việt Nam đều nhận thức rõ vai trò chủ động, tích cực của cộng đồng trong công tác quản lý lễ hội, đặc biệt nhấn mạnh đến việc khuyến khích sự tham gia tối đa của cộng đồng Điều này được đề cập đến ở rất nhiều các công trình khác nhau: tác giả Nguyễn Chí Bền (2005) cho rằng: phải lấy cộng đồng là chủ thể thực hành, sáng tạo và hưởng thụ văn hóa lễ hội [1]; tác giả Lê Thị Minh Lý (2010) nhận định: cộng đồng chính là người làm nên giá trị lễ hội và quyết định cách thức bảo vệ di sản của họ

Họ là đối tác làm việc với nhà quản lý văn hóa để bảo vệ lễ hội [52]; hay xem xét công

Trang 21

tác tổ chức và quản lý lễ hội theo quan điểm quản lý các bên liên quan của tác giả Từ Thị Loan (2010), tác giả cũng cho rằng “Nên trao trả vai trò tự quản của lễ hội cho cộng đồng Nhà nước chỉ làm công tác quản lý về mặt hành chính, pháp luật, còn việc quản lý nhân lực, vật lực, tài lực thì nên để cộng đồng tự quản” [47] Tác giả Từ Thị Loan (2012) cũng khẳng định vai trò quan trọng của cộng đồng trong việc bảo tồn và phát huy lễ hội

cổ truyền, thể hiện ở ý thức bảo vệ di sản, trong việc lưu trữ, giữ gìn các văn bản cổ liên quan đến lễ hội, trong sự tham gia nhiệt tình, tự nguyện vào diễn trình lễ hội, trong khâu quản lý lễ hội Tác giả đưa ra với 4 mô hình chính ở nước ta hiện nay, trong đó có mô hình quản lý và tổ chức mang tính cộng đồng tự quản (nhấn mạnh vai trò tự quản của cộng đồng trong việc lên kế hoạch, tổ chức nội dung lễ hội, thực hành lễ hay tổ chức các hoạt động hội; quản lý nguồn thu chi…) Tác giả cũng đúc kết được một số tiêu chí chung và mô hình về tổ chức quản lý các lễ hội cổ truyền: 1) Tôn trọng các chủ thể văn hóa, trao quyền tự quyết và tự quản cho cộng đồng địa phương; 2) Quyền lợi và trách nhiệm của người dân địa phương, của chính quyền và du khách phải được phân bổ hợp

lý, minh bạch; 3) Quảng bá, tôn vinh được các nét đẹp văn hóa của lễ hội, bảo vệ và phát huy các giá trị của di sản văn hóa; 4) Đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, giảm thiểu các tệ nạn, biểu hiện tiêu cực; 5) Tôn trọng và thân thiện với môi trường sống Phát triển

lễ hội phải đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái, không tàn phá, xâm hại thiên nhiên, tạo môi trường xanh, sạch, đẹp [48] Ngoài ra, tác giả Nguyễn Văn Huy (2012) cũng có nhận xét, đối với một số lễ hội, Nhà nước can thiệp quá sâu, dẫn đến làm hộ dân, làm giảm sự chủ động của cộng đồng [33]

Ngoài ra, vai trò của cộng đồng trong tổ chức và quản lý lễ hội còn được thể hiện

qua vai trò tự quản, cố kết cộng đồng Tác giả Lương Hồng Quang (2010) cho rằng:

“Năng lực tự quản cộng đồng ở nông thôn vẫn là một giá trị xã hội được coi trọng do ý

17

Trang 22

thức về cộng đồng, về tập thể vẫn còn sâu đậm trong đời sống tâm linh cũng như trong cuộc sống hàng ngày, thể hiện qua sự trường tồn của hội làng, tâm thức hướng về ông tổ của làng, tinh thần tình làng nghĩa xóm, sự kiểm soát của dư luận vẫn là những giá trị tác động mạnh đến mọi thành viên trong cộng đồng” [66] Cũng nghiên cứu về vai trò của cộng đồng trong việc kết nối, tự quản và cố kết cộng đồng thông qua các hoạt động lễ hội, tác giả Nguyễn Hữu Thức (2011) cho rằng: “Cộng đồng hơn ai hết biết phải tổ chức lễ hội như thế nào tùy thuộc vào khả năng tài chính, ý thức tự giác để đáp ứng các nhu cầu văn hóa lễ hội Với cơ chế tự quản của cộng đồng, người dân biết cách điều chỉnh hài hòa các lợi ích xuất phát từ họ” [85]

Ở một góc nhìn khác về vai trò của cộng đồng trong tổ chức, QLLH truyền

thống, tại Hội thảo khoa học, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2012) chỉ ra rằng:

“Nâng cao nhận thức của cộng đồng; giải quyết các lợi ích trong nội bộ cộng đồng; mối quan hệ giữa tổ chức Đảng, chính quyền, mặt trận, các đoàn thể khác, đơn vị quản lý di tích, các vị chủ trì cơ sở thờ tự và cộng đồng trong việc vận hành các hoạt động bảo tồn

di sản và tổ chức lễ hội? Điều quan trọng nhất là xây dựng cho được cơ chế và chính sách đảm bảo cho cộng đồng thực sự làm chủ di sản của mình” [8, tr.15] Tuy nhiên, có tác giả cũng lưu ý rằng “Chủ trương cộng đồng là chủ thể của lễ hội là đúng, nhưng trong điều kiện xã hội hiện nay, không thể “khoán trắng” cho cộng đồng, mà rất cần sự chung tay góp sức của các cụ cao niên hiểu biết về lễ hội trong cộng đồng, các nhà khoa học nghiên cứu về lễ hội và những người làm công tác quản lý di tích, các vị chủ trì cơ

sở thờ tự phối hợp nghiên cứu sâu từng lễ hội dưới sự bảo trợ của chính quyền cơ sở, tạo sự đồng thuận của cộng đồng và hướng dẫn cộng đồng thực hành lễ hội Có như vậy, cộng đồng ngày nay mới có thể trở thành chủ thể thực sự của lễ hội” [8, tr.16] Ngoài ra, khi xem xét đến vai trò của cộng đồng trong lễ hội phải kể đến các

nghiên cứu của các tác giả Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng (1993) [37], Phạm Cao Quý (2016) [70], nhiều vấn đề được đề cập đến, như: Tìm hiểu và lý giải tại sao người tham

Trang 23

gia lễ hội lại có những thực hành như vậy, những thực hành đó có mục đích và ý nghĩa như thế nào đối với họ; Những mâu thuẫn, thỏa hiệp, thương thỏa giữa các dòng họ, các nhóm xã hội, các cộng đồng để thực hành các nghi lễ, sự đóng góp nhân lực vật lực

trong các hoạt động lễ hội; Sự tham gia, can thiệp của chính quyền trong các lễ hội của làng, nhất là các lễ hội được thế giới vinh danh thì sau đó sự tham gia và vai trò của

người dân ra sao; Vấn đề giới, quyền lực của các nhóm xã hội, các cá nhân khác nhau

18

trong một cộng đồng được thể hiện qua việc thực hành các lễ hội; Những thay đổi và những yếu tố chi phối những thay đổi đó là gì, phản ánh điều gì và nó có tác động như thế nào đối với cá nhân, cộng đồng làng chủ thể của lễ hội

Qua các công trình nghiên cứu ở trên, nhiều công trình khẳng định vai trò của

cộng đồng trong công tác tổ chức và quản lý lễ hội: cộng đồng là nhân tố rất quan trọng để góp phần bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội Cộng đồng sẽ là người quyết định lễ hội của họ như thế nào và lễ hội phải xuất phát từ nhu cầu tự thân của họ Vì vậy, cần trao trả lễ hội cho cộng đồng, nâng cao vai trò tự quản của cộng đồng trong công cuộc bảo tồn và phát huy lễ hội cổ truyền Ngoài ra có rất nhiều công trình đề cập đến mối quan hệ giữa quản

lý Nhà nước và cộng đồng trong quản lý di sản văn hóa nói chung và lễ hội nói riêng: nhóm công trình nghiên cứu này tập trung vào việc chỉ ra mối liên hệ của các bên liên quan trong quản lý di sản - quản lý lễ hội truyền thống; chứng minh về sự cần thiết của cộng đồng trong vai trò quản lý di sản văn hóa phi vật thể; chỉ ra vai trò của các chủ

thể là Nhà nước và cộng đồng (người dân, doanh nghiệp…) trong quản lý lễ hội

truyền thống Ở hầu hết các công trình đều có chung quan điểm cho rằng người

dân/cộng đồng chính là chủ thể của lễ hội, họ là người tổ chức, tham gia và hưởng thụ các giá trị của lễ hội Các tổ chức Đảng và chính quyền địa phương nếu có tham gia cũng chỉ

có vai trò giúp đỡ, hỗ trợ, định hướng Tuy nhiên, các công trình chưa đi nghiên cứu cụ thể

Trang 24

về vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong QLLH truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về quản lý lễ hội truyền thống làng

nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trong bối cảnh lịch sử, văn hoá, xã hội có nhiều thay đổi, thách thức, nhiều tác

giả đã đi sâu nghiên cứu, phân tích thực trạng và đưa ra những giải pháp quản lý nhằm giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá của các làng nghề và lễ hội làng nghề Hà Nội với vai trò Nhà nước và cộng đồng, các bên liên quan Tiêu biểu cho nhóm nghiên cứu này có các công trình của các tác giả:

Tác giả Nguyễn Viết Chức - chủ biên (2001), nhóm tác giả giới thiệu 10 lễ hội

truyền thống tiêu biểu của Hà Nội với các biện pháp giữ gìn, tổ chức, quản lý, phát huy

lễ hội truyền thống trong sự nghiệp đổi mới đất nước, rút ra các mô hình khuyến khích

xã hội hóa các hoạt động lễ hội truyền thống của Hà Nội [20] Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (2012) tập hợp nhiều bài viết bàn về giá trị lễ hội trong đời sống xã

19

hội đương đại, về chính sách quản lý đối với di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng bởi các nhà khoa học Việt Nam và quốc tế, xem xét quá trình toàn cầu hóa các di sản văn hóa phi vật thể [91] Tác giả Nguyễn Chí Bền (2013) đã làm rõ được những thách thức của công cuộc bảo tồn di sản văn hóa ở một địa bàn là Thủ đô

Hà Nội, xác định vai trò của chủ thể văn hóa trong công cuộc bảo tồn di sản văn hóa hiện nay [2]

Ngoài ra, có rất nhiều công trình nghiên cứu dưới dạng các bài báo, bài tạp chí, như: tác giả Hoàng Thị Ngọc Lan (2007) [39], Bùi Thế Quân (2010) [67], Nguyễn Thị Bích Thủy (2014) [83]… các tác giả đã phân tích những ưu điểm, những bất cập trong tổ

chức quản lý phát triển làng nghề, lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn Hà Nội,

Trang 25

chỉ ra các giải pháp cụ thể nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa làng nghề như giải pháp về nhận thức; giải pháp về tuyên truyền; giải pháp về bảo tồn văn hóa làng nghề; giải pháp về đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm làng nghề; giải pháp

về sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương trong phát triển làng nghề

Trong thời gian gần đây, vấn đề quản lý lễ hội truyền thống nói chung và quản lý

lễ hội truyền thống làng nghề nói riêng được nghiên cứu bàn luận trong các luận văn, luận án, các đề tài nghiên cứu: Nguyễn Thanh Phương (2011) [64], Lê Thu Giang (2011) [25], Trần Thu Hà (2014) [27], Nguyễn Thị Mỹ Linh (2015) [42], Nghiêm Thị Hường (2016) [34], Nguyễn Thị Hồng Nhung (2017) [61], … Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đề cập về quản lý văn hoá nói chung và quản lý lễ hội truyền thống làng nghề một số quận/huyện Trên cơ sở điều tra thực trạng địa bàn nghiên cứu, căn cứ trên cơ sở

lý thuyết quản lý, các tác giả đã đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể của Hà Nội đồng thời hạn chế các biểu hiện tiêu cực Tuy nhiên các công trình chưa đi sâu nghiên cứu về vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong QLLH truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội

1.1.3 Những công trình nghiên cứu vận dụng lý thuyết vai trò

Lý thuyết vai trò là một trong những ý tưởng phổ biến nhất trong khoa học xã hội

Không những thế, lý thuyết vai trò được rất nhiều các nhà khoa học áp dụng nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau Có thể kể đến một số tác giả đã vận dụng lý thuyết vai trò trong một số lĩnh vực sau:

Tác giả Sheryl L Shivers-Blackwell (2004) [134], tác giả đã khẳng định: (1) Sự

đồng nhất giữa những người đương nhiệm càng lớn, họ càng đồng thuận hơn với những

20

kỳ vọng của chính họ và những vị trí khác (2) Các thành viên của một hệ thống xã hội

đã tương tác với một hệ thống xã hội càng lâu, họ sẽ càng đồng thuận hơn về những kỳ

Trang 26

vọng mà họ ứng tuyển vào các vị trí đương nhiệm trong hệ thống xã hội đó (3) Trong việc quy định nghĩa vụ của những người đương nhiệm giữ hai vị trí trong một tổ chức chính thức, sẽ có sự đồng thuận lớn hơn giữa những người đương nhiệm của bất kỳ vị trí nào trong tổ chức Nghiên cứu của tác giả Anne J Broderick (1998) [104], tác giả cho rằng các dịch vụ dựa vào con người theo định hướng mục tiêu tương tác, tiếp thị tương tác, trao đổi tiếp thị và cho phép các công ty đánh giá mức độ tương tác tìm kiếm trong quản lý khách hàng của họ Sự khác biệt về vai trò có thể xảy ra trong các cuộc gặp gỡ dịch vụ mà khách hàng có vai trò rõ ràng kỳ vọng của nhà cung cấp dịch vụ và trở nên không hài lòng với thực hiện các kỳ vọng về vai trò này; xung đột giữa các vai trò có thể xảy ra thông qua tranh luận hoặc khiếu nại Vai trò sự khác biệt cũng có thể xảy ra khi có các vai trò phụ thuộc lẫn nhau trong dịch vụ quy định (mỗi bên có thể có quan điểm mâu thuẫn về những gì phù hợp trong các vai trò; do đó gây ra xung đột nội

bộ vai trò) Cũng bàn về sự tương tác vai trò, kỳ vọng của các vai, tác giả Whelan, Jodie (2014) [121], tác giả sử dụng lý thuyết vai trò nhận thức để làm rõ vai trò của người tiêu dùng và lập luận rằng vai trò của người tiêu dùng được hình thành tốt nhất như một mạng lưới các hiệp hội, khi được tương tác, kích hoạt, có thể hình thành nhận thức và hành vi Ở góc nhìn khác về sự tương tác vai trò và kỳ vọng vai trò, tác giả Chekitan S.Dev (1989), Đại học Cornell [108], nghiên cứu đã chỉ rõ vai trò của người dịch vụ và mọi vấn đề liên quan đến tương tác dịch vụ Để đảm bảo thích hợp ban hành vai trò trong trường hợp này và các trường hợp khác, cần phải xác định các kỳ vọng về hiệu suất cụ thể của nhiều loại vai trò mà người dịch vụ phải thực hiện Nếu đó là sự tương đồng giữa hiệu suất và kỳ vọng, đó là dịch vụ giao dịch thường thành công, để lại dư

âm tích cực Tuy nhiên, tiêu cực càng lớn giữa kỳ vọng và hiệu suất, nếu sự không hài lòng của một bộ phận khách hàng càng lớn

Qua các công trình nghiên cứu ở trên, có thể thấy, các tác giả đã vận dụng lý

thuyết vai trò trong quản lý ở các lĩnh vực khác nhau Các công trình đã phân tích vai

Trang 27

trò của từng chủ thể, thông qua các hoạt động quản lý, đồng thời họ đánh giá kỳ vọng đạt được của mỗi chủ thể, mức độ hài lòng của các bên Đặc biệt một số công trình đã

đề cập đến mối quan hệ, sự tương tác của các chủ thể để nhìn nhận vai trò của họ, giải thích trong quá trình tương tác có sự đồng thuận, không đồng thuận, quá tải vai trò Tuy

21

nhiên, chưa có tác giả nào đề cập đến việc vận dụng lý thuyết vai trò trong QLLH truyền thống Đây là một khoảng trống để luận án tiếp tục nghiên cứu

1.1.4 Những vấn đề rút ra từ tổng quan nghiên cứu

Qua nghiên cứu tổng quan, NCS nhận thấy đã có một số công trình nghiên cứu

đề cập đến vai trò của Nhà nước trong việc hoạch định chính sách, chỉ đạo thông qua việc ban hành, hướng dẫn tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức, QLLH truyền thống Ngoài ra, Nhà nước có vai trò, trách nhiệm trong việc quản lý/ điều tiết việc bảo tồn và phát huy lễ hội bằng các chủ trương, chính sách và thông qua hệ thống tổ chức chính quyền và các ngành chuyên môn ở các cấp, vai trò của các cấp quản lý Nhà nước, chính quyền địa phương, sự phối hợp giữa các chủ thể quản lý và các bên liên quan trong công tác tổ chức và QLLH Một số công trình cũng đã đề cập đến vai trò của Nhà nước trong việc duy trì, thúc đẩy LHTT qua việc cấp ngân sách cho việc tổ chức LHTT Một số công trình đề cập đến giải pháp QLLH qua một số mô hình, hầu hết các mô hình đều đề cập đến vai trò quản

lý của Nhà nước thể hiện ở chỗ: chỉ đạo, hướng dẫn và giám sát, giải quyết kịp thời những vướng mắc xảy ra

Nghiên cứu vai trò của cộng đồng trong QLLH truyền thống, một số công trình

đề xuất một số giải pháp QLLH truyền thống trong bối cảnh hiện nay, cộng đồng chủ thể thực hành, sáng tạo và hưởng thụ văn hóa lễ hội, tự chủ, chủ động trong việc thực hiện các nghi thức, nghi lễ…Một số công trình cũng đã đề xuất giải pháp QLLH truyền

Trang 28

thống kết hợp mô hình quản lý Nhà nước và cộng đồng, cộng đồng chủ động, tích cực trong tổ chức, QLLH truyền thống nhưng Nhà nước điều tiết, chỉ đạo

Các công trình nghiên cứu về QLLH truyền thống làng nghề trên địa bàn Hà Nội

đã đề cập đến các LHTT làng nghề tiêu biểu ở Hà Nội Một số công trình phân tích những ưu điểm, những bất cập trong tổ chức quản lý phát triển làng nghề, lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn Hà Nội Đồng thời chỉ ra các giải pháp cụ thể nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa làng nghề trong đó có giải pháp về vai trò chỉ đạo của Nhà nước, vai trò của cộng đồng trong việc tích cực, chủ động tham gia công tác tổ chức, QLLH truyền thống làng nghề trong phát triển làng nghề; giải pháp về nhận thức; giải pháp về tuyên truyền; giải pháp về bảo tồn văn hóa làng nghề; giải pháp về đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm làng nghề Một số công trình đã sử dụng lý thuyết vai trò vận dụng trong quản lý các lĩnh vực khác nhau

22

Những công trình nghiên cứu đi trước đã trình bày ở trên cung cấp cho tác giả

luận án một khối lượng kiến thức rất lớn về vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong QLLH truyền thống nói chung Đồng thời cung cấp những kiến thức về những thách thức của công cuộc bảo tồn di sản văn hóa ở thủ đô Hà Nội, một số giải pháp QLLH truyền thống Tác giả luận án kế thừa kết quả nghiên cứu các công trình của các tác giả

đi trước để làm cơ sở cho nghiên cứu các nội dung trong luận án

Tuy nhiên hầu hết các công trình mới chỉ đi sâu nghiên cứu về QLLH truyền

thống chung, chưa đề cập nhiều đến QLLH truyền thống làng nghề, đặc biệt việc nghiên cứu về vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong QLLH truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội dưới góc nhìn từ lý thuyết vai trò chưa được khai thác

nhiều Chính vì vậy, NCS đã lựa chọn thực hiện đề tài “Quản lý lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội" làm luận án Tiến sĩ

Trang 29

1.2 Cơ sở lý luận về quản lý lễ hội truyền thống làng nghề

1.2.1 Một số khái niệm

1.2.1.1 Lễ hội truyền thống

Khái niệm về lễ hội truyền thống đã được nhiều tác giả đề cập với các góc nhìn

khác nhau, có thể kể đến một số khái niệm sau:

Lễ hội truyền thống (bao gồm cả lễ hội tại các di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội

dân gian) là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng được tổ chức theo nghi lễ truyền thống, nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân [16]

Lễ hội truyền thống phản ánh các sự kiện lịch sử của địa phương và đất nước

thông qua việc tái hiện các nhân vật, các sự kiện đã xảy ra trong quá khứ [71, tr.68]

Lễ hội truyền thống là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống của

cộng đồng làng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, sự tồn tại và phát triển cho cả làng, sự bình yên cho từng cá nhân, niềm hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ; sự sinh sôi của gia súc, sự bội thu của mùa màng mà bao đời đã quy tụ chung vào bốn chữ “nhân khang vật thịnh” hay “quốc thái dân an” [92, tr.93]

Như vậy, có nhiều quan niệm khác nhau về lễ hội truyền thống, dựa vào các

cách tiếp cận, các phương diện tiếp cận để có thể vận dụng các quan niệm về lễ hội

truyền thống Tuy nhiên, luận án lựa chọn khái niệm: “Lễ hội truyền thống (bao gồm

cả lễ hội tại các di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội dân gian) là hình thức sinh hoạt văn

23

hóa cộng đồng được tổ chức theo nghi lễ truyền thống, nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân” [16]

1.2.1.2 Làng nghề

Có nhiều tác giả đưa ra các quan điểm, khái niệm khác nhau về làng nghề:

Làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là một nơi quần cư

Trang 30

đông người, sinh hoạt có tổ chức, có kỷ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng Làng

nghề không những là một làng sống chuyên nghề mà cũng có hàm ý là những người

cùng nghề sống hợp quần thể để phát triển công ăn việc làm Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc

và các cá biệt của địa phương [72, tr.6]

Làng nghề là làng cổ truyền làm nghề thủ công Ở đấy, không nhất thiết tất cả

dân làng đều sản xuất hàng thủ công Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề nông (nông dân) Nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng quê của mình, hay ở làng nghề, phố nghề nơi khác [96, tr.13]

Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng) có một hay một số

nghề tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập Thu nhập từ các nghề có chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng [31, tr.13]

Làng nghề là các làng mà phần đông cư dân sống bằng một nghề hoặc nhiều

nghề thủ công, có khi chỉ là một công đoạn của nghề, tạo ra các sản phẩm mang tính

cách riêng, thời gian làm nghề và thu nhập của nghề chiếm tỉ lệ lớn nhất so với hoạt

động kinh tế khác; hoạt động làm nghề có ảnh hưởng lớn đến các mặt khác của làng

(kiến trúc làng xóm, nhà cửa, nhịp sống, thiết chế tổ chức và các quan hệ xã hội, tâm lý tính cách, phong tục tập quán…) Làng nghề có thể có hoặc không có truyền thuyết về

tổ nghề [24, tr27-28]

Tóm lại, từ các khái niệm ở trên của các tác giả, luận án tiếp cận khái niệm: “Làng

nghề là các làng mà phần đông cư dân sống bằng một nghề hoặc nhiều nghề thủ công, có khi chỉ là một công đoạn của nghề, tạo ra các sản phẩm mang tính cách riêng, thời gian làm nghề và thu nhập của nghề chiếm tỉ lệ lớn nhất so với hoạt động kinh tế khác; hoạt động làm nghề có ảnh hưởng lớn đến các mặt khác của làng (kiến trúc làng xóm, nhà cửa, nhịp sống, thiết chế tổ chức và các quan hệ xã hội, tâm lý tính cách, phong tục tập quán…)

Trang 31

Làng nghề có thể có hoặc không có truyền thuyết về tổ nghề” [24, tr27-28]

24

1.2.1.3 Lễ hội truyền thống làng nghề

Đã có nhiều khái niệm về lễ hội và lễ hội truyền thống được các học giả nêu ra

như một tiêu chí để lựa chọn, áp dụng những nghiên cứu lễ hội diễn ra ở các cộng đồng

có những ngành nghề khác nhau Từ khái niệm về làng nghề, làng nghề truyền thống đã thể hiện sự khác nhau giữa các làng có nghề và các làng không có nghề thủ công, giữa các làng có nghề thủ công mới và các làng có nghề thủ công truyền thống Từ nghiên cứu các khái niệm về lễ hội, tác giả luận án kế thừa các ý tưởng và nêu ra khái niệm

như sau: “Lễ hội truyền thống làng nghề là một hình thức văn hóa của cộng đồng cư dân làng nghề, lễ hội tổ chức để tôn vinh tổ nghề - người đã mang nghề thủ công truyền dạy cho người dân, tổ nghề cũng có thể là người thực, có thể là nhân vật

huyền thoại Trong lễ hội, ngoài ý nghĩa tôn vinh tổ nghề còn là dịp để tôn vinh nghề nghiệp, tổ chức thi tay nghề và dâng lên tổ nghề những sản phẩm của nghề nghiệp

Lễ hội truyền thống làng nghề là dịp để thể hiện sự tiếp nối văn hóa từ truyền thống đến hiện đại”

Từ khái niệm, nghiên cứu sinh nhận thấy cần có các tiêu chí cơ bản để xác định

lễ hội truyền thống làng nghề

1) Lễ hội có nguồn gốc dân gian mang đầy đủ bản chất, ý nghĩa của lễ hội dân

gian và được diễn ra ở các làng nghề

2) Nhân vật tưởng niệm trong lễ hội thường là tổ nghề (cũng có thể tổ nghề là

người thực, có thể là một nhân vật huyền thoại) hoặc nhân vật tưởng niệm là vị thành hoàng làng, người có công với làng, với đất nước

3) Trong lễ hội có tổ chức các nghi lễ, diễn xướng liên quan đến nghề nghiệp

4) Là dịp để giới thiệu sản phẩm của làng nghề cho khách dự lễ hội

Trang 32

1.2.1.4 Quản lý

Khái niệm về quản lý đã được nhiều tác giả đưa ra các quan điểm khác nhau,

luận án tổng hợp có một số khái niệm sau:

Quản lý là một loại hoạt động đặc biệt có tính sáng tạo, là hoạt động có chủ đích

của con người cá nhân, hoặc một nhóm người thực hiện nhằm thu được kết quả như mong muốn [69]

Quản lý là hoạt động nhằm tác động có tổ chức của chủ thể vào một đối tượng

nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi của con người, nhằm duy trì

sự ổn định và sự phát triển của đối tượng theo những mục đích nhất định [38]

25

Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản

lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [74]

Từ các quan điểm về quản lý ở trên, luận án sử dụng khái niệm “Quản lý là sự

tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra” [30, tr.11] Sự tác động có tổ chức của các chủ thể, trong đó

chỉ tính riêng chủ thể Nhà nước, hệ thống các cơ quan quản lý được thống nhất từ trung ương đến địa phương để có hiệu quả trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các quy định trong các văn bản Nhà nước đã ban hành Đối với tổ chức cộng đồng trong lịch sử cũng như hiện nay là tổ chức của làng xã và đến nay tổ chức này vẫn đóng vai trò chính có tính quyết định mặc dù thành phần cộng đồng cho tới nay đã đa dạng hơn rất nhiều Cả hai tổ chức (Nhà nước và cộng đồng có thể là các bên liên quan khác) đều có những mục đích/ kỳ vọng cần hướng tới chính là bảo tồn và phát huy một loại hình di sản văn hóa phi vật thể là lễ hội

1.2.1.5 Quản lý lễ hội truyền thống làng nghề

Trang 33

Lễ hội truyền thống làng nghề trước tiên phải được nhìn nhận là một loại hình di

sản văn hóa phi vật thể Vì vậy, đây chính là quản lý di sản văn hóa phi vật thể Loại hình di sản này do cộng đồng cư dân làng nghề tạo ra và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Tuy nhiên, để lễ hội truyền thống làng nghề được tổ chức tốt hơn, đáp ứng được đầy đủ nhu cầu đời sống văn hóa của cộng đồng Mặt khác, lễ hội sẽ được tổ chức theo đúng với chủ trương đường lối của Nhà nước Từ góc độ quản lý di sản văn hóa,

tác giả luận án nêu ra khái niệm như sau: “Quản lý lễ hội truyền thống làng nghề là hoạt động có tổ chức, có hướng đích của các chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra Các chủ thể đều phát huy hết vai trò chức trách, chức năng, nhiệm vụ cụ thể để đạt tới mục tiêu, góp phần nâng cao đời sống văn hóa cho cộng đồng cư dân làng nghề, góp phần phát triển kinh tế xã hội cho các làng nghề trong bối cảnh xã hội phát triển hiện nay”

LHTT làng nghề là một loại hình di sản văn hóa phi vật thể gắn với đời sống văn

hóa của cộng đồng, từ lý thuyết vai trò NCS đã xác định có hai chủ thể là Nhà nước và cộng đồng Đồng thời căn cứ vào lý thuyết để xác định Nhà nước có những vai trò như thế nào và cộng đồng có vai trò như thế nào, hai chủ thể này trong quá trình thực hiện vai trò luôn cần có sự phối hợp tốt, kết quả phụ thuộc vào sự phối hợp của các chủ thể

26

Về phương diện Nhà nước: Nhà nước luôn được xem là có vai trò trung tâm điều phối

và xây dựng cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan trong đó có cả cộng đồng để đáp ứng nhu cầu thực tiễn và đạt được hiệu quả (tùy theo tính cần thiết của công việc cụ thể

mà Nhà nước sẽ điều phối hợp lý) Trong quản lý sẽ phải diễn ra đồng bộ, các chủ thể

sẽ thực hiện đầy đủ các vai trò của mình để đáp ứng tốt chất lượng quản lý

1.2.2 Lý thuyết vai trò trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề

Qua nghiên cứu các tài liệu trong nước và nước ngoài, có nhiều lý thuyết như: lý

Trang 34

thuyết quản lý, lý thuyết cấu trúc, lý thuyết chức năng, lý thuyết các bên liên quan, lý thuyết vai trò… Tuy nhiên trong khuôn khổ đề tài này, NCS sử dụng lý thuyết vai trò

để triển khai xuyên suốt luận án:

1.2.2.1 Nguồn gốc và sự phát triển của lý thuyết vai trò

Lý thuyết vai trò không thể bắt nguồn từ một nhà tư tưởng hoặc bài báo cụ thể;

đúng hơn, nó phát triển dần dần khi các mối quan tâm tương tự nảy sinh trong các

ngành khoa học xã hội Sự phát triển dần dần của lý thuyết vai trò có thể được chia

thành ba giai đoạn theo trình tự thời gian: giai đoạn tiền thân, giai đoạn phát triển khái niệm và giai đoạn nghiên cứu thực nghiệm (Biddle, 1979) [118], [121]

Giai đoạn tiền thân bắt đầu vào cuối thế kỷ 19 khi một số nhà tư tưởng có ảnh

hưởng bắt đầu bày tỏ quan điểm về hành vi con người phù hợp với quan điểm lý thuyết vai trò [122] Ví dụ, Cooley (1902) đã viết về “cái tôi nhìn bằng kính”, Durkheim (1897) lập luận rằng “ý thức tập thể” (các chuẩn mực, niềm tin và thái độ được chia sẻ) giữ một xã hội lại với nhau; và Dewey (1922) đã xem xét chức năng của hành vi theo thói quen Và mặc

dù thuật ngữ vai trò không được sử dụng để biểu thị một cấu trúc lý thuyết cho đến giữa những năm 1930, nhưng “tiền thân” của lý thuyết vai trò này vẫn được coi là công cụ trong quan niệm của nó (Biddle, 1979; Thomas & Biddle, 1966b) Ngày nay, nhiều khái niệm ban đầu của tiền thân vẫn tồn tại hoặc có những bản sao hiện đại trong lý thuyết vai trò Ví

dụ, sự quan tâm của Dewey (1922) đối với thói quen và hành vi được phản ánh trong các

kỳ vọng về vai trò

Vào những năm 1930, lý thuyết vai trò đương đại ra đời, khi các khái niệm về vai

trò được chính thức hóa và xây dựng, quan điểm về vai trò của những thập kỷ trước dần nhường chỗ cho việc nghiên cứu một cách hệ thống các hiện tượng liên quan đến vai trò Bao gồm trong giai đoạn “phát triển khái niệm” này là các tác phẩm có ảnh hưởng của Mead (1934), Moreno (1934) và Linton (1936) Những công trình này là công trình đầu

27

Trang 35

tiên sử dụng vai trò và các thuật ngữ liên quan để biểu thị các cấu trúc lý thuyết và nghiên cứu các vấn đề xã hội, và các ý tưởng, thuật ngữ và câu hỏi nghiên cứu của chúng vẫn tồn tại cho đến ngày nay (Thomas & Biddle, 1966b) Tuy nhiên, phải đến sau Thế chiến II, khái niệm vai trò mới bắt đầu xuất hiện trong nghiên cứu thực nghiệm

Trong giai đoạn phát triển thứ ba và hiện tại của lý thuyết vai trò, khái niệm vai

trò đã được áp dụng cho nghiên cứu thực nghiệm trong nhiều bối cảnh khác nhau trong nhiều lĩnh vực khác nhau Ngôn ngữ của lý thuyết vai trò tiếp tục xuất hiện trong các ấn phẩm khoa học, sách giáo khoa và các bài viết của các chuyên gia quan tâm đến hành

vi, hành động và sự thay đổi Tuy nhiên, hầu hết nghiên cứu này liên quan đến các vấn

đề thực tế (Ví dụ, các vấn đề liên quan đến giáo dục, tâm thần sức khỏe hoặc điều chỉnh theo nghề nghiệp) chứ không phải là các định đề cơ bản của lý thuyết vai trò (Biddle,

1979, 1986; Thomas & Biddle, 1966a)

Như vậy, qua các giai đoạn phát triển, có thể thấy rằng những người khởi xướng lý

thuyết vai trò là George Herbert Mead trong tâm lý xã hội và Ralph Linton trong xã hội học Lý thuyết vai trò vẫn được phát triển cho đến ngày nay và được nhiều nhà nghiên cứu vận dụng trong nhiều lĩnh vực

1.2.2.2 Các quan điểm và nội dung trong lý thuyết vai trò

Có rất nhiều quan điểm về lý thuyết vai trò: lý thuyết vai trò chức năng, cấu trúc,

tương tác biểu trưng, tổ chức, nhận thức, giới

Trong nhiều năm, sự phát triển đồng thời và tương đối tách biệt của các thuật

ngữ, mệnh đề và lý thuyết liên quan đến vai trò giữa các ngành đã làm nảy sinh các

quan điểm khác biệt trong lý thuyết vai trò Mặc dù tất cả đều sử dụng khái niệm về vai trò, nhưng các quan điểm khác nhau này dựa trên các giả định khác nhau, sử dụng các khái niệm khác nhau và đặt các câu hỏi về cơ bản là khác nhau

Hindin, Michelle J (2007) [118], Biddle, B J (1986) [106] cho rằng lý thuyết

Trang 36

vai trò chức năng xuất hiện từ quan điểm của Linton về vai trò Theo tác giả, các vai trò được coi là và dựa trên sự hiểu biết chung về quá trình thực hiện Các cá nhân trong quan điểm này học được các vai trò là những kỳ vọng chuẩn mực quy định hành vi phù hợp Tương tự, Biddle, B J (1986) cũng cho rằng lý thuyết vai trò cấu trúc bị ảnh hưởng nhiều bởi Linton (1936) và có lợi ích tương tự như lý thuyết vai trò chức năng

Ví dụ, các vai trò được quan niệm theo khuôn mẫu của các hành vi gắn liền với từng vị trí trong xã hội Các vai trò được học thông qua tương tác xã hội Ngoài ra, ông cũng

28

cho rằng: lý thuyết vai trò tổ chức liên quan đến vai trò của các tổ chức chính thức và cách người dân tương tác với các tổ chức này Quan điểm về lý thuyết vai trò tổ chức này cho phép tạo ra xung đột vai trò và căng thẳng vai trò, quá tải vai trò [106] Cũng

đề cập đến các quan điểm về lý thuyết vai trò, Whelan, Jodie (2014), tác giả đưa ra lý thuyết vai trò giới - một sự kết hợp giữa lý thuyết vai trò xã hội và lý thuyết về ảnh hưởng xã hội tìm cách giải thích sự khác biệt giới tính trong hành vi xã hội Ngoài ra, tác giả cũng cho rằng lý thuyết vai trò nhận thức thường được các nhà tâm lý học xã hội

áp dụng Quan điểm này tập trung vào mối quan hệ giữa kỳ vọng cá nhân, vai trò và hành vi [121]

Nhưng để giải quyết vấn đề đặt ra của Luận án, NCS chọn lý thuyết vai trò với

quan điểm lý thuyết vai trò tổ chức và nhận thức

- Lý thuyết vai trò tổ chức

Lý thuyết vai trò tổ chức liên quan đến vai trò của các tổ chức chính thức và cách người dân tương tác với các tổ chức này Các vai trò gắn liền với các vị trí xã hội và xuất phát từ những kỳ vọng chuẩn mực do tổ chức tạo ra Vai trò của một cá nhân dựa trên cả những kỳ vọng chuẩn tắc từ một vị trí xã hội nhất định cũng như từ các nhóm không chính thức trong tổ chức Quan điểm về lý thuyết vai trò này cho phép tạo ra

Trang 37

xung đột vai trò và căng thẳng vai trò, quá tải vai trò [106] Lý thuyết vai trò tổ chức thường được sử dụng cho các ứng dụng kinh doanh, cũng như trong các nhà tâm lý học

và nhà xã hội học, nhà quản lý quan tâm đến lý thuyết vai trò tổ chức

- Lý thuyết vai trò nhận thức

Lý thuyết vai trò nhận thức thường được các nhà tâm lý học xã hội áp dụng

Quan điểm này tập trung vào mối quan hệ giữa kỳ vọng cá nhân, vai trò và hành vi

[106] Đó là một trong những quan điểm đã tạo ra nhiều nghiên cứu thực nghiệm hơn

Có một số lĩnh vực phụ của lý thuyết vai trò nhận thức Đầu tiên nhìn vào việc nhập vai theo dòng công việc của Moreno Trường hợp thứ hai xem xét vai trò của các nhà lãnh đạo và những người theo dõi trong các nhóm Nhánh thứ ba phân tích mối quan hệ giữa niềm tin của một cá nhân về hành vi và niềm tin của người khác Một nhánh cuối cùng xuất hiện từ công việc của Mead về nhập vai Quan điểm này, với sự nhấn mạnh vào hành vi và vai trò của cá nhân, giảm thiểu tầm quan trọng của các vị trí xã hội và cấu trúc xã hội

Các đặc trưng của lý thuyết vai trò được thể hiện như sau [106], [121]:

29

Đoàn kết/đồng thuận, tương đồng vai trò: được các nhà lý thuyết vai trò sử dụng để

biểu thị sự thống nhất giữa các kỳ vọng được nắm giữ bởi nhiều người khác nhau Sự đồng thuận cơ bản hay “sự không đồng thuận” là câu hỏi về những điều kiện nào mà cá nhân và những người khác có thể đồng ý hoặc không đồng ý về vai trò Sự đồng thuận xảy ra khi các cá nhân đã được xã hội hóa theo cách tương tự hoặc khi các cá nhân có kinh nghiệm trong các loại tương tác tương tự

Xung đột vai trò/căng thẳng vai trò: có thể phát sinh khi có xung đột về yêu cầu

của vai trò, khi một cá nhân không đồng ý với đánh giá của người khác về hiệu suất của mình trong các vai trò, hoặc từ việc chấp nhận những vai trò vượt quá khả năng của một

Trang 38

cá nhân Một cá nhân có thể bị hạn chế quyền đàm phán để tránh việc chấp nhận những vai trò gây căng thẳng vì họ bị hạn chế bởi các chuẩn mực xã hội, hoặc vì địa vị xã hội hạn chế khiến họ phải chịu một bàn tay thương lượng kém hơn Sự căng thẳng về vai trò thường được mô tả là xung đột trong một vai trò… Khái niệm xung đột vai trò có thể làm cầu nối trải nghiệm của các cá nhân trong các vai trò cụ thể với những kỳ vọng của xã hội hoặc văn hóa đối với các vai trò đó

Quá tải vai trò xảy ra khi một cá nhân không thể thực hiện tất cả các vai trò

mong đợi của mình Ví dụ, một người phụ nữ đảm nhận các vai trò của một nhân viên toàn thời gian, mẹ và con gái có thể cảm thấy cô ấy phải gánh vác nhiều vai trò khác nhau và do đó không có thời gian, năng lượng hoặc nguồn lực để thực hiện tất cả chúng nhằm làm hài lòng người khác hoặc xã hội

Như vậy khi xem xét lý thuyết vai trò, đặc trưng rõ nét được thể hiện sự tương

tác giữa các chủ thể khi thực hiện vai trò, mối quan hệ phối hợp giữa các chủ thể có thể xảy ra đồng thuận, xung đột hoặc quá tải khi thực hiện vai trò

1.2.2.3 Quản lý lễ hội truyền thống làng nghề từ lý thuyết vai trò

Từ các công trình trên có thể thấy rằng, lý thuyết vai trò đã được ứng dụng

thành công để giải thích sự tương tác giữa các vai trò, kỳ vọng về vai trò ở nhiều

lĩnh vực khác nhau, với mỗi lĩnh vực, lý thuyết vai trò sẽ được vận dụng để phù hợp với từng đặc trưng của chúng Tuy nhiên, đối với lĩnh vực QLLH truyền thống làng nghề, tác giả chưa tổng quan được có nghiên cứu nào vận dụng lý thuyết vai trò

trong QLLH truyền thống làng nghề Do vậy, qua phân tích ưu điểm ở mỗi quan

điểm, tác giả nhận thấy rằng quan điểm về lý thuyết vai trò tổ chức, nhận thức là phù hợp nhất để vận dụng vào trong QLLH truyền thống làng nghề trên địa bàn thành

30

phố Hà Nội Lý thuyết vai trò áp dụng trong QLLH truyền thống làng nghề được thể

Trang 39

hiện trong sơ đồ 1.1

Sơ đồ 1.1 Lý thuyết vai trò áp dụng QLLH truyền thống làng nghề

Sơ đồ lý thuyết vai trò áp dụng trong QLLH truyền thống làng nghề thể hiện vai

trò của Nhà nước và Cộng đồng trong công tác QLLH truyền thống làng nghề Các vai trò được thực hiện thông qua các hoạt động quản lý Với vai trò khác nhau, mỗi bên sẽ

có những kỳ vọng và thể hiện hoạt động khác nhau trong công tác QLLH truyền thống làng nghề Nhà nước và cộng đồng là hai chủ thể quản lý đòi hỏi phải có sự tương tác vai trò, từ đó đánh giá mức độ đáp ứng vai trò của Nhà nước, cộng đồng thông qua các hoạt động QLLH truyền thống làng nghề Trong quá trình tương tác, phối hợp khả năng xảy ra một số tình huống: đồng thuận, xung đột, quá tải trong thực hiện vai trò Trong đó đồng thuận xảy ra khi Nhà nước và cộng đồng thực hiện tốt vai trò của mình thể hiện qua sự đánh giá của các bên liên quan Xung đột xảy ra khi Nhà nước và cộng động thực hiện không tốt vai trò của mình hoặc chỉ đáp ứng được một phần nhỏ Quá tải vai trò thường

31

xảy ra trong tình huống mà nguồn lực không đáp ứng để thực hiện được các nhiệm vụ, dẫn đến thực hiện vai trò không đáp ứng được các bên liên quan

Qua quá trình phân tích các vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong QLLH

truyền thống làng nghề, qua khảo sát sơ bộ tại các LHTT làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội, tác giả đưa ra sơ đồ vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong QLLH

truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội thể hiện ở Sơ đồ 1.2 như sau:

Sơ đồ 1.2 Vai trò của Nhà nước và cộng đồng QLLH truyền thống làng nghề

Trên cơ sở sơ đồ 1.2, luận án làm rõ vai trò của Nhà nước bao gồm: vai trò định

hướng, chỉ đạo; vai trò thiết kế, hướng dẫn; duy trì và thúc đẩy; điều chỉnh; phối hợp Vai trò của cộng đồng thông qua các hoạt động QLLH truyền thống làng nghề bao gồm: vai trò tự chủ; chủ động tích cực; thực hiện; quyết định; phối hợp Đồng thời phân tích

Trang 40

rõ mức độ đáp ứng trong quá trình thực hiện vai trò, sự tương tác, phối hợp xảy ra đồng thuận, xung đột hay quá tải, mức độ tương tác và đáp ứng kỳ vọng khi thực hiện vai trò

Thực tế đã có các nhà nghiên cứu sử dụng những lý thuyết khác nhau để xác

định các chủ thể tham gia quản lý lễ hội, cụ thể như lý thuyết các bên liên quan NCS lựa chọn lý thuyết vai trò, xác định vai trò của hai chủ thể cơ bản đó là Nhà nước và cộng đồng Mặc dù trên thực tế có thể nhận thấy mối quan hệ giữa quản lý Nhà nước và vai trò cộng đồng trong quản lý lễ hội luôn có tính biện chứng Trường hợp như Nhà nước lãnh đạo chỉ đạo còn cộng đồng tiếp thu tự chủ và thực hiện; Nhà nước thiết kế, cộng đồng thực hiện… Như vậy, có thể thấy rằng phải có nền tảng cơ bản mới tạo ra một điều kiện cần và đủ cho việc triển khai thực hiện Để làm rõ hơn mối quan hệ biện chứng này, NCS sẽ đi phân tích vai trò của từng chủ thể trong quản lý một loại hình di sản văn hóa phi vật thể

1.2.3.1 Vai trò của Nhà nước trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề

Nhà nước có vai trò quan trọng trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề, vai

trò đó được thể hiện như sau:

Vai trò định hướng, chỉ đạo:

Vai trò định hướng của Nhà nước thông qua hoạt động quản lý lễ hội truyền thống làng nghề được biểu hiện chủ yếu bằng việc xây dựng, ban hành văn bản, xây dựng kế hoạch chỉ đạo tổ chức, quản lý lễ hội truyền thống Trong các văn bản định hướng được thể hiện rõ việc xác định mục tiêu, các phương án và nguồn lực thực hiện mục tiêu Việc

Ngày đăng: 20/12/2022, 05:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Chí Bền (2005), Di sản văn hóa phi vật thể, Viện Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản văn hóa phi vật thể
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Năm: 2005
2. Nguyễn Chí Bền (Chủ biên) (2013), Bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể Thăng Long Hà Nội, Nxb VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể Thăng Long Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Chí Bền (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 2013
3. Bộ Văn hóa - Thông tin (2001), Quy chế tổ chức lễ hội, Ban hành kèm theo Quyết định số 39/2001/QĐ-BVHTT ngày 28/3/2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế tổ chức lễ hội
Tác giả: Bộ Văn hóa - Thông tin
Năm: 2001
4. Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch, Cục văn hóa cơ sở (2008), Thống kê Lễ hội Việt Nam (tập I), Công ty Mỹ thuật in, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê Lễ hội Việt Nam (tập I)
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch, Cục văn hóa cơ sở
Năm: 2008
6. Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch (2010), Chỉ thị số 16/CT-BVHTTDL ngày 03/2/2010 về tăng cường công tác chỉ đạo, quản lý hoạt động văn hóa, tín ngưỡng tại di tích, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 16/CT-BVHTTDL ngày 03/2/2010 về tăng cường công tác chỉ đạo, quản lý hoạt động văn hóa, tín ngưỡng tại di tích
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch
Năm: 2010
8. Bộ Văn hóa, Thể Thao & Du lịch (2012), Hội thảo khoa học Lễ hội -nhận thức, giá trị và giải pháp quản lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo khoa học Lễ hội -nhận thức, giá trị và giải pháp quản lý
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể Thao & Du lịch
Năm: 2012
11. Đoàn Minh Châu (2010), Cấu trúc lễ hội đương đại, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc lễ hội đương đại, Nxb Văn hóa – Thông tin
Tác giả: Đoàn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin"
Năm: 2010
14. Chính phủ (2015), Công điện số 229/CĐ – TTg ngày 12/02/2015 Về việc tăng cường công tác quản lý và tổ chức lễ hội.153 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công điện số 229/CĐ – TTg ngày 12/02/2015 Về việc tăng cường công tác quản lý và tổ chức lễ hội
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
7. Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch (2011), Thông tư 04/2011/TT-BVHTTDL ngày Khác
21/1/2011 ban hành Quy định thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội Khác
9. Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch (2017), Công văn số 4237/BVHTTDL – VHCS về việc tăng cường công tác quản lý và tổ chức lễ hội năm 2017 Khác
10. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2021), Quyết định số 2139 /QĐ-BVHTTDL ngày 16/7/2021 Đề án Số hóa dữ liệu lễ hội tại Việt Nam giai đoạn 2021-2025 Khác
12. Chính phủ (2010), Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 ban hành Quy định về tổ chức hoạt động và quản lý lễ hội Khác
13. Chính phủ (2013), Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w