1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ HAY đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác đá đến môi trường tại huyện cao lộc, tỉnh lạng sơn

117 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Ảnh Hưởng Của Hoạt Động Khai Thác Đá Đến Môi Trường Tại Huyện Cao Lộc, Tỉnh Lạng Sơn
Tác giả Lê Đức Tuệ
Người hướng dẫn PGS. TS. Phùng Văn Khoa
Trường học Trường đại học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Khoa học Môi trường
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (12)
    • 1.1. Cơ sở lý luận, thực tiễn về quản lý nhà nước trong khai thác khoáng sản (12)
      • 1.1.1. Khái niệm về khai thác khoáng sản (12)
      • 1.1.2. Quản lý môi trường trong khai thác khoáng sản (12)
      • 1.1.3. Công tác quản lý môi trường các mỏ khai thác đá (13)
        • 1.1.3.2. Công tác quản lý môi trường ở Việt Nam và một số tỉnh (15)
    • 1.2. Tình hình môi trường tại các mỏ đá (20)
      • 1.2.1. Quy trình khai thác và chế biến đá (20)
      • 1.2.2. Các vấn đề ô nhiễm môi trường tại các mỏ đá (21)
    • 1.3. Thực trạng công tác quản lý môi trường trong khai thác khoáng sản tỉnh Lạng Sơn (26)
      • 1.3.1. Thực trạng tổ chức bộ máy hành chính (26)
      • 1.3.2. Tình hình thực hiện quản lý Nhà nước trong hoạt động khai thác khoáng sản21 Chương 2. MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (30)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (36)
      • 2.1.1. Mục tiêu chung (36)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (36)
    • 2.2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu (36)
      • 2.2.1 Đối tượng nghiên cứu (36)
      • 2.2.2. Phạm vi nghiên cứu (36)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (37)
      • 2.3.1. Đánh giá thực trạng khai thác khoáng sản tại huyện Cao Lộc (37)
      • 2.3.2. Đánh giá tác động của hoạt động khai thác đá tại khu vực nghiên cứu (38)
      • 2.3.3. Đề xuất giải pháp giảm thiểu tác động của hoạt động khai thác đá đến môi trường cho khu vực (38)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (38)
      • 2.4.1. Phương pháp thu thập thông tin, số liệu (38)
      • 2.4.2. Phương pháp điều tra xã hội học (39)
      • 2.4.3. Phương pháp quan trắc hiện trường (40)
      • 2.4.4. Phương pháp phân tích mẫu (46)
      • 2.4.5. Phương pháp xử lý số liệu, dữ liệu (49)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên huyện Cao Lộc (50)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (50)
      • 3.1.2. Địa hình, địa mạo (50)
      • 3.1.3. Điều kiện khí hậu (51)
      • 3.1.4. Tài nguyên thiên nhiên (51)
    • 3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Cao Lộc (53)
      • 3.2.1. Nguồn nhân lực (53)
      • 3.2.2. Hệ thống giao thông (53)
      • 3.2.3. Tiềm năng du lịch (53)
      • 3.2.4. Phát triển kinh tế - xã hội (54)
      • 3.2.5. Cơ sở hạ tầng khu vực (55)
  • Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (36)
    • 4.1. Đánh giá thực trạng khai thác khoáng sản tại huyện Cao Lộc (56)
      • 4.1.1. Thực trạng khai thác đá tại khu vực nghiên cứu thuộc xã Hồng Phong, huyện Cao Lộc (56)
      • 4.1.2. Thực trạng công tác quản lý mỏ khai thác đá được nghiên cứu tại xã Hồng Phong, huyện Cao Lộc (58)
      • 4.1.3. Đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý môi trường của doanh nghiệp tại các mỏ khai thác đá (61)
    • 4.2. Đánh giá tác động hoạt động khai thác đá tại khu vực nghiên cứu (67)
      • 4.2.1. Kết quả nghiên cứu tác động đến môi trường không khí (68)
      • 4.2.2. Kết quả nghiên cứu tác động đến môi trường nước khu vực nghiên cứu (82)
      • 4.2.3. Tác động của chất thải rắn đến môi trường (89)
      • 4.2.4. Tác động môi trường đất và cảnh quan môi trường (89)
      • 4.2.5. Tác động đến kinh tế khu vực (91)
      • 4.2.6. Tác động đến sức khỏe công nhân, cộng đồng (92)
    • 4.3. Đề xuất giải pháp giảm thiểu tác động của hoạt động khai thác đá đến môi trường cho khu vực (92)
      • 4.3.1. Căn cứ đề xuất giải pháp (92)
      • 4.3.2. Đề xuất các giải pháp (96)
    • 1. Kết luận (102)
    • 2. Tồn tại (103)
    • 3. Khuyến nghị (104)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (105)

Nội dung

Do vậy, cần nghiên cứu đưa ra được các giải pháp khắc phục để giảm thiểu các tác động của hoạt động khai thác đá đến cho môi trường khu vực nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý môi tr

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý luận, thực tiễn về quản lý nhà nước trong khai thác khoáng sản

1.1.1 Khái niệm về khai thác khoáng sản Ở Việt Nam, khai thác khoáng sản là một khái niệm đã đƣợc luật hóa Theo Luật khoáng sản năm 2010, khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan

KTKS là tập hợp các hoạt động được tiến hành sau khi có giấy phép khai thác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, và được tính từ thời điểm mỏ bắt đầu xây dựng cơ bản (mở mỏ) cho đến khi mỏ kết thúc khai thác (đóng cửa mỏ và phục hồi môi trường).

1.1.2 Quản lý môi trường trong khai thác khoáng sản

- Khái niệm quản lý môi trường Theo nguồn Tủ sách thư viện "Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lƣợng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia"

Theo Cẩm nang Quản lý môi trường – Lưu Đức Hải: “Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tác động điều chỉnh hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thong tin đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người, xuất phát từ quan điểm định lượng và hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên”

- Mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý nhà nước về môi trường

Theo Chỉ thị 36-CT/TW của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Việt Nam hiện nay đặt ra một loạt mục tiêu cụ thể cho công tác quản lý môi trường nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ nguồn nước và đất đai, bảo tồn đa dạng sinh học, thúc đẩy phát triển kinh tế xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời tăng cường tham gia của cộng đồng và sự minh bạch trong các quyết định liên quan đến môi trường.

+ Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động sống của con người

Phát triển bền vững kinh tế và xã hội quốc gia theo 9 nguyên tắc của một xã gồm các mục tiêu trọng tâm như sau: phát triển bền vững kinh tế để tạo động lực tăng trưởng và nâng cao đời sống người dân; bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm duy trì sự giàu có và đa dạng của môi trường; không gây ô nhiễm và suy thoái chất lượng môi trường sống để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và chất lượng cuộc sống; đồng thời nâng cao sự văn minh và công bằng xã hội, xây dựng một nền dân chủ, bình đẳng và thịnh vượng cho mọi thành phần Việc thực thi đồng bộ các nguyên tắc này sẽ cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và an sinh xã hội, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của quốc gia và tăng cường uy tín trên trường quốc tế.

Xây dựng và hoàn thiện các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường ở cấp quốc gia và các vùng lãnh thổ nhằm nâng cao hiệu quả thực thi và tính nhất quán trong quản lý Những công cụ này phải được thiết kế phù hợp với từng ngành, từng địa phương và cộng đồng dân cư để đáp ứng đặc thù môi trường của từng khu vực Đồng thời, triển khai công cụ cần đi kèm các tiêu chí đo lường, cơ chế giám sát và cơ hội tham gia của người dân, nhằm tăng tính bền vững và trách nhiệm giải trình trong quản lý môi trường.

1.1.3 Công tác quản lý môi trường các mỏ khai thác đá 1.1.3.1 Công tác quản lý môi trường tại một số mỏ đá trên thế giới

Ở một số nước có trình độ công nghệ khai thác đá tiên tiến, công tác quản lý môi trường trong khai thác đá được đặt lên hàng đầu Hoạt động này tập trung vào cải tạo và phục hồi môi trường trong khai thác mỏ, được xem là nhiệm vụ trọng tâm nhằm hạn chế và khắc phục các tác động của ngành khai thác mỏ lên môi trường.

(Nguồn: Lê Minh Châu, Lê Đăng Hoan, 2007) a Tại Liên bang Đức

Công tác quản lý và phục hồi môi trường trả lại đất đai cho sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp, tập trung vào cải tạo những khu đất bị khai thác để hình thành môi trường mới trên phần lãnh thổ đã khai thác Ở vùng Buinten, những khu đất bằng phẳng sau khai thác mỏ được cải tạo phục hồi thành những khu vực có cảnh quan phong phú và hiện đại Các bãi thải được chuyển đổi thành đồi gò phủ đầy thảm thực vật; các hồ lắng trước đây được viền quanh bởi bụi cây và trồng cây thân gỗ trên đó Phần lớn đất đai được phủ xanh và chuyển sang mục đích phục vụ nông nghiệp, đồng thời duy trì phương thức sản xuất truyền thống; ở các khu vực trước đây tiến hành khai thác mỏ, người ta xây dựng khu nghỉ ngơi cho dân thành phố và nông thôn.

& CN Mỏ - Luyện Kim, 2009) b Tại Mỹ

Mỹ là một cường quốc khai thác khoáng sản và lần đầu tiên tiến hành phục hồi đất đai vào năm 1919 Ở một số mỏ lộ thiên thuộc bang Ohio, từ năm 1941 đã bắt đầu công tác cải tạo và phục hồi môi trường ở dạng giản đơn bằng cách san gạt mặt bãi thải để trồng cây Phần lớn đất đai được phủ xanh và chuyển sang mục đích phục vụ nông nghiệp Bên cạnh công việc phục hồi đất đai trong khai thác khoáng sản, các dự án này còn góp phần tái tạo hệ sinh thái và nâng cao hiệu quả sử dụng đất cho nông nghiệp.

Chính phủ Mỹ ban hành một loạt Đạo luật môi trường nhằm kiểm soát thiệt hại từ hoạt động khai thác khoáng sản và các công tác phục hồi môi trường liên quan, đồng thời tăng cường quản lý tác động môi trường ở mỗi dự án khai thác Điểm nhấn là Đạo luật Chính sách Môi trường Quốc gia (National Environmental Policy Act - NEPA) năm 1969, quy định phải tiến hành đánh giá tác động môi trường và công khai thông tin cho công chúng trước khi quyết định và triển khai dự án Cạnh đó, Đạo luật Không khí Trong sạch (Clean Air Act) thiết lập tiêu chuẩn chất lượng không khí và biện pháp giảm ô nhiễm, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và hệ sinh thái khỏi các tác động từ hoạt động công nghiệp Nhờ những quy định này, các cơ quan liên bang và doanh nghiệp được yêu cầu xem xét, đánh giá, kiểm soát và phục hồi môi trường sau khai thác, đồng thời tăng tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý tài nguyên khoáng sản.

(1970), Luật nước sạch (1972), Luật về bảo tồn và khôi phục nguồn tài nguyên (1980), Luật về kiểm soát và phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản (1977)…

(Nguồn: Đỗ Cảnh Dương, 2012) c Tại Vương quốc Anh

Trước khi khai thác khoáng sản, cần bóc lớp đất mặt dày 30 cm và bóc lớp đất dưới lớp trồng cây 85 cm, lưu giữ riêng tại khu vực khác; sau khi hoàn thành khai thác, lớp đất mặt được dùng để hoàn trả mặt bằng khu vực đã khai thác và khu vực này phải được làm sạch đất đá, sét và bùn trước khi san lấp; các lớp đất đá được bóc lên xếp thành đống theo từng tầng, lần lượt ngược với thứ tự trước đó để tránh chồng lấp và mất màu đất; khi kết thúc khai thác, tiến hành san lấp hoàn thổ bằng đúng các lớp đất đã bóc theo thứ tự ngược lại, và sau mỗi lớp đất dùng xe chuyên dụng đầm nén chặt khu vực san lấp; sau quá trình san lấp là các hoạt động hoàn nguyên và tái tạo cảnh quan, thường bằng trồng cây và tạo cảnh quan công cộng cho cộng đồng; ở Guinea, các biện pháp này được áp dụng như một phần của công tác hoàn nguyên và tái tạo cảnh quan (Nguồn: Lê Minh Châu, Lê Đăng Hoan, 2007).

Tái sử dụng đất để có thu nhập, bảo vệ môi trường cho cộng đồng Guinea

Trồng cây hạt điều tại khu mỏ khai thác trước đây mang lại thu nhập bền vững cho phụ nữ trong một cộng đồng ở Guinea và đồng thời bảo vệ môi trường đất đai Việc khai thác mỏ từng phá hủy rừng và gây xói mòn đất, với các hố, rãnh khai thác lộ thiên tiềm ẩn nhiều nguy hiểm cho người và gia súc, dẫn đến nhiều tai nạn và tử vong Trồng cây hạt điều không chỉ phục hồi hệ thực vật mà còn tạo nguồn thu nhập từ bán hạt điều Phụ nữ của cộng đồng ở Bintimodia chịu trách nhiệm chăm sóc cây và thu hoạch hạt mỗi năm, và thu nhập từ hoạt động này được phân phối cho các thành viên tham gia (Nguồn: Viện KH & CN Mỏ - Luyện Kim, 2009).

1.1.3.2 Công tác quản lý môi trường ở Việt Nam và một số tỉnh a Ở Việt nam

Trong thời gian gần đây, hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng và xuất khẩu khoáng sản trên phạm vi cả nước đã diễn biến phức tạp; việc khai thác một số loại khoáng sản như vàng sa khoáng, quặng sắt, titan, đá hoa trắng, đá vôi và cát xây dựng không còn phù hợp với nhu cầu thực tế Số lượng giấy phép khai thác, chế biến khoáng sản được cấp tăng lên đáng kể trong khi đầu tư cho các dự án chế biến sâu lại chưa được quan tâm đúng mức Tình trạng vi phạm quy định về an toàn lao động và bảo vệ môi trường vẫn phổ biến; hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về khoáng sản còn hạn chế, và công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản chưa được quan tâm đúng mức Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này một phần là do yếu kém trong quản lý nhà nước về khoáng sản, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng ở trung ương và địa phương còn thiếu chặt chẽ, và việc xử lý những vi phạm trong thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản chưa nghiêm minh.

Để chấn chỉnh công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng và xuất khẩu khoáng sản, Việt Nam thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 25/4/2011 của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, đồng thời triển khai Luật Khoáng sản 2010 và Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 09/01/2012 nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng và xuất khẩu khoáng sản (Nguồn: Khánh Luân, 2013)

Tình hình môi trường tại các mỏ đá

1.2.1 Quy trình khai thác và chế biến đá

Hiện nay, các mỏ khai thác đá khai thác theo quy trình nhƣ sau:

Hình 1.1 Sơ đồ quy trình khai thác đá

(Nguồn: Trung tâm Môi trường Công nghiệp, Viện KH & CN Mỏ, 2017)

Hệ thống khai thác được chọn là hệ thống khai thác lớp nghiêng, có cắt tầng nhỏ, gạt chuyển trực tiếp từ mặt tầng xuống mặt bằng chân tuyến và xúc lên ô tô để vận chuyển đến trạm nghiền, sàng và phân loại Công đoạn chế biến đá bắt đầu từ việc đưa đá từ khu khai thác tới trạm nghiền, nơi đá được nghiền, sàng và phân loại theo kích thước và chất lượng, nhằm đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật và sản xuất.

Xây dựng cơ bản Làm đường lên núi Bạt ngọn, xén chân tuyến Khoan nổ mìn

Xúc lên ô tô vận chuyển Ô tô vận chuyển đá nguyên liệu

Máy ủi hỗ trợ Ô tô vận chuyển đất đá thải

Khu chế biến Tôn tạo đường hoặc bán

Hình 1.2 Sơ đồ chế biến đá

Đá vôi là loại đá phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt là khu vực Đông Bắc; khai thác đá vôi cần được quản lý hợp lý và bảo vệ môi trường, cảnh quan nhằm phục vụ mục đích kinh tế của địa phương và Nhà nước Tuy nhiên, khai thác đá là một trong những hoạt động sản xuất có tác động tiêu cực đến môi trường, trong đó quan trọng nhất là ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, đất, cảnh quan và địa hình, ảnh hưởng đến hệ sinh thái khu vực và đặc biệt là tới sức khỏe con người.

1.2.2.1 Tác động đến môi trường không khí

Tác nhân gây ô nhiễm không khí trong công tác khai thác đá là nổ mìn, xúc bốc, vận chuyển, chế biến khoáng sản

Khí thải và bụi từ các phương tiện vận chuyển trong khu mỏ là nguồn ô nhiễm không khí đáng kể, và mức độ tác động của chúng phụ thuộc nhiều vào điều kiện địa hình và khí hậu của khu vực Ô nhiễm do bụi và khí thải liên quan trực tiếp đến quá trình khai thác và chế biến đá, đặc biệt ở công đoạn khoan đá và nổ mìn Theo kết quả của nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về ô nhiễm tiếng ồn, bụi và khí thải trong công nghệ khai thác và chế biến đá, công đoạn đá nạp vào phễu cấp liệu là một trong những nguồn chính góp phần vào ô nhiễm này.

Kẹp hàm( nghiền sơ cấp)

Phân loại Máy nghiền côn(hoặc đập búa) Đá 2x4 Đá 1x2 Đá 4x6 thấy hàm lƣợng bụi, khí độc hại và tiếng ồn đƣợc tổng hợp trong bảng 2.1

Bảng 1.1 Dự báo tổng hợp giá trị trung bình chất lƣợng không khí ở các khu mỏ đá

TT Khu vực đo Bụi

Các tác nhân khí thải

2 Nổ mìn, bốc xúc đá 1,6-5 90-110 1,3-2 0,2 0,73

4 Cách 1km theo hướng gió 0,4-0,6 75-80 – – –

TCCP Khu vực sản xuất 6 90 5 – 0,3

Nguồn: Báo cáo khoa học: Những vấn đề cấp bách về môi trường lao động trong khai thác và chế biến đá ở Việt Nam, 1999

Trong công đoạn bốc xúc và san gạt đá, các hoạt động chủ yếu diễn ra trên các bãi bốc xúc tại chân núi và tập trung ở khu vực khai trường Việc vận hành các máy móc, thiết bị san gạt làm phát sinh tiếng ồn, khí độc hại và bụi trong quá trình thi công Đánh giá sơ bộ cho thấy công đoạn này có tác động tới môi trường, nhưng mức độ ảnh hưởng không lớn bằng công đoạn vận chuyển Các thiết bị vận hành chủ yếu trong khu vực khai trường, tập trung ở các khu vực khai thác và bãi bốc xúc.

Ở công đoạn vận chuyển đá, các loại máy móc thiết bị khi vận hành tạo ra lượng bụi, tiếng ồn và khí thải lớn; theo một số báo cáo tại các khu vực khai thác đá, mức bụi và khí độc hại phát thải vượt ngưỡng tiêu chuẩn môi trường cho phép Tình trạng này làm tăng ô nhiễm không khí và ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động cũng như cộng đồng quanh khu vực Để đảm bảo tuân thủ môi trường và giảm thiểu tác động, cần áp dụng biện pháp kiểm soát bụi, giảm phát thải và cải thiện quản lý vận chuyển đá.

Căn cứ tài liệu NATZ, khi sử dụng 1 tấn dầu cho động cơ đốt trong, lượng khí độc hại phát sinh gồm bụi 0,94 kg và khí CO (carbon monoxide).

Dự báo tải lượng khí độc hại do phương tiện vận chuyển và máy móc thiết bị thải ra trong giai đoạn này được thể hiện trong bảng 1.2: 0,05 kg, SO2 = 2,8 kg, NO2 = 12,3 kg và HC = 0,24 kg, cho thấy mức phát thải khác nhau giữa các loại khí và tác động đến chất lượng không khí khu vực.

Bảng 1.2 Tải lƣợng bụi, khí thải trong công đoạn vận chuyển đá

STT Loại khí thải Định mức thải ra đối với 1 tấn dầu (kg/tấn dầu)

Lƣợng dầu tiêu hao trong 1giờ (kg)

Tải lƣợng phát thải (mg/s)

Các loại khí này khi xâm nhập tầng bình lưu là tác nhân gây ra khói quang hóa, phá hủy tầng ozone, góp phần tạo hiệu ứng nhà kính và ảnh hưởng đến thời tiết toàn cầu Tại tầng đối lưu, chúng kết hợp với hơi nước hình thành các hạt mù axit hoặc hòa tan vào nước mưa làm giảm độ pH của nước xuống khoảng 5,5 Khi rơi xuống mặt đất, chúng làm tăng khả năng hòa tan kim loại nặng trong đất, làm chai đất, phá hủy rễ cây, hạn chế đâm chồi và giảm năng suất cây trồng Đối với con người, các khí này có thể gây kích ứng niêm mạc và phế quản ở nồng độ thấp; ở nồng độ cao và kéo dài, chúng có thể gây loét phế quản, giảm khả năng hấp thụ oxy của phế nang, tác động bất lợi đến hệ tim mạch và gây suy nhược cơ thể Đặc biệt khi có mặt đồng thời SO3, tác động lên cơ thể sống mạnh hơn so với tác động của từng chất riêng biệt, có thể gây co thắt phế quản, ngạt thở và tử vong.

Bụi là một tác nhân ô nhiễm nghiêm trọng với nhiều dạng khác nhau, từ bụi khoáng vô cơ và kim loại đến silica và amiăng, gây bệnh bụi phổi ở động vật; đối với thực vật, bụi lắng đọng trên lá làm giảm khả năng quang hợp và năng suất cây trồng; các hạt bụi có kích thước từ 1–5 µm có thể xâm nhập sâu vào phế nang và gây bệnh hô hấp cho người và động vật; ô nhiễm này còn kéo dài bởi tiếng ồn và chấn động, tác động lên sức khỏe con người và môi trường.

Nguồn phát sinh tiếng ồn và độ chấn động chủ yếu do:

– Do khoan đá, vận hành thiết bị và phương tiện vận tải

Tiếng ồn và chấn động phát sinh từ khoan đá, vận hành thiết bị và các phương tiện vận tải ảnh hưởng nghiêm trọng đến khu dân cư Đối với các thiết bị hạng nặng như xe ủi, máy xúc hoặc xe tải loại lớn, độ ồn tại vị trí thiết bị có thể đạt tới 70-90 dB và khi các thiết bị này hoạt động đồng thời sẽ gây hiện tượng âm thanh cộng hưởng, làm tăng đáng kể tác động tới môi trường xung quanh và người dân.

* Ảnh hưởng tiếng ồn và chấn động do nổ mìn

Nổ mìn không chỉ sinh ra lượng khí độc hại, bụi và đất đá văng mà còn gây ra các chấn động ảnh hưởng đến sườn dốc bờ mỏ, nền đất đá gần biên giới khai trường, gây sụt lún và lở đá, ảnh hưởng đến các công trình xây dựng khu vực lân cận Tiếng ồn do nổ mìn không chỉ làm người dân sống gần khu vực khó chịu mà còn có thể tác động đến động vật hoang dã trong vùng; âm thanh nổ có thể lên tới 110 dBA và lan xa hàng km.

1.2.2.2 Tác động đến môi trường nước

Nguồn gây ô nhiễm nước ở giai đoạn này chủ yếu là nước mưa chảy tràn trên bề mặt khu mỏ Lưu lượng nước chảy tràn phụ thuộc vào mùa và chế độ khí hậu của khu vực, nên có sự biến động theo thời tiết Quá trình này mang theo hàm lượng chất lơ lửng rất cao, tập trung chủ yếu ở bùn đất và các tạp chất khác, làm giảm chất lượng nước và tác động đến môi trường xung quanh.

Ngoài nước mưa chảy tràn, nước thải sinh hoạt của công nhân viên tại khu vực mỏ cũng là một nguồn thải cần được xử lý Nếu nguồn thải này không được xử lý đạt chuẩn trước khi thải ra môi trường, nó sẽ tác động đến nguồn nước ngầm và nước mặt trong khu vực.

Trong quá trình khai thác đá, các chất gây ô nhiễm nguồn nước cần được xem xét và kiểm soát, gồm bùn từ bóc đất bề mặt, bụi đá và các chất có hại phát sinh trong quá trình nổ mìn Những chất này có thể lẫn vào bùn bụi đá và di chuyển xuống sông suối hoặc thấm xuống các tầng nước ngầm ở phía dưới khu mỏ, sau đó theo hệ thống nước ngầm và khe nứt của các tầng đá ra môi trường xung quanh.

Khai thác các khoáng vật chứa sunfua trong đá tiếp xúc với không khí có thể hình thành sunfate dễ hòa tan vào nước Hệ quả là nước ngầm sẽ bị axit hóa khi nước chảy qua khu vực mới khai thác, do quá trình oxi hóa sunfua tạo axit sunfuric và tăng nồng độ sunfate Nếu nước mặt tràn ra và chảy vào hệ thống suối xung quanh khu vực, mức độ axit của nước mặt cũng sẽ tăng lên, ảnh hưởng đến chất lượng nước và hệ sinh thái địa phương.

1.2.2.3 Tác động đến môi trường đất

Thực trạng công tác quản lý môi trường trong khai thác khoáng sản tỉnh Lạng Sơn

1.3.1 Thực trạng tổ chức bộ máy hành chính a Về quản lý môi trường

Tổ chức hành chính về quản lý môi trường đối với các mỏ khai thác trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn cụ thể nhƣ sau:

Sở Tài nguyên và Môi trường là cơ quan tham mưu của UBND tỉnh, giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực môi trường trên địa bàn toàn tỉnh Nhiệm vụ của Sở là đề xuất chính sách, tham mưu giải pháp và tổ chức thực thi các quy định pháp luật về môi trường nhằm bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường ở địa phương Vai trò của Sở Tài nguyên và Môi trường là quyết định và giám sát việc thực hiện quản lý môi trường, góp phần phát triển bền vững trên toàn tỉnh.

Chi cục Bảo vệ môi trường là cơ quan quản lý nhà nước trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường (Sở TN&MT), có chức năng tham mưu và giúp Giám đốc Sở thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường (BVMT) Nhiệm vụ của Chi cục gồm tham mưu xây dựng và đề xuất chính sách BVMT, đồng thời triển khai, giám sát và thực thi các quy định pháp luật về BVMT trên địa bàn, đảm bảo sự tuân thủ và hiệu quả trong quản lý môi trường địa phương.

Phòng Tài nguyên và Môi trường: cơ quan tham mưu, giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực môi trường trên địa bàn

UBND cấp xã chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ BVMT và giữ gìn vệ sinh môi trường trên địa bàn, khu dân cư thuộc phạm vi quản lý của mình; kiểm tra việc chấp hành pháp luật BVMT của các hộ gia đình, cá nhân; phát hiện và xử lý theo thẩm quyền các vi phạm pháp luật về BVMT hoặc báo cáo với cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp b Về quản lý khai thác khoáng sản.

Hiện nay, nhiệm vụ chủ trì giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước về khoáng sản nói chung và khai thác khoáng sản nói riêng trên địa bàn tỉnh được giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường đảm nhiệm Tại cấp huyện, nhiệm vụ quản lý nhà nước về khoáng sản được giao cho Phòng Tài nguyên và Môi trường chủ trì thực hiện.

Ngoài Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND cấp huyện và UBND cấp xã, theo quy định của UBND tỉnh, một số Sở, ngành cũng được giao nhiệm vụ cụ thể trong quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản Cơ quan giám sát và đánh giá trong khai thác khoáng sản đóng vai trò thiết essential, chịu trách nhiệm theo dõi, kiểm tra và đánh giá hoạt động khai thác để bảo đảm tuân thủ pháp luật, bảo vệ môi trường và nguồn tài nguyên khoáng sản, đồng thời tăng cường minh bạch trong cấp phép, thanh tra và xử lý vi phạm.

Thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau của các Sở, ngành trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, do Ủy ban nhân dân tỉnh giao cụ thể đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp, quy định cơ chế phối hợp từ khi lập dự án khai thác cho đến khi khai thác

Do vậy trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản được tăng cường, sự phối hợp giữa các Sở, ngành và giữa Sở, ngành với UBND cấp huyện đƣợc thực hiện đảm bảo ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, kịp thời, hạn chế tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước

Cơ cấu giám sát và đánh giá trong khai thác khoáng sản đƣợc thể hiện qua hình 1.3 sau:

Hình 1.3 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về khoáng sản trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Chủ trì phối hợp với các Sở, ngành và UBND các huyện, thành phố xây dựng các văn bản hướng dẫn thực thi các văn bản quy phạm pháp luật và quy định của Nhà nước về quản lý hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh, đảm bảo tính đồng bộ và phù hợp với thực tế địa phương Các văn bản này sau khi được soạn thảo sẽ được trình UBND tỉnh ban hành nhằm tổ chức triển khai có hiệu lực và thống nhất quản lý khoáng sản trên địa bàn tỉnh, đồng thời tăng cường quản lý, giám sát và bảo vệ nguồn tài nguyên khoáng sản và môi trường liên quan.

Tiếp nhận hồ sơ, chủ trì thẩm định và xác định số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; sau thẩm định, gửi văn bản phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản tới Cục Thuế tỉnh và các doanh nghiệp khai thác khoáng sản để thực hiện.

+ Tiếp nhận, thẩm định hồ sơ, trình UBND tỉnh:

Cấp, gia hạn, thu hồi Giấy phép thăm dò khoáng sản, Giấy phép khai thác khoáng sản, Giấy phép tận thu khoáng sản;

Phê duyệt trữ lƣợng trong báo cáo kết quả thăm dò khoáng sản

Chủ trì và phối hợp với các Sở, ngành liên quan cho ý kiến về thiết kế cơ sở của dự án đầu tư xây dựng công trình mỏ khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và thẩm định Báo cáo kinh tế kỹ thuật xây dựng công trình mỏ; nhiệm vụ này đảm bảo các hồ sơ thiết kế đáp ứng yêu cầu pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật và tiến độ Đồng thời, giám sát việc tuân thủ các quy định của Nhà nước về tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy phạm kỹ thuật an toàn trong khai thác mỏ nhằm bảo đảm an toàn lao động, bảo vệ môi trường và hiệu quả kinh tế của dự án.

Chủ trì tiếp nhận và thẩm định hồ sơ đề nghị cấp phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp trong khai thác mỏ thuộc thẩm quyền cấp phép của UBND tỉnh; quá trình thẩm định đảm bảo hồ sơ đầy đủ, hợp lệ theo quy định hiện hành và có ý kiến của các cơ quan liên quan được tổng hợp trước khi ban hành quyết định cấp phép Việc cấp phép nhằm bảo đảm an toàn, bảo vệ môi trường, tuân thủ quy trình quản lý vật liệu nổ công nghiệp và phù hợp với quy hoạch, kế hoạch khai thác mỏ của địa phương.

Chủ trì và phối hợp với các Sở, ngành xây dựng, điều chỉnh và bổ sung quy hoạch hạ tầng khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh; quản lý chi phí khai thác tại các mỏ khoáng sản; triển khai quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản của tỉnh nhằm đảm bảo phát triển bền vững nguồn tài nguyên và hiệu quả kinh tế.

+ Tham gi ý kiến về cao độ đáy mỏ để làm căn cứ cho Sở TN&MT tham mưu cấp giấy phép khai thác khoáng sản

- Sở Lao động – Thương binh và Xã hội:

Đây là hướng dẫn dành cho các tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản về việc sử dụng và ký hợp đồng lao động Nội dung chỉ rõ quy trình ký kết hợp đồng lao động phù hợp với pháp luật và các tiêu chuẩn an toàn lao động Đồng thời, tài liệu hướng dẫn cách khai báo điều tra thống kê và báo cáo tai nạn lao động nhằm thu thập dữ liệu đầy đủ, chính xác và kịp thời, phục vụ quản lý rủi ro và cải thiện an toàn trong hoạt động khoáng sản.

Đánh giá phương án bảo đảm an toàn lao động và vệ sinh lao động, đồng thời xem xét biện pháp bảo vệ môi trường cho các tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản khi xây dựng đề án khai thác mới hoặc mở rộng sản xuất Quá trình thẩm định tập trung vào tính khả thi của các biện pháp an toàn, điều kiện làm việc và mức độ tác động đến môi trường, nhằm bảo đảm an toàn cho người lao động và tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường Kết quả thẩm định sẽ hỗ trợ điều chỉnh đề án khai thác, nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm thiểu rủi ro vận hành.

- Sở Kế hoạch và Đầu tƣ:

Chủ trì phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), Sở Công Thương, Sở Xây dựng, các cơ quan liên quan và UBND cấp huyện nơi thực hiện dự án tổ chức thẩm tra dự án đầu tư khai thác khoáng sản theo quy định của Luật Đầu tư, Luật Khoáng sản và các văn bản pháp luật liên quan khác, trình UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận đầu tư cho dự án khai thác khoáng sản.

+ Chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành liên quan xây dựng, điều chỉnh giá tính thuế tài nguyên trình UBND tỉnh phê duyệt

+ Thẩm định kết quả tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản do Sở TN&MT tính đối với từng doanh nghiệp

+ Chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành liên quan xác định giá tiền thuê đất trong hoạt động khoáng sản trình UBND tỉnh xem xét, quyết định

Mục tiêu nghiên cứu

Việc cung cấp cơ sở khoa học cho các đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng môi trường tại khu vực khai thác khoáng sản là nền tảng để cải thiện quản lý rủi ro và công tác giám sát môi trường Nghiên cứu tập trung đánh giá tác động đến nước, đất và không khí, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp với thực tế khai thác và đặc thù địa phương Các giải pháp này góp phần nâng cao hiệu quả quản lý môi trường, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương theo hướng bền vững và đảm bảo nguồn lực khoáng sản được khai thác an toàn Tổng hợp giữa cơ sở khoa học và quản trị môi trường sẽ hỗ trợ địa phương phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, đồng thời tăng cường khả năng cạnh tranh và thu hút đầu tư.

- Đánh giá thực trạng hoạt động khai thác đá tại huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn

- Đánh giá ảnh hưởng hoạt động khai thác đá đến chất lượng môi trường

- Đề xuất giải pháp giảm thiểu tác động của hoạt động khai thác đá đến khu vực nghiên cứu.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là hoạt động khai thác đá và các đối tƣợng môi trường bị ảnh hưởng (tiếng ồn, không khí, nước, )

Phạm vi nội dung của đề tài được xác định tập trung vào thực trạng khai thác đá tại xã Hồng Phong, huyện Cao Lộc và những ảnh hưởng của hoạt động khai thác đá đến kinh tế, xã hội và môi trường địa phương Nghiên cứu phân tích quy mô và hình thức khai thác, đánh giá tác động lên sản xuất, việc làm và thu nhập của cộng đồng, đồng thời làm rõ các hệ quả về môi trường như ô nhiễm, suy thoái tài nguyên và biến đổi cảnh quan Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất các giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực và thúc đẩy sự phát triển bền vững cho xã Hồng Phong và huyện Cao Lộc Từ khóa SEO liên quan: khai thác đá, thực trạng, ảnh hưởng kinh tế xã hội môi trường, xã Hồng Phong, Cao Lộc.

Hoạt động khai thác đá ở xã Hồng Phong, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn diễn ra trên địa bàn với 06 mỏ đá đã và đang hoạt động; trong đó nghiên cứu được giới hạn ở 02 mỏ khai thác đá Cụ thể, mỏ đá vôi Phai Kịt có công suất khai thác 23.000 m3/năm là nhỏ nhất, còn mỏ đá vôi Lũng Tém có công suất khai thác 60.000 m3/năm là tương đối lớn so với các mỏ khác trên địa bàn xã Hồng Phong.

Hình 2.1 Sơ đồ mỏ đá Phai Kịt và Lũng Tém tại khu vực nghiên cứu

* Phạm vi về thời gan:

- Nghiên cứu sử dụng số liệu trong đề tài đƣợc thu thập từ năm 2017 đến nay

- Thời gian thực hiện luận văn: Luận văn thực hiện đề tài tháng 9/2018 tới 4/2019.

Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Đánh giá thực trạng khai thác khoáng sản tại huyện Cao Lộc

 Thực trạng tổ chức bộ máy hành chính:

 Những khó khăn, tồn tại trong quản lý nhà nước về BVMT trong hoạt động KTKS

Thực trạng công tác quản lý mỏ khai thác đá được nghiên cứu tại xã Hồng Phong, huyện Cao Lộc cho thấy hoạt động này tập trung vào các thủ tục và hồ sơ liên quan đến môi trường (MT) và khai thác khoáng sản (KS), cũng như việc thực hiện các quy phạm pháp luật về MT và KS Nghiên cứu đánh giá mức độ tuân thủ, hiệu quả cấp phép, quản lý chất thải, giám sát môi trường và thực hiện các biện pháp an toàn tại các mỏ trên địa bàn Đồng thời, bài viết làm rõ những điểm mạnh và tồn tại trong quy trình thẩm định, tiếp nhận hồ sơ và thực hiện nghĩa vụ báo cáo môi trường, từ đó đề xuất giải pháp cải thiện quy trình quản lý và tăng cường giám sát nhằm đảm bảo hoạt động khai thác đá diễn ra bền vững Những kết quả này cung cấp cơ sở cho các chiến lược quản lý mỏ tại xã Hồng Phong và huyện Cao Lộc, đồng thời góp phần nâng cao nhận thức về tuân thủ pháp luật và chuẩn bị hồ sơ MT và KS đúng chuẩn.

 Các đánh giá từ phiếu điều tra, kết quả phỏng vấn và số liệu kết quả quan trắc, giám sát môi trường đến môi trường khu vực nghiên cứu

2.3.2 Đánh giá tác động của hoạt động khai thác đá tại khu vực nghiên cứu

 Tác động đến môi trường không khí

 Tác động đến môi trường nước

 Tác động đến sức khỏe công nhân, cộng đồng

 Tác động đến kinh tế khu vực

2.3.3 Đề xuất giải pháp giảm thiểu tác động của hoạt động khai thác đá đến môi trường cho khu vực

 Giải pháp về cải cách thủ tục hành chính

 Giải pháp về tăng cường vai trò đánh giá, giám sát

 Giải pháp về quy hoạch

 Giải pháp về kỹ thuật

 Giải pháp về công tác quản lý môi trường của chủ doanh nghiệp khai thác đá.

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, luận văn sử dụng các phương pháp sau:

2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu a Thu thập số liệu thứ cấp

Các số liệu thứ cấp trong quá trình nghiên cứu bao gồm:

- Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu

- Số liệu quan trắc môi trường hàng năm của các cơ quan, đơn vị chức năng có liên quan

Các nguồn dữ liệu liên quan bao gồm Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2005–2010, báo cáo quan trắc hiện trạng môi trường hàng năm trên địa bàn tỉnh, kết quả quan trắc của các cơ sở khai thác đá trên địa bàn huyện Cao Lộc và sách giáo khoa; các công trình, đề tài nghiên cứu khoa học về khai thác khoáng sản và quản lý nhà nước liên quan; các luận văn thạc sĩ, bài báo, bài viết đăng tải trên Internet và các bài tham luận tại hội thảo khoa học Việc thu thập dữ liệu được tiến hành từ khi tác giả hình thành ý tưởng nghiên cứu và đăng ký đề tài.

- Các tài liệu này thu thập tại các phòng, ban chuyên môn tỉnh Lạng Sơn và trên mạng internet b Phân tích - tổng hợp

Phân tích là quá trình chia vấn đề thành các phần nhỏ, tiếp cận từng phần từ nhiều góc độ và các tài liệu khác nhau, sau đó tổng hợp lại để hình thành nhận thức chung đúng đắn và đầy đủ về vấn đề; từ đó tìm ra bản chất và quy luật của đối tượng nghiên cứu Trong khuôn khổ này, thống kê và so sánh là công cụ then chốt giúp đánh giá dữ liệu, kiểm chứng luận cứ, so sánh giữa các nguồn tư liệu và rút ra các kết luận có cơ sở khoa học.

Phương pháp thống kê và so sánh là công cụ phổ biến được áp dụng trên các số liệu thống kê từ báo cáo của UBND tỉnh và báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn, nhằm cung cấp tư liệu cho việc đánh giá kết quả quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản của tỉnh Phương pháp so sánh được dùng để đánh giá hiệu quả quản lý và so sánh giữa các giai đoạn, các nguồn dữ liệu và các khoảng thời gian Nghiên cứu tài liệu là bước cơ bản để hệ thống hóa thông tin và làm cơ sở cho các phân tích tiếp theo.

Việc tham khảo các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học và những chuyên gia cùng với các tài liệu giảng dạy của thầy cô, các luận văn thạc sĩ, các bài báo, tạp chí và các bài viết được đăng trên Internet là phương pháp được học viên áp dụng xuyên suốt trong luận văn của mình Việc tổng hợp nguồn tin từ các nghiên cứu khoa học, tài liệu giáo trình và ấn phẩm chuyên ngành giúp tăng tính thuyết phục và tính hệ thống cho bài viết, đồng thời tối ưu cho SEO nhờ việc kết hợp các từ khóa liên quan như tham khảo, công trình nghiên cứu, bài báo khoa học, luận văn thạc sĩ và nội dung trực tuyến.

2.4.2 Phương pháp điều tra xã hội học

- Phương pháp chọn mẫu để nghiên cứu:

Thu thập phiếu điều tra bằng hình thức điều tra phỏng vấn cá nhân dựa trên quá trình giao tiếp trực tiếp bằng lời nói và phù hợp với mục đích đặt ra của nghiên cứu Trong cuộc phỏng vấn, người phỏng vấn nêu các câu hỏi theo một chương trình đã được định sẵn nhằm thu thập đầy đủ thông tin cần thiết cho nghiên cứu và bảo đảm tính nhất quán của dữ liệu.

- Cơ sở chọn mẫu: Đối tượng bị ảnh hưởng do khai thác đá gây ra và đối tượng gây ra những ảnh hưởng đó

- Cơ sở thiết kế bảng câu hỏi: Tùy thuộc vào đối tƣợng cần tham vấn để đƣa ra bộ câu hỏi hợp lý nhất cụ thể:

Đối với người dân, cần thực hiện đánh giá môi trường để xác định xem khu vực có bị ô nhiễm hay không và ô nhiễm đến từ yếu tố nào, như bụi, tiếng ồn hoặc mùi khó chịu; xác định người dân có bị ảnh hưởng đến sức khỏe hay không, cụ thể là các bệnh liên quan đến ô nhiễm không khí và tiếng ồn Cần xem xét ảnh hưởng của chất lượng không khí và tiếng ồn trong quá trình khai thác đá và đánh giá mức độ phù hợp của các biện pháp khai thác và bảo vệ môi trường mà doanh nghiệp hiện đang áp dụng đối với sức khỏe và môi trường sống của người dân Đồng thời đánh giá xem hoạt động của doanh nghiệp có mang lại phúc lợi cho người dân hay không, ví dụ như cải thiện hạ tầng giao thông hoặc các tiện ích khác.

Đối với công nhân và chủ dự án, cần tiến hành đánh giá công tác BVMT tại doanh nghiệp nơi công nhân làm việc và tại đơn vị chủ dự án đang quản lý, nhằm xác định mức độ tuân thủ và hiệu quả của các biện pháp bảo vệ môi trường; đối với công nhân, cần đưa ra các câu hỏi để đánh giá các bệnh nghề nghiệp có thể mắc phải trong quá trình lao động và rút ra các biện pháp giảm thiểu rủi ro; đồng thời phỏng vấn trực tiếp một số công nhân để nắm bắt công tác đảm bảo an toàn lao động hiện nay mà các chủ mỏ đá đang áp dụng tại mỏ khai thác đá.

(Mẫu phiếu câu hỏi có kèm theo ở phần phụ lục)

2.4.3 Phương pháp quan trắc hiện trường Để đánh giá được hiện trạng môi trường các mỏ khai thác đá trên địa bàn huyện Cao Lộc, học viên tham gia trực tiếp lấy mẫu giám sát môi trường không khí, môi trường nước mặt và nước thải cùng đơn vị có đủ chức năng nhiệm vụ để lấy mấy phục vụ phân tích trong phòng thí nghiệm Đối với các thành phần môi trường có các phương pháp lấy mẫu khác nhau cho từng thông số Vì vậy các phương pháp lấy mẫu hiện trường được thống kê trong bảng sau:

Bảng 2.1 Phương pháp lấy mẫu hiện trường

TT Tên thông số công việc Phương pháp lấy mẫu

1 Lấy mẫu nước mặt TCVN 6663-1:2011, TCVN 6663- 6:2008,

2 Lấy mẫu nước ngầm (nước dưới đất)

3 Lấy mẫu nước thải TCVN 6663-1:2011, TCVN 5999:1995,

4 Lấy mẫu không khí TCVN 6137:2009, TCVN 5971:1995

2.4.3.1 Quan trắc môi trường không khí a Lựa chọn vị trí quan trắc

Vị trí các điểm lấy mẫu không khí làm việc được xác định chủ yếu tại các khu vực phát sinh bụi, khí thải và tiếng ồn trong quá trình khai thác và chế biến đá, dựa trên các điều kiện phát tán cục bộ nhằm đánh giá mức độ ô nhiễm do từng nguồn gây ra.

Vị trí các điểm lấy mẫu không khí được xác định ở khoảng cách từ 150 m đến 800 m tính từ nguồn phát thải nhằm xác định mức độ ô nhiễm không khí tại các khoảng cách khác nhau Các điểm lấy mẫu được bố trí bằng mạng lưới đối xứng quanh nguồn, với nguồn nằm ở trung tâm là khu vực khai thác đá, nhằm đánh giá mức độ ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành đối với môi trường không khí địa phương.

Vị trí lấy mẫu tại các mỏ đá và tọa độ điểm lấy mẫu theo Hệ quy chiếu trắc địa

Bảng 2.2 Các vị trí lấy mẫu không khí tại các mỏ đá nghiên cứu

STT Vị trí Đặc điểm Tọa độ

1 Mẫu không khí làm việc tại khu vực khai thác

Tại thời điểm mỏ đá Phai Kịt hoạt động bình thường

2 Mẫu không khí làm việc tại khu vực nghiền sàng

Tại thời điểm mỏ đá Phai Kịt hoạt động bình thường

Mẫu không khí làm việc tại khu vực bãi bốc xúc chân tuyến

Tại thời điểm mỏ đá Phai Kịt hoạt động bình thường

Mẫu không khí xung quanh tại khu vực văn phòng mỏ Phai Kịt

Mỏ đá hoạt động bình thường

Mẫu không khí xung quanh tại ngã ba đường vào mỏ (giáp đường QL 1B)

Mỏ đá hoạt động bình thường

Mẫu không khí xung quanh tại nhà dân Phùng

Cà Mau, đối diện cổng Công ty CP 389

Mỏ đá hoạt động bình thường

STT Vị trí Đặc điểm Tọa độ

Mẫu không khí xung quanh tại nhà dân Triệu Thị Nính, cách Công ty

CP 389 khoảng 250m về bên trái đường

Mỏ đá hoạt động bình thường

Mẫu không khí xung quanh tại nhà dân Hoàng Văn Hạ, cách Công ty

CP 389 khoảng 500m về bên phải đường

Mỏ đá hoạt động bình thường

Mẫu không khí xung quanh khu dân cƣ thôn Tềnh Chè, xã Hồng Phong, huyện Cao Lộc

Các mỏ khai thác đá tại xã Hồng Phong đều hoạt động bình thường

Mẫu không khí xung quanh tại ngã 4 đường đi Quốc lộ 1B

Các mỏ khai thác đá tại xã Hồng Phong đều hoạt động bình thường

Mẫu không khí vị trí làm việc tại khu vực nghiền sàng mỏ đá Lũng Tém

Tại thời điểm mỏ đá Lũng Tém hoạt động bình thường

Mẫu không khí vị trí làm việc tại khu vực khai thác 1 mỏ đá Lũng Tém

Tại thời điểm mỏ đá Lũng Tém hoạt động bình thường

Mẫu không khí làm việc tại khu vực trên đường vận chuyển nội mỏ Lũng Tém

Tại thời điểm mỏ đá Lũng Tém hoạt động bình thường

Mẫu không khí xung quanh tại khu vực trên đường vào khu vực khai thác mỏ Lũng Tém

Mỏ đá hoạt động bình thường

Mẫu không khí xung quanh tại tại khu vực văn phòng

Mỏ đá hoạt động bình thường

STT Vị trí Đặc điểm Tọa độ

Mẫu không khí xung quanh tại nhà dân Nông Văn Quý, cách mỏ Lũng Tém của HTX Bông Lau 27/7 khoảng 150m

Mỏ đá hoạt động bình thường

Mẫu không khí xung quanh tại nhà dân Đồng Thị Lê cách mỏ Lũng Tém của HTX Bông Lau 27/7 khoảng 300m

Mỏ đá hoạt động bình thường

Mẫu không khí xung quanh tại nhà dân Lục Minh Giang cách mỏ của HTX Bông Lau 27/7 khoảng 800m

Mỏ đá hoạt động bình thường

Đối với môi trường không khí, tiến hành lấy 16 mẫu khí tại khu vực nghiên cứu: mỗi cơ sở khai thác đá lấy 08 mẫu, trong đó 03 mẫu thuộc khu vực làm việc và 05 mẫu không khí xung quanh; các vị trí lấy mẫu được chọn nhằm phản ánh đúng thực trạng môi trường Đồng thời bổ sung thêm 02 vị trí lấy mẫu không khí xung quanh để đánh giá chung cho toàn xã Hồng Phong thuộc khu vực nghiên cứu Đánh giá chất lượng môi trường không khí sẽ dựa trên các kết quả phân tích từ các mẫu đã thu thập.

Các phương pháp đo nhanh tại hiện trường theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn trong bảng sau:

Bảng 2.3 Các phương pháp đo tại hiện trường đối với môi trường không khí

TT Tên thông số Thành phần môi trường

Tên/Số hiệu phương pháp sử dụng

Giới hạn phát hiện phạm vi đo

Không khí làm việc, không khí xung quanh

2 Độ ẩm QCVN 46:2012/BTNMT 10 ÷ 95 %RH

3 Tốc độ gió QT-HDNB.06 0 ÷ 30 m/s

6 Bụi lơ lửng TCVN 5067:1995 11,3 àg/m 3

2.4.3.2 Quan trắc môi trường nước a Nước mặt và nước thải:

Tại 02 điểm mỏ được nghiên cứu, mỗi mỏ chỉ có 01 nguồn nước thải công nghiệp và 01 nguồn nước mặt gần khu vực dự án để tiếp nhận nguồn nước thải công nghiệp của dự án Mẫu nước thải được lấy tại đầu ra nơi tiếp nhận nước thải ra môi trường là nguồn nước mặt gần khu vực dự án để đánh giá nguồn tiếp nhân có bị ô nhiễm bởi nguồn thải của khu vực mỏ không

Đối với nước mặt, lấy 02 mẫu nước mặt; mỗi cơ sở khai thác đá lấy 01 mẫu và được xác định vị trí lấy mẫu đảm bảo phản ánh đúng thực trạng môi trường Phương pháp lấy mẫu được thực hiện theo TCVN 5994:1995 (ISO 5667-4:1987), tọa độ vị trí lấy mẫu theo Hệ quy chiếu trắc địa VN 2000 (xem bảng 2.4).

Bảng 2.4 Các vị trí lấy mẫu nước mặt tại các mỏ đá nghiên cứu

STT Vị trí Đặc điểm Tọa độ

Mẫu nước mặt được lấy tại suối chảy qua khu vực mỏ đá Lũng Tém

Mỏ đá hoạt động bình thường X$24.761

Mẫu nước mặt được lấy tại suối chảy qua khu vực mỏ đá Phai Kịt

Mỏ đá hoạt động bình thường X$24.828

Đối với nước thải, thu thập 02 mẫu; mỗi cơ sở khai thác đá lấy 01 mẫu, được lấy tại vị trí đầu ra trước khi chảy vào môi trường Phương pháp lấy mẫu nước thải tuân theo TCVN 5999:1995 (ISO 5667-10:1992) Tọa độ vị trí lấy mẫu được xác định theo hệ quy chiếu trắc địa VN2000, tham khảo bảng 2.5.

Bảng 2.5 Các vị trí lấy mẫu nước thải tại các mỏ đá nghiên cứu

STT Vị trí Đặc điểm Tọa độ

Nước thải công nghiệp tại đầu ra nơi tiếp nhận nước thải của mỏ đá Lũng Tém

Mỏ đá hoạt động bình thường

Nước thải tại cống thải trước khi cho chảy vào nguồn tiếp nhận của mỏ đá Phai Kịt

Mỏ đá hoạt động bình thường

Việc lựa chọn điểm lấy mẫu, thiết bị và phương tiện lấy mẫu cùng với xác định các thông số nước ngầm được thực hiện theo tiêu chuẩn TCVN 6663-11-2011 (ISO 5667-11:2009) Chất lượng nước - lấy mẫu - phần 11: Hướng dẫn lấy mẫu nước ngầm Quá trình này nhằm đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy của kết quả phân tích nước ngầm khi tuân thủ các quy trình lấy mẫu chuẩn.

Điều kiện tự nhiên huyện Cao Lộc

Cao Lộc là một huyện biên giới miền núi ở phía Bắc tỉnh Lạng Sơn, là đầu mối giao lưu kinh tế và văn hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc Nơi có vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị và an ninh - quốc phòng của tỉnh Lạng Sơn và cả nước Huyện Cao Lộc nằm ở 21°45'–22° vĩ Bắc và 106°39'–107°02' kinh Đông.

Phía bắc nước ta giáp tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, với đường biên giới dài 83 km Khu vực này thuộc địa phận thị trấn Đồng Đăng và các xã Bảo Lâm, Lộc Yên, Thanh Loà, Cao Lâu, Xuất Lễ, Mẫu Sơn.

Phía đông giáp huyện Lộc Bình

Phía tây và tây bắc giáp huyện Văn Quan và huyện Văn Lãng

Phía nam giáp huyện Chi Lăng

Theo địa giới hành chính, huyện Cao Lộc bao quanh Thành phố Lạng Sơn và đóng vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị và động lực phát triển của tỉnh Huyện có trên 75 km đường biên giới giáp Trung Quốc, hai cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị và Ga Đồng Đăng, cùng các chợ biên giới quan trọng, mạng lưới giao thông đường bộ và đường sắt quốc tế, và các tuyến quốc lộ 1A, 1B, 4B, 4A liên kết với tất cả các huyện, với Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ Thành phố Lạng Sơn là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của tỉnh, nằm hầu như hoàn toàn trong phạm vi địa giới của huyện Cao Lộc Đây là vùng kinh tế động lực của tỉnh, mang lại lợi thế lớn cho Cao Lộc trong phát triển kinh tế - xã hội và khẳng định vai trò của quốc phòng - an ninh không chỉ đối với Lạng Sơn mà còn đối với toàn quốc.

Cao Lộc là huyện có địa hình cao nhất, độ cao trung bình khoảng 260 m so với mặt biển Địa hình huyện được chia thành 4 vùng khác nhau: vùng núi cao gồm các xã Công Sơn và Mẫu Sơn; vùng núi ở đông bắc gồm xã Gia Cát; vùng núi ở đông nam gồm các xã Hải Yến và Cao Lâu; và vùng còn lại ở Xuất.

Đỉnh Phja Pò thuộc dãy núi Mẫu Sơn, cao 1.541 m, là đỉnh cao nhất của khu vực Địa hình phức tạp, giao thông khó khăn nhưng có thế mạnh về lâm nghiệp và du lịch; dãy núi Mẫu Sơn – Công Sơn trập trùng là khu du lịch sinh thái thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước Các xã Hòa Cư, Thụy Hùng, Yên Trạch, Hợp Thành nằm ở vùng đồi núi nhấp nhô, trong khi vùng đồi thấp ven sông Kỳ Cùng và các suối lớn ở Tân Liên, Gia Cát thích nghi tốt với phát triển nông nghiệp Vùng núi xen kẽ đá vôi có các thung lũng lớn ở Hồng Phong, Bình Trung, Phú Xá; nhờ tài nguyên đá vôi phong phú và vị trí địa lý thuận lợi, khu vực này có tiềm năng cho các ngành công nghiệp như xi măng, khai thác đá vôi, đồng thời nông nghiệp và chăn nuôi phát triển ở các thung lũng.

Cao Lộc có khí hậu mát mẻ với nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 21°C, mùa hè nóng nhất với khoảng 27°C và mùa đông lạnh khoảng 13°C, thậm chí có tháng nhiệt độ xuống 9°C hoặc thấp hơn và ở Mẫu Sơn từng xuất hiện băng tuyết Lượng mưa trung bình hàng năm tương đối thấp, khoảng 1.392 mm, trong đó 70% lượng mưa rơi từ tháng 5 đến tháng 9 Thị trấn Đồng Đăng được xem là một trong những khu vực khô hạn của Việt Nam với lượng mưa hàng năm chỉ khoảng 1.100 mm Cao Lộc nằm ở vùng gió Đông Bắc nên có vận tốc gió trung bình khoảng 2 m/s, độ ẩm trung bình khoảng 82%, và lượng bốc hơi cao vào mùa hè Bên cạnh đó, Cao Lộc là nơi phổ biến hiện tượng sương muối nhất ở miền Bắc, cao điểm từ tháng 11 đến tháng Giêng, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp và chăm nuôi.

+ Về tài nguyên đất của Cao Lộc chủ yếu là đất mùn trên núi thấp, phong hoá chậm và trên quần thể núi trung bình của Mẫu Sơn Các xã phía nam của Cao Lộc là đất feralit hình thành trên đá cát kết, phân bố chủ yếu trên dạng địa hình đồi trung bình và đồi cao

+ Mật độ sông, suối ở Cao Lộc tương đối dày Sông Kỳ Cùng chảy qua 4 xã Tân Liên, Gia Cát, Song Giáp, Bình Trung với chiều dài 35km là nguồn nước sản xuất và sinh hoạt quan trọng nhất của nhân dân trong huyện Sông Kỳ Cùng là con sông chính của tỉnh Lạng Sơn và là một chi lưu của sông Tây Giang (Trung Quốc) Đoạn chảy trên đất Việt Nam dài khoảng 243 km với diện tích lưu vực là 6.660 km² Đây là con sông duy nhất ở miền Bắc Việt Nam chảy theo hướng đông nam - tây bắc sang Trung Quốc Ngoài ra còn có các con suối lớn nhƣ suối Bản Lề ở xã Xuất Lễ, bắt nguồn từ Mẫu Sơn, chảy qua một số xã rồi sang Trung Quốc; suối Khuổi Van ở xã Cao Lâu; suối Khuổi Tao ở Yên Trạch; suối Đồng Đăng bắt nguồn từ khu vực biên giới chảy ra gặp sông Kỳ Cùng; suối Bản Lìm từ Mẫu Sơn chảy ra sông Kỳ Cùng; suối Khuổi Hái ở xã Hải Yến… Những con suối đó đã góp phần cung cấp nước tưới tiêu và sinh hoạt cho nhân dân

Cao Lộc có 3/4 diện tích là đồi núi, nên tài nguyên rừng của huyện rất phong phú và đa dạng Theo các số liệu thống kê trước đây, rừng Cao Lộc từng chứa nguồn tài nguyên có giá trị kinh tế cao, nổi bật với các loại gỗ quý như nghiến, vàng tâm, lim và dẻ, đồng thời bảo tồn nhiều loài động vật quý như sơn dương, hươu, nai và gà lôi.

Vùng núi cao Mẫu Sơn có 1.543 ha rừng nguyên sinh với đa dạng loài cây thuốc quý và dược liệu quý hiếm Ở một số xã biên giới vùng sâu vẫn còn lâm sản quý như đinh, lim, lát, nấm hương, sa nhân và một số động vật quý Tuy nhiên, do phá rừng và săn bắt động vật hoang dã của một số người thiếu ý thức nên nguồn tài nguyên rừng đã bị suy kiệt nghiêm trọng.

Tài nguyên khoáng sản ở Cao Lộc khá phong phú, với quặng nhôm ở Tam Lung, mỏ đa kim ở Tình Slung (Gia Cát), vàng sa khoáng sông Kỳ Cùng tập trung ở các điểm Tân Liên và Gia Cát, vành phân tán vàng núi Mẫu Sơn nằm ở hạ lưu các con suối.

Suối khoáng Mẫu Sơn cung cấp khoảng 500.000 m³ nước khoáng mỗi năm, là nguồn tài nguyên quan trọng cho phát triển địa phương Đất sét làm gạch, ngói ở thị trấn Cao Lộc, xã Hợp Thành; cát xây dựng ở Bản Ngà (Gia Cát); đá vôi ở xã Hồng Phong, Bình Trung, Phú Xá và Yên Trạch là những tài nguyên khoáng sản đang được khai thác Những nguồn tài nguyên này đã và đang tạo điều kiện cho công nghiệp khai khoáng và công nghiệp vật liệu xây dựng của địa phương phát triển, góp phần giải quyết việc làm cho đồng bào các dân tộc huyện Cao Lộc.

(Nguồn: Quy hoạch sử dụng đất huyện Cao Lộc giai đoạn 2010-2020)

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 19/12/2022, 20:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm