TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC LƯU MINH DỰ CỤM TỪ CÂN ĐỐI TỪ VĂN HỌC DÂN GIAN ĐẾN VĂN HỌC THÀNH VĂN KHẢO SÁT QUA THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI VÀ TRUYỆN KIỀU NGUYỄN DU Chuyên ngành: Văn học Việt Na
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
LƯU MINH DỰ
CỤM TỪ CÂN ĐỐI TỪ VĂN HỌC DÂN GIAN ĐẾN
VĂN HỌC THÀNH VĂN
(KHẢO SÁT QUA THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI VÀ
TRUYỆN KIỀU NGUYỄN DU)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thái Nguyên - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
LƯU MINH DỰ
CỤM TỪ CÂN ĐỐI TỪ VĂN HỌC DÂN GIAN ĐẾN
VĂN HỌC THÀNH VĂN
(KHẢO SÁT QUA THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI VÀ
TRUYỆN KIỀU NGUYỄN DU)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS PHẠM THỊ PHƯƠNG THÁI
Thái Nguyên – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên,15 tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Lưu Minh Dự
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Văn – Xã hội, Trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp
đỡ trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn PGS.TS Phạm Thị Phương Tháiđã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn
Thái Nguyên,15 tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Lưu Minh Dự
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 5
5 Phạm vi nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 6
Chương 1: CỤM TỪ CÂN ĐỐI – THÓI QUEN DIỄN ĐẠT CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN 7
1.1 Khái lược về cụm từ cân đối 7
1.1.1 Khái niệm cụm từ cân đối 7
1.1.2 Giá trị của cụm từ cân đối 10
1.2 Cụm từ cân đối từ lối diễn đạt trong văn hóa dân gian đến văn học dân gian 11
1.2.1 Cụm từ cân đối trong văn khấn Nôm 11
1.2.2 Khảo sát phân loại cụm từ cân đối trong văn khấn Nôm 12
1.2.3 Ý nghĩa của cụm từ cân đối trong văn khấn Nôm 16
1.3 Cụm từ cân đối trong văn học dân gian 17
1.3.1 Cụm từ cân đối được sử dụng trong tục ngữ, thành ngữ 17
1.4 Cơ sở kiến tạo cụm từ cân đối 26
Tiểu kêt chương 1……… 27
Chương 2: CỤM TỪ CÂN ĐỐI TRONG THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI 28
SỰ VẬN DỤNG VÀ SÁNG TẠO 28
2.1 Nguyễn Trãi và Quốc âm thi tập 28
2.1.1 Tác giả Nguyễn Trãi 28
2.1.2 Sự nghiệp thơ văn 30
Trang 62.1.3 Quốc âm thi tập 31
2.2 Cụm từ cân đối trong Quốc âm thi tập 32
2.2.1 Sự vận dụng văn học dân gian và sáng tạo đa dạng cụm từ cân đối 4 chữ trong Quốc âm thi tập 32
2.2.2 Sự vận dụng văn học dân gian và sáng tạo cụm từ cân đối 6 chữ trong Quốc âm thi tập 41
2.3 Ý nghĩa của việc sử dụng cụm từ cân đối trong thơ Nôm Nguyễn Trãi 46
Tiểu kết chương 2………47
Chương 3: CỤM TỪ CÂN ĐỐI TRONG TRUYỆN KIỀU– SỰ KẾ THỪA TÀI TÌNH VÀ ĐIÊU LUYỆN 49
3.1 Nguyễn Du với Truyện Kiều 49
3.1.1 Cuộc đời 49
3.1.2 Sự nghiệp thơ văn 51
3.1.3 Truyện Kiều 51
3.2 Nghệ thuật sử dụng cụm từ cân đối trong Truyện Kiều của Nguyễn Du 54
3.2.1 Sự kế thừa tài tình của Nguyễn Du trong việc sử dụng cụm từ cân đối chéo 55 3.2.2 Vận dụng kết cấu của cụm từ cân đối chéo để kiến tạo ra tiểu đối trong thơ lục bát 62
3.3 Ý nghĩa của việc sử dụng cụm từ cân đối trong Truyện Kiều Nguyễn Du 77
Tiểu kêt chương 3……… 80
Kết luận ……… 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 85
PHỤ LỤC 1 85
PHỤ LỤC 2 129
PHỤ LỤC 3 133
PHỤ LỤC 4 136
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Như một quy luật nhất thành bất biến, các thi hào dân tộc bao giờ cũng chịu ảnh hưởng và tiếp thu mạch nguồn ngôn ngữ dân gian Dante – niềm tự hào của nền thi ca Ý thế kỷ XIII đã coi ngôn ngữ dân gian Ý “đóng vai trò trụ cột”; Lomonosov – thi hào vĩ đại nước Nga thế kỷ XIX xem ngôn ngữ dân gian
là nguồn ngữ liệu vô giá Những tuyệt phẩm thơ Nôm của nhà văn hóa Đại Việt – Nguyễn Trãi và thi hào dân tộc Nguyễn Du cũng đều khởi nguyên từ ngôn
ngữ dân gian
Xuất phát từ đặc trưng giàu âm thanh, tiết tấu của tiếng Việt, từ trước đến nay người Việt Nam rất ưa lối nói vần vè, cân đối trong cách diễn đạt Từ giao tiếp thông thường đến sáng tác văn chương, người Việt đều có thói quen,
sở thích nói vần vè, cân đối, nhịp nhàng Nhã thú diễn đạt đăng đối, vần điệu của người Việt có lẽ bắt nguồn từ ưu thế đặc trưng của tiếng Việt – loại hình ngôn ngữ đơn lập, biểu âm cùng hệ thống thanh điệu phong phú Nhiều nhà thơ
đã vận dụng và phát huy thói quen, sở thích trong lối diễn đạt của dân tộc trong sáng tác bằng tiếng Việt Có lẽ, trong suốt hành trình 10 thế kỷ của văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Trãi và Nguyễn Du là hai thi sĩ chú tâm vận dụng nhiều hơn cả đặc điểm diễn đạt nói trên Có thể nhận thấy, từ cách diễn đạt bằng cụm từ cân đối vốn tồn tại trong lối diễn đạt dân gian, thi hào Nguyễn Trãi và Nguyễn Du đã sáng tạo rất nhiều những cụm từ cân đối và cả những biến thể của nó Với khả năng thi công tài tình, Nguyễn Trãi và Nguyễn Du đã tạo nên
vẻ đẹp hài hòa của ngôn ngữ bác học với ngôn ngữ bình dân, gần gũi với lối diễn đạt của người bình dân Đồng thời, với làm giàu đẹp lên rất nhiều ngôn ngữ dân gian, nâng ngôn ngữ giao tiếp đời sống hàng ngày thành ngôn ngữ văn học Đó là cách tốt nhất tự nhiên nhất và hiệu quả để góp phần đưa tiếng Việt trở thành ngôn ngữ thống nhất của quốc gia
Trang 8Cho đến thời điểm hiện tại, mặc dù đã có nhiều nhà nghiên cứu phê bình đánh giá, nhận định, nghiên cứu về thơ Nôm Nguyễn Trãi và Truyện Kiều của Nguyễn Du, tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào tập trung nghiên cứu
về kế thừa, sáng tạo cụm từ cân đối trong sáng tác dân gian đến văn học thành
văn (khảo sát qua thơ Nôm Nguyễn Trãi và Truyện Kiều Nguyễn Du) Chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu Quốc âm thi tập và Truyện Kiều bằng việc đi sâu
khám phá cụm từ cân đối sẽ là hướng tiếp cận phù hợp và đáng tin cậy cho việc đánh giá khách quan về những đóng góp của hai đại thi hào về nền thơ dân tộc viết bằng tiếng Việt, về sự phát triển của ngôn ngữ, văn hóa Việt Nam Đó là lí
do, chúng tôi lựa chọn đề tài “Cụm từ cân đối từ văn học dân gian đến văn học
thành văn (Khảo sát qua thơ Nôm Nguyễn Trãi và Truyện Kiều Nguyễn Du)”
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Những công trình đánh giá chung về Nguyễn Trãi và thơ Nôm Nguyễn Trãi
Với tập thơ vĩ đại Quốc âm thi tập gồm 254 bài, Nguyễn Trãi được xem
là nhà thơ lớn đầu tiên viết thơ chữ Nôm, đồng thời cũng là người sáng tác thơ Nôm đoản thiên có số lượng nhiều bậc nhất trong nền thơ cổ điển dân tộc Đây cũng là lí do khiến các thi nhân và giới nghiên cứu cùng quan tâm viết bình giảng, bình thơ, cảm thụ thơ Nôm Nguyễn Trãi chi tiết với từng đề tài, từng bài thơ, thậm chí từng câu chữ Ở phương diện ngôn ngữ dân gian trong thơ Nôm Nguyễn Trãi cũng đã được khá nhiều người nghiên cứu, nhưng cũng chỉ dừng lại ở một khía cạnh hay phương diện nhất định nào đó, do vậy chưa những bài
nghiên cứu về vấn đề cụm từ cân đối
Nghiên cứu về thơ văn Nguyễn Trãi trong đó có nhiều bài viết đề cập đến ảnh hưởng của ngôn ngữ dân gian trong thơ Quốc âm thi tập của những tác giả lớn như: Hoàng Trung Thông, Nguyễn Huệ Chi, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Hoàn, Đặng Thai Mai, Bùi Văn Nguyên… mỗi nhà nghiên cứu có cách tiếp cận và nhận định riêng nhưng điểm chung là vẫn khẳng định sự kế thừa có
Trang 9phần sáng tạo của Ức Trai khi sử dụng những từ ngữ bình dân, thành ngữ, tục ngữ vào sáng tác của mình Phần lớn các câu ca dao tục ngữ mà ông dùng không giữ nguyên trạng thái vốn có, mà được nhào nhuyễn lại, được biến hóa một cách tài tình để hình thành kết cấu nghệ thuật sinh động
Bên cạnh đó tác giả Nguyễn Thiên Thụ cũng đã đề cập đến sự phong phú
về thành ngữ và tục ngữ trong Quốc âm thi tập, bài viết“Ảnh hưởng và địa vị của Nguyễn Trãi trong văn học Việt Nam” phần nào chứng tỏ Nguyễn Trãi đã
sử dụng tài nguyên phong phú của nền văn chương Việt Nam, đó là ca dao, tục ngữ
Song song đó Nguyễn Trãi và cuộc đời cũng đã được các nhà nghiên cứu phê bình khai thác trên bình diện tác giả, tác phẩm hay nội dung, nghệ thuật.Đó
là nguồn tư liệu quý giá và thuận lợi cho người viết thực hiện khóa luận này
Những sách báo tuy viết về về Nguyễn Trãi rất nhiều nhưng chỉ đi sâu nghiên cứu một cách khái quát chung Vì vậy, trong bài viết này chúng tôi tìm hiểu cụm từ cân đối từ văn học dan gian đến thơ Nôm Nguyễn Trãi sẽ đi sâu vào cách sử dụng, lựa chọn và sáng tạo cụm từ cân đối trong thơ Nôm
2.2 Những công trình đánh giá chung về Nguyễn Du và Truyện Kiều
Truyện Kiềumột kiệt tác nghệ thuật của nền văn học nước nhà Truyện Kiều được nhân dân ta đón nhận một cách say mê, nhiều lúc đã trở thành vẫn
đề xã hội, tiêu biểu Không chỉ được đón nhận ở tầng lớp thị dân, Truyện Kiều
còn được tầng lớp trên say mê đọc, luận
Ngày nay các nhà nghiên cứu trên thế giới vẫn đánh giá rất caoTruyện
Kiều Dịch giả người Pháp Rơ-Ne-Crir-Sắc khi dịch Truyện Kiều đã viết bài
viết dài 96 trang, trong đó có đoạn: “Kiệt tác của Nguyễn Du có thể so sánh
một cách xứng đáng với kiệt tác của bất kì quốc gia nào, thời đại nào” Ông so sánh với văn học Pháp:“Trong tất cả các nền văn chương Pháp không một tác
Trang 10phẩm nào được phổ thông, được toàn dân sung kính và yêu chuộng bằng quyển truyện này ở Việt Nam”
Sở dĩ như thế là vì ngoài nội dung sâu sắc phong phú, Truyện Kiều còn là một tác phẩm chứa đựng tinh hoa của ngôn ngữ dân tộc Ở Truyện Kiều ngôn
ngữ bác học và ngôn ngữ bình dân đã kết hợp với nhau bổ sung cho nhau, phát
huy cao độ những mặt tích cực của nó Thông qua Truyện Kiều người đọc phần
nào thấy được tư tưởng nhân đạo sâu sắc cùng với tài năng bạc thầy của Nguyễn
Du trong việc sử dụng ngôn ngữ Hệ thống từ ngữ được tác giả sử dụng rất tự nhiên, dung dị, mang đậm hơi thở của cuộc sống.Trong đó các thành ngữ được Nguyễn Du sử dụng rất hiệu quả Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ mang tính dân tộc sâu sắc Nó thường xuyên có mặt trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của mỗi người dân trong cuộc sống Bất kì ở nới đâu, trong hoàn cảnh nào thì thành ngữ cũng có thể xuất hiện Thành ngữ là một tài sản quý báu, nói cách khác thành ngữ được sáng tạo trong qua trình sinh hoạt quần chúng Tất cả các đặc điểm trên làm cho thành ngữ là một đối tượng hấp dẫn đối với giới nghiên cứu và trong
Truyện Kiều không là một ngoại lệ Nghiên cứu thành ngữ trong tiếng Việt nói
chung có thể nói đến công trình nghiên cứu vềTục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh
được công bố vào năm 1921 Tuy nhiên những năm 60 của thế kỉ XX, việc nghiên cứu thành ngữ mới có cơ sở khoa học nghiêm túc Cái mốc quan trọng
trong việc nghiên cứu thành ngữ học Việt Nam xuất hiện bản từ điển Thành ngữ
tiếng Việt1976 của Nguyễn Lực và Lương Văn Đang Công trình này tuy còn
chưa bao quát được hết tất cả các thành ngữ trong tiếng Việt nhưng nó đã cung cấp cho các nhà ngôn ngữ học và những sai quan tâm đến vấn đế này một tài liệu
to lớn Năm 1989, Nguyễn Lân xuất bản cuốn Từ điển tục ngữ và thành ngữ Việt
Nam Gần đây nhất là cuốn Phân biệt thành ngữ và tục ngữ bằng mô hình cấu trúc của Triều Nguyên Như vậy cho đến nay thành ngữ vẫn đang được tiếp cận,
khám phá theo nhiều khía cạnh khác nhau nhằm làm sáng rõ những giá trị phong phú của đơn vị từ này Rất nhiều bài nghiên cứu vấn đề này trong các sáng tác
Trang 11của các tên tuổi lớn như Hồ Chí Minh, Nguyên Hồng, Tản Đà, Tô Hoài…đã được tiến hành trong thời gian gần đây nhưng vẫn chưa có công trình nào tìm hiểu kĩ lưỡng về nghệ thuật dùng thành ngữ, dùng Cụm từ cân đối của Nguyễn
Du trong Truyện Kiều Trong cuốn Những thủ pháp nghệ thuật trong văn chương
Truyện Kiều (2004) của Phạm Đan Quế cũng đã đề cập đến việc vận dụng thành
ngữ trong Truyện Kiều nhưng mới ở mức độ khái quát Những ý kiến, những
đánh giá trên là định hướng quan trọng cho chúng tôi nghiên cứu cụm từ cân đối
từ văn học dân gian đến văn học thành văn (Khảo sát qua thơ Nôm Nguyễn Trãi
và Truyện Kiều Nguyễn Du)
3.Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu đối tượng là cụm từ cân đối trong văn học,
văn hóa dân gian đến văn học thành văn trên cơ sở khảo sát qua Quốc âm thi tập và
Truyện Kiều
3.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về cụm từ cân đối được sử dụng trong dân gian, đặc biệt trong thành ngữ và văn khấn Nôm đến văn học thành văn, được Nguyễn Trãi
và Nguyễn Du vận dụng kế thừa sáng tạo trong sáng tác thơ ca bằng tiếng Việt
để thấy được mạch ngầm từ văn hóa dân gian đến sáng tác của hai đại thi hào dân tộc Nguyễn Trãi và Nguyễn Du trong sự thống nhất phát huy giá trị ngôn ngữ dân tộc
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đặt ra những yêu cầu chính sau:
- Khảo sát cụm từ cân đối trong văn học dân gian
- Khảo sát cụm từ cân đối trong thơ Nôm Nguyễn Trãi
Trang 12- Khảo sát cụm từ cân đối trong Truyện Kiều- Nguyễn Du
- Nghiên cứu tác dụng của cụm từ cân đối trong văn học dân gian và
trong thơ Nôm Nguyễn Trãi, Truyện Kiều Nguyễn Du
- Nghiên cứu một số tài liệu liên quan là cơ sở lí thuyết, lý luận cho đề tài
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài trên, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
+ Phương pháp thống kê phân loại: Sử dụng trong quá trình khảo sát và thống kê số lần sử dụng cụm từ cân đối trong văn học dân gian và trong thơ
Nôm Nguyễn Trãi, Truyện Kiều-Nguyễn Du
+ Phương pháp so sánh đối chiếu: Sử dụng thao tác đối chiếu giữa cụm
từ cân đối được sử dụng trong văn học dân gian và cụm tư cân đối được sử
dụng trong thơ Nôm Nguyễn Trãi, Truyện Kiều Nguyễn Du So sánh tần số sử
dụng cụm từ cân đối trong thơ Nôm Nguyễn Trãi với cụm từ cân đối được sử
dụng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
+ Phương pháp hệ thống: Nhằm hệ thống lại việc sử dụng và tác dụng của cụm từ cân đối trong dân gian, trong sáng tác của tác giả Nguyễn Trãi và Nguyễn Du
+ Phương pháp phân tích tổng hợp: Trên cơ sở các thao tác phân tích, chúng tôi tiến hành tổng hợp, đánh giá, đưa ra các luận điểm, các kết luận khoa học
5 Phạm vi nghiên cứu
Cụm từ cân đối trong văn học dân gian, trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và
tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du
6 Đóng góp của luận văn
Chúng tôi hi vọng kết quả của luận văn sẽ có được những đóng góp sau:
Trang 13+ Thông qua việc khảo sát thống kê các cụm từ cố định trong văn học
dân gian, thơ Nôm Nguyễn Trãi, Truyện Kiều – Nguyễn Du, chúng tôi hi vọng
sẽ góp thêm một lời khẳng định sự phong phú trong kho tàng dân gian Việt Nam; sự sáng tạo và những đóng góp to lớn của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du đối với kho tàng ngôn ngữ văn học dân tộc thể hiện qua cụm từ cân đối
+ Trong chừng mực nhất định, luận văn chứng minh một dấu ấn trong thói quen diễn đạt rất đặc trưng của người Việt trong những tác phẩm được đánh giá là kiệt tác của văn học Việt Nam thời trung đại
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cụm từ cân đối –thói quen diễn đạt của người Việt và trong
văn học dân gian
Chương 2 Cụm từ cân đối trong thơ Nôm Nguyễn Trãi - Sự vận dụng chọn lọc và sáng tạo
Chương 3.Cụm từ cân đối trong Truyện Kiều Nguyễn Du- Sự kế thừa tài
tình và điêu luyện
Chương 1
CỤM TỪ CÂN ĐỐI – THÓI QUEN DIỄN ĐẠT CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ
TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN 1.1 Khái lược về cụm từ cân đối
1.1.1 Khái niệm cụm từ cân đối
Cụm từ cân đốilà cách gọi tên của ngữ có cấu trúc cân đối gồm hai vế
Mỗi vế, ngoài số chữ trong bằng nhau, số chữ chẵn (có thể là bốn chữ, có thể
Trang 14là sáu chữ), hài hòa cân đối về đối thanh đối ý, tạo ra tính nhạc trong câu Cụm
từ cân đối yêu cầu phải đối về thanh điệu và đối về từ loại [25,tr.61]
Ví dụ:“Ăn vóc học hay”, “Ăn trông nồi ngồi trông hướng”
Các câu trên có cấu trúc gồm hai vế với số chữ bằng nhau, đối thanh điệu
rất rõ ràng, ở cụm từ cân đối 4 chữ: “Ăn vóc học hay”, thanh trắc “vóc” đối với thanh bằng “hay” Trong cụm từ cân đối 6 chữ: “Ăn trông nồi ngồi trông
hướng”, các chữ trong câu bằng nhau có sự cân đối hài hòa, bắt vần với nhau
và cùng thanh điệu: “nồi”- “ngồi” Trong ví dụ cụm từ cân đối 6 chữ có xuất
hiện đối về từ loại: danh từ “nồi” đối với danh từ “hướng”
Hình thức của cụm từ cân đối khá đa dạng có thể là cụm từ cân đối 4 chữ, cụm từ cân đối 6 chữ, cụm từ cân đối 8 chữ
Chẳng hạn, trong “Chó treo mèo đậy”, vần “eo” (treo – mèo) nằm liền
kề và bắt vần với nhau cùng vần bằng trong câu “Cốc mò cò xơi” Hoặc trong cụm từ cân đối, các chữ bắt vần liền kề với nhau và vần liền kề có thể là hai
Trang 15vần trắc, có thể kể đến câu “Người sống đống vàng”, cùng bắt vần “ông” và
cùng vần trắc (sống – đống)
Có trường hợp các tiếng bắt vần với nhau nhưng không nằm liền kề
nhau.Ví như câu “Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ”, kiện và kiến bắt vần với
nhau nhưng nằm cách nhau bởi chữ “như” Hay như trong câu “Gần mực thì đen gần đèn thì rạng”,“đen” và “đèn” bắt vần với nhau và cũng nằm cách nhau bởi chữ “gần”
Trong cụm từ cân đối còn có sự hài thanh, hai từ gần nhau trong câu cùng vần nhưng trái dấu Trong câu “Ăn chắc mặc bền”, “chắc” và “mặc” cùng vần
“ăc” nhưng khác dấu, từ “chắc” là thanh trắc, từ “mặc” là thanh bằng Trong câu “Ăn cây táo rào cây bưởi” cũng có sự hài thanh như thế
Về đối thanh:
Hai chữ vế sau cùng thanh nhưng trái thanh với hai chữ vế trước:
“Năm thê bảy thiếp” BB TT
“Nòi nào giống đấy” BB TT
“Khác máu tanh lòng” TT BB
“Thấy quế phụ hương” TT BB
Chữ thứ nhất vế trước đối chữ thứ nhất vế sau, chữ thứ hai vế trước với chữ thứ hai vế sau cũng đối nhau như vậy:
Trang 16Lượng từ và danh từ đối với lượng từ và danh từ:“Năm thê bảy thiếp”;
“Một công hai việc”
Cụm từ cân đối còn xuất hiện trường hợp cân đối chéo Trong trường hợp cân đối chéo nghĩa là tách từng tiếng kép ra thành hai, rồi lồng vào nhau làm thành một bộ, gọi là cụm từ kết hợp chéo cân đối, như cụm từ cân đối chéo
“Ong bướm lả lơi” tách ra thành “Bướm lả ong lơi” (“Biết bao bướm lả ong
lơi”– Truyện Kiều) Hay “Bồi ở lở đi”, “Bỏ kinh bỏ kệ”, “Cày ruộng cuốc vườ”,
“Đường danh lối lợi”
Các cụm từ cân đối có hình ảnh và mang tính chất tái hiện Về mặt ngữ nghĩa, chúng có thể tương ứng với một từ hoặc những cụm từ tự do, về mặt cấu trúc, chúng tương ứng với một cụm từ, một câu đơn
Về mặt cấu trúc, cụm từ cân đối là một chính thể phức hợp, trong đó các thành tố được người nói tái hiện như là những từ độc lập, là những đơn vị
có sẵn trong ngôn ngữ, có cấu trúc cố định vững chắc
1.1.2 Giá trị của cụm từ cân đối
Từ ngàn xưa, người Việt luôn có thói quen nghe lời nói êm tai, vần vè nhịp nhàng Đặc thù ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam không chỉ giàu nhạc điệu, cùng với lối chơi chữ còn tạo ra nhạc tính trong diễn đạt Cụm từ cân đối giúp
Trang 17cho cách diễn đạt vần vè, nhằm nhấn mạnh và gợi ấn tượng với người đọc người nghe, biểu đạt cảm xúc và ý nghĩa Chúng ta đã biết, cụm từ cân đối thường là ngôn ngữ thông tục của nhân dân, được nhào nặn thành thứ ngôn ngữ trau chuốt
về ý nghĩa, âm thanh, nhịp điệu Bởi thế cho nên cụm từ cân đối tạo ra tính nhạc trong câu Việc tạo ra tính nhạc trong câu cũng là thói quen của người Việt
Trong câu nói, câu thơ khi sử dụng cụm từ cân đối giúp câu thơ giàu nhạc điệu, tạo ấn tượng đối với người nghe người đọc Thậm chí như cách nói vần vè giàu nhạc tính trong ngôn ngữ diễn đạt hiện này của giới trẻ, dường như người sử dụng chỉ còn chú trọng đến ngữ âm, bất chấp ngữ nghĩa: “Buồn như con chuồn chuồn”, “Nhí nhảnh cá cảnh”, “Nhọ như đội Phú Thọ”, “Chán như con gián”…Cách diễn đạt vần vè, nhịp nhàng của cụm từ cân đối được thể hiện rất
rõ trong văn học dân gian Sau này đến văn học thành văn, Nguyễn Trãi và Nguyễn Du là hai tác giả kế thừa và thể hiện rất thành công cụm từ cân đối trong sáng tác, mang hồn cốt của người Việt
Xét ở bình diện bên ngoài, nghĩa là cấu trúc hình thức của cụm từ cân đối, thì cụm từ cân đối là đơn vị ngôn ngữ, bản thân nó là cụm từ cố định Xét
ở bình diện bên trong, tức là ngữ nghĩa, cụm từ cân đối là đơn vị ngôn ngữ có
ý nghĩa được tái tạo mang tính hình ảnh cao
1.2 Cụm từ cân đối từ lối diễn đạt trong văn hóa dân gian đến văn học dân gian
1.2.1 Cụm từ cân đối trong văn khấn Nôm
1.2.1.1 Giới thuyết văn khấn Nôm
Văn khấn Nôm là những bài văn khấn được viết bằng chữ Nôm sau này được dịch lại bằng chữ quốc ngữ để người dân dễ dùng trong các buổi lễ cúng
Những từ ngữ trong văn khấn Nôm là thành tâm chứ chẳng sử dụng từ ngữ hoa
Trang 18mĩ cầu kỳ và lúc khấn người ta không khấn to cho người xung quanh nghe thấy
mà chỉ khấn lâm dâm trong miệng đủ để cho mình và những cụ nghe thấy
Văn khấn là lời trình bày với tổ tiên và những người đã khuất lý do về lễ cúng ngày hôm đó Thường có từng bài văn khấn cho từng ngày lễ và các bài này không giống nhau như: Văn khấn thần tài, văn khấn ngày giỗ ông bà cha
mẹ, văn khấn mùng một và ngày rằm hàng tháng, văn khấn ở chùa, văn khấn lễ
giao thừa trong nhà, văn khấn chúng sinh, cúng ông địa…
1.2.1.2 Ý nghĩa của văn khấn Nôm cổ truyền Việt Nam
Theo truyền thống từ ngày xưa để lại, trong một năm mang hầu hết ngày
lễ tết mà tất cả người, mọi nhà bắt buộc tuân thủ theo để làm tròn đạo mang Trời, Đất Đây cũng được coi là một nét văn hóa vô cùng đặc biệt của người Việt Những lễ tết và nghi thức trong lễ tết như: tìm lễ, thắp hương, cầu khấn bằng văn khấn luôn được những thế hệ đi sau thay những thế hệ đi trước giữ gìn, tôn trọng và truyền đạt lại cho con cháu thế hệ mai sau
Việc cầu khấn bằng văn khấn nhằm bày tỏ lòng thành tâm hướng về tổ tiên của người làm lễ dâng hương trước các đấng vô hình, linh thiêng như: vong linh Tổ tiên, mẫu tộc, Thần thánh, những chư vị Thánh hiền, chư vị Bồ Tát, chư Phật mười phương tám hướng Lời lẽ trong văn khấn của người xưa luôn bao hàm mong muốn một cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc bình an Văn khấn là một nét văn hóa rất đặc trưng của người Việt Nam, thuộc loại hình văn hoá dân gian
Điều đáng nói ở đây là trong câu văn khấn Nôm, người Việt thường dùng cụm
từ cân đối với tần số khá cao
1.2.2 Khảo sát phân loại cụm từ cân đối trong văn khấn Nôm
1.2.2.1 Cụm từ cân đối 4 chữ trong văn khấn Nôm
Trang 19Khảo sát Văn khấn cô Bơ với 30câu thì đã có đến 10 cụm từ cân đối loại
4 chữ Ví dụ: “Non xanh nước biếc”, “Cung cao mạng dài”, “Đồng tươi lính tốt”, “Cờ vàng lộng tía”, “Hoa tươi quả tốt”…
Khảo sát Văn khấn Quan Tuần Tranh với 16 câu, có 10 cụm từ cân đối
4 chữ: “Cứu dân hộ quốc”, “Lẫm liệt oai hùng”, “Đắp lũy xây thành”, “Nước chảy hoa trôi”,” Sơn cùng thủy kiệt”…
Các cụm từ cân đối 4 chữ trong văm khấn Nôm có cấu trúc hai vế với số chữ bằng nhau, đối về thanh điệu rất rõ ràng
Về đối thanh, trong cụm từ khấn Nôm “Non xanh nước biếc”, thanh
bằng “xanh” đối với thanh trắc “biếc”
Hai chữ vế sau cùng thanh nhưng trái thanh với hai chữ vế trước:
“Đắp lũy xây thành” - TT BB
“Sơn cùng thủy kiệt” - BB TT Chữ thứ nhất của vế trước đối với chữ thứ nhất của vế sau, chữ thứ hai của vế trước với chữ thứ hai của vế sau cũng vậy:
“Ong bướm lả lơi” - BT TB Với trường hợp cụm từ có ba chữ cùng thanh thì chữ cuối của hai vế nhất thiết phải đối nhau:
“Tốt hay xấu dở” – TB TT Đối về từ loại:
Danh từ và tính từ đối với danh từ và tính từ:
“Mưa dầu nắng dãi”
“Non xanh nước biếc”
Động từ và danh từ đối với động từ và danh từ:
Trang 20“Đắp lũy xây thành”
“Nước chảy hoa trôi”
Trong việc tạo ra cụm từ cân đối 4 chữ ở văn khấn Nôm, tác giả dân gian còn dùng lối kết hợp chéo, tách từng tiếng kép ra làm hai rồi lồng vào nhau thành một bộ, đó chính là cụm từ kết hợp chéo cân đối, như “Đắp lũy xây thành”, “Tốt hay xấu dở”
Đặc biệt, hiện tượng kết nối các cụm từ cân đối 4 tiếng thành một đoạn, thậm chí một đoạn văn dài khá phổ biến trong Văn khấn như: “Phù hộ độ trì, vuốt ve che chở, ăn ngoan chóng lớn, vô bệnh vô tật, vô tai vô ương, vô hạn vô
ách”Văn cúng mụhay “Toàn gia lớn bé, già trẻ bình an thịnh vượng, luôn luôn mạnh khỏe, mọi sự bình an, vạn sự tốt lành, gia đình hòa thuận”Văn khấn tất
niên “Toàn thể gia chủ năm mới tốt lành, sức khỏe dồi dào, tấn tài tấn lộc, vạn
sự tốt lành, vạn sự như ý”Văn khấn giao thừa trong nhà; “Gặp nhiều may mắn, tấn tài tấn lộc, tai qua nạn khỏi” Văn khấn Thần Linh trong nhà; “Đầu năm chí
giữa, cuối năm chí cuối, sự nghiệp hanh thông, sở cầu như ý, sở nguyện tòng
tâm”Văn khấn Thần Linh trong nhà,“Bốn mùa không hạn ách, tám tiết được hưởng điềm lành”Văn khấn tổ tiên,“Che tai cứu nạn, ban tài tiếp lộc, điều lành mang đến, điều dữ xua đi”Lễ vong linh ngoài mộ; “Luôn luôn mạnh khoẻ, mọi
sự bình an, vạn sự tốt lành, gia đình hòa thuận, trên bảo dưới nghe” Văn khấn
tết Hàn Thực; “Luôn luôn mạnh khỏe, mọi sự bình an, lộc tài vượng tiến, gia
đạo hung long, gia đình hòa thuận, vạn sự tốt lành”Văn khấn Rằm tháng Bảy
1.2.2.2 Cụm từ cân đối 6 chữ và 8 chữ trong văn khấn Nôm
So với loại cụm từ cân đối 4 chữ, cụm từ cân đối 6 chữ, 8 chữ được dùng
ít hơn Ví dụ: “Nhất tâm phụng thỉnh kêu cầu” Văn khấn Cô Bơ
“Chỉ ngón tay xoay ngòi bút” Văn khấn Quan Tuần Tranh
“Ra tay phù ngả tay trị” Văn khấn Quan Giám Sát
Trang 21Với cụm từ cân đối 6 chữ của các câu trong văn khấn Nôm cũng có số chữ trong mỗi vế đăng đối bằng nhau, hài hòa, bắt vần với nhau và cùng thanh
điệu Ví như trong câu Chỉ ngón tay xoay ngòi bút, tay và xoay bắt vần với nhau
và cùng thanh bằng, đối về từ loại danh từ tay đối với động từ xoay
+ Cụm từ cân đối 8 chữ:
“Con giàu một bó con khó có tâm” Văn khấn cô Bơ
“Nhất tâm thưởng Phật thật tâm với Thánh” Văn khấn cô Bơ
“Cô thương cho trót cô vót cho tròn” Văn khấn cô Bơ
“Đường xa bái ngái thân gái dặm trường” Văn khấn quan Tuần Tranh “Qua đền Phong Mục lại chơi đồi chè” Văn khấn cô Bơ
“Qua đền cây thị lại về đồi Ngang” Văn khấn cô Bơ
Các câu văn khấn Nôm có cụm từ cân đối có số chữ bằng nhau, mỗi vế
4 chữ hài hòa Trong các câu ở văn khấn Nôm với cụm từ cân đối 8 chữ, các chữ trong câu không chỉ có số chữ ở hai vế bằng nhau mà còn bắt vần với nhau
và cùng thanh điệu Ví dụ trong câu “Nhất tâm với phật thật tâm với thánh” số chữ trong hai vế bằng nhau, từ “phật” và từ “thật” bắt vần với nhau và có cũng thanh điệu cùng là thanh trắc Bên cạnh đó, trong câu văn khấn Nôm có cụm từ cân đối 8 chữ “Nhất tâm với phật thật tâm với thánh” còn có đối về từ loại,
“phật” là danh từ đối với “thật” là tính từ
Tuy nhiên, trong văn khấn Nôm còn có hiện tượng cụm từ cân đối lên
tới 12 tiếng, mỗi vế 6 tiếng như:
+ “Cô ngoảnh mặt đi con dại, cô ngoảnh mặt lại con khôn” Văn khấn cô
Bơ
+ “Biết cô thì nhẹ như tên, hễ mà không biết thì nặng như thuyền mỏ
neo”Văn khấn cô Bơ
Trang 22+ “Ngài rẽ mây giáng xuống, rẽ nước giáng lên, chứng đền chứng phủ,
chứng đủ lô nhang” Văn khấn quan Đệ Tam
+ “Trai gái, trẻ già sức khỏe dồi dào, an khang thịnh vượng vạn sự tốt
lành”Văn khấn ông Táo lên chầu trời
+ “Phụng sự trong tiết xuân thiên, báo đáp ân thâm, tỏ lòng hiếu
kính”Văn khấn lễ chạp
1.2.3 Ý nghĩa của cụm từ cân đối trong văn khấn Nôm
Văn khấn Nôm thường được sử dụng trong những ngày cúng lễ, tạ ơn, kêu cầu để thờ phụng tổ tiên, tổ nghề, các quan, các cô, các cậu Các bài văn khấn Nôm được lưu truyền trong dân gian để thể hiện lòng tri ân đối với công
ơn của tổ tiên, ông bà cha mẹ đã khuất Con cháu bày tỏ lòng thành kính và biết
ơn đối với các thế hệ đã có công sinh thành và nuôi dưỡng con cháu nên người như ngày nay.Các bài bài văn khấn sở dĩ được lưu truyền bằng hình thức truyền miệng qua thời gian và không gian là bởi nó vần vè nhịp nhàng, các câu văn khấn bắt vần với nhau nên dễ nhớ dễ thuộc Đặc biệt trong các bài văn khấn Nôm còn xuất hiện rất nhiều các cụm từ cân đối làm cho bài văn khấn trở nên đăng đối, cân xứng hài hòa
Câu văn khấn Nôm có vần điệu, tuy niêm luật không chặt chẽ như một bài thơ nhưng khi đọc lên mọi người đều cảm nhận được chất thơ của bài văn,
sự đăng đối của các cụm từ cân đối được sử dụng trong bài:
“Cô ngoảnh mặt đi con dại, cô ngoảnh mặt lại con khôn”Văn khấn cô Bơ
“Biết cô thì nhẹ như tên, hễ mà không biết thì nặng như thuyền mỏ neo”
Văn khấn cô Bơ
Bên cạnh đó lời bài văn khấn Nôm không chỉ là lời khuyên bảo mà còn là lời ban phước cho nhân gian, thể hiện những tâm nguyện, khấn cầu, mong ước:
Trang 23“Năm mới an khang, mọi bề thuận lợi, sự nghiệp hanh thông” Văn
khấn tổ tiên
“Bốn mùa không hạn ách, tám tiết được hưởng điềm lành” Văn khấn
tổ tiên
“Cô thương cho trót cô vót cho tròn” Văn khấn cô Bơ
Như vậy ta có thể khẳng định, văn khấn Nôm là một loại hình văn hóa dân gian của Việt Nam tồn tại từ ngàn xưa Với cụm từ cân đối, nhịp nhàng, lời bài văn khấn Nôm trang nhã hài hòa, các chữ bắt vần và cân đối với nhau tạo nên nhạc tính nhạc cảm trong lời khấn Đây chính là nét độc đáo trong bài văn khấn Nôm, nét đẹp trong văn hóa dân gian người Việt
1.3 Cụm từ cân đối trong văn học dân gian
1.3.1 Cụm từ cân đối được sử dụng trong tục ngữ, thành ngữ
1.3.1.1 Khái lược về tục ngữ, thành ngữ
Tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lí, một công lý, có khi là một sự phê phán.Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian mà chức năng chủ yếu là đúc kết kinh nghiệm, tri thức dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, giàu vần điệu, hình ảnh,dễ nhớ, dễ truyền Ví dụ: “Tre già măng mọc”, “Nói ngọt lọt đến xương”, “Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ”, “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”
Về nội dung, tục ngữ là sự kết tinh kinh nghiệm và tri thức thực tiễn vô cùng phong phú và quý giá của nhân dân.Không một lĩnh vực nào của đời sống
và cuộc đấu tranh sinh tồn của nhân dân mà không được phản ánh trong tục ngữ
Khác với cách ngôn, tục ngữ không bao giờ hàm ý khuyên răn trực tiếp
Về cấu trúc ngôn từ, tục ngữ chủ yếu được diễn đạt theo hình thức những câu ngắn có vần hoặc không có vần (đa số là loại câu từ bốn đến mười tiếng)
Trang 24có tính chất tương đối bền vững Nhưng cũng có một bộ phận tục ngữ được diễn đạt theo hình thức câu dài gồm hai ba vế (từ 10 tiếng trở nên, có khi trên
20 tiếng) Ví dụ: “Của làm ra để trên gác, của cờ bạc để ngoài sân, của phù vân
để ngoài ngõ” Hoặc“Lươn ngắn lại chê trạch dài, Thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm,…” Nhưng dù ngắn hay dài thì mỗi đơn vị tục ngữ đều được gọi
là “câu” chứ không gọi là “bài” Có một bộ phận những câu mang tính chất
nhập nhằng, “lưỡng tính” vừa gần với tục ngữ, vừa gần với ca dao, ví dụ: “Tin bợn mất bò”; “Tin bạn mất vợ nằm co một mình”; “Ở sao cho vừa lòng người/Ở rộng người cười ở hẹp người chê”
Việc xác định đặc trưng thể loại những câu như vậy nói chung là khó
Nhưng nếu đặt chúng trong những trường hợp cụ thể của phát ngôn thì vẫn có căn cứ để xác định được Khi chúng được ngâm, hát lên, để thổ lộ tâm tình của người sử dụng, thì chúng được coi là ca dao, còn khi chúng được nói tới để nêu lên một kinh nghiệm, một nhận xét lí trí, khách quan, thì chúng là tục ngữ
Về nguồn gốc tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác, được tách ra từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra tác phẩm văn học bằng con đường dân gian hóa những lời hay ý đẹp hoặc từ sự vay mượn nước ngoài.Giữa hình thức và nội dung, tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ
Thành ngữ là một phần câu có sẵn, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn.Về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh
Cụm từ hay ngữ cố định, bền vững, có tính nguyên khối về ngữ nghĩa không nhằm diễn trọn một ý, một nhận xét như tục ngữ, mà nhằm thể hiện một quan niệm dưới một hình thức sinh động, hàm súc Ví dụ: “Vui như mở cờ trong bụng”; “Đen như cột nhà cháy; “Đẹp như tiên”; “Xấu như ma lem”;
Trang 25“Vắng ngắt như chùa Bà Đanh”…Ý nghĩa của thành ngữ không phải là tổng số nghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là không có “nghĩa đen” Thành ngữ hoạt động nhự một từ trong câu.Dù dài hay ngắn, xét về nội dung ý nghĩa cũng như về chức năng ngữ pháp, thành ngữ cũng chỉ tương đương như từ, nhưng là
từ đã được tô điểm và nhấn mạnh nghĩa bằng sự diễn đạt sinh động, có nghệ thuật Chẳng hạn thành ngữ“Cò bay thẳng cánh” tương đương với từ “rộng”
được nhấn mạnh (có nghĩa là rất rộng), thành ngữ“Lừ đừ như ông từ vào đền”
tương đương với từ “chậm chạp” được nhấn mạnh (có nghĩa là rất chậm chạp)
Vì thế mà khi đã dùng thành ngữ thì không cần và không thể dùng các phó từ
Thành ngữ và tục ngữ thường dùng rất nhiều trong đời sống hằng ngày, tạo sự gắn bó mật thiết trong đời sống cộng đồng Sử dụng cụm từ cân đối trong thành ngữ, tục ngữ giúp người truyền đạt và người lĩnh hội dễ hiểu dễ nghe, bởi dường như thành ngữ tục ngữ đã rất gần gũi quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày,
và cụm từ cân đối cũng có ý nghĩa quen thuộc như thế
Cụm từ cân đối có đối về thanh điệu tạo ra tính hình tượng trong tục ngữ
và thành ngữ Đây là đặc trưng cơ bản của thành ngữ và tục ngữ Thành ngữ và tục ngữ được cấu tạo dựa vào quy tắc ngữ pháp, quy luật âm thanh, những quy luật trên đều do sự chi phối của quy tắc ngữ nghĩa, đó là cơ sở tạo nên tính hình tượng Bởi vì, thành ngữ tục ngữ bao giờ cũng có hai nghĩa: nghĩa đen là do
Trang 26bản thân nghĩa của các thành tố trong tổ hợp từ mang lại nên có tính sinh động
cụ thể giàu hình ảnh Ngãi bóng được nảy sinh trên cơ sở các nguyên tắc chuyển nghĩa nhất định, nghĩa bóng có tính trừu tượng, khái quát và có sắc thái biểu cảm thể hiện sự đánh giá có tính chất thẩm mĩ của những hình ảnh được lấy làm biểu tượng
Như vậy tính hình tượng của thành ngữ và tục ngữ được thể hiện một cách phong phú đa dạng qua các hình thức chuyển nghĩa:Phép ẩn dụ: “Chó ngáp phải ruồi, “Cá chậu chim lồng”, “Buộc chỉ chân voi”, “Nuôi ong tay áo”.Phép so sánh: “Xanh như tàu lá”,” Đẹp như tiên sa”.Phép hoán dụ: “Mặt hoa da phấn”, “Mình đồng da sắt”, “Chân lấm tay bùn”, “Nhà tranhvách đất”.Phép chuyển đổi cảm giác: “Lè nhè như chè thiu”, “Khinh khỉnh như chĩnh mắm thối”.Phép ngoa dụ: “Rán sành ra mỡ”, “Ruột héo xương mòn”
Trong các ví dụ trên, ta thấy cụm từ cân đối có đối về thanh điệu Về thanh điệu trong câu “Cá chậu chim lồng” – TT BB, “Buộc chỉ chân voi”- TT
BB, “Nhà tranh vách đất”- BB TT, hai chữ vế sau cùng thanh nhưng trái thanh với hai chữ vế trước Chữ thứ nhất của vế trước đối với chữ thứ nhất của vế sau, chữ thứ hai của vế trước với chữ thứ hai của vế sau cũng vậy, ví như câu
“Mặt hoa da phấn” – TB BT Trong trường hợp có ba chữ cùng thanh thì chữ cuối của hai vế nhất thiết phải đối nhau, có thể kể đến câu “Chóngáp phải ruồi”-
TT TB, “Mình đồng da sắt”- BB BT
Tục ngữ và thành ngữ được hình thành từ thực tiễn cuộc sống, do nhân dân trực tiếp sáng tác trong đời sống sản xuất và dấu tranh Giữa hình thức và nội dung của tục ngữ thành ngữ có sự gắn bó chặt chẽ Tục ngữ và thành ngữ
có tính chất đúc kết khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm chân lý Để tạo thành những phương châm chân lý đó có yếu tố của cụm
từ cân đối Hình tượng của tục ngữ thành ngữ là hình tượng ngôn ngữ được xây dựng từ các biện pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ…Đa số tục ngữ và thành ngữ
Trang 27có hai vần, cụm từ cân đối trong thành ngữ tục ngữ cân đối hài hòa, các kiểu ngắt nhịp trên yếu tố vần trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho cụm từ cân đối trong thành ngữ và tục ngữ Hình thức đối: đối thanh đối ý Cụm từ cân đối được sử dụng trong thành ngữ và tục ngữ tạo ra tính hình tượng, hấp dẫn Xin liệt kê một số tục ngữ thành ngữ tạo ra tính hình tượng có cụm từ cân đối đối về thanh điệu:“Ăn vóc học hay”, “Chim sa cá lặn”,“Ba chìm bảy nổi”, “Đầu tắt mặt tối”,
“Cơm lành canh ngọt”, “Cày sâu cuốc bẫm”, “Dày gió dạn sương”, “Bán phấn buôn hương”, “Ăn cây nào rào cây nấy”, “Ăn trông nồi ngồi trông hướng”
Trong các ví dụ trên, cụm từ cân đối đối thanh rất rõ nét Hai vế sau cùng
thanh nhưng trái thanh với hai vế trước:
“Cày sâu cuốc bẫm”- BB TT
“Ba chìm bảy nổi” - BB TT
“Chim sa cá lặn”-BB TT “Buôn phấn bán hương” - TT BB Cũng có trường hợp chữ vế trước đối chữ thứ nhất vế sau, chữ thứ hai
vế trước với chữ thứ hai vế sau cũng đối như vậy:
“Dày gió dạn sương”- BT TB
“Cày sâu cuốc bẫm”- BB TT
“Ăn vóc học hay”- BT TB Trong trường hợp cụm từ có ba chữ cùng thanh thì chữ cuối của hai vế nhất thiết phải đối nhau:
“Cơm lành canh ngọt”- BB BT
“Nuôi ong tay áo”- BB BT
Trang 28Thay vì nói “Ông cha ta suốt ngày làm việc cực khổ”, chúng ta nói ông cha ta suốt ngày “đầu tắt mặt tối”
Như vậy, có thể nhận ra một đặc điểm về công dụng của cụm từ cân đối trong thành ngữ và tục ngữ: Cụm từ cân đối được sử dụng trong thành ngữ và tục ngữ tạo ra sự đối xứng hài hòa, dễ nhớ dễ thuộc và làm nổi bật được tính
hình tượng, bởi lẽ đó mà làm tăng sức hấp dẫn cho người đọc người nghe
Tóm lại, cụm từ cân đối được sử dụng trong thành ngữ và tục ngữ với lối đối
về thanh điệu Sử dụng cụm từ cân đối trong thành ngữ và tục ngữ không chỉ
để truyền đạt một ý nghĩa theo ngôn ngữ truyền thống mà còn tạo sự thuận nghe, hấp dẫn đăng đối, hấp dẫn trong cách diễn đạt, tạo hiệu quả cao trong giao tiếp
1.3.1.3 Cụm từ cân đối trong thành ngữ và tục ngữ ngoài số chữ bằng nhau còn đối về từ loại
Cụm từ cân đối đối về từ loại tạo ra đặc tính ra tính chặt chẽ, hàm súc cho thành ngữ và tục ngữ Đặc tính này có quan hệ nhân quả với tính hình tượng Nó được xây dựng nhằm đạt hiệu quả ít lời nhiều ý Tính hàm súc này còn do nghĩa bóng- tính hình tượng mang lại Nó cô đọng nhờ việc giản lược những từ không cần thiết nhằm hình thành những cấu trúc cân đối, đối xứng
Có thể kể đến các cụm từ cân đối trong tục ngữ và thành ngữ mang đậm tính chặt chẽ, hàm súc như: “Mèo mả gà đồng”; “Mềm nắn, rắn buông”; “Được voi
Trang 29đòi tiên”; “Nói có sách mách có chứng”;”Nhà sạch thì mát bát sạch ngon cơm”;
“Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”
Trong các ví dụ trên, bên cạnh các cụm từ cân đối có sự đối thanh còn
có các cụm từ cân đối có đối ý Đối về từ loại:
Danh từ và tính từ đối với danh từ và tính từ: “Mẹ tròn con vuông; Gió đẩy mây mưa; Máu chảy ruột mềm”
Động từ và danh từ đối với động từ và danh từ: “Thấy quế phụ hương”;
“Được voi đòi tiên”
Lượng từ và danh từ đối với lượng từ và danh từ: “Năm bè bảy mối”;
“Ba đầu sáu tay”; “Một công hai việc”; “Mồm năm miệng mười”
Như vậy cụm từ cân đối đối về từ loại làm cho tục ngữ và thành ngữ không chỉ diễn đạt trọn vẹn ý nghĩa mang tính hàm súc mà còn tạo ấn tượng cho cách diễn đạt vần vè đầy nhạc cảm
Hầu hết là các cụm từ cân đối lập thành hai vế đối xứng nhau, quan hệ giữa hai vế được thiết lập nhờ tính tương đồng về ngữ nghĩa, ngữ pháp Ví dụ:
“Đầu voi đuôi chuột”, “Đầu xuôi đuôi lọt”, “Trên đe dưới búa”, “Mẹ tròn con vuông”…Trong quan hệ đối lời, nội dung trong hai vế phải thuộc một phạm trù: Mồm-miệng trong “mồm năm miệng mười” Đầu-tai trong Đầu cua tai nheo Bên cạch sự đồng nhất về phạm trù ngữ nghĩa còn phải đạt đến sự thống nhất về ngữ pháp nghĩa là A và B phải cùng một từ loại: “Vào luồn ra cúi”, cả hai vế đều là động từ Từ đó cho phép cụm từ cân đối trong thành ngữ và tục ngữ đối khai thác tất cả các quan hệ ngữ nghĩa, tạo tính chặt chẽ và hàm súc cho thành ngữ và tục ngữ: Mắt trước mắt sau, Hứa hươu hứa vượn, Nói ngon nói ngọt, thề sống thề chết.Kể cả trong những trường hợp lặp âm, hợp thanh, hiệu vần, xây nhịp đôi, thiết lập các quan hệ đối xứng…cũng tạo nên tính hàm súc, chặt chẽ cho cụm từ cân đối trong thành ngữ
Trang 30Trong trường hợp lặp âm: “Chân ướt chân ráo”, “Ăn bớt ăn xén” Hợp
thanh: “Ăn xổi ở thì”, “Đầu sóng ngọn gió”.Trong hiệp vần ví dụ như “Cốc mò
cò xơi”, “Được voi đòi tiên” Hay trong xây nhịp đôi: “Năm bè bảy mối”, “Ba đầu sáu tay” Trong thiết lập quan hệ đối xứng bằng khai thác tất cả các biện pháp: “Trống đánh xuôi kèn thổi ngược”…Với phát triển thành ngữ cân đối tám chữ: “Nói như rồng leolàm như mèo mửa”
1.3.1.4 Cụm từ cân đối đa dạng về hình thức, có thể là 4 chữ, 6 chữ, 8 chữ nhấn mạnh tính cân đối trong thành ngữ và tục ngữ
Xuất phát từ đặc điểm cấu tạo theo quy tắc đối tính cân đối thể hiện ở ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa: Cụ thể số lượng âm tiết bao giờ cũng chẵn, nội dung của hai vế luôn cân đối nhau:
Cụm từ cân đối 4 chữ: “Ác giả ác báo”; “Ăn bớt ăn xén”; “Ăn đơm nói đặt”; “Bằng bạn bằng bè”; “Có mới nới cũ”…
Cụm từ cân đối 6 chữ: “Chó ăn đá gà ăn sỏi”; “Con nhà lính tính nhà quan”; “Gái có công chồng chẳng phụ”…
Cụm từ cân đối 8 chữ: “Ăn bát cơm dẻo nhớ nẻo đường đi”; “Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo”; “Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng”; “Chết cha còn chú sẩy mẹ bú dì”; “Có lê quên lựu có giăng quên đèn”; “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”…
Trong các ví dụ trên, dù là cụm từ cân đối 4 chữ, 6 chữ hay 8 chữ thì số câu trong mỗi vế đều cân đối hài hòa với nhau nhằm diễn đạt một nội dung cụ thể nhất định Cách diễn đạt của cụm từ cân đối trong tục ngữ và thành ngữ là cách diễn đạt của người bình dân Mỗi câu đều có số chữ bằng nhau và có sự bắt vần, đối về thanh điệu và đối về từ loại.Ví như trong câu “Có mới nới cũ”, các chữ trong hai vế có sự cân đối hài hòa, từ cuối của vế thứ nhất bắt vần với
Trang 31từ đầu của vế thứ hai và cùng vần trắc, nhấn mạnh tính cân đối trong thành ngữ
và tục ngữ.Câu “Quỷ tha ma bắt” cũng phân tích tương tự như thế
Có những câu có sự bắt vần với nhau nhưng nằm cách nhau một chữ:
“Ăn bát cơm dẻo nhớ nẻo đường đi”, từ “dẻo” và “nẻo” bắt vần với nhau nhưng nằm cách nhau chữ “nhớ” “Ăn không đau như rau không thuốc”, từ “đau” và
“rau” bắt vần với nhau nhưng nằm cách nhau bởi chữ như Hai vế cùng chiều
bổ sung, phối hợp nhấn mạnh một tính chất, đặc điểm: “Mèo mả gà đồng” Hai
vế ngược chiều: Không phủ định nhau mà chỉ chọi nhau, tương phản nhau nhằm khắc họa nhấn mạnh tính mâu thuẫn, thiếu hài hòa: “Miệng hùm gan sứa”, “Mặt sứa gan lim”
Tính cân đối tổng cụm từ cân đối còn được thể hiện ở sự hài hòa về âm thanh, luật bằng trắc: “Nhà tranh vách đất”, “Xanh vỏ đỏ lòng”.Nghệ thuật đối chọi rất chỉnh cả âm lời và ý của từng thành tố trong từng vế câu trúc của thành ngữ đã chi phối tính chặt chẽ tạo nên âm điệu nhịp nhàng, uyển chuyển giàu sắc thái biểu cảm
Cụm từ cân đối tạo với số chữ trong câu bằng nhau còn tạo nên tính phong phú và đa dạng cho thành ngữ và tục ngữ
Với số lượng lớn, thành ngữ tiếng Việt phong phú và đa dạng về cách thức phản ánh, phương tiện biểu hiện Cùng một nội dung ý nghĩa có nhiều thành ngữ màn sắc thái tình cảm và phong cách khác nhau Với nội dung của cái ít nhưng người cần nhiều có thể sử dụng những thành ngữ: “Của ít người đông”, “Bụt nhiều oản ít”, “Mật ít ruồi nhiều”
Cụm từ cân đối tạo nên tính quy luật cho tục ngữ và thành ngữ Đặc biệt thể hiện tính quy luật của đời sống tình cảm.Tính hình tượng cô đọng hàm súc của thành ngữ và tục ngữ đã làm nên hệ quả là tính quy luật của thành ngữ, tục ngữ Nội dung của nó là sự đúc kết, cố định kinh nghiệm sống, cách đối nhân
Trang 32xử thế Đó là sự kết tinh trí tuệ của quần chúng cho nên dù nội dung được phản ánh cụ thể sinh động bằng hình tượng nhưng có sức khái quát và điển hình cao
Như vậy, cụm từ cân đối với số chữ trong câu bằng nhau góp phần làm tăng thêm tính quy luật của thành ngữ và tục ngữ Cũng vì phản ánh tính quy luật, tính tất yếu về hiện thực khách quan mà ý nghĩa của tục ngữ và thành ngữ ngày càng được mở rộng, tồn tại vững chắc
1.4 Cơ sở kiến tạo cụm từ cân đối
Trước hết ta thấy rằng tất cả cụm từ cân đối tồn tại trong ngôn ngữ dưới dạng có sẵn và có cấu trúc bền chặt, được sử dụng dưới dạng có sẵn trong mọi văn cảnh và mọi tình huống Các yếu tố trong cụm từ cân đối liên quan với nhau bằng mối liên hệ đặc biệt để tạo thành cấu trúc rất bền vững Cụm từ cân đối mang sắc thái biểu cảm, cụm từ cân đối không chỉ gọi tên người hay sự vật hiện tượng mà còn vẽ lên bức tranh về chúng, gợi tả chúng, nghĩa là phát hiện
và đánh giá thái độ của người nói với đối tượng của lời nói Nghĩa của cụm từ cân đối là cố định, không chia cắt được về mặt ngữ nghĩa, bởi vì nó bị quy định toàn bộ hay bộ phận bởi nghĩa của những từ cấu thành Từ ngữ của cụm từ cân đối thường có ý nghĩa hình ảnh, ẩn dụ, nhiều lúc không thể suy trực tiếp từ nghĩa của các yếu tố cấu thành
Cụm từ cân đối rất hay xuất hiện trong tục ngữ, thành ngữ, ca dao dân ca, văn khấn Nôm…những thể loại đó đều thuộc văn hóa, văn học dân gian Việt Nam
Cụm từ cân đối cũng xuất hiện, được sử dụng phổ biến và rộng rãi trong cách diễn đạt gần gũi, lối nói vần vè của cha ông Trong các câu thành ngữ hay tục ngữ, câu
ca, lời nói có sử dụng cụm từ cân đối, tạo nhịp điệu trầm bổng, câu thơ cân đối nhịp nhàng dễ nhớ dễ thuộc và tạo ấn tượng với người nghe người đọc
* Tiểu kết chương 1
Trang 33Trong cuộc sống hàng ngày, cha ông ta rất thích nói vần vè, câu văn đăng đối nhịp nhàng tạo nhạc tính trong câu Như vậy chúng ta có thể thấy rằng, cụm
từ cân đối thường hay xuất hiện trong lối diễn đạt dân gian Cụm từ cân đối làm tăng sự cân đối, nhịp nhàng cho lối diễn đạt Vì vậy, cụm từ cân đối trong văn học dân gian mang tới những nhận thức mới cho người đọc về nhiều mặt của đời sống trong những khoảng không gian và thời gian khác nhau Việc sử dụng cụm từ cân đối trong văn học, văn hóa dân gian không chỉ là lối diễn đạt quen thuộc mà còn giúp chúng ta hiểu được bản chất của con người nói chung, đồng thời từ cuộc đời số phận kinh nghiệm của người khác mà mỗi người có thể liên
hệ, so sánh, đối chiếu để hiểu chính bản thân mình hơn với tư cách là một con người cá nhân Đó là quá trình tự nhận thức mà văn học dân gian mang lại cho mỗi người
Văn học dân gian là cái nôi của nền văn học viết, gắn bó sâu nặng trong đời sống sinh hoạt của cộng đồng người Việt Nhận xét về ảnh hưởng to lớn của văn học dân gian đối với văn học thành văn Việt Nam, giáo trình văn học dân gian nhận định Văn học dân gian là cội nguồn, là bầu sữa mẹ nuôi dưỡng nền văn học dân tộc Việt Nam Nhiều thể loại văn học Viết được xây dựng và phát triển dựa trên sự kế thừa các thể loại văn học dân gian Nhiều tác phẩm nhiều hình tượng do văn học dân gian tạo nên là nguồn cảm hứng là thi liệu của văn học viết Nhiều nhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương…đã tiếp thu có kết quả văn học dân gian để sáng tạo lên những tác phẩm văn chương ưu tú Tiêu biểu ta phải kể đến hai đỉnh cao của thơ ca dân tộc là tác giả Nguyễn Trãi và đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, đã vận dụng nhiều thành công cụm từ cân đối trong dân gian vào các sáng tác chữ Nôm của mình Bởi thế cho nên, với sự vận dụng sáng tạo
và linh hoạt như vậy, những sáng tác của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du gần gụi, bình dị dễ nhớ dễ thuộc và không kém phần sâu sắc, đi vào tâm trí người việt
Trang 34như mặc định về sáng tác dân tộc, nhà thơ của dân tộc Việt Điều đó góp phần đưa tiếng Việt trở thành ngôn ngữ thống nhất của quốc gia
Chương 2 CỤM TỪ CÂN ĐỐI TRONG THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI
SỰ VẬN DỤNG VÀ SÁNG TẠO
2.1 NguyễnTrãi và Quốc âm thi tập
2.1.1 Tác giả Nguyễn Trãi
Nguyễn trãi là một nhà văn hóa lớn, có đóng góp to lớn vào sự phát triển của văn học và tư tưởng Việt Nam.Nguyễn Trãi (1380-1442) quê ở thôn Chi Ngại, Chí Linh, Hải Dương.Ông không những là nhà chính trị mà còn là nhà
Trang 35thơ nổi tiếng, nhà địa lí học, nhà ngoại giao của Việt Nam.Thi đỗ Thái học sinh năm 1400, Nguyễn Trãi từng làm quan dưới triều Hồ Ông tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống lại ách Minh thuộc Ông trở thành mưu sĩ của nghĩa quân Lam Sơn trong việc tham mưu cũng như soạn thảo các văn thư ngoại giao với quân Minh
Trong nhiều năm Nguyễn Trãi phải sống nơi thôn dã cùng những người nông dân nghèo khổ, đã giúp cho ông nhận thức rõ hơn và cảm thông hơn với cuộc sống cơ cực của người dân dưới chế độ phong kiến Sống gần gũi gắn bó với người dân, ông không chỉ trân trọng yêu thương họ mà con gần gũi tiếp thu, học được lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân trong sáng tác của mình Tư tưởng về nhân dân của nguyễn Trãi cũng được hình thành chủ yếu từ chính hiện thực cuộc sống mà ông từng mắt thấy tai nghe, từng gắn bó Trong nội dung tư tưởng của Nguyễn Trãi về dân cho thấy, với nhân dân ông không chỉ học được lời ăn tiếng nói hàng ngày, cách diễn đạt nôm na trong quần chúng nhân dân
mà ông luôn có cái nhìn thân thiện và một tình cảm yêu mến thương dân đến
Trang 36Như vậy, ta có thể nhận xét Nguyễn Trãi là một vị anh hùng dân tộc, một nhà văn hóa kiệt xuất, nhân vật toàn tài trong lịch sử Việt Nam thời phong kiến
2.1.2 Sự nghiệp thơ văn
Nguyễn Trãi để lại rất nhiều tác phẩm văn chương bằng cả chữ Hán và chữ Nôm, bao gồm các lĩnh vực văn học, lịch sử, địa lý, luật pháp, lễ nghi…song đã bị thất lạc nhiều sau vụ án Lệ Chi Viên Các tác phẩm của ông còn lại cho đến ngày nay phần lớn được sưu tầm và tập hợp trong bộ Ức Trai thi tập của Dương Bá Cung, được khắc in vào năm 1868 đời nhà Nguyễn
Quân trung từ mệnh tập là tập sách gồm những văn thư do Nguyễn Trãi thay mặt Lê Thái Tổ gửi cho các tướng tá nhà Minh trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, từ năm 1423 đến năm 1427 Bản khắc in năm 1868 chỉ ghi lại được 46 văn kiện Năm 1970, nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp phát hiện thêm 23 văn kiện nữa do Nguyễn Trãi viết gửi cho tướng nhà Minh Tác phẩm Bình Ngô đại cáo.Một số bài chiếu, biểu viết dưới thời Lê Thái Tổ và Lê Thái Tông (1433-1442) Lam Sơn thực lục là quyển lịch sử ký sự ghi chép về công cuộc 10 năm khởi nghĩa Lam Sơn, do vua Lê Thái Tổ sai soạn vào năm 1432 Vĩnh Lăng thần đạo bia là bài văn bia ở Vĩnh Lăng- lăng của vua Lê Thái Tổ, kể lại thân thế và sự nghiệp của Lê Thái Tổ.Dư địa chí là bộ sách về địa lý học cổ nhất còn lại của Việt Nam Ức Trai thi tập là tập thơ bằng chữ Hán của Nguyễn Trãi, gồm 105 bài thơ, trong đó có bài Côn Sơn ca nổi tiếng.Quốc âm thi tập là tập thơ bằng chữ Nôm của Nguyễn Trãi, gồm 254 bài thơ.Đây là tập thơ Nôm xưa nhất của Việt Nam còn lại đến nay.Bằng tập thơ này, Nguyễn Trãi là người đặt nền móng cho văn học chữ Nôm của Việt Nam.Chí Linh sơn phú là bài phú bằng chữ Hán, kể lại sự kiện nghĩa quân Lam Sơn rút lên núi Chí Linh lần thứ
ba vào năm 1422 Băng Hồ di sự lục là thiên tả văn bằng chữ Hán do Nguyễn Trãi làm vào năm 1428, kể về cuộc đời Trần Nguyên Đán.Ngoài ra, Nguyễn Trãi còn một số tác phẩm khác như Ngọc đường di cảo, Thạch khánh đồ, Luật
Trang 37thư, Giao tự đại lễ nhưng đều không còn lại cho đến ngày nay Trong các sáng tác của mình, ông tiếp thu và kế thừa vận dụng chọn lọc và sáng tạo cách diễn đạt và ngôn ngữ trong cuộc sống hàng ngày của nhân dân để tạo nên vốn từ ngữ phong phú
Cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Trãi rõ ràng là huy hoàng vĩ đại
Nguyễn Trãi quả thật là anh hùng, là khí phách, là tinh hoa của dân tộc Với sự nghiệp văn chương như vậy, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đánh giá:
“Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc, văn võ song toàn, văn là chính trị:
chính trị cứu nước, cứu dân, nội trị ngoại giao mở nền thái bình muôn thưở, rửa nỗi thẹn nghìn thu”
2.1.3 Quốc âm thi tập
Quốc âm thi tập được viết vào những thời điểm khác nhau trong cuộc
đời nổi chìm của Nguyễn Trãi” [17,tr.15] Quốc âm thi tập gồm 254 bài, chia làm 4 mục: Vô đề (192 bài), Thời lệnh môn (21 bài), Hoa mộc môn (34 bài), Cầm thú môn (7 bài) Vô đề lại chia ra: Ngôn chí 21 bài; Mạn thuật 14 bài;
Trần tình 9 bài; Thuật hứng 25 bài; Tự thán 41 bài; Tự thuật 11 bài; Bảo kính cảnh giới (Gương báu răn mình) 61 bài; và nhiều bài có tựa riêng Nghĩa là đề tài rất phong phú, ý tứ rất dồi dào Cũng như thơ chữ Hán và các thể loại trước tác khác của Nguyễn Trãi, thơ quốc âm chứa đựng nhiều tư tưởng cao rộng, nhưng khác ở chỗ thơ quốc âm rất gần gũi với đời thường, trở về cái giản dị hàng ngày, cái gần gụi dân tộc, trở về với con vện con vằn, bè rau muống liếp mồng tơi, mang hồn Việt cốt Việt, mở đầu cho toàn bộ nền thơ tiếng Việt sau này
Trang 382.2 Cụm từ cân đối trong Quốc âm thi tập
2.2.1 Sự vận dụng văn học dân gian và sáng tạo đa dạng cụm từ cân đối 4 chữ trong Quốc âm thi tập
Khai thác vốn từ ngữ dân gian, nhà thơ Nguyễn Trãi không bỏ qua cụm
từ cân đối “Căn cứ vào số chữ trong mỗi vế, cụm từ cân đối trong Quốc âm thi
tập có thể thành hai loại: cụm từ cân đối 4 chữ và cụm từ cân đối 6 chữ”
[17,tr.63] Cụm từ cân đối 4 chữ trong Quốc âm thi tập có 47 trường hợp trên
34 bài Đây là số lượng cụm từ cân đối lớn trong một tập thơ Sự xuất hiện nhiều lần của cụm từ cân đối như vậy, không chỉ thể hiện sự tinh tế tài tình của tác giả mà còn chứng minh vốn từ ngữ diễn đạt, đặc biệt là vốn từ ngữ trong lời
ăn tiếng nói hàng ngày của người bình dân được sử dụng rất phong phú Có lẽ nhận thấy ở ngôn ngữ dân gian một trữ lượng dồi dào về nghệ thuật, Nguyễn Trãi đã vận dụng và khai thác triệt để, sử dụng hiệu quả vốn từ ngữ để sáng tạo nên cụm từ cân đối Khi sáng tạo cụm từ cân đối trong tác phẩm, ông sử dụng ngôn ngữ thông tục của nhân dân, được nhào nặn thành thứ ngôn ngữ được trau chuốt về hình ảnh, ý nghĩa, âm thanh, nhịp điệu Cụm từ cân đối 4 chữ trong
Quốc âm thi tập, nhiều cụm từ diễn tả tinh tế vẻ đẹp của thiên nhiên, sự gắn bó
hòa hợp của tác giả với thiên nhiên tạo vật Những hình ảnh rất quen thuộc gần gụi của thiên nhiên cũng được tác giả vận dụng rất khéo léo tài tình đưa vào cụm từ cân đối trong sáng tác Trong những bài Ngôn chí thi, Mạn thuật, Trần tình, Thuật hứng, Tự thuật, Tự giới, Bảo kính cảnh giới… cụm từ cân đối được
sử dụng để tỏ chí tỏ lòng, qua đó thể hiện sâu sắc tình yêu sâu sắc với nhiên nhiên tạo vật và quê hương đất nước Ví như: “Chim kêu hoa nở”, “Hương lụn
cờ tàn”, “Song mai hiên trúc”, “Rùa nằm hạc lẩn”, “Chim kêu cá lội”, “Hái cúc ương lan”, “Diều bay cá nhảy” , “Lồng chim ao cá”, “Mồ hoang cỏ lục”,
“Hùm oai muông mạnh”, “Nước biếc non xanh”…
Trang 39Cụm từ cân đối 4 chữ trong Quốc âm thi tập có cấu trúc cân đối gồm hai
vế, mối vế có số chữ bằng nhau gồm hai chữ, đối về thanh điệu và đối về từ loại
Về đối thanh:
Hai chữ vế sau cùng thanh nhưng trái thanh với hai chữ vế trước:
“Đêm thanh nguyệt bạc” (153/4) BB TT
“Phát cỏ ương sen” (69/4) TT BB Chữ thứ nhất của vế trước đối với chữ thứ nhất của vế sau, chữ thứ hai
vế trước với chữ thứ hai của vế sau cũng vậy:
“Lồng chim ao cá” (118/5) TB BT Trong trường hợp ba chữ cùng thanh thì chữ cuối của hai vế nhất thiết phải đối nhau:
“Ngòi nguyệt ngàn mai” (118/6) BT BB
“Vớt bèo cấy muống” (69/3) TB TT
Về đối từ loại:
Danh từ và tính từ đối với danh từ và tính từ:
“Mồ hoang cỏ lục” (121/8)
“Hùm oai muông mạnh” (127/5)
Động từ và danh từ đối với động từ và danh từ:
“Vớt bèo cấy muống” (69/3)
“Phát cỏ ương sen” (69/4)
Trong bài Ngôn chí thi- bài 1:
“Thương Chu Kiện cũ gác chưa đôi,
Xá lánh thân nhàn thuở việc rồi
Trang 40Cởi tục chè thường pha nước tuyết, Tìm thanh trong vắt tiễn chè mai
Chim kêu hoa nở ngày xuân tạnh, Hương lụn cờ tàn tiệc khách thôi
Bui có một niềm chăng nỡ trại Đạo làm con lẫn đạo tôi”
Trong bài thơ này, cụm từ cân đối được sử dụng trong câu thơ:
“Chim kêu hoa nở ngày xuân tạnh Hương lụn cờ tàn tiệc khách thôi”
Cụm từ cân đối “Chim kêu hoa nở”, “Hương lụn cờ tàn” có cấu trúc cân đối gồm hai vế Về đối thanh: Cụm từ “Chim kêu hoa nở” – BB BT có ba chữ cùng thanh , chữ cuối cùng của hai vế đối nhau, chữ “kêu” mang thanh bằng đối thanh với chữ “nở” mang thanh trắc Cụm từ “Hương lụn cờ tàn” – BT BB cũng có ba chữ cùng thanh, chữ cuối cùng của hai vế cũng đối nhau, chữ “lụn”
mang thanh trắc đối với chữ “tàn”mang thanh bằng Về đối từ loại: Cụm từ
“Chim kêu hoa nở” đối danh từ và tính từ với danh từ và tính từ Cụm từ
“Hương lụn cờ tàn” cũng đối danh từ và tính từ với danh từ và tính từ
Cụm từ cân đối 4 chữ được sử dụng trong Quốc âm thi tập rất phong
phú và đa dạng Trong Ngôn chí thi- bài 21:
“Dấu người đi la đá mòn, Đường hoa vắng vắt trúc luồn
Cửa song giại xâm hơi nắng, Tiếng vượn vang kêu cách non
Cây rợp tán che am mát