1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ HAY bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của nông viết toại

104 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của Nông Viết Toại
Tác giả Vy Nguyên Huy
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Đăng Điệp
Trường học Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
Chuyên ngành Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những sáng tác đó bản sắc dân tộc luôn được hiện lên trên nhiều phương diện, với sự nỗ lực hết mình các thế hệ tác giả người dân tộc thiểu số đã có nhiều đóng góp vào sự phát triển

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

VY NGUYÊN HUY

BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG SÁNG TÁC

CỦA NÔNG VIẾT TOẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

VY NGUYÊN HUY

BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG SÁNG TÁC

CỦA NÔNG VIẾT TOẠI

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Nguyễn Đăng Điệp

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2017

Tác giả luận văn

Vy Nguyên Huy

Trang 4

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2017

Tác giả

Vy Nguyên Huy

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

TRANG BÌA PHỤ

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp mới của luận văn 6

7 Cấu trúc của luận văn 6

PHẦN NỘI DUNG 7

Chương 1 VẤN ĐỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG VĂN HỌC VÀ KHÁI QUÁT VỀ NHÀ VĂN NÔNG VIẾT TOẠI 7

1.1 Một số vấn đề lí thuyết về bản sắc văn hóa dân tộc 7

1.1.1 Khái niệm 7

1.1.2 Bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác văn học 11

1.2 Nhà văn Nông Viết Toại trong dòng chảy của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại 15

1.2.1 Vài nét về văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại 15

1.2.2 Hành trình sáng tác của Nông Viết Toại 22

Tiểu kết 26

PHẦN NỘI DUNG 27

Chương 2 CÁC BÌNH DIỆN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG SÁNG TÁC CỦA NÔNG VIẾT TOẠI 27

2.1 Phong tục tập quán 27

2.1.1 Phong tục của người dân tộc Tày 27

Trang 6

2.1.2 Nếp sinh hoạt của người dân tộc Tày 33

2.2 Quan niệm về những giá trị của con người 41

2.2.1 Quan niệm về vẻ đẹp của con người 41

2.2.2 Quan niệm về các giá trị tinh thần của con người 48

2.3 Sự hài hòa với tự nhiên 56

2.3.1 Truyền thống gắn bó với tự nhiên trong văn học người Tày 56

2.3.2 Sự gắn bó với tự nhiên của Nông Viết Toại 60

Tiểu kết 66

Chương 3 CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG SÁNG TÁC CỦA NÔNG VIẾT TOẠI 67

3.1 Sử dụng các motif, các thể loại truyền thống một cách linh hoạt 67

3.1.1 Sử dụng motif 67

3.1.2 Sử dụng các thể loại truyền thống 72

3.2 Ngôn từ 81

3.2.1 Hiện tượng song ngữ trong sáng tác của Nông Viết Toại 81

3.2.2 Sử dụng thành ngữ, tục ngữ mang sắc thái dân tộc bản địa 87

Tiểu kết 93

KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia, là vấn đề tồn tại hay không tồn tại của từng dân tộc Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng thể hiện qua lối sống, cách ứng xử và các hành vi giao tiếp khác Bản sắc văn hóa dân tộc là thiêng liêng, quý giá, nó tạo nên đặc thù của một dân tộc Nó được hình thành trong chiều dài lịch sử của một dân tộc, đúc kết từ kinh nghiệm sống, được lưu truyền qua nhiều thế hệ và gắn bó máu thịt với con người Mỗi quốc gia, dân tộc đều tìm mọi cách phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của mình nhất là trong thời kì hội nhập toàn cầu hóa việc giữ gìn

và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và đã trở

thành một trong những mục tiêu cao cả của Đảng ta là: Xây dựng một nền văn hóa

Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trên nhiều lĩnh vực trong đó có văn

học nghệ thuật

Từ khi ra đời cho đến nay, trải qua hơn bẩy mươi năm phát triển nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam đã tạo nên một dấu ấn riêng độc đáo trên nhiều phương diện và thu hút được nhiều sự quan tâm chú ý của độc giả cũng như giới nghiên cứu phê bình Với những thành tựu mà mảng văn học dân tộc thiểu số đạt được nó đã thực sự trở thành một bộ phận và có nhiều đóng góp vào sự phát triển chung của nền văn học dân tộc nước nhà Nhiều tác phẩm tiêu biểu đã được công chúng đón nhận nồng nhiệt và được đánh giá rất cao

1.2 Nông Viết Toại là một trong những cây bút tiêu biểu, có nhiều thành tựu trong mảng văn học dân tộc thiểu số Việt Nam Hiện nay ông là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, Hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bắc Kạn Sáng tác của ông mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc ở nội dung lẫn hình thức nghệ thuật, tuy nhiên sáng tác của Nông Viết Toại chưa được nghiên cứu nhiều, đặc biệt là vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của Nông Viết Toại chưa được chú ý tìm hiểu chuyên sâu

1.3 Với những lí do trên, chúng tôi đặt vấn đề lựa chọn nghiên cứu Bản sắc

văn hóa dân tộc trong sáng tác của Nông Viết Toại Lựa chọn đề tài: Bản sắc văn

Trang 8

hóa dân tộc trong sáng của Nông Viết Toại, chúng tôi mong muốn được thể hiện

tình yêu của mình đối với những sáng tác của Nông Viết Toại nói riêng, đối với nền văn học dân tộc nói chung Qua đó chúng tôi hi vọng có thể đóng góp thêm một góc nhìn mới trong việc học tập và nghiên cứu về sáng tác của Nông Viết Toại

Các tác phẩm văn học thiểu số đã phản ánh một cách chân thực cuộc sống của đồng bào người dân tộc thiểu số miền núi qua các giai đoạn lịch sử Trong những sáng tác đó bản sắc dân tộc luôn được hiện lên trên nhiều phương diện, với

sự nỗ lực hết mình các thế hệ tác giả người dân tộc thiểu số đã có nhiều đóng góp vào sự phát triển chung của văn học nước nhà trên tất cả các thể loại làm phong phú

và giàu có thêm cho nền văn học Việt Nam hiện đại

2.2 Ngay sau ngày cách mạng tháng tám 1945 thành công, trên mảnh đất Bắc Kạn đã sớm hình thành một đội ngũ nhà văn, nhà thơ sáng tác bằng tiếng dân tộc của mình Nhìn lại quá trình sáng tác bằng tiếng dân tộc thế hệ những nhà văn, nhà

thơ đầu tiên của văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại như “Nông Quốc

Chấn, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại chủ yếu viết tác phẩm bằng tiếng dân tộc” [30] Ngay từ thuở ấu thơ Nông Viết Toại đã bộc lộ năng khiếu văn chương,

khi mới 12 tuổi tình yêu văn nghệ truyền thống của dân tộc Tày đã sớm nảy nở qua những trang ghi chép sưu tầm những lời đối đáp trong bài hát lượn của người Tày,

từ đó ông bắt đầu làm thơ thất ngôn bằng ngôn ngữ mẹ đẻ và là “Một trong những

nhà văn đi đầu trong việc sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ” [18], những người đi đầu bao

giờ cũng là những nhà văn hóa lớn của dân tộc

Trong những năm tháng kháng chiến Nông Viết Toại tham gia viết báo và truyện ngắn tuyên truyền đấu tranh giải phóng dân tộc, ông là một trong những nhà văn người dân tộc thiểu số có nhiều cống hiến cho cách mạng vùng Việt Bắc Là

Trang 9

một trong những nhà văn tiêu biểu mở đường cho nền văn học dân tộc Tày phát triển và đến với công chúng bạn đọc

Tác giả Nguyễn Thùy Linh trong bài Nhà văn Nông Viết Toại - sức đời vẫn

xanh nhận xét rằng “Nhà văn lão thành Nông Viết Toại cùng với hai nhà văn anh

em là Nông Quốc Chấn và Nông Minh Châu được xem là những người có công khai sơn phá thạch dòng văn học cách mạng, đặc biệt là dòng văn học các dân tộc miền núi phía Bắc” [17]

Tác giả Hoàng Thị Dung cũng cùng nhận xét đó trên tạp chí Khoa Học Và

Công Nghệ cho rằng Nông Viết Toại là “Một trong những nhà văn tiên phong đặt

nền móng cho văn học của Bắc Kạn nói riêng cho nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung” [9]

Tham gia cách mạng với vai trò của một cán bộ văn hóa tuyên truyền thông tin, ban đầu Nông Viết Toại sử dụng ngòi bút của mình để tuyên truyền phục vụ kháng chiến, cổ vũ tinh thần chiến đấu của nhân dân nhưng với tình yêu quê hương đất nước và tiếng mẹ đẻ nên nhà văn Nông Viết Toại đã tiếp tục hướng sâu ngòi bút của mình vào việc sáng tác những tác phẩm có giá trị về cuộc sống, con người miền núi qua những phong tục tập quán và những nếp sinh hoạt văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc Tày bằng chính tiếng mẹ đẻ, đồng thời cũng là để lưu giữ những giá trị bản sắc văn hóa của dân tộc mình qua những trang ghi chép sáng tác đó

Khi nhắc đến nhà văn Nông Viết Toại mọi người lại nhớ đến hình ảnh của

một “Nhà văn lão thành giản dị, gần gũi cùng với những đóng góp lớn lao của

ông trong việc đặt nền móng phát triển và giữ gìn, truyền bá văn học dân tộc Tày”

[32] Được biết đến qua nhiều tác phẩm ở nhiều thể loại nhưng Nông Viết Toại dành nhiều tình cảm hơn hẳn cho thơ, thơ của ông luôn bám sát với những sự kiện chính trị to lớn của đất nước, trong những năm tháng kháng chiến ngôn ngữ Tày được sử dụng phổ biến ở hầu hết cộng đồng dân tộc thiểu số vùng Việt Bắc nên tác phẩm của ông có sức lan tỏa và được rất nhiều người yêu thích học thuộc Ông không chỉ ghi lại những nét văn hóa truyền thống độc đáo của dân tộc mà còn là người sáng tạo ra những giá trị văn hóa, nhiều bài thơ của ông có giá trị đã được

Trang 10

phổ nhạc theo làn điệu hát then nổi tiếng của dân tộc trong đó đạt được nhiều

thành công nhất phải kể đến bài Lập xuân

Tác giả Vũ Anh Tuấn cũng tìm về nguồn văn hóa Tày cổ “Với các tri thức

Tày nổi tiếng: Vi Hồng, Triều Ân, Hoàng Hoa Toàn, Nông Viết Toại” [11] Ông là

cây bút tiêu biểu của việc kế thừa truyền thống trên cơ sở am hiểu sâu sắc tiếng mẹ

đẻ và di sản văn hóa, văn học dân tộc mình Là nhà văn sáng tác bằng song ngữ

“Nông Viết Toại vận dụng hữu hiệu ngôn ngữ quần chúng trong tác phẩm và góp phần không nhỏ vào việc giữ gìn và làm phong phú tiếng Tày hiện đại” [54]

Hoàng Quảng Uyên trong bài báo Lập xuân cùng nhà thơ Nông Viết Toại,

từng nói: “Nông Viết Toại là niềm tự hào, là tài tài sản quý của Bắc Kạn, của nền

văn học nghệ thuật của dân tộc thiểu số Việt Nam, của nền văn học nước nhà” [55]

Nhìn lại toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Nông Viết Toại có thể nhận thấy

rằng thơ của Nông Viết Toại “Mang nhiều hình ảnh gắn bó với đời sống sinh hoạt

và các sự kiện của đất nước; Đặc biệt thơ Tày của ông thuần túy, các câu tục ngữ, thành ngữ cũng được ông sử dụng một cách tinh tế, linh hoạt; Thơ ông còn là nguồn phong phú để tìm ra những tiếng Tày cổ, những phong tục, tập quán, đời sống văn hóa tinh thần, ngôn ngữ cổ… đang bị mai một dần theo thời gian” [32]

Sáng tác của ông luôn gắn với mỗi bước đi của lịch sử, mỗi chặng đường của cách mạng, bám sát với mỗi sự kiện xảy ra trong đời sống chính trị nhưng không vì thế

mà nó mất đi sức hấp dẫn riêng mà luôn mang đậm dấu ấn của dân tộc

Nhà nghiên cứu Nông Phúc Tước khi nhận xét về truyện ngắn của Nông Viết

Toại đã cho rằng: “Đọc truyện ngắn của Nông Viết Toại có cảm giác như đang trở

về làng bản của mình sau những ngày đi xa, với tất cả những cảnh vật quen thuộc, những con người xiết bao gần gũi, mến yêu” Nó là chiếc cầu nối cho mỗi độc giả

thêm gần hơn, gắn bó hơn với quê hương của mình, với truyện ngắn của Nông Viết Toại dù ở bất cứ nơi đâu thì quê hương không ở đâu xa mà ở ngay trong tâm hồn mỗi con người chúng ta

Với những cống hiến không ngừng nghỉ của Nông Viết Toại, tác giả Tôn

Phương Lan trong cuốn Nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam đời và văn đã nhận

xét “Đóng góp của Nông Viết Toại trong đời sống văn hóa của vùng đất này chắc

Trang 11

chắn là không nhỏ… góp phần làm phong phú hơn đời sống tinh thần của đồng bào miền núi” [26]

Như vậy qua các công trình nghiên cứu trên, có thể thấy rằng bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của Nông Viết Toại đã được quan tâm nhưng chủ yếu được tìm hiểu lồng ghép trong những nghiên cứu khác và mới chỉ dừng lại ở những nhận xét, những bài báo mà chưa được tìm hiểu cụ thể trong một đề tài riêng biệt

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của Nông Viết Toại Tuy những ý kiến đi trước chưa bao quát hết sự nghiệp của Nông Viết Toại nhưng sẽ là những gợi ý quý báu và định hướng cho chúng tôi thực

hiện luận văn này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của Nông Viết Toại

- Phạm vi nghiên cứu:

Để thực hiện việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng toàn bộ sáng tác của

Nông Viết Toại, cụ thể gồm các tác phẩm sau:

- Rại róa vít pây (Xấu xa bỏ đi), (1956) - Sở Văn hóa Việt Bắc

- Nam Kim - Thị Đan (1957) - Bản dịch

- Hai em bé mồ côi (1957) - Nxb Phổ thông

- Kin ngày phuối khát (Ăn ngay nói thẳng), (1962) - Nxb Việt Bắc

- Boỏng tàng tập éo (Đoạn đường ngoặt), (1973) - Nxb Dân tộc

- Đét chang nâư (Nắng ban trưa), (1976) - Nxb Việt Bắc

- Đoạn đường ngoặt (1981) - Nxb Văn hóa

- Ca dao tục ngữ Tày (in chung, 1993) - Hội văn nghệ Bắc Thái

- Con đường Nam tiến (1995) – Ghi chép

- Tuyển tập Nông Viết Toại (2005) - Nxb Văn hóa thông tin

Để hiểu rõ hơn bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của Nông Viết Toại chúng tôi tìm hiểu một số sáng tác của các nhà văn dân tộc thiểu số khác để so sánh, đối chiếu và rút ra những nét khác biệt trong sáng tác của ông

Trang 12

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn chỉ ra và làm rõ những biểu hiện cụ thể của bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của Nông Viết Toại trên cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật Qua đó thấy được giá trị và những đóng góp của Nông Viết Toại cho mảng văn học các dân tộc thiểu số

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện luận văn, chúng tôi vận dụng đồng bộ các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp hệ thống

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành

- Phương pháp phân tích tác phẩm

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học

6 Đóng góp mới của luận văn

Đây là công trình đầu tiên khảo sát, thống kê đầy đủ, có hệ thống, toàn diện vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của Nông Viết Toại Qua luận văn, chúng tôi mong muốn góp thêm một góc nhìn mới về bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của Nông Viết Toại, một tài liệu tham khảo hữu ích cho việc học tập, nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của Nông Viết Toại

7 Cấu trúc của luận văn

Luận văn của chúng tôi ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung được triển khai trong 3 chương:

Chương 1: Vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc trong văn học và khái quát về nhà văn Nông Viết Toại

Chương 2: Các bình diện bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của Nông Viết Toại

Chương 3: Các phương thức biểu hiện bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác của Nông Viết Toại

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 VẤN ĐỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG VĂN HỌC VÀ KHÁI

QUÁT VỀ NHÀ VĂN NÔNG VIẾT TOẠI

1.1 Một số vấn đề lí thuyết về bản sắc văn hóa dân tộc

1.1.1 Khái niệm

Mỗi người chúng ta khi sinh ra đã được hít thở trong bầu không khí văn hóa,

đó là lời ru của mẹ, câu hát của cha, câu chuyện của bà cho tới những bài thơ, câu chuyện cổ tích thuở đi học… đã nuôi nấng chúng ta trưởng thành tất cả đều thuộc

về văn hóa Văn hóa có vai trò rất quan trọng đặc biệt trong hoàn cảnh hiện nay

“Văn hóa được mọi người chú ý, tầm quan trọng của văn hóa được nêu lên hàng đầu”[20, tr.14] Vậy văn hóa là gì?

Văn hóa - Culture có gốc chữ La Tinh là “Trồng cấy” Theo nghĩa bóng

culture có nghĩa là quá trình nuôi dưỡng tập thành con người như thể gieo trồng và chăm sóc mầm cây vậy Văn hóa theo Hán tự là quá trình con người hóa con người

Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (đó là trình độ văn hóa), lối sống (đó là nếp sống văn hóa), theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn ví dụ như văn hóa Đông Sơn… trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho tới tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động…

Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rất rộng với nhiều cách hiểu, cách tiếp cận khác nhau Theo UNESCO hiện nay có khoảng bốn trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa xuất phát từ nhiều bình diện, quan điểm, góc nhìn khác nhau Dựa trên khảo sát một số tài liệu nghiên cứu, chúng tôi xin nêu ra một số định nghĩa đáng lưu ý sau:

“Nói tới văn hóa trước hết phải nói tới con người” [57, tr.12], văn hóa và

con người là hai khái niệm không tách rời, con người xuất hiện khi nào thì văn hóa xuất hiện khi ấy Con người là con người bởi có văn hóa, văn hóa là văn hóa bởi từ con người và cho con người

Trang 14

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong tác phẩm Văn hóa và đổi mới đã định

nghĩa “Văn hóa là tất cả những gì không phải thiên nhiên, nghĩa là tất cả những gì

do con người, ở trong con người và liên quan trực tiếp đến con người” [2, tr.19]

Bởi vì “Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo” [57, tr.17] đồng thời con

người hưởng thụ thành quả của văn hóa Con người vừa là chủ thể của văn hóa đồng thời là khách thể của văn hóa, là sản phẩm của văn hóa

Theo Trần Ngọc Thêm thì “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật

chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [36,

tr.10] Định nghĩa này nêu bật bốn đặc trưng quan trọng đó là tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử và tính nhân văn của văn hóa

Tác giả Huỳnh Công Bá thì cho rằng “Văn hóa là tổng thể các giá trị vật

chất, tinh thần và ứng xử mang tính biểu trưng do một cộng đồng người sáng tạo ra

và tích lũy được qua quá trình sinh tồn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và lịch sử - xã hội của mình cũng như sự hoàn thiện đối với bản thân mình” [2, tr.21]

Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc lại định nghĩa “Văn hóa là mối quan hệ

giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất Biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người khác” [20, tr.17-18]

UNESCO cũng đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau “Văn hóa là tổng thể

những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật

và vật chất, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những phong tục và những tín ngưỡng”

Như vậy, có thể thấy có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đã tập trung vào định nghĩa văn hóa gắn với con người,

Trang 15

khẳng định con người trong mối quan hệ với tự nhiên, xã hội, văn hóa là sản phẩm

do con người sáng tạo ra và con người chính là chủ nhân của nền văn hóa

Trong diễn văn của tổng giám đốc UNESCO - Fedrico Mayor tại lễ phát động Thập kỉ quốc tế phát triển văn hóa tại Pari ngày 21/1/1988, ông cho rằng văn

hóa là “Tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của con người đã diễn ra

trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại Qua hàng thế kỉ, các hoạt động sáng tạo ấy đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thị hiếu, thẩm mĩ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” [33, tr.453]

Mỗi nền văn hóa lại có một dấu ấn riêng phù hợp với nơi nó sinh ra, phù hợp với con người sinh sống ở đó, phù hợp đặc tính riêng làm nên bản sắc riêng biệt của từng dân tộc Ở nước ta với 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc lại có màu sắc tạo nên bản sắc riêng của dân tộc mình Vậy bản sắc văn hóa dân tộc là gì?

Theo Từ điển tiếng Việt định nghĩa bản sắc là “Màu sắc, tính chất riêng,

tạo thành đặc điểm chính” [31, tr.31] Về từ nguyên tiếng Hán thì bản sắc là màu

gốc chưa bị pha trộn là sắc thái tự nhiên chưa bị đẽo gọt

Nói đến bản sắc văn hóa là nói đến những giá trị hạt nhân “Nói tới cái phần

ổn định trong văn hóa” [20, tr.114] nghĩa là không phải nói tới tất cả các giá trị mà

chỉ nói đến những giá trị có tính hạt nhân vì “Bản sắc chính là văn hóa, song không

phải bất cứ yếu tố văn hóa nào cũng được xếp vào bản sắc Người ta chỉ coi những yếu tố văn hóa nào giúp phân biệt một cộng đồng văn hóa này với một cộng đồng văn hóa khác là bản sắc” [34] như vậy khái niệm bản sắc có hai quan hệ cơ bản,

thứ nhất xét về quan hệ bên ngoài thì nó là dấu hiệu để phân biệt các cộng đồng với nhau và thứ hai xét về quan hệ bên trong nó chỉ tính đồng nhất mà mỗi cá thể trong một cộng đồng văn hóa phải có

Khi nói đến sự ổn định trong văn hóa cũng chính là nói đến mặt bất biến đã được định hình của văn hóa, nhưng nói như vậy cũng chỉ mang tính tương đối mà thôi bởi vì không có một nền văn hóa nào là nền văn hóa chung và duy nhất cho tất

cả các nền văn hóa và ở trong cái chung ấy thì mỗi dân tộc lại có một bản sắc văn hóa riêng làm nên diện mạo của dân tộc

Trang 16

Theo nhà thơ Tố Hữu thì “Mỗi dân tộc tồn tại và phát triển đều có bản sắc,

bản lĩnh nhất định” [26], bởi không có một nền văn hóa nào lớn hơn một nền văn

hóa nào cả và mỗi dân tộc dù lớn hay nhỏ đều có màu sắc truyền thống văn hóa riêng của mình và họ luôn có ý thức nuôi dưỡng, làm phong phú thêm truyền thống của tộc người hình thành nên bản sắc dân tộc

Tác giả Thành Duy cho rằng “Bản sắc dân tộc là tổng thể những tính chất,

tính cách, đường nét, màu sắc, biểu hiện ở một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc ấy, đồng thời giúp dân tộc ấy giữ vững được tính thống nhất, tính nhất quán, tính độc đáo của bản thân mình trong quá trình phát triển” [10, tr.19]

Mỗi một dân tộc trên thế giới đều có lịch sử hình thành và phát triển riêng của tộc người đã được định hình trong dấu ấn văn hóa vì vậy dân tộc có lịch sử riêng thì ắt

hẳn sẽ có một nền văn hóa riêng và “Bản sắc dân tộc là tổng thể những phẩm chất,

tính cách, khuynh hướng cơ bản thuộc sức mạnh tiềm tàng và sức sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc đó, giúp cho dân tộc đó giữ vững được tính duy nhất, tính thống nhất, tính nhất quán của bản thân mình trong quá trình phát triển” [21, tr.77-78]

Tác giả Trần Thị Việt Trung thì cho rằng “Bản sắc dân tộc là những nét

riêng biệt độc đáo của một nền văn hóa, văn học bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa văn hóa, văn mạch của dân tộc được vun đắp qua lịch sử, tạo thành phong cách dân tộc”[54, tr.26]

Khái niệm bản sắc văn hóa có nhiều nét tương đồng về cơ bản là thống nhất với khái niệm tính dân tộc Tại hội nghị Văn hóa miền núi năm 1987, cố Thủ tướng

Phạm Văn Đồng đã nhận định “Nói tới văn hóa thì phải có vấn đề dân tộc, nói văn

học, nghệ thuật phải có vấn đề dân tộc” Tính dân tộc là một thuộc tính tất yếu của

văn nghệ, xuất phát từ mối liên hệ qua lại giữa văn học và dân tộc vì tác phẩm văn học là sự tự biểu hiện tâm hồn của chính tác giả người dân tộc ấy

Tính dân tộc là phẩm chất của văn học, là một phạm trù lịch sử và không phải là bất biến, văn học phục vụ dân tộc vì vậy trải qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử thì văn học cũng phải biến đổi theo

Trang 17

Ta có thể thấy tính dân tộc thể hiện trên ba phương diện ngôn ngữ, tính cách

dân tộc và phong tục tập quán, lối sống “Tính dân tộc chính là bản sắc văn hóa của

một dân tộc, có mối quan hệ hữu cơ đến lịch sử hình thành và phát triển của mỗi dân tộc cũng như mỗi nền văn hóa dân tộc” [10, tr.17] Tính dân tộc trong văn học

là đặc điểm độc đáo tạo nên phong cách riêng cho sáng tác của một dân tộc và phân biệt nó với sáng tác của một dân tộc khác

Nói đến bản sắc văn hóa dân tộc trong văn học nghệ thuật chính là nói đến chiều sâu phản ánh những giá trị văn hóa, con người Việt Nam tới mức độ nào trong sáng tác văn học nghệ thuật Vậy bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện ở những phương diện nào?

1.1.2 Bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác văn học

Văn học nghệ thuật cùng với triết học, chính trị, tôn giáo… là những bộ phận hợp thành của toàn thể cấu trúc văn hóa Nói tới văn hóa của một dân tộc thì không ai không nghĩ tới văn học, bởi văn học có một vị trí không thể thiếu trong mỗi nền văn hóa nên các tác giả luôn ý thức giữ gìn bản sắc dân tộc và coi đây là một phẩm chất cần phải phấn đấu trong sáng tác, bởi nó là vấn đề có liên quan mật thiết tới sự tồn vong của một dân tộc nói chung và văn học nói riêng, mất bản sắc dân tộc trong văn học thì văn học của dân tộc đó cũng không còn Vì vậy giá trị của một tác phẩm văn học được xác định trước hết bởi bản sắc dân tộc của nó

“Bản sắc dân tộc trong văn học là do chính nhà văn dân tộc sáng tạo ra… nó là sự thể hiện tâm hồn, tính cách dân tộc qua cách cảm, cách nghĩ, cách nói riêng của nhà văn, là sự thể hiện một cách đẹp đẽ, sáng tạo những truyền thống văn hóa của dân tộc trong những điều kiện lịch sử nhất định” [54, tr.108] Qua đó cho thấy bản

sắc dân tộc trong văn học dân tộc thiểu số được thể hiện trên tất cả các phương diện

từ đội ngũ sáng tác đến nội dung phản ánh lẫn phương diện nghệ thuật biểu hiện

Về chủ thể sáng tạo

Suy cho cùng thì một tác phẩm văn học đều là “Sản phẩm tinh thần của một

chủ thể sáng tạo cụ thể” [21, tr.32] mỗi một tác phẩm văn học đều là đứa con tinh

thần của các nhà văn, nhà thơ, là biểu hiện của sự đào bới, tìm tòi và mổ xẻ, tái hiện lại một cách chân thực chính tâm hồn của tác giả Đối với mảng văn học các dân tộc

Trang 18

thiểu số, đa phần các thế hệ nhà văn, nhà thơ đều là con em của các dân tộc thiểu số được sinh ra và lớn lên trên những mảnh đất quê hương thuộc miền núi cao của tổ quốc nên họ am hiểu và chịu sự quy định của môi trường xã hội, văn hóa ấy Các nhà văn, nhà thơ dân tộc thiểu số đã sớm được hít thở trong bầu không khí văn hóa của dân tộc mình, họ đại diện cất lên tiếng nói của dân tộc mình và đưa những nét bản sắc văn hóa dân tộc vào trong các tác phẩm một cách tự nhiên nhất dưới nhiều cung bậc cảm xúc

Về phương diện nội dung

Bản sắc văn hóa dân tộc được biểu hiện rất phong phú, đa dạng dưới nhiều

đề tài với nhiều đối tượng phản ánh sinh động, cụ thể từ thiên nhiên đến con người với những nét sinh hoạt văn hóa in đậm dấu ấn phong tục tập quán nghìn đời Ngay ở việc lựa chọn đề tài đã tạo nên bản sắc riêng cho mỗi dân tộc, mỗi vùng miền văn hóa, chúng ta chỉ có thể tìm thấy hình ảnh tiếng cồng chiêng trong những sáng tác của các tác giả dân tộc thiểu số về vùng đất Tây Nguyên đầy nắng gió hay hình ảnh những điệu then, sli, lượn đặc trưng chỉ có trong sáng tác của các dân tộc Tày - Nùng vùng núi phía Bắc, đây là những biểu tượng văn hóa đại diện tiêu biểu của vùng miền được tác giả lựa chọn phản ánh với kinh nghiệm của mình

để dẫn dắt người đọc thâm nhập vào tác phẩm

Các tác giả dân tộc thiểu số được sinh ra trong môi trường thiên nhiên rừng núi nên tình yêu quê hương, đất nước, thiên nhiên cuộc sống đã trở thành một truyền thống tốt đẹp và được chú trọng nhiều hơn cả Thiên nhiên có một vị trí rất đặc biệt đối với các tác giả người dân tộc thiểu số, nó đã ăn sâu vào trong tiềm thức mỗi tác giả, họ dành nhiều trang viết về quê hương núi rừng thân thuộc với những dãy núi trùng điệp cao vút ẩn hiện trong mây, những cánh rừng xanh mướt nhẹ nhàng uốn lượn, những con thác bạc hùng vĩ từ trên cao như một dải lụa đào chảy xuống hai bên bờ in bóng những nương ngô tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ quyến rũ, vừa hư vừa thực, vừa thơ mộng trữ tình Thiên nhiên còn là nơi gắn bó với cuộc sống con người, thiên nhiên chở che, là nơi gửi gắm tình cảm của con người và là nguồn đề tài bất tận cho các tác giả người dân tộc thiểu số

Trang 19

Bên cạnh phản ánh tình yêu thiên nhiên đất nước, trong những trang viết của các tác giả người dân tộc thiểu số ta còn bắt gặp không khí lao động hăng say với sự gắn bó hòa quyện vào thiên nhiên đất trời của con người Người dân tộc thiểu số không chỉ là những người nông dân miền núi khỏe mạnh, giản dị, thật thà, yêu lao động mà họ còn biết yêu quê hương làng bản, yêu tha thiết cách mạng, không sợ hi sinh gian khổ mà luôn sẵn sàng đứng lên chiến đấu mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng với một tinh thần quật cường góp phần làm nên chiến thắng Khi cuộc sống hòa bình trở lại họ reo lên tiếng ngân vang hướng về cội nguồn văn hóa dân tộc với những tư tưởng tiến bộ, luôn ý thức đấu tranh chống lại những hủ tục lạc hậu để xây dựng một lối sống văn minh cho dân tộc trong quá trình phát triển đất nước Họ là những con người có hoàn cảnh éo le nhưng luôn vượt lên số phận bằng ý chí nghị lực phi thường, tuy cuộc sống của họ còn nhiều khó khăn vất vả nhưng trong tâm hồn họ không bao giờ mất đi cái phần lãng mạn bay bổng

Không chỉ phản ánh chân thực tâm lí tính cách con người và những nét đẹp hùng vĩ thơ mộng của thiên nhiên mà các tác giả còn đi sâu miêu tả những nét đẹp sinh hoạt văn hóa đã ổn định trong đời sống với những phong tục tập quán rất phong phú và đa dạng của cộng đồng người dân tộc thiểu số Đó là phong tục ma chay độc đáo được cử hành qua nhiều nghi lễ khác nhau ở mỗi dân tộc, những đám cưới hỏi với nhiều màu sắc riêng biệt đến việc lựa chọn vị trí địa lí sinh sống hay

những dấu ấn riêng trong tổ chức quần cư Đó còn là điệu hát đối đáp Quan làng

của người Tày trong thủ tục xin dâu tại đám cưới hỏi, thể hiện cái tài ứng xử thông minh nhanh nhẹn của người dẫn đầu, hay tiếng gọi tha thiết yêu thương trong làn

điệu Nàng ới của người dân tộc Nùng cho tới những lễ hội đón chào một mùa xuân

mới với những trò chơi dân gian tung còn, đánh yến, đánh quay lung linh màu sắc…

tất cả đều được các tác giả dân tộc thiểu số ghi lại trong những trang viết của mình với một niềm tự hào và ý thức tự tôn dân tộc, cho thấy bộ mặt văn hóa của từng dân tộc và tạo nên sự đa dạng cho màu sắc văn hóa dân tộc Việt Nam

Về phương diện nghệ thuật

Bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện ở ngôn ngữ sáng tác, mỗi một dân tộc đều có một ngôn ngữ riêng và mỗi một tác giả người dân tộc thiểu số đều đặc biệt

Trang 20

chú ý sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ của dân tộc mình trong sáng tác văn học Đây là một nét rất đặc biệt làm nên bản sắc riêng cho nền văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại nói chung Các tác giả rất coi trọng ngôn ngữ mẹ đẻ trong sáng tác văn chương, nổi lên là các tác giả người dân tộc Tày, họ luôn ý thức đưa ngôn ngữ mẹ

đẻ cất giữ vào trong văn học Ngôn ngữ mẹ đẻ là kho tàng quý giá kết tinh những giá trị truyền thống quý báu của dân tộc Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, nhiều tác phẩm sử dụng ngôn ngữ dân tộc trong sáng tác đã thể hiện rất độc đáo lối cảm, lối nghĩ của người dân tộc thiểu số với tư duy và tính cách dân tộc, thể hiện ý thức tự tôn dân tộc và đưa ngôn ngữ mẹ đẻ phát triển lên một tầm cao mới

Bản sắc dân tộc còn được thể hiện ở sự vận dụng các thể loại truyền thống, mỗi một dân tộc đều có một kho tàng văn học truyền thống với một hệ thống thi pháp là nền tảng để các tác giả người dân tộc vận dụng vào trong sáng tác của mình

Bên cạnh các thể thơ năm chữ, thể thơ bẩy chữ, thì thể thơ lục bát được các tác giả người dân tộc vận dụng nhiều nhất và đem đến nhiều thành công nhất trong việc thể hiện nội dung tư tưởng của tác giả

Kết cấu của tác phẩm cũng là một phương diện thể hiện rõ bản sắc văn hóa dân tộc, kết cấu trong truyện dân gian của mỗi dân tộc đều có những nét khác biệt được nhận biết qua những đặc điểm riêng Việc kế thừa và vận dụng kết cấu ấy ở mỗi tác giả người dân tộc thiểu số thông qua thế giới hình tượng, giọng điệu, các motif, các thủ pháp, các hình ảnh văn hóa giúp cho việc thể hiện quan điểm thẩm mĩ của tác giả được dễ dàng hơn và mang hơi thở riêng truyền thống đặc sắc của từng dân tộc

Bản sắc văn hóa còn được thể hiện ở hệ thống nhân vật, bất cứ tác phẩm văn học nào cũng đều có sự xuất hiện của nhân vật, văn học không thể thiếu nhân vật bởi thông qua nhân vật các tác giả mới có thể xây dựng nên thế giới hình tượng của mình để thể hiện quan điểm, cái nhìn của mình về hiện thực khách quan Thông qua

hệ thống nhân vật mà người đọc có thể nhận thấy được chiều sâu tư tưởng và những thông điệp văn hóa trong việc phản ánh bản sắc dân tộc của tác giả

Như vậy, có thể thấy bản sắc văn hóa thể hiện trên nhiều phương diện trong tác phẩm văn học, văn học là sự biểu hiện văn hóa vì vậy qua tác phẩm văn học chúng ta bắt gặp những giá trị văn hóa truyền thống lâu đời được kết tinh dưới ngòi

Trang 21

bút tài năng của các tác giả dân tộc thiểu số thẩm thấu vào trong các tác phẩm văn học từ phương diện nội dung đến nghệ thuật phản ánh, làm nên một bức tranh đa sắc màu về cuộc sống, con người miền núi và một nền văn học dân tộc thiểu số hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc

1.2 Nhà văn Nông Viết Toại trong dòng chảy của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại

1.2.1 Vài nét về văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại

Vài nét về các dân tộc thiểu số Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia đa sắc tộc với 54 thành phần dân tộc anh em, ước tính dân số đến năm 2016 đạt gần 92 triệu người được xếp theo ba ngữ hệ và tám nhóm ngôn ngữ đó là: Việt - Mường, Tày -Thái, Mông - Dao, Tạng - Miến, Kadai, Môn - Khơme, Nam Đảo, Hán Trong đó nhóm Tày - Thái gồm tám dân tộc cư trú chủ yếu ở các vùng núi phía Bắc nước ta với nghề trồng lúa nước và làm nương rẫy

Theo một vài số liệu điều tra cho thấy người Kinh chiếm phần đa số với gần 90% dân số được phân bố rộng khắp trên cả nước nhưng chủ yếu là ở vùng đồng bằng, ven biển, hải đảo 53 dân tộc thiểu số còn lại chiếm hơn 10% dân số của cả nước, trong đó người Tày chiếm số lượng nhiều hơn cả, sau đó là các dân tộc Thái, Mường, Khơme, H’mông cho đến những dân tộc có số lượng rất ít như Si La, Pu Péo, Rơ Măm, BRâu, Ơ Đu phân bố trên khắp cả nước nhưng tập trung nhiều dân tộc sinh sống lâu đời nhất đó là vùng núi phía Bắc chiếm tới 62% (2009) dân số của toàn miền, phân bố đông ở nhiều tỉnh như Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Hòa Bình với dân tộc Tày chiếm số lượng nhiều nhất

Người dân tộc thiểu số thường tổ chức xây dựng gia đình theo chế độ phụ hệ trong đó người đàn ông làm chủ gia đình và đảm đương những công việc lớn, nặng nhọc còn phụ nữ đảm đương những công việc nhẹ nhàng hơn và nội trợ Mỗi dân tộc lại cư trú ở một vị trí địa lí khác nhau, người Mường thường ở ven chân núi, người Thái ở ngay giữa cánh đồng, người Tày - Nùng thường chọn những sườn đồi sườn núi, đặc biệt người H’mông và người Dao thường ở những vị trí rất cao, đi lại khó khăn hiểm trở vì trong quan niệm họ là con Giàng (con trời) nên phải ở trên tất

Trang 22

cả các dân tộc còn lại Mặc dù sinh sống ở nhiều vị trí địa lí khác nhau nhưng các dân tộc thường tổ chức nơi ở quần cư với nhiều hộ gia đình tập trung lại theo các đơn vị làng, bản, mường với thiết chế tự quản dưới sự đứng đầu của trưởng thôn, trưởng bản để hỗ trợ nhau trong cuộc sống

Nhà cửa của các dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc chủ yếu lấy vật liệu từ thiên nhiên, người Tày - Nùng thường sử dụng những cây gỗ lớn để làm nhà sàn truyền thống với bốn mái lợp bằng ngói máng và được chia làm ba tầng riêng biệt

Người H’mông còn có sự kết hợp giữa nhà sàn và nhà đất nhưng nét chung trong xây dựng nhà ở của người dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc đó là sự quy định rõ ràng không gian trong xây dựng nhà cửa

Các dân tộc thiểu số chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp trồng trọt canh tác

và chăn nuôi với hình thức tự cung tự cấp Người Tày - Nùng thường sử dụng lúa gạo, người H’Mông, Dao thường sử dụng ngô làm thực phẩm chính Họ thường chăn nuôi gia súc để phục vụ cho sản xuất, chăn nuôi gia cầm để cải thiện bữa ăn trong cuộc sống Với đời sống sản xuất khép kín nên người dân tộc thiểu số thường

sử dụng những vật liệu do chính mình làm ra Trang phục của người dân tộc thường được làm từ sợi bông, sợi lanh, vỏ cây, mỗi trang phục đại biểu cho một vẻ, một dân tộc, người dân tộc Tày - Nùng chuộng sự đơn giản thường quấn khăn xếp trên đầu kết hợp với màu xanh trong tấm áo nhuộm chàm nổi tiếng, người H’mông - Dao lại chọn cho mình trang phục cầu kì nhiều màu sắc rực rỡ đi kèm với những trang sức làm bằng bạc trắng như những lá bùa hộ mệnh

Đời sống tinh thần của người dân tộc thiểu số cũng hết sức phong phú, đó là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở nhiều dân tộc, người dân tộc chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp nên còn có tín ngưỡng đa thần xuất hiện ở người Tày - Nùng với các miếu thành hoàng, ngoài ra còn có tín ngưỡng vật tổ mà đại diện là người dân tộc Dao, đối với người Dao họ coi con chó là thủy tổ của mình nên sẽ không bạc đãi hay giết thịt

Đời sống tinh thần của người dân tộc thiểu số còn được biểu hiện qua các lễ

hội rất độc đáo, người Tày có lễ hội lồng tồng, nàng Hai, người H’Mông có lễ hội

gầu tào, người Dao có dun pùn gắn với sản xuất nông nghiệp hay những lễ hội gắn

Trang 23

với các anh hùng lịch sử như lễ hội Dương Tự Minh ở đền Đuổm - Thái nguyên hay

lễ hội về người anh hùng Nùng Trí Cao ở vùng đất Cao Bằng, phản ánh tinh thần của người dân tộc thiểu số và là nơi lưu giữ những giá trị truyền thống lịch sử của dân tộc

Có thể thấy rằng các dân tộc thiểu số đã sản sinh ra một nền văn hóa truyền thống lâu đời với một sức hấp dẫn riêng được thể hiện qua nhiều phương diện, khi nền văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại chưa ra đời những giá trị ấy vẫn âm

ỉ cháy trong chính tâm hồn của mỗi dân tộc, đến khi nền văn học dân tộc thiểu số hình thành và phát triển những giá trị vĩnh cửu ấy đã đi vào văn học như một tất yếu khách quan tạo nên màu sắc văn hóa dân tộc rất độc đáo cho mảng văn học này

Vài nét về văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại

Đến nay nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại đã khẳng định được vai trò và vị trí của mình trong nền văn học dân tộc, được coi là một bộ phận không thể thiếu trong nền văn học nước nhà, luôn hòa vào dòng chảy chung của nền văn học Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa Để có được vị trí như vậy nền văn học các dân tộc thiểu số đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển với nhiều thành tựu Nhìn lại quá trình vận động của nền văn học các dân tộc thiểu số, thông qua khảo sát tài liệu của một số nhà nghiên cứu chúng tôi nhận thấy rằng giai đoạn

1930 - 1945, mảng thơ ca cách mạng các dân tộc thiểu số đã ra đời với các tác giả là người dân tộc thiểu số chủ yếu hoạt động trong phong trào cách mạng đã đặt nền móng cho thơ ca cách mạng các dân tộc thiểu số Việt Nam phát triển và tác động mạnh mẽ đến nhiều tên tuổi ở giai đoạn sau, tuy nhiên có thể khẳng định rằng trước năm 1945 nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại chưa được hình thành, chúng ta hầu như không thấy sự xuất hiện của một tác phẩm văn xuôi nào của người dân tộc thiểu số mà chủ yếu độc giả mới chỉ được biết đến thiên nhiên, cuộc sống và con người miền núi có phần kì bí rùng rợn qua các sáng tác của các tác giả là người Kinh như Lan Khai, Thế Lữ, Nhất Linh, Nguyễn Tuân, Lê Văn Trương, Thanh Tịnh… đặc biệt là Nam Cao, Nguyên Ngọc, Tô Hoài là những người có công rất lớn, thôi thúc cho việc hình thành, phát triển nền văn xuôi dân tộc thiểu số và tác động không nhỏ đến cảm hứng sáng tác trong văn xuôi người dân tộc thiểu số

Trang 24

Thắng lợi của cách mạng tháng tám 1945 đã tạo ra một dấu mốc rất lớn trong lịch sử của dân tộc ta trên nhiều lĩnh vực trong đó có văn học, từ đây nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại chính thức được hình thành và phát triển

Giai đoạn 1945 - 1954 là thời kì thơ ca Việt Nam nói chung phát triển mạnh mẽ trong đó có mảng thơ các dân tộc thiểu số, hầu hết các thi phẩm được sáng tác bằng tiếng dân tộc và còn chịu ảnh hưởng rất rõ nét của nền văn học dân gian Các tác phẩm chủ yếu ra đời từ phong trào cách mạng nên đối tượng chính mà họ hướng tới

là cuộc sống và con người miền núi trong kháng chiến nhằm phục vụ cho chủ trương, chính sách của Đảng với đồng bào dân tộc thiểu số miền núi với các tác giả như Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại, Hoàng Cầm Biêu, Lương Quy Nhân, Bàn Tài Đoàn… đến giai đoạn 1954-1975 khi đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, sáng tác của các tác giả dân tộc thiểu số tiếp tục bám sát với nhiệm vụ cách mạng nhưng có sự mở rộng về phạm vi phản ánh với một lớp tác giả mới được đào tạo và có trình độ văn hóa như Mã A Lềnh, Mã Thế Vinh, Triều Ân, Vương Anh với sự xuất hiện của nhiều tập thơ đại diện cho nhiều dân tộc và có sự phân hóa rõ rệt về xu hướng sáng tác

Dưới sự định hướng của Đảng, đặc biệt sau Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ hai năm 1957 nhiều tác phẩm văn học dân gian dân tộc thiểu số đã được dịch ra tiếng phổ thông và được lưu hành rộng rãi Cùng với sự dìu dắt của một số tác giả người kinh thì văn xuôi các dân tộc thiểu số thực sự được ra đời với truyện ngắn

“Ché Mèn được đi họp” (1958) của Nông Minh Châu, tuy còn nhiều hạn chế về

mặt nghệ thuật nhưng nó được coi là cái dấu mốc khởi đầu cho sự xuất hiện của nền văn xuôi dân tộc thiểu số để từ đó mở đường cho hàng loạt những cây bút người dân tộc thiểu số tự tin hơn trong việc phản ánh cuộc sống và con người miền núi với những sáng tác của Triều Ân, Vi Hồng, Nông Viết Toại, Hoàng Hạc… nhưng phải đến những năm 1960 trở đi mảng truyện ngắn mới khẳng định được sự có mặt của mình trong đời sống văn xuôi Việt Nam qua những đóng góp lớn của Vi Hồng với

hàng loạt tác phẩm giá trị như: “Ngôi sao đỏ trên đỉnh núi Phja Hoàng” (1960),

“Cây su su noọng Ỷ (1962), “Nước suối tiên đào” (1963) Nhà văn Triều Ân cũng

đóng góp cho mảng văn học này với: “Chặt cổ rồng” (1962), “Bên bờ suối tiên”

Trang 25

nhiều tuyển tập Có thể khẳng định Nông Minh Châu cùng với Vi Hồng và Triều

Ân là những người đi tiên phong, khai sáng cho nền văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hình thành và phát triển

Trước 1960 chủ yếu là thơ, nhưng với sự xuất hiện của văn xuôi thì nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại đã được hoàn thiện về mặt thể loại Tiểu

thuyết xuất hiện năm 1964 với “Muối lên rừng” của Nông Minh Châu, đây được

coi là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của văn học các dân tộc thiểu số

Bên cạnh văn xuôi thì kịch miền núi cũng ra đời và phát triển vào những

năm 1960 - 1964 với các vở kịch cách mạng Từ 1965 kịch miền núi càng phát triển

mạnh hơn với những vở kịch phản ánh tinh thần chiến đấu của nhân dân các dân tộc thiểu số miền núi

Khi nền văn học dân tộc thiểu số hiện đại phát triển với nhiều thể loại, hoạt động nghiên cứu lí luận phê bình xuất hiện như một quy luật với bài viết phê bình

đầu tiên là “Kể ít chuyện làm thơ” của Nông Quốc Chấn Đến 1960 trở đi khi thơ ca

phát triển với nhiều tập thơ đã thu hút được nhiều nhà nghiên cứu phê bình với những bài nghiên cứu về văn hóa, văn học các dân tộc thiểu số của nhiều tác giả thuộc nhiều dân tộc trong đó có cả những cây bút người kinh

Trong khoảng ba mươi năm đầu tiên hình thành và phát triển, từ sau 1975 nền văn học các dân tộc thiểu số đã bắt đầu có được những thành tựu nhất định Ở giai đoạn này thơ ca các dân tộc thiểu số tiếp tục phát triển mạnh mẽ nhất với đội ngũ đông đảo và thuộc nhiều dân tộc Bên cạnh những tác giả thuộc thế hệ trước như Nông Quốc Chấn, Nông Viết Toại, Lương Quy Nhân, Triều Ân, Bàn Tài Đoàn, Cầm Biêu… vẫn tiếp tục sáng tác thì thời kì này xuất hiện nhiều cây bút trẻ mới vào nghề nhưng có sức sáng tạo mạnh mẽ với nhiều cách thể hiện khác nhau đã cho ra đời hàng trăm tác phẩm như Ma Trường Nguyên, Y Phương, Lò Ngân Sủn, Pờ Sảo Mìn, Lâm Quý, Dương Thuấn, Triệu Kim Văn… đây là thời kì đất nước hoàn toàn giải phóng nên thơ ca các dân tộc thiểu số đã phản ánh một cách sinh động cuộc sống và con người miền núi với tiếng hát ca ngợi cuộc sống, niềm tự hào tự tôn dân tộc trong thời đại mới và khẳng định sức sống trường tồn mãnh liệt của dân tộc

Sau 1975 văn xuôi phát triển với nhiều sáng tác của Nông Minh Châu như

“Tiếng chim gô” (1979) Vi Hồng với “Vãi đàng” (1980), tiểu thuyết “Đất bằng”

Trang 26

(1980), truyện “Núi cỏ yêu thương” (1984), tiểu thuyết “Thung lũng đá rơi”

(1985) “Tiếng khèn A Pá” (1980) của Triều Ân “Hạt giống mới” (1983), “Sông

gọi” (1986) của Hoàng Hạc… văn xuôi phát triển mạnh với sự xuất hiện của nhiều

tác giả trên cả ba vùng miền nhưng miền núi phía Bắc các tác giả người dân tộc Tày vẫn chiếm số lượng đông nhất với những tên tuổi như Ma Trường Nguyên, Đoàn

Lư, Cao Duy Sơn… các tác phẩm đã kết hợp bút pháp truyền thống với bút pháp văn xuôi hiện đại, thể hiện được bản sắc văn hóa của dân tộc mình

Tiểu thuyết đến năm 1978 mới có thêm một cuốn nữa của Y Điêng, sau đó là

sự ra đời của nhiều cuốn tiểu thuyết của Vi Hồng Hoàng Hạc tiếp tục đóng góp cho

mảng tiểu thuyết với “Sông gọi” (1986), “Xứ lạ mường trên” (1988) Từ những

năm 90 xuất hiện thêm nhiều cuốn tiểu thuyết của nhiều tác giả như Vương Anh, Vương Trung, Ma Trường Nguyên, Kim Nhất, Cao Duy Sơn, Inrasara… những tác phẩm trên đã phản ánh cuộc sống, con người dưới nhiều chiều hướng, khía cạnh khác nhau, thể hiện sức mạnh niềm tin của con người vào một cuộc sống mới tràn đầy hi vọng Tuy nhiên giai đoạn này chứng kiến sự suy yếu của thể loại kịch do còn hạn chế và chưa có nhiều thành tựu nên từ những năm 1980 trở đi sự xuất hiện của nó cũng ít hơn

Từ những năm 80 trở đi hoạt động nghiên cứu lí luận phê bình đã diễn ra mạnh mẽ hơn với sự đóng góp, tham gia của nhiều tác giả người kinh Nhiều cuốn sách có sự tham gia của các tác giả người kinh và dân tộc thiểu số Bên cạnh đó xuất hiện thêm nhiều cây bút vừa sáng tác vừa nghiên cứu lí luận phê bình như Mã

A Lềnh, Lò Ngân Sủn, Hoàng Quảng Uyên, Inrasara, Ma Trường Nguyên

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI tháng 12 năm 1986 đã tạo ra sự chuyển biến trên mọi lĩnh vực trong đó có văn học nghệ thuật, nền văn học các dân tộc thiểu số bước sang một trang mới với những chuyển biến tích cực từ nội dung đến nghệ thuật Thể loại truyện ngắn tiếp tục phát triển với những sáng tác của Triều Ân

như: “Như cánh chim trời” (1988), “Xứ sương mù” (1988) Từ những năm 90 trở

đi phát triển mạnh với sự xuất hiện một loạt tác phẩm của nhiều tác giả khác nhau như Hữu Tiến, La Quán Miên, Hà Thị Cẩm Anh, Kha Thị Thường, Kim Nhất, Đoàn

Lư, Hoàng Quảng Uyên, Mã A Lềnh, Cao Duy Sơn…

Trang 27

Từ sau 1986 văn học các dân tộc thiểu số đã có nhiều đổi mới về đề tài và nội dung phản ánh, mặc dù chiến tranh đã qua đi nhưng những dư âm của hai cuộc chiến trường kì vẫn còn đọng lại, nhiều tác giả đã tập trung đi sâu phản ánh cuộc sống và con người miền núi trong những năm tháng đấu tranh gian khổ của cách mạng với đề tài chiến tranh Nhiều tác phẩm lại đi sâu phản ánh số phận của những con người dân tộc miền núi trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước

trong thời kì đổi mới như “Múi tên ám khói” (1991), “Gió hoang” (1992) của Ma Trường Nguyên Mã A Lềnh với “Vùng gió quẩn” (1995) Nếu như trước đây văn

học dân tộc thiểu số luôn nói về những mặt tích cực, ca ngợi chiến công để phục

vụ chiến đấu, cổ vũ khích lệ tinh thần kháng chiến của nhân dân thì giờ đây khi bước vào thời kì đổi mới con người có điều kiện nhìn nhận lại một cách thẳng thắn hiện thực cuộc sống dẫn tới một sự thay đổi lớn về tư duy nghệ thuật trong sáng tác của các tác giả Cho phép tác giả đi sâu vào mọi góc khuất của cuộc sống để

mổ xẻ những mặt trái của đời sống xã hội và thể hiện nỗi niềm suy tư trăn trở của mình trước sự suy thoái của những giá trị truyền thống qua nhiều tác phẩm như:

“Người trong ống” (1990), “Gã ngược đời” (1990), “Chồng thật vợ giả” (1994),

“Đàn trời” (2006)… mặc dù hiện thực đời sống vẫn còn đó nhiều vấn nạn nhưng

các tác giả luôn thể hiện niềm tin vào những giá trị truyền thống và đạo lí trong nhiều tác phẩm viết về số phận con người dân tộc miền núi

Từ những năm 90 trở lại đây văn học các dân thiểu số đạt được nhiều thành công và thu hút được nhiều sự quan tâm của nhiều cây bút lí luận phê bình

Đã kịp thời thẩm bình, đánh giá, nhận xét và định hướng cho sự phát triển của văn học dân tộc thiểu số phát triển đúng chiều hướng, bám sát vào thực tế đời sống văn học dân tộc Việt Nam

Như vậy, có thể thấy nền văn học các dân tộc thiểu số đã có một chặng đường hơn bẩy mươi năm hình thành và phát triển, với nhiều thành tựu đã thực sự trở thành một bộ phận cấu thành của nền văn học Việt Nam và có nhiều đóng góp cho nền văn học dân tộc nước nhà phát triển Trên chặng đường vận động ấy nền văn học các dân tộc thiểu số đã bám sát những sáng tác của mình vào phản ánh cuộc sống và con người dân tộc thiểu số miền núi với sự phát triển ngày càng mạnh về

Trang 28

đội ngũ tác giả trên tất cả các vùng miền với nhiều thể loại, cùng với số lượng và chất lượng tác phẩm không ngừng được nâng lên với minh chứng là những giải

thưởng cao trong đời sống văn học nước nhà như các tác phẩm “Ánh hồng Điện

Biên” ,“Tiếng hát tháng giêng”, “Những người con của núi”, “Tôi là ngọn gió”,

“Dòng sông khao khát”, “Ngôi sao đỏ trên núi Phja Hoàng”, “Cây su su noọng ỷ”,“Nước suối tiên đào”, “Truyện ké Nàm”, “Hạt giống mới”, “Chuyện bây giờ mới kể”, “Rễ người dài” ,“Người lang thang”, Dương Thuấn với ba giải khuyến

khích của tạp chí Văn nghệ quân đội - Hội nhà văn - Tuần báo văn nghệ tập Truyện

ngắn “Những chuyện ở lũng Cô Sầu”, “Ngôi nhà xưa bên suối” được giải thưởng

Hội nhà văn 2008 và giải thưởng văn học ASEAN 2009… để có được những giải thưởng này là cả quá trình lao động sáng tạo không ngừng nghỉ của các tác giả người dân tộc thiểu số đồng thời nó là một sự khẳng định vị trí vai trò của nền văn học các dân tộc thiểu số trong dòng chảy của nền văn học Việt Nam hiện đại

1.2.2 Hành trình sáng tác của Nông Viết Toại

Nông Viết Toại tên khai sinh là Nông Đình Hân, ông sinh ngày 15/5/1926 tại bản Nà Coỏt, xã Châu Khê, tổng Bằng Đức, châu Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn, nay thuộc xã Cốc Đán, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc kạn Ông sinh trưởng trong một gia đình trung nông nghèo hiếu học, giàu truyền thống yêu nước và yêu văn nghệ Ông

là em của Nông Quốc Chấn, anh cả của nền văn học dân tộc thiểu số và nhà văn nổi tiếng Nông Minh Châu

Năm 1937 ông thi sơ học yếu lược quốc ngữ và học hết lớp 3 sơ cấp tiểu học thì cha mất nên ông phải nghỉ học vì gia đình nghèo không đủ chu cấp Sinh thời cụ thân sinh của Nông Viết Toại rất uyên thâm và nổi tiếng nhất nhì chữ Nho tại địa phương do

đó gia đình ông rất mong muốn cho ông theo học chữ nho nên đã đón thầy đồ Hoàng Đức Hậu giàu chữ nghĩa, kinh thông thơ Đường nổi tiếng khắp vùng Việt Bắc về dạy chữ cho Nông Viết Toại, chính thầy Hậu là người đã truyền cảm hứng và tình yêu thơ văn cho Nông Viết Toại

Năm 1942, khi mới 16 tuổi ông cùng Nông Quốc Chấn được vào hội Việt Minh, tham gia hoạt động cách mạng tại Cốc Đán với nhiệm vụ tuyên truyền vận động cách mạng và luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao Khi cách mạng

Trang 29

tháng tám 1945 nổ ra ông được đưa đi huấn luyện về chương trình Việt Minh sau

đó vào hoạt động ở đội tuyên truyền kháng Nhật đến ngày cách mạng tháng tám thành công

Năm 1946, ông được cử làm Trưởng phòng văn hóa thông tin huyện Ngân Sơn với công việc ghi chép tuyên truyền và được chi bộ đảng cơ quan kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam

Năm 1949, ông giữ trọng trách Phó Bí thư huyện ủy Ngân Sơn rồi Bí thư huyện ủy Na Rì vào năm 1950 Năm 1952, ông làm Đội trưởng Đội ca múa tỉnh Bắc kạn phục vụ chiến dịch, phục vụ dân công sửa chữa cầu đường… rồi về phụ trách Đội

ca múa các dân tộc liên khu Việt Bắc tại khu tuyên truyền liên khu Việt Bắc

Năm 1958, ông cùng Nông Quốc Chấn được kết nạp Hội viên Hội nhà văn Việt Nam

Năm 1966, khu tuyên truyền liên khu Việt Bắc điều động ông về Sở Văn hóa công tác trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật Năm 1976, sau khi hòa bình thống nhất nước nhà, khu tuyên truyền liên khu Việt Bắc giải thể, các ngành văn hóa giải thể hoặc chuyển đi các tỉnh khác, Nông Viết Toại chuyển về công tác tại Ti Văn hóa Thái Nguyên rồi về trường Văn hóa nghệ thuật và Giám đốc bảo tàng Văn hóa Việt Bắc đến năm 1988 thì nghỉ hưu

Là một người con của dân tộc Tày, của núi rừng Bắc Kạn, sinh ra và lớn lên trong cái nôi văn hóa giàu truyền thống, những câu hát then, làn điệu sli, lượn, phong slư… cùng vốn kiến thức Nho học đã tạc nên hình tượng nhà văn lão thành Nông Viết Toại Tham gia cách mạng từ rất sớm trên mặt trận văn hóa với nhiệm vụ thông tin tuyên truyền cổ động cách mạng nên con đường đến với văn học của ông luôn song hành với con đường cách mạng, cùng những sự kiện của đất nước

Sau khi cách mạng tháng tám thành công, văn học các dân tộc thiểu số miền núi bắt đầu được hình thành với nhiều tên tuổi, Nông Viết Toại là một trong những người có công khai sơn phá thạch mở đường cho nền văn học các dân tộc thiểu số

Nền văn học dân tộc thiểu số bắt đầu với những sáng tác thơ như một quy luật

tự nhiên, với tình yêu tiếng mẹ đẻ, lòng tự hào dân tộc Nông Viết Toại đã ghi chép lại những bài thơ, câu hát Tày của dân tộc mình trong những sinh hoạt hàng ngày, được

Trang 30

lưu truyền rộng trong quần chúng đồng bào dân tộc Tày và được nhiều người học thuộc Nhưng tên tuổi của ông thực sự đến với công chúng bạn đọc qua những sáng tác thơ tuyên truyền cổ động cách mạng phục vụ chiến đấu với thể thơ thất ngôn rất được đồng bào dân tộc yêu thích và sử dụng nhiều

Sau khi được Nông Quốc Chấn truyền đạt kinh nghiệm làm thơ mà ông học được từ các nhà thơ người kinh, những sáng tác thơ của Nông Viết Toại dần trở nên hoàn thiện hơn, ông chú ý nhiều hơn đến thể thơ, niêm, luật, vần, đối… những tác

phẩm như “Đồng hồ”, “Pây bộ đội”… rất được chú ý với lối viết mộc mạc, giản dị

nhưng rất chân thành Nông Viết Toại luôn viết về quê hương làng bản, viết về con người trên chính mảnh đất của mình, mảnh đất gắn bó với con người bao đời nay,

mảnh đất đã che chở nuôi dưỡng cách mạng với các tác phẩm “Chứ đồng chí”,

“Lẩn tuyện tức Mỵ” , “Bâư cờ đeng”…

Thơ Nông Viết Toại bám sát các sự kiện của đất nước, kêu gọi nhân dân đoàn kết phục vụ cuộc kháng chiến đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất nước nhà nhưng không vì thế mà mất đi cái chất thơ, cái bản sắc của người dân tộc Tày

Trong thơ ông cái chất Tày hiện lên qua hình ảnh thiên nhiên đặc trưng của vùng rừng núi, qua những địa danh rất gần gũi, qua cuộc sống của con người trong lao động sản xuất Đó là hình ảnh con chim queng quý, những bông hoa đào hoa mận, những cây đàn tính trong lời then, lượn… tất cả đều đã đi vào sáng tác của ông trong các chặng đường thơ

Bên cạnh những sáng tác thơ, Nông Viết Toại cũng tham gia viết văn xuôi

bắt đầu từ năm 1952 với truyện ngắn đầu tay “Nặm nà” (Nước ruộng), tuy không

xuất bản nhưng truyện ngắn này là lần tập dượt đầu tiên cho những thành công mà ông gặt hái được sau này

Năm 1957, ông tham gia lớp bồi dưỡng công tác văn hóa, với những kiến thức mà mình học được cùng những kinh nghiệm trao đổi về nghề viết văn, những sáng tác văn xuôi của ông đã tạo được điểm nhấn và bắt đầu thu được nhiều thành công với những truyện ngắn viết bằng tiếng mẹ đẻ được ông sáng tác trong thời kì hòa bình lập lại ở miền Bắc đến hết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước với hình tượng người chiến sĩ cách mạng trên con đấu tranh giải phóng dân tộc qua những

Trang 31

tác phẩm như “Boỏng tàng tập éo”, “Chài vệ quốc đoàn”, “Vằn đắp”, “Ngé fặt

fầy”… hình tượng con người miền núi trong cuộc đấu tranh với những tàn dư của

chế độ cũ để tiến tới xây dựng đời sống mới như “Hăn phi”, “Ngần muộc”… đặc biệt truyện ngắn “Boỏng tàng tập éo”, cuốn tự truyện gắn với cuộc đời hoạt động

cách mạng, hoạt động văn hóa của Nông Viết Toại được đánh giá là thành công hơn

cả và đưa tên tuổi của ông đến với đông đảo quần chúng bạn đọc

Không chỉ thành công ở những sáng tác thơ và truyện ngắn, ở lĩnh vực tiểu

luận, ghi chép Nông Viết Toại cũng để lại nhiều dấu ấn với các bài “Kế thừa vốn

cũ”, “Tiếng Tày với sáng tác thơ văn”, “Làm thơ tiếng Tày”… đặc biệt là chấp bút

Nông Văn Quang ghi chép tác phẩm “Con đường Nam Tiến” có bút tích của Đại

tướng Võ Nguyên Giáp

Công tác nghiên cứu, sưu tầm, dịch thuật cũng đạt được những thành tựu nhất

định với tác phẩm “Ca dao tục ngữ Tày” tích lũy những vốn sống, đúc kết những

kinh nghiệm của người dân tộc Tày trong cuộc sống và sinh hoạt sản xuất Bản dịch

“Nam Kim - Thị Đan” được quần chúng đón nhận và là món ăn tinh thần không thể

thiếu trong mỗi gia đình đương thời Gần đây nhất Nông Viết Toại hợp tác cùng nhóm biên soạn Nhà giáo, Nhà ngôn ngữ Lương Bèn, Lương Kim Dung, Lê Hương

Giang xây dựng cuốn “Từ điển Tày - Việt” là công trình đầu tiên trong cả nước tổng

hợp cơ bản đầy đủ từ vựng tiếng Tày, cung cấp nhiều tư liệu quý giá, cất giữ nguồn mạch văn hóa Tày bảo tồn cho thế hệ mai sau

Có thể thấy, dù sáng tác ở thể loại nào thì tác phẩm của Nông Viết Toại vẫn rất đậm nét truyền thống, đậm bản sắc của dân tộc Nông Viết Toại luôn quan niệm

trong sáng tác văn học: “Điều hết sức quan trọng trong sáng tác hiện nay, ở bất kì

thể loại nào, dù mới xuất hiện như văn xuôi, cũng phải cho đậm hương sắc những

di sản tốt đẹp của nền văn học truyền thống, không nên và không được xa rời nó”

Với quan niệm này, Nông Viết Toại luôn bám những sáng tác của mình vào quê hương, chính sự am hiểu tường tận mạch nguồn văn hóa của dân tộc cùng thái độ lao động nghệ thuật chân chính không ngừng nghỉ đã đem đến những thành công cho Nông Viết Toại, đưa tên tuổi của Nông Viết Toại đến với công chúng và đóng

Trang 32

góp rất lớn mở đường cho nền văn học dân tộc thiểu số hiện đại hình thành và phát triển Ông chính là chiếc cầu nối liền hai bờ văn hóa Tày – Việt

Tiểu kết

Với mỗi quốc gia dân tộc, văn hóa không phải là vấn đề được xem nhẹ mà đã trở thành vấn đề lớn liên quan đến vận mệnh của toàn dân tộc, mỗi quốc gia dân tộc luôn tìm mọi cách để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc mình trên nhiều phương diện trong đó có văn học nghệ thuật Thắng lợi của cách mạng tháng tám

1945 đã khai sinh ra nền văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, tuy mới hình thành và lịch sử phát triển chưa dài nhưng nền văn học các dân tộc thiểu số với đội ngũ các tác giả hùng hậu luôn được bổ sung qua các thời kì, đặc biệt là sự xuất hiện của Nông Viết Toại với sự am hiểu sâu sắc văn hóa dân tộc cùng thái độ lao động nghệ thuật chân chính đã kịp thời để lại nhiều dấu ấn, mang đến cho nền văn học dân tộc thiểu số nói riêng một cái nhìn mới về bản sắc văn hóa dân tộc và đóng góp tích cực vào sự vận động của nền văn học Việt Nam hiện đại nói chung

Trang 33

PHẦN NỘI DUNG Chương 2 CÁC BÌNH DIỆN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG SÁNG TÁC CỦA NÔNG VIẾT TOẠI

2.1 Phong tục tập quán

Phong tục là toàn bộ những hoạt động sống của con người được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, truyền

từ thế hệ này sang thế hệ khác Phong tục “Là những thói quen ăn sâu vào đời sống

xã hội từ lâu đời, được đại đa số mọi người thừa nhận và làm theo” [36, tr.143]

Khi nói đến bản sắc văn hóa dân tộc không thể không nhắc đến phong tục tập quán

đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ của một dân tộc Bản sắc văn hóa dân tộc qua phương diện phong tục tập quán thể hiện trong văn học không còn là vấn đề mới

mẻ, chúng ta đã bắt gặp rất nhiều thành tựu trong các sáng tác của Vi Hồng, Triều

Ân, Ma Văn Kháng… hòa vào dòng chảy đó, Nông Viết Toại cũng đóng góp thêm một góc nhìn mới về bản sắc văn hóa của dân tộc Tày qua những phong tục tập quán rất độc đáo

2.1.1 Phong tục của người dân tộc Tày

Đất nước Việt Nam có 54 dân tộc trong đó đa phần là các dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở các tỉnh trung du và miền núi Mỗi dân tộc lại có những nét đặc thù riêng với những phong tục mang màu sắc văn hóa truyền thống của mình Cùng chung không khí hân hoan đón chào một năm mới thì mỗi một dân tộc lại có những nét khác biệt Người Mông có một hệ lịch riêng nên tết của họ thường diễn ra trước tết nguyên đán cổ truyền chừng một tháng, cuối tháng mười một mọi công tác chuẩn bị cho dịp tết được gấp rút, đối với người Mông mỗi dịp tết đến không thể thiếu đôi bánh dày tròn tượng trưng cho mặt trăng và mặt trời là nguồn gốc của con người và muôn loài Giấy bạc sẽ được dán lên ban thờ tổ tiên, các vật dụng và trước cửa nhà để báo hiệu gia đình có quyết định ăn tết hay không Chiều ba mươi họ sẽ thịt con gà cúng ma nhà và ma giàng, họ không đón giao thừa mà tiếng gà gáy đầu tiên là cái mốc báo hiệu một năm mới đã đến Thì với người dân tộc Tày, Tết

Trang 34

nguyên đán cổ truyền được tính theo âm lịch vào ngày đầu tiên của tháng giêng, tất

cả các gia đình dù giàu hay nghèo đều chuẩn bị chu đáo đón chào năm mới, đây là ngày lễ lớn nhất trong năm của người Tày, là thời điểm bất cứ người con xa xứ đều muốn trở về quê hương đoàn tụ bên gia đình đón một năm mới trong sự viên mãn

Những ngày giáp tết trên mảnh đất vùng cao người dân tộc Tày thường có tục lệ thịt lợn ăn tết, để chuẩn bị cho phong tục này thì ngay từ những ngày đầu năm trước mỗi gia đình sẽ chọn ra một con lợn nuôi để dành dịp tết Gia đình nào có điều kiện thì thịt một con, gia đình nào khó khăn hay ít nhân khẩu hơn thì thịt chung với một

hoặc một vài gia đình khác một con và đây là tục lệ không thể thiếu “Khuốp pi

bươn chiêng mặc sláy mặc cải củng rườn tua bấu nọi” [43, tr.112] Dịch nghĩa:

“Quanh năm mười hai tháng tết đến dù to dù nhỏ nhà nào cũng thịt một con không ít” Thịt lợn tết thường được thực hiện từ 20 tháng chạp, muộn thì vào ngày 29 gia

chủ sẽ mời anh em họ hàng, chòm xóm thân cận tới giúp và cùng nhau ăn bữa cơm đoàn tụ, đặc biệt hơn cả đó là mâm cơm trình lên tổ tiên để thông báo, tổng kết công việc trong một năm vừa qua Thịt lợn tết sẽ được chế biến để chiêu đãi khách trong những ngày tết, phần còn lại sẽ được treo trên gác bếp để sử dụng lâu dài, sau khi dịp tết qua đi con người ta trở lại với cuộc sống lao động thường nhật, nó sẽ trở thành nguồn thực phẩm dự trữ mà người dân sử dụng trong mỗi bữa ăn khi đi làm

nương “Kẻ hó phjăc nhịnh nựa mu lạp bươn chiêng… sloong phua mjề toong tủm

kin đuổi căn” [43, tr.27] Dịch nghĩa: “Mở gói thức ăn chút thịt lợn hun khói lúc tết ra…hai vợ chồng cùng ăn với nhau”

Theo phong tục của người Việt, ngày 23 tháng chạp là ngày ông công ông táo về chầu trời để báo cáo những sự kiện đã xảy ra trong một năm vừa qua, họ sẽ thả cá và tổ chức ra đồng thăm mồ mả tổ tiên, mời họ về ăn tết thì đối với người dân tộc Tày họ sẽ thăm mộ tổ tiên vào ngày tết hàn thực và khoảnh khắc ngày cuối năm mới là thời điểm họ mời tổ tiên về ăn tết nên ban thờ tổ tiên được chăm lo rất chu

đáo “Khuôp pi cẳm đăp ún rườn ún lảng Pỏ chỏ đảy tẻm hương chương đén quá

cừn [43, tr.114] Dịch nghĩa: “Quanh năm suốt tháng chỉ có ngày ba mươi tết là

ấm cúng nhà cửa Ban thờ tổ tiên được đốt đèn ,thắp hương suốt đêm”, trong quan

niệm của người Tày đây là thời điểm tổ tiên về ăn tết với họ nên ban thờ sẽ luôn

Trang 35

sáng và được đốt hương thơm liên tục cho đến thời điểm chính ngọ ngày mùng một, người đảm nhận việc đốt hương lên ban thờ tổ tiên là người đàn ông trong gia đình

Trước thời điểm chính ngọ người dân tộc Tày không ra khỏi nhà, phụ nữ phải kiêng

kỵ việc xông đất hàng xóm cho hết ngày đầu tiên của năm mới Trong thời khắc chuyển giao năm mới, người dân tộc Tày cũng quây quần đoàn tụ bên gia đình, mỗi người một công việc để chuẩn bị chu đáo mâm cỗ trong những ngày tết được hoàn

thiện trước thời điểm giao thừa “Lục lùa sảo khẩu sli, khẩu théc, sắt nựa, hó giò,

cuốn fúng sàng, bấu củng pằm đúc côc côc kêc kêc hẩư xong cón cáy khăn”[43,

tr.114] Dịch nghĩa:“Con dâu thì xào khẩu sli, khẩu thec, thái thịt, gói giò, làm lạp

sườn, không thì cũng chặt xương cho xong trước khi gà gáy” Khác với dân tộc

Mông, người Tày không làm bánh dày mà thường làm “khẩu sli”, “khẩu théc” là

hai loại bánh được làm từ thóc nếp rang treo trên gác bếp, để tổng kết một năm sản xuất và cầu mong cho năm mới bội thu Người Tày không dùng giấy bạc như người Mông mà dùng giấy đỏ trang trí ban thờ, đặc biệt ban thờ của người Tày không

dùng tiền vàng mã như người Việt mà dùng tiền được cắt từ “chiể toọng mò”[43, tr.89] Dịch nghĩa: “giấy bụng bò” là một loại giấy dó, đồng bào dân tộc Tày tự sản

xuất thủ công từ cây tre

Bên cạnh ngày tết cổ truyền của dân tộc, thì với người dân tộc Tày họ đón ngày rằm tháng bẩy như một trong những ngày tết lớn chỉ sau tết nguyên đán, họ cũng chuẩn bị chu đáo mọi thủ tục như ngày đón chào năm mới, nhà nào cũng làm

bún, làm bánh tải “Bươn chât slip hả rườn hâu củng khả pêt khả cáy khửn choòng

khửn táng” [43, tr.67] Dịch nghĩa: “Ngày rằm tháng bẩy nhà nào cũng thịt gà thịt vịt cúng bái trước ban thờ tổ tiên” Sau khi cúng bái tổ tiên họ mời anh em, làng

xóm đến quây quần ăn với nhau bữa cơm mừng ngày tết sau đó họ sẽ tổ chức đi chơi, thăm hỏi động viên anh em họ hàng và chòm xóm

Trong mỗi dịp tết nguyên đán và tết đoan ngọ, người dân tộc Tày còn có phong tục đi chầu - pây chầư Đối với những người dân bình thường sau khi thịt

lợn tết xong họ không quên dành một phần thịt cho gia đình bên ngoại “Xec ooc

kha nấng thư pây hẩư mẻ tái” [43, tr.112] Dịch nghĩa: “Cắt ngay một cái chân

Trang 36

giò mang đi cho mẹ vợ” để tỏ lòng hiếu thảo, kính trọng, tri ân với đấng sinh

thành nên người đầu ấp tay gối với mình Phong tục chầư tái xuất phát từ tục thờ mẫu trong quan niệm của người Tày, với họ đất trời vạn vật đều mang trong mình sự hài hòa của hai cực âm dương, cực âm chính là nguồn gốc sản sinh ra muôn loài và mang đến sự cân bằng cho dương cực nên họ rất coi trọng người phụ nữ sinh thành nên một nửa của mình Đối với những người làm thầy then,

thầy pựt “khuốp pi bại lục slay mà chầư chiêng chầư chât ăn rườn tố bấu đo tỉ

nẳng tỉ nòn” [43, tr.72] Dịch nghĩa: “Mỗi năm đệ tử khắp nơi kéo về hầu lễ tết tháng giêng tháng bẩy đông đến nỗi nhà không có chỗ ngồi chỗ ngủ” Mỗi một

thầy then, thầy pựt đều có “lủc slay” là những đệ tử trong nghề, nhưng cũng có

“pỏ slay” là người thầy đã truyền dạy nghề cho mình nên mỗi dịp lễ đệ tử phải đến nhà thầy chầu lễ, chầu tướng cảm tạ người có công ơn dẫn dắt vào nghề với quan niệm tôn sư trọng đạo Tuy không liên quan trực tiếp đến việc truyền nghề nhưng khi gặp vợ của “pỏ slay” đệ tử phải gọi là “mẻ slay” và thầy của “pỏ slay”

là “pú slay” - tổ sư Người được truyền dạy nghề phải là người có “chỏ pựt, chỏ

then” nghĩa là gia đình phải có nguồn gốc xa xưa làm nghề này Các thầy then,

thầy pựt tuyệt nhiên không truyền dạy nghề cho người không có nguồn gốc trong nghề và người không có nguồn gốc nghề từ những thế hệ trước cũng không thể học được nghề

Trong quan niệm của người Tày, đời người có ba việc lớn nhất đó là tậu trâu, làm nhà và lấy vợ Việc lập gia đình không chỉ thể hiện ý thức trách nhiệm của con người đối với bậc tiên tổ mà còn củng cố các mối quan hệ xã hội Chúng ta bắt gặp những phong tục rất độc đáo, đặc sắc trong hôn nhân của người dân tộc thiểu số như

tục cướp vợ của người Mèo trong “Câu chuyện cuộc đời” của Triều Ân, hay tục lệ

chỉ cầm tay khi chú rể đón cô dâu vào nhà và bước qua chín bậc cầu thang của người

Thái trong “Chín bậc cầu thang” của Kha Thị Thường… thì trong hôn nhân của

người Tày vẫn còn tục ở rể qua nhân vật Lưu trong Đoạn đường ngoặt Trước đây

trong đời sống của người Tày miền núi, con trai rất được gia đình chú ý coi trọng và

là trụ cột trong gia đình Khi trưởng thành những người con sẽ được cha mẹ cưới vợ,

Trang 37

chia gia sản để tổ chức cuộc sống gia đình riêng và chọn người em út ở lại cùng cha

mẹ chăm lo hương khói ban thờ tổ tiên Ở những gia đình đông người, gia cảnh khó khăn hay những người không nơi nương tựa thường phải đi ở rể với nhiều mặc cảm,

phải sống khép nép, ý tứ, không được tự nhiên như ở nhà cha mẹ đẻ “Ngám mà mấư

nhằng lạ tằng bấu đi kin khẩu” [43, tr.16] Dịch nghĩa: “Là rể mới đến bữa còn không dám ăn no” nhưng người dân tộc Tày luôn thể hiện một quan niệm bình đẳng

nam nữ trong hôn nhân, nếu ở nhiều dân tộc khác vẫn còn quan niệm “dâu con rể khách” thì người dân tộc Tày lại coi con dâu, con rể như là con đẻ ở trong gia đình

“Câu cạ bấu mì lục chài, ău mầư khẩu mà, khươi củng tang lục, vằn ké chắng đảy mì cần ngòi; thâng vằn pac pi mì cần thư cái tậu” [43, tr.14] Dịch nghĩa: “Tao bảo nhà không có con trai, lấy mày về, rể cũng như con, lúc già cả mới có người trông nom;

đến ngày trăm tuổi nằm xuống còn có người chống gậy” Người đàn ông đi ở rể khi

sinh con đẻ cái sẽ mang họ mẹ với quan niệm trong hôn nhân con người cầm thẻ hương của gia đình nào sẽ mang họ và thờ phụng tổ tiên của gia đình ấy, được thừa hưởng sản nghiệp của tổ tiên để lại nên sẽ có trách nhiệm gánh vác như người con ruột trong gia đình

Trong phong tục tập quán của người dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, tục lệ

ma chay mang dấu ấn văn hóa rất sâu đậm So với các dân tộc khác, ma chay của người Tày có sự khác biệt rất rõ rệt với sự xuất hiện của đảm phi đảng - đám ma nguội, đây là đám ma dành cho những người thân trong gia đình chết đã lâu ngày mà chưa được làm ma hoặc không tìm được xác và chưa có điều kiện cử hành đám ma

Ta từng bắt gặp đám ma chay rất độc đáo của người dân tộc Tày qua những vần thơ

của Dương Thuấn trong tác phẩm Đám ma nguội

“Đám ma nguội không có quan tài / Chỉ lễ đưa linh, ngóng hồn người chết / Tiếng thầy tào gọi vang da diết: / Xa trăm sông trăm suối hãy về / Cháu trai đội trên

đầu khăn trắng / Cháu dâu cầm đuốc đứng soi đón kia…”

Trong truyện Hăn phi - Thấy ma, là một cái nhìn nữa về đám ma nguội của

người Tày, bà Sáng khi nghe tin đứa con của mình chết mất xác ở xứ người đã quyết định tiến hành tổ chức thật long trọng đám ma nguội cho con trai của mình, thậm chí

còn tốn kém hơn cả những đám ma bình thường khác “Đảm phi đảng, nhang cả xính

Trang 38

cả xoáng đảy slí hả mự chắng slán” [43, tr.53] Dịch nghĩa: “Đám ma nguội cúng bái xập xèng qua bốn năm ngày đêm mới xong” Trong nghi lễ tang ma, người Tày

quan niệm đào sâu chôn chặt nên họ luôn cố gắng tổ chức thật chu đáo duy nhất một lần cho người thân, đám ma tổ chức càng to thì linh hồn của người đã khuất trên trời

mới được vỗ về an ủi “Mái cạ lẹo kỉ lai cúa nhằng sliêt lăng mòn cảo tỉ Tặm tò hêt

đảy hẩư mền mì tỉ kin, tỉ dú đây hảo huôt” [43, tr.54] Dịch nghĩa: “Dù có tốn kém bao nhiêu của cải ai còn tính đến làm gì Cốt sao cho nó có chỗ ăn, chỗ ở tốt chốn mường trời” Trong quan niệm của người Tày, người sống và người chết luôn có mối

quan hệ nhất định, chết không phải là kết thúc tất cả mà là sự khởi đầu ở một thế giới mới nên người dân tộc Tày cử hành đám ma rất long trọng để an ủi người chết, với họ trần sao thì âm vậy nên người đã khuất có được những điều kiện tốt ở thiên đàng thì mới yên lòng người ở lại

Trong đời sống tinh thần của người dân tộc Tày còn có phong tục thể hiện tính

cấu kết cộng đồng rất cao đó là việc kết tồng Trong tập truyện Đoạn đường ngoặt,

Tồng khỏa Nông Viết Toại đã giới thiệu đến người đọc phong tục mang đậm tính

nhân văn ấy Trong tiếng Tày, tùy từng cách phát âm của mỗi địa phương mà từ ngữ

sử dụng khác nhau, thì “tồng” có nghĩa là “như nhau” Không chỉ riêng người dân

tộc Tày mà việc kết tồng cũng có ở nhiều dân tộc khác, ở người Việt đó là kết nghĩa anh em Người dân tộc Tày luôn mang trong mình tinh thần ham học hỏi, giao lưu kết bạn, khi gặp được người có chung chí hướng với mình họ sẽ tiến tới kết tồng

Việc kết tồng ở đây không có một tiêu chí bắt buộc mà dựa trên tinh thần tự nguyện của hai người, họ nhận thấy giữa hai con người có nhiều điểm chung, tâm hồn cùng chung nhịp đập sẽ đặt vấn đề nhận tồng Việc nhận tồng có thể giữa hai con người cùng tuổi, cùng nghề nghiệp, cùng hoàn cảnh hay khác tuổi, nghề nghiệp… một người có thể kết tồng với nhiều người, nhiều dân tộc khác nhưng chỉ kết tồng với những người cùng giới mà không kết tồng với người khác giới

Việc kết tồng cũng trải qua những suy nghĩ lựa chọn chín chắn của con người, được gia đình và dòng họ công nhận Khi chính thức kết tồng thì tình bạn của họ được phát triển lên thêm một bậc cao hơn, trong quan hệ gia đình họ sẽ coi thành viên kia như người trong nhà, họ sẽ coi nhau như anh em ruột thịt, hai người

Trang 39

của anh cũng là cha mẹ tôi, họ hàng nhà anh cũng là họ hàng nhà tôi, con cái anh cũng là con cái tôi, người nào ra đời trước sẽ là anh chị Họ gắn bó hai gia đình với nhau, tham gia mọi công việc gia đình nhà bạn như công việc nhà mình, luôn chia

sẻ cùng nhau những niềm vui nỗi buồn, động viên, tương trợ nhau cùng vươn lên mọi khó khăn trong cuộc sống Việc kết tồng của người Tày miền núi là một cử chỉ đẹp thể hiện tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái Nền móng giữa hai con người không cùng huyết thống ấy sẽ được con cháu đời sau lưu truyền và vun đắp ngày một cao hơn

Như vậy, bằng sự am hiểu tường tận vốn văn hóa của dân tộc, Nông viết Toại đã giới thiệu đến người đọc những phong tục tập quán của người dân tộc Tày, qua đó chúng ta hiểu được sâu rộng hơn đời sống văn hóa của người dân tộc Tày miền núi, kích thích trí trí tò mò khám phá các giá trị văn hóa của người dân tộc

2.1.2 Nếp sinh hoạt của người dân tộc Tày

Vùng núi Việt Bắc là địa bàn cư trú lâu đời của nhiều dân tộc anh em, trên vùng đất đa sắc tộc ấy mỗi dân tộc lại gìn giữ cho mình một sắc thái văn hóa riêng

Khi nhắc đến dân tộc Tày không thể không nói đến căn nhà sàn truyền thống, nơi chứa đựng nhiều giá trị thẩm mĩ về kiến trúc và những giá trị nhân văn sâu sắc Từ

xa xưa do sống ở vùng rừng núi với nhiều mối hiểm nguy luôn rình rập, con người nơi đây đã dựng nên những ngôi nhà sàn để tránh những rủi do không mong muốn

từ thú rừng Nhà sàn được dựng bên sườn đồi, tựa lưng vào núi, quay mặt ra cánh đồng hay dòng sông, khúc suối với kết cấu cột kèo vững chắc, mọi ngôi nhà sàn đều

có hàng rào xung quanh, công trình chuồng trại chăn nuôi ở bên cạnh Khi lên ngôi nhà sàn điều đầu tiên người ta phải bước lên cầu thang Ở mỗi gia đình chiếc cầu

thang sẽ được bố trí khác nhau mà với người lạ khi về ở nhà sàn “Ngám đảy sloong

slam bươn, đăm mà lao nhằm lạ bảt kha” [43, tr.10] Dịch nghĩa: “Mới về được hai

ba tháng đêm đến sợ nhầm bước chân” Cầu thang thường được gia chủ đặt ở đầu

hồi bên trái với vật liệu gỗ, cùng số bậc lẻ mà phổ biến nhất là chín bậc với ý nghĩa may mắn thuận lợi trong công việc làm ăn, hơn nữa trong quan niệm của người Tày

cầu thang còn là nơi nối liền nhà và mặt đất trong sự hài hòa âm dương của đất trời

Trang 40

Mọi sinh hoạt trên ngôi nhà sàn đều được quy định rõ ràng “Rườn chạn tằng bấu đi

càm lèng cần hâư càm củng dắc diếng pây” [43, tr.10] Dịch nghĩa: “Nhà sàn nên không dám bước mạnh ai cũng nhẹ nhàng bước đi” tất cả mọi người phải đi lại

chậm rãi, người cha không được vào phòng của con gái và con dâu, phụ nữ không được phép ngồi ở cạnh trên của bếp lửa, phụ nữ phải tránh đi qua ban thờ tổ tiên, không được trèo lên bên trên gác bếp mà chỉ có đàn ông mới được ngồi cạnh trên của bếp lửa và gian chính giữa nhà để tiếp khách Chỉ khi trong nhà không còn người đàn ông thì phụ nữ trở thành người làm chủ gia đình, mới được phép thay thế vai trò của người đàn ông trong gia đình

Bên cạnh đó trong đời sống tinh thần của người dân tộc Tày then, pựt, tào là những nghi lễ tín ngưỡng tâm linh gắn bó rất sâu nặng với người dân Mỗi khi trong gia đình có thành viên gặp sự việc không lành thì người dân lại đón thầy then, thầy pựt về để cầu cho gia đình tai qua nạn khỏi, sức khỏe dồi dào, trăm đường hanh thông thuận lợi, gặp nhiều phúc lành Nếu bỏ đi các yếu tố tâm linh, mê tín thì việc cúng bái bằng then, pựt, tào đã thể hiện rất chân thực đời sống tinh thần của người dân tộc Tày, phản ánh truyền thống văn hóa của người dân miền núi Trong thời đại ngày nay khi những yếu tố văn nghệ truyền thống đang bị mai một dần đi thì then, pựt chính là nơi lưu giữ tốt nhất các giá trị văn hóa nghệ thuật cổ truyền của dân

tộc Thầy then cũng có những thứ bậc được quy định rõ ràng với sáu cấp bậc “Phó

lệnh binh” khửn thâng “chánh lệnh binh” mừa tó “án sát sử”… khửn thâng “ phó thượng thư”… “đô đốc thượng thư” xáu “ đại nguyên soái” [43, tr.71] Dịch

nghĩa: “Phó lệnh binh” lên đến “chánh lệnh binh” rồi đến “án sát sử… lên đến

“phó thượng thư”… “đô đốc thượng thư” rồi “đại nguyên soái”, sau khi học xong

nghề then, người học sẽ được làm lễ sắc phong cấp chức Ở người Dao lễ lẩu then đánh dấu sự trưởng thành của con người thì với người Tày lễ lẩu then như một tấm giấy phép cho người học nghề được phép hành nghề Khi đạt đến những tiêu chí nhất định trong nghề đã đề ra thầy then sẽ được lên một cấp mới, khi đó họ cũng sẽ

làm lễ lẩu then Mỗi lần được sắc phong thầy then sẽ “Xỉnh tinh then ké then căng

mà cấp slắc hẩu lẹo” [43, tr.71] Dịch nghĩa: “Thỉnh các vị then già, then lão về cấp sắc cho hết”, đó là những người có cấp cao hơn, có uy tín và kinh nghiệm nhiều

Ngày đăng: 19/12/2022, 18:28

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm