1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN án TIẾN sĩ) tiểu thuyết nhất linh với việc hiện thực hoá chủ trương canh tân văn hoá, văn học của tự lực văn đoàn

181 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu thuyết Nhất Linh với việc hiện thực hoá chủ trương canh tân văn hoá, văn học của Tự lực văn đoàn
Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Mai
Người hướng dẫn PGS.TS. Phan Huy Dũng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 181
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày hôm nay, hoàncảnh cho phép tiếp xúc thuận lợi hơn với các tư liệu gốc, cùng với không khí cởi mở và thái độ khách quan trong nhìn nhận những hiện tượng văn học, chúng tôi muốn mộtlầ

Trang 1

NGUYỄN THỊ HOÀNG MAI

TIỂU THUYẾT NHẤT LINH VỚI VIỆC HIỆN THỰC HÓA CHỦ TRƯƠNG CANH TÂN VĂN HÓA, VĂN HỌC CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2022

Trang 2

NGUYỄN THỊ HOÀNG MAI

TIỂU THUYẾT NHẤT LINH VỚI VIỆC HIỆN THỰC HÓA CHỦ TRƯƠNG CANH TÂN VĂN HÓA, VĂN HỌC CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 9220121 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHAN HUY DŨNG

NGHỆ AN - 2022

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận án là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sựhướng dẫn của PGS TS Phan Huy Dũng Những số liệu sử dụng trong luận án là trungthực Các kết quả rút ra từ công trình nghiên cứu chưa từng được công bố Tôi xin hoàntoàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu này.

Nghệ An, ngày… tháng năm 2022

Tác giả

Nguyễn Thị Hoàng Mai

Trang 4

Được sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của các nhà khoa học, tôi đã hoàn thànhluận án Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến PGS.TS Phan Huy Dũng - giảngviên trường Đại học Vinh.

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các nhà khoa học thuộc bộ môn Vănhọc Việt Nam, Phòng Đào tạo Sau Đại học Trường Đại học Vinh, Trường Phổ thôngNăng khiếu - Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh cùng bạn bè, đồng nghiệp và giađình đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận án

Xin trân trọng cảm ơn!

Nghệ An, ngày … tháng năm 2022

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Hoàng Mai

Trang 5

LỜI CAMĐOAN LỜI CẢM ƠN MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7

1.1 Tiền đề lý luận và các khái niệm cơ sở của luận án 7

1.1.1 Lý luận về tiểu thuyết 7

1.1.2 Lý luận về mối quan hệ giữa văn học và văn hóa 12

1.1.3 Lý luận về sự canh tân văn học 18

1.2 Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Nhất Linh 21

1.2.1 Nghiên cứu quan niệm của Nhất Linh về tiểu thuyết 21

1.2.2 Nghiên cứu chung về vị trí và đặc điểm của tiểu thuyết Nhất Linh 25

1.2.3 Nghiên cứu về hiện thực hóa chủ trương canh tân văn hóa văn học của Tự lực văn đoàn trong tiểu thuyết Nhất Linh 38

Tiểu kết chương1 41

Chương2.KHÁI QUÁT VỀ CHỦ TRƯƠNGCANHTÂN VĂN HÓA, VĂN HỌC CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN 43

2.1 Những nhân tố cơ bản thúc đẩy sự ra đời của Tự lực văn đoàn 43

2.1.1 Nhu cầu canh tân đất nước trong bối cảnh tiếp xúc văn hoá Đông - Tây 43

2.1.2 Những thành tựu đầu tiên của quá trình hiện đại hóa 47

2.1.3 Tài năng tổ chức và khát vọng đóng góp về văn hóa của Nhất Linh 49

2.2 Tôn chỉ và chương trình hoạt động thực tế của Tự lực văn đoàn 54

2.2.1 Tôn chỉ hoạt động của Tự lực văn đoàn 54

2.2.2 Chương trình hoạt động thực tế 56

2.3 Ưu thế và vai trò của tiểu thuyết trong việc hiện thực hoá chủ trương canh tân văn hoá, văn học của Tự lực văn đoàn 64

2.3.1 Vị trí của tiểu thuyết trong hoạt động sáng tác của các nhà văn Tự lực văn đoàn 64

2.3.2 Những nội dung chính của việc hiện thực hóa chủ trương canh tân văn hóa, đổi mới văn học của Tự lực văn đoàn mà tiểu thuyết đảm nhiệm 65

2.3.3 Vai trò của tiểu thuyết so với các thể loại khác trong việc thực hiện tôn chỉ hoạt động của Tự Lực văn đoàn 68

Tiểu kết chương 2 71

Chương3.NHỮNG VẤN ĐỀLỚN CỦA NHIỆM VỤ CANH TÂN VĂN HÓA,

Trang 6

3.1.1 Khẳng định cái tôi cá nhân 73

3.1.2 Coi trọng tinh thần dân chủ 77

3.1.3 Xây dựng ý thức cộng đồng 82

3.2 Thực hiện việc tổng hợp văn hoá hướng tới tinh thần hiện đại 86

3.2.1 Đả phá thiết chế hủ bại và trân trọng những giá trị truyền thống tốt đẹp 86

3.2.2 Cổ vũ con người cá nhân và cảnh báo những hệ lụy của nổi loạn cực đoan 89

3.2.3 Phác thảo một mô hình tổ chức xã hội văn minh 93

3.3 Xây dựng mô hình tiểu thuyết hiện đại và ngôn ngữ văn học chuẩn mực 95

3.3.1 Định dạng tiểu thuyết hiện đại và làm sáng tỏ các yêu cầu của nó 95

3.3.2 Xác lập tính khách quan của người trần thuật trong tiểu thuyết 101

3.3.3 Xây dựng nguyên tắc vận dụng ngôn ngữ trong sáng tác văn học 108

Tiểu kết chương3 116

Chương4.HỆ QUẢ VIỆC HIỆN THỰC HÓA CHỦ TRƯƠNGCANHTÂN VĂN HÓA,VĂN HỌC CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN TRONGNGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT NHẤT LINH 118

4.1 Khám phá những xung đột nghệ thuật mới 118

4.1.1 Những xung đột nghệ thuật phổ biến trong tiểu thuyết giai đoạn trước 118

4.1.2 Xung đột gia đình - loại xung đột đánh dấu bước chuyển của thời đại 119

4.1.3 Xung đột cá nhân - xã hội và xung đột trong con người không trùng khít với chính mình 122

4.2 Xây dựng những hình tượng nhân vật mới 127

4.2.1 Hình tượng nhân vật nổi loạn 128

4.2.2 Hình tượng con người phụng sự lí tưởng 130

4.2.3 Hình tượng “Con người thất bại” 134

4.3 Hình thành ngôn ngữ tiểu thuyết mới 139

4.3.1 Đa dạng hóa các bè ngôn ngữ 140

4.3.2 Ngôn ngữ tạo hình 142

4.3.3 Ngôn ngữ thể hiện nội tâm 145

Tiểu kết chương 4 149

KẾT LUẬN 151

DANHMUC CÁC CÔNGTRINH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUANĐẾN ĐỀTÀI LUẬN ÁN 154

TÀI LIỆU THAMKHẢO 155

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Tự lực văn đoàn là một trong những đoàn thể văn học mang tính chất chuyênnghiệp nhất về tổ chức, tôn chỉ mục đích, kế hoạch hoạt động… trong lịch sử văn họcViệt Nam hiện đại mà tầm ảnh hưởng của nó đã vượt ra khỏi phạm vi văn học, baotrùm cả các lĩnh vực văn hóa - chính trị - xã hội Với việc sáng lập Tự lực văn đoàn,Nhất Linh là một trong những người đã có ảnh hưởng tích cực đến sự lựa chọn đườnghướng phát triển của văn học, nhất là tiểu thuyết - một vấn đề không kém phần nóngbỏng, bức thiết so với nhiều vấn đề xã hội khác Về các đối tượng này, hiện đã cónhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu, tuy nhiên, trên cơ sở những tư liệu được công

bố gần đây, việc nhìn nhận toàn diện những đóng góp của Tự lực văn đoàn và củaNhất Linh vẫn còn là một đề tài mở

1.2 Việc định vị và đánh giá lại tầm vóc đích thực Tự lực văn đoàn cũng như vịchủ soái của nó đã diễn ra mạnh mẽ từ giữa thập niên 80 của thế kỷ XX Tuy nhiên, do

sự phức tạp của thời thế và của bản thân con người Nhất Linh, bức tranh nghiên cứu vềcác đối tượng này vẫn còn nhiều khoảng trống cần được lấp đầy Ngày hôm nay, hoàncảnh cho phép tiếp xúc thuận lợi hơn với các tư liệu gốc, cùng với không khí cởi mở

và thái độ khách quan trong nhìn nhận những hiện tượng văn học, chúng tôi muốn mộtlần nữa phục dựng chân dung Nhất Linh không chỉ với tư cách là một nhà văn mà còn

là một nhà khai dân trí, thức tỉnh ý thức cá nhân và tự do ở con người không chỉ bằnghoạt động xã hội năng nổ mà bằng những sáng tác văn chương có phẩm chất nghệ thuậtrất cao

1.3 Trong sự nghiệp của Nhất Linh, tiểu thuyết là bộ phận di sản có giá trị nhất,

vì thế đây cũng là thể loại được nghiên cứu nhiều hơn cả Tuy nhiên, số lượng côngtrình nghiên cứu chuyên biệt về khát vọng khởi cuộc canh tân văn hóa của Tự lực vănđoàn nói chung và của Nhất Linh nói riêng, thông qua sáng tác văn học, nhất là tiểuthuyết, còn khá hiếm hoi và chưa đạt mức bề thế Lâu nay, nghiên cứu về Nhất Linh,người ta quan tâm nhiều đến những nội dung xã hội và con người được khám phá, thểhiện trong các tiểu thuyết của ông, những đóng góp của ông cho sự hình thành và phát

Trang 8

triển của tiểu thuyết hiện đại chứ chưa thật sự chú ý đánh giá toàn diện vai trò vànhững đóng góp của Nhất Linh ở điểm giao thoa giữa văn hóa và văn học trong một

bối cảnh phát triển đặc biệt của đất nước Với đề tài Tiểu thuyết Nhất Linh với việc

hiện thực hóa chủ trương canh tân văn hóa, văn học của Tự lực văn đoàn, chúng tôi

muốn góp phần giải quyết vấn đề trên từ cách tiếp cận liên ngành đối với đối tượngnghiên cứu

1.4 Trong tư cách là tiểu thuyết gia, một trong những đóng góp lớn nhất củaNhất Linh là đã gợi mở một hướng đi, dự báo một hướng phát triển cho tiểu thuyếtViệt Nam hiện đại Mô hình tiểu thuyết của ông đáng được khảo sát và đánh giá lại đểchúng ta nhìn nhận đúng về vai trò của nó trong một bối cảnh hiện đại hóa văn học cótính đặc thù Chính mô hình này đã góp phần tạo nên điểm tựa vững chắc cho nhữngchặng đường phát triển sau này của tiểu thuyết nước nhà

Đó là những lý do thúc đẩy chúng tôi nghiên cứu đề tài Tiểu thuyết Nhất Linh với

việc hiện thực hóa chủ trương canh tân văn hóa, văn học của Tự lực văn đoàn.

2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Như tên đề tài đã chỉ rõ, đối tượng nghiên cứu của luận án là đóng góp của tiểuthuyết Nhất Linh trong việc hiện thực hóa chủ trương canh tân văn hóa, văn học của

Tự lực văn đoàn

2.2 Phạm vi tư liệu khảo sát

Nhất Linh đã để lại một khối lượng tác phẩm khá lớn và đa dạng về thể loại (tiểuthuyết, truyện ngắn, phê bình, phóng sự ) Nhưng luận án chỉ tập trung khảo sát tiểu

thuyết của nhà văn trong giai đoạn Tự lực văn đoàn nhằm làm rõ việc hiện thực hóa chủ trương canh tân văn hóa, văn học của văn đoàn này bằng tiểu thuyết và ở tiểu

thuyết.

Cụ thể, luận án tập trung khảo sát kĩ 6 tiểu thuyết: Nắng thu (viết 1934, xuất bản 1942), Đoạn tuyệt (đăng báo 1934, xuất bản 1935), Đời mưa gió (Nhất Linh viết chung với Khái Hưng, xuất bản năm 1934), Lạnh lùng (đăng báo 1936, xuất bản 1937),

Đôi bạn (đăng báo 1938, xuất bản 1939), Bướm trắng (đăng báo 1939, xuất bản 1940

-1941)

Trang 9

Những tác phẩm giai đoạn trước Tự lực văn đoàn, đặc biệt tác phẩm Nho phong (1924), Người quay tơ (1927), tuy không phải là tiểu thuyết, nhưng chúng tôi cũng

tham khảo, phân tích để thấy thấy tư tưởng canh tân văn hóa, cải tạo đời sống xã hội

đã được manh nha từ thời điểm Nhất Linh chưa tham gia Tự lực văn đoàn Giai đoạn

sau Tự lực văn đoàn, Nhất Linh còn viết thêm hai bộ tiểu thuyết trường thiên: Dòng

sông Thanh Thuỷ và Xóm Cầu Mới Hai bộ tiểu thuyết này tuy vẫn thể hiện những tìm

tòi của Nhất Linh trong nghệ thuật tiểu thuyết, nhưng đích hướng tới của chúng đãkhác so với các sáng tác trước đây, một khi lịch sử đã lật qua trang mới và Tự lực vănđoàn với tư cách là một tổ chức văn học đã kết thúc vận mệnh của mình Đây là lý do

cơ bản khiến chúng tôi chỉ xem hai bộ tiểu thuyết này là nguồn tài liệu cần dẫn chiếuchứ không phải đối tượng chính cần phân tích, đánh giá một cách đầy đủ

Với tập tiểu luận Viết và đọc tiểu thuyết (1952 - 1961) được viết sau thời kì Tự

lực văn đoàn vốn mang tinh thần tổng kết quan niệm về tiểu thuyết của thời tiền chiến,chúng tôi cũng quan tâm khảo sát để thấy rõ hơn ý thức nghề nghiệp của nhà văn –một phẩm chất không thể thiếu của người muốn hoạch định tương lại cho cả nền vănhoá, văn học

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu tiểu thuyết của Nhất Linh thời kỳ Tự lực văn đoàn theo định hướng

đã nêu trên, luận án nhằm tới các mục đích sau đây:

- Đánh giá một cách toàn diện những đóng góp của Nhất Linh cho nền văn hoá,văn học dân tộc; khẳng định Nhất Linh không chỉ là một nhà văn mà còn là một nhàhoạt động xã hội trong việc định ra những kế hoạch canh tân văn hoá và tổ chức thựchiện nó một cách hiệu quả trên cơ sở giải quyết những vấn đề bức thiết của cuộc giaolưu văn hoá Đông - Tây giai đoạn đầu thế kỷ XX

- Khẳng định vai trò đặc biệt của tiểu thuyết trong việc góp phần tạo nên bộ mặtmới của nền văn học và thổi vào nền văn hoá đất nước một khí sắc mới

- Khẳng định khả năng làm chủ công cụ tiểu thuyết của một người tự nhận lĩnh

sứ mệnh phất cao ngọn cờ văn hoá trong bối cảnh phát triển đặc thù của lịch sử ViệtNam nửa đầu thế kỷ XX

Trang 10

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu đã xác định, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụchính sau đây:

- Tìm hiểu thấu đáo các khái niệm công cụ như tiểu thuyết, văn hoá, mối quan hệ

giữa văn hoá và văn học để sử dụng chúng một cách hiệu quả trong việc nghiên cứu

vấn đề đặt ra

- Phân tích, đánh giá chủ trương canh tân văn hóa, văn học của Tự lực văn đoàn –yếu tố then chốt đưa đến kế hoạch hoạt động hiệu quả và những đóng góp lớn của tổchức này cho văn hoá, văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX

- Xác định vị trí của tiểu thuyết trong di sản văn học phong phú của Tự lực vănđoàn, chỉ ra lí do khiến tiểu thuyết được các nhà văn hàng đầu của tổ chức này lựachọn như thể loại sáng tác chính

- Phân tích, đánh giá tiểu thuyết Nhất Linh trên phương diện nội dung, theohướng khẳng định những vấn đề được thể hiện trong đó cũng là những vấn đề cốt lõicủa nhiệm vụ canh tân văn hoá, văn học theo tôn chỉ của Tự lực văn đoàn

- Phân tích, đánh giá những đổi mới trong nghệ thuật tiểu thuyết của Nhất Linh –điều được nhìn nhận như là hệ quả tất yếu của việc hiện thực hoá chủ trương canh tânvăn hoá, văn học của Tự lực văn đoàn

4 Phương pháp pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau đây:

4.1 Phương pháp liên ngành

Đây là phương pháp có thể giúp người nghiên cứu phân tích, lý giải thấu đáo mốiquan hệ giữa văn hoá và văn học, qua đó hiểu hơn tham vọng của Nhất Linh trong việccanh tân văn hoá thông qua sáng tác văn học

4.2 Phương pháp loại hình học

Phương pháp này đắc dụng trong việc nghiên cứu đối tượng trung tâm là tiểuthuyết, giúp tác giả luận án biết đặt các sáng tác chính của Nhất Linh vào đúng loạihình của nó để có được những phân tích, đánh giá thuyết phục

Trang 11

4.3 Phương pháp nghiên cứu lịch sử

Sử dụng phương pháp nghiên cứu này, người viết đặt tác phẩm của Nhất Linhtrong bối cảnh vận động và phát triển của văn học Việt Nam nói chung, thể loại tiểuthuyết nói riêng để làm nổi rõ những đóng góp của tiểu thuyết Nhất Linh trong việchiện thực hóa chủ trương canh tân văn hóa, văn học của Tự lực văn đoàn

4.4 Phương pháp tiếp cận thi pháp học

Phương pháp này sẽ giúp người nghiên cứu nhìn thấy tính hệ thống của cácphương thức, phương tiện nghệ thuật được nhà văn Nhất Linh sử dụng cũng như quanniệm nghệ thuật mới về con người toát ra từ tất cả các đối tượng được tác giả miêu tả,thể hiện trong các tiểu thuyết của mình

4.5 Phương pháp cấu trúc - hệ thống

Đây là phương pháp giúp chúng tôi có cái nhìn hệ thống, toàn diện về toàn bộvấn đề liên quan đến đề tài để thực hiện việc đánh giá thoả đáng đóng góp của NhấtLinh cho việc xây đắp nền văn hoá mới và cho tiến trình vận động, phát triển của tiểu

4.6 Phương pháp so sánh

Phương pháp này một mặt giúp chúng tôi thấy được sự độc đáo trong chủ trươngviết tiểu thuyết của Nhất Linh so với các nhà tiểu thuyết khác đương thời (ngoài tổchức Tự lực văn đoàn), mặt khác, nhìn rõ những điểm tương đồng và khác biệt giữacác giai đoạn sáng tác của nhà văn để thấy được dụng ý của Nhất Linh trong việc gợi

mở một hướng đi, dự báo một hướng phát triển trong nhiều khả năng tồn tại và pháttriển của nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

5 Đóng góp của luận án

- Làm sáng tỏ hơn một số vấn đề chung quanh hoạt động của Tự lực văn đoàntrong giai đoạn phát triển đặc biệt của lịch sử đất nước (qua việc cập nhật nhiều tài liệunghiên cứu mới của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước): những nhân tố thúc đẩy

sự ra đời của tổ chức văn học này, chương trình hoạt động thực tế, những nội dung cốtlõi trong chủ trương canh tân văn hóa, văn học của Tự lực văn đoàn

Trang 12

- Khẳng định đóng góp quan trọng của Tự lực văn đoàn nói chung, của Nhất Linhnói riêng trong việc xây dựng một mô hình tiểu thuyết hiện đại (thừa tiếp nỗ lực củanhiều nhà văn chuyên viết tiểu thuyết trước đó), đặt nền móng cho sự phát triển củatiểu thuyết Việt Nam ở những thời kỳ văn học tiếp nối.

- Qua phân tích các giá trị nổi bật về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết NhấtLinh, khẳng định một số vấn đề có ý nghĩa quy luật trong sự phát triển của lịch sử, vănhoá, văn học Việt Nam hiện đại, đó là: để đạt được tự do và văn minh, con đường đúngđắn hay giải pháp bền vững phải bắt đầu từ việc khai dân trí, thức tỉnh nhân dân; vănhoá luôn có sứ mệnh soi đường đi cho cộng đồng và văn học, với một số thể loại chủcông như tiểu thuyết, luôn là một vũ khí lợi hại cần nắm giữ trong công cuộc giảiphóng con người, giải phóng dân tộc

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án được

triển khai trong 4 chương:

Chương 1 Cơ sở lý thuyết của luận án và tổng quan tình hình nghiên cứu.

Chương 2 Khái quát về chủ trương canh tân văn hoá, văn học của Tự lực văn

đoàn

Chương 3 Những vấn đề lớn của nhiệm vụ canh tân văn hoá, văn học được thể

hiện trong tiểu thuyết của Nhất Linh

Chương 4 Hệ quả việc hiện thực hoá chủ trương canh tân văn hoá, văn học của

Tự lực văn đoàn trong nghệ thuật tiểu thuyết Nhất Linh

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN

VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tiền đề lý luận và các khái niệm cơ sở của luận án

1.1.1 Lý luận về tiểu thuyết

Tiểu thuyết là một trong những thể loại quan trọng nhất của văn chương hiện đại

Mặc dù đã có mầm mống từ thời cổ đại nhưng tiểu thuyết (giới hạn ở mô hình tiểu thuyếtphương Tây) chỉ thực sự nở rộ vào thế kỉ XIX ở Châu Âu với những tên tuổi nhưStendhal, Émile Zola, Honoré de Balzac, William Thackeray, Charles Dickens, NikolayGogol, Ivan Turgenev, Lev Tolstoy, Fedor Dostoyevsky… Xét theo thực tế này, có thểkhẳng định tiểu thuyết là thể loại sinh sau đẻ muộn

Nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển của tiểu thuyết, có thể thấy cùng với sựbiến đổi trong nội dung “phản ánh” qua các thời kì là sự thay đổi trong quan niệm về thểloại Các nhà lý luận hàn lâm cũng như các tiểu thuyết gia từ Tây sang Đông đều đã đưa

ra các khái niệm của mình về tiểu thuyết

Ở Việt Nam, đến đầu thế kỷ XX, cùng với quá trình hình thành nền văn xuôiQuốc ngữ, tiểu thuyết mới trở thành một thể loại tiên phong Nhưng vì đây là một thểloại mới du nhập từ phương Tây với một diện mạo hoàn toàn khác nên các nhà lý luận,các nhà văn thời kỳ ấy đã gặp nhiều lúng túng khi cố xây dựng một khái niệm thốngnhất Mặc dù vậy, họ cũng đã cố gắng giải thích để định hướng việc tiếp nhận củangười đọc Những giải thích ấy tuy còn đơn giản, sơ lược nhưng đã tạo được cơ sở banđầu tương đối vững chắc cho lý luận về tiểu thuyết ở Việt Nam Sau đây, chúng tôi xinđiểm qua một số quan niệm tiêu biểu:

Báo Nông cổ mín đàm do Trần Chánh Chiếu làm chủ bút số ra ngày 23/10/1906 đã

khởi xướng cuộc thi viết tiểu thuyết đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam với quanniệm về tiểu thuyết như sau: “Người Lang Sa gọi là Roman nghĩa là lấy trí riêng mình

mà đặt ra một truyện tùy theo nhân vật phong tục trong xứ, dường như truyện có thiệtvậy” Và một yêu cầu đặt ra trong thể lệ là “Đặt tiếng thường, thanh nhã, dễ hiểu nhưtruyện vậy” [124, tr.23-24]

Trang 14

Hồ Biểu Chánh cũng đã nói về con đường đến với tiểu thuyết của mình xuất phát

từ một suy nghĩ thật đơn giản: “Thầm nghĩ, người mình mà biết truyện bên Tàu không

bổ ích cho bằng biết truyện trong nước mình” [124, tr.27] “Truyện trong nước mình” ởđây là những gì xảy ra trong đời thường, gắn liền với hiện tại chứ không phải là nhữngchuyện tài tử giai nhân hay chuyện xưa tích cũ như trong tiểu thuyết Trung Hoa

Trong Bàn về tiểu thuyết, Phạm Quỳnh đã nêu định nghĩa: “Tiểu thuyết là một

truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, phong tục xã hội, hay là những

sự lạ tích kì, đủ làm cho người đọc có hứng thú” [124, tr.125] hoặc như một diễn ngônnôm na “tiểu thuyết là một truyện bịa đặt mà có thú vị” [124, tr.125] “Bịa đặt” ở đâytheo Phạm Quỳnh là sự “bịa đặt” từ những hoàn cảnh thực Với tư cách là nhà phêbình văn học hiện đại đầu tiên của Việt Nam, quan niệm của Phạm Quỳnh đã bao quátđược những đặc điểm và vấn đề quan trọng nhất của thể loại tiểu thuyết như kết cấu,lối văn tự sự, hư cấu sáng tạo… Chính vì thế, công trình này của ông đã có ảnh hưởnglớn đến nhiều cây bút đương thời Hầu hết các nghiên cứu, bình khảo về tiểu thuyết

Việt Nam những năm 20, 30 của thế kỷ XX đều ít nhiều chịu ảnh hưởng từ Bàn về tiểu

thuyết của ông Chẳng hạn, Thạch Lam trong Theo giòng cũng có nhận định gần giống

với chủ bút Nam phong tạp chí: “Tiểu thuyết là một câu chuyện sắp đặt, một sáng tác

của trí tưởng tượng” song nó đòi hỏi phải “hết sức gần sự sống để được linh hoạt và

thật như cuộc đời” [124, tr.180] Trong tiểu luận Theo giòng Thạch Lam đã đề cập đến

những phương diện cơ bản của thể loại như nhà văn - chủ thể sáng tạo, nhân vật - yếu

tố cốt lõi của tiểu thuyết và bạn đọc - người tiếp nhận Ở mỗi phương diện, Thạch Lamđều có những nhận định xác đáng và gần gũi với các nhà lý luận phương Tây Chính vìthế ông được coi là “một trong những người sớm nhận ra một đặc điểm quan trọng của

nhân vật tiểu thuyết: nội dung nhân vật không trùng khít với địa vị xã hội và tính cách

xã hội của nhân vật” [61, tr.162] Có thể thấy, Thạch Lam ngoài sự kế thừa từ Phạm

Quỳnh, đã có quan niệm về tiểu thuyết rất tiến bộ, hiện đại và đến nay vẫn còn phùhợp

Ngày nay, qua một thời gian dài phát triển, về khái niệm, tiểu thuyết đã được

hiểu như một thể loại của văn chương hiện đại với những đặc điểm cơ bản sau đây: Về

hình thức, đó là tác phẩm văn xuôi tự sự có quy mô lớn; Về thể tài, đó là câu chuyện

Trang 15

thế sự, đời tư của cá nhân trong mối quan hệ rộng lớn với xã hội, tập trung vào một

(hoặc một vài) nhân vật trong quá trình hình thành và phát triển cá tính của nó; Về

phương thức tường thuật, người trần thuật cần giữ thái độ khách quan, khoảng cách

với nhân vật; Về ngôn ngữ, gần với lời ăn tiếng nói thường ngày nhưng bảo đảm được

tính thẩm mỹ

Tiểu thuyết Nhất Linh xuất hiện vào lúc văn xuôi hiện đại Việt Nam mới cónhững thể nghiệm ban đầu, tuy có thành tựu đáng kể nhưng không đáp ứng được tất cảcác tiêu chí nêu trên Tuy nhiên, bằng sự nhạy bén của mình, nhà văn đã nhận thấy vịtrí quan trọng của tiểu thuyết trong tiến trình văn học cũng như vai trò của nó trongquá trình canh tân văn hoá, văn học

M Bakhtin đề cao “thể loại”, tuyên bố nó là “nhân vật chính của tiến trình văn

học” [13, tr.28], trong hệ thể loại ông chỉ ra tiểu thuyết có vai trò hàng đầu trong việcdựng tiến trình văn học: “Tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất luôn luôn biếnđổi, do đó nó phản ánh sâu sắc hơn sự biến chuyển của bản thân hiện thực Chỉ kẻ biếnđổi mới hiểu được sự biến đổi Tiểu thuyết sở dĩ đã trở thành nhân vật chính trong tấnkịch phát triển văn học thời đại mới, bởi vì nó là thể loại duy nhất do thế giới mới ấysản sinh ra và đồng chất với thế giới ấy về mọi mặt Tiểu thuyết về nhiều phương diện

đã và đang báo trước sự phát triển tương lai của toàn bộ nền văn học.” [13, tr.27].

Từ ý kiến của M Bakhtin, thử lướt nhìn lại hành trình tiểu thuyết từ dạng sơ khaiđến hình thức phồn tạp hôm nay, để thấy quả thật đây là thể loại luôn “phản ánh sâu sắc

hơn sự biến chuyển của bản thân hiện thực”, nó đặt ra những cột mốc cơ bản của tiến

trình nghệ thuật, của quá trình hiện đại hóa văn học thế giới và văn học mỗi dân tộc

Nền văn hóa châu Âu thời trung cổ sơ kỳ và thời Roman (từ giữa thế kỷ XI đếngiữa thế kỷ XIII) nảy sinh trên cơ sở văn minh La Mã và sự tiếp nhận tôn giáo Cơ đốc,

dần hình thành dòng văn chương quý tộc Trên nền móng hình thái tư duy cổ trung đại,

khi mà cảm hứng về cái anh hùng, cái cá biệt là chủ đạo, hình thức thích hợp cho thể

loại là tiểu thuyết hiệp sĩ, ví dụ Tristan và Iseut Với dạng sơ khai này, tiểu thuyết

hiếm khi lấy con người cá nhân để làm cảm hứng, mà chủ yếu gắn với cái chung, cáianh hùng, cái phi thường, cái cao nhã, gần với thi ca

Thời kỳ Phục hưng châu Âu diễn ra trong các thế kỷ XV - XVI, được bắt đầu

Trang 16

bằng việc khám phá lại về con người Khi con người trở thành cảm hứng chủ đạo, tiểu

thuyết như một phương tiện thể hiện tư tưởng nhân văn đã ít đi tìm cái phi thường mà

đã hướng nhiều hơn đến đời sống hiện thực, cái nhìn đa diện hơn, giọng điệu nhiều sắc

thái, có cả bi cả hài, cả cao nhã lẫn thông tục Ví dụ cho cách tiếp cận mới này là Cuộc

đời của Lasarillo Tormes (1554) của tác giả vô danh người Tây Ban Nha, kể về những

khó khăn trắc trở của chàng trai bình dân nghèo khổ Ở Anh quốc, cũng trong chiều

chuyển biến đó là Người du hành bất hạnh, hay Cuộc đời của Jack Wilton (1594) của Nash Đáng kể hơn cả là Don Quixote xứ Mancha (1615) của Miguel de Cervantes - một hình thức mới để từ đó sẽ bắt đầu phát triển tiểu thuyết hiện thực Tác phẩm này

chế nhạo tiểu thuyết hiệp sĩ đã lỗi thời, hướng đến thực tế cuộc sống

Bước sang thời Khai sáng (thế kỷ XVIII), tiểu thuyết lập tức chứng tỏ mình làphương tiện thích hợp và đắc dụng hơn cả trong việc cổ súy tư tưởng thời đại Đặc

điểm nổi bật thời Khai sáng là hướng đến tri thức, đưa chúng vào đời sống xã hội Tiểu thuyết giáo dục, tiểu thuyết luận đề ra đời Tác phẩm Cuộc đời và những cuộc phiêu

lưu kỳ thú của Robinson Crusoe (1719) của Daniel Defoe như một bài học về khả năng

tương tác của con người với xã hội, với thiên nhiên, dạy người ta biết ứng xử, kiên trì

và lạc quan trong những hoàn cảnh ngặt nghèo Jean-Jacques Rousseau trong Julie hay

nàng Heloise mới (1761), Émile hay là về giáo dục (1762) bộc lộ trực diện quan điểm

về giáo dục công dân Bên cạnh đó, với phong cách thể hiện mới, những cuốn sách nàycòn có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành và phát triển văn học tiền lãng mạn và

văn học lãng mạn, cũng như hình thức tiểu thuyết luận đề.

Thế kỷ XIX được ví như kỷ nguyên của tư tưởng và ngôn ngữ, là giai đoạn cực thịnh của tiểu thuyết cổ điển Thể loại này đạt mức kinh điển ở mọi phương diện: ngôn

từ, cốt truyện, phân tích tâm lý Đây cũng là thời kỳ đặt ra ráo riết hơn ý thức trách

nhiệm của con người đối với xã hội, với sáng tạo Với nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa

lãng mạn, Victor Hugo đã cho thấy sự chiến thắng của cái thiện trước cái ác, của ánh

sáng trước bóng tối trong các tiểu thuyết Nhà thờ Đức Bà Paris, Những người khốn khổ,

Thằng cười Các nhà văn hiện thực chủ nghĩa Stendhal, H de Balzac, G Flaubert, C.

Dickens, W.Thackeray, L Tolstoy, N Gogol, F Dostoievsky mở rộng khuôn khổ cốttruyện, phân cảnh, tình tiết làm nên bức tranh hoành tráng của thời đại với những đặc

Trang 17

tính riêng của mình Tiểu thuyết xã hội - thế sự tái hiện mối xung đột giữa con người và

xã hội, cố gắng giải quyết nó hoặc nêu rõ sự bất khả thi của việc loại bỏ xung đột Nổi

bật thời kỳ này là một kiểu tiểu thuyết mới - tiểu thuyết đa thanh của F Dostoievsky,

báo hiệu tiềm năng những cuộc đối thoại lớn trong kỷ nguyên mới

Thế kỷ XX và XXI là thời của những đại biến động, làm thay đổi về chất nhiều

phương diện đời sống nhân loại, thời kỳ giã từ thi pháp trung đại, thời của những

khám phá về khoa học (thuyết Tương đối, thuyết Lượng tử ), thời của định hướngmới trong triết học (triết học bản thể cổ điển được thay thế bằng triết học tồn tại củacon người), thời kỳ chứa chất nhiều đối thoại, xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng đốinghịch (hiện tượng học, thuyết phi lý, chủ nghĩa hiện sinh, phân tâm học, hậu hiệnđại, phê bình nữ quyền, hậu thực dân) Tất cả, đòi hỏi tiểu thuyết những thích nghi mới

với dạng thức biến đổi cơ bản Đây cũng là thời kỳ xuất hiện phản-tiểu thuyết, tiểu

thuyết Mới.

Từ những điểm thuật sơ lược trên, có thể nói, tiến trình phát triển của thể loại tiểuthuyết cũng là tiến trình phát triển của văn học Sự thay đổi của thể loại nằm trong sựchi phối và đòi hỏi của thời đại Đặc điểm này có tính phổ quát, không loại trừ trongvăn học Việt Nam, bởi, như Iu Tynianov nói, “không thể nghiên cứu những thể loại bị

cô lập bên ngoài những dấu hiệu của hệ thống thể loại mà chúng có quan hệ tương tác.”

[194, tr.135]

Trở lại ý kiến đã nêu của M Bakhtin, rằng “tiểu thuyết là thể loại văn chươngduy nhất luôn luôn biến đổi, do đó nó phản ánh sâu sắc hơn sự biến chuyển của bảnthân hiện thực”, chúng tôi muốn lưu ý: việc chọn thể loại tiểu thuyết như là đối tượngkhảo sát cho một đề tài có liên quan đến vấn đề canh tân văn hóa, văn học là một sựlựa chọn đầy ý thức

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Nhất Linh không chỉ sáng tác tiểu thuyết,nhưng đây là thể loại mà với nó, ông có những tác phẩm sáng giá nhất Tiểu thuyết cũng

là thể loại minh chứng rõ nhất cho quá trình tiến bộ của chính ông trong một thời kì màlịch sử đã trao vào tay tiểu thuyết một “sứ mệnh”: canh tân văn học gắn với canh tân đấtnước Cùng thời ấy, nhà duy tân Trung Hoa Lương Khải Siêu viết:

“Muốn làm mới dân một nước, cần phải hẵng làm mới tiểu thuyết nước ấy cho nên:

Trang 18

Muốn mới đạo đức, trước phải mới tiểu thuyếtMuốn mới tôn giáo, trước phải mới tiểu thuyếtMuốn mới chính trị, trước phải mới tiểu thuyếtMuốn mới học thuật, trước phải mới tiểu thuyếtCho đến muốn mới dân tâm, trước phải mới tiểu thuyếtMuốn mới nhân cách, trước phải mới tiểu thuyết.

Nguyễn Bá Học gọi đó là “văn vị đời”, “văn hữu dụng”, thậm chí quan trọng hơn thi

ca, những thứ “chỉ dùng ngâm nga, không suy ra thực” [130, tr.119] Chọn tiểu thuyếtlàm nhân vật chính trong cuộc canh tân văn hóa - văn học, Tự lực văn đoàn đã nhìnthấy “sức mạnh chi phối người ta” của thể loại Với Nhất Linh, “sức mạnh chi phốingười ta” của tiểu thuyết là ở chỗ, nó không chỉ là tác phẩm nghệ thuật văn chương,

mà còn là trăn trở của một nhà văn hóa lớn trước vận mệnh dân tộc, là vũ khí tấn côngnhững thiết chế phong kiến hủ bại, cổ vũ con người cá nhân, hướng con người đến vớikhát vọng tự do, dân chủ và nuôi dưỡng khát vọng thúc đẩy sự phát triển của cộngđồng

1.1.2 Lý luận về mối quan hệ giữa văn học và văn hóa

Khái niệm văn hoá

Văn hóa là một khái niệm quen thuộc và phổ biến Tuy nhiên, đây cũng là mộtkhái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau Tác giả Hữu Ngọc trong một công trình

nghiên cứu của mình với tên gọi Lãng du trong văn hóa Việt Nam đã nhắc đến một

giáo sư người Indonesia cho rằng trên thế giới có tới 160 định nghĩa về văn hóa

Từ “văn hóa” khởi nguồn từ tiếng Latin “cultura” nghĩa nguyên thủy là khai khẩn,trồng trọt, chăn nuôi gia súc, nghĩa bóng là sự cải thiện và nâng cao hành vi, tập quán,đồng nhất với giáo dục con người toàn diện Từ này, sau đó được sử dụng rộng rãi trênthế giới Qua biến đổi của từng thời đại, từng mục đích và phạm vi sử dụng mà ý nghĩacủa nó có sự biến đổi

Trang 19

Đó là ý nghĩa cultura ở cấp độ “từ” Còn ở cấp độ khái niệm, nhiều người cho

rằng, nó thuộc về nhà nhân chủng học người Anh Edward Tylor (1832 - 1917) Trong

tác phẩm Văn hóa nguyên thủy (Primitive Culture), xuất bản lần đầu năm 1871, E.

Tylor đưa ra khái niệm về văn hóa như sau: “Văn hóa, hay văn minh, được hiểu theonghĩa rộng, dân tộc học, là toàn bộ phức tạp bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật,đạo đức, luật pháp, phong tục và bất kỳ khả năng và thói quen nào khác mà con người

có được khi trở thành thành viên của xã hội Trong chừng mức là nó có thể đượcnghiên cứu dựa trên các nguyên tắc tổng quát, điều kiện và mức độ văn hóa trongnhững xã hội con người khác nhau là một đối tượng thích hợp cho việc nghiên cứu vềcác quy luật tư duy và hành động của con người.” [219, tr.1] Đây là định nghĩa đượctrích dẫn nhiều nhất vì nó cho thấy rõ ý niệm văn hóa như một quá trình tự túc và tự

quy định nên có sự biến đổi trong thời gian và không gian Gần đây, trong Tuyên bố

Toàn Cầu về đa dạng Văn hóa của UNESCO, có chỉ rõ: “Văn hóa được coi là hệ thống

các đặc điểm về tinh thần, vật chất, trí tuệ và cảm xúc của xã hội hay một nhóm ngườitrong xã hội và văn hóa bao gồm nghệ thuật, văn học, phong cách sống, cách thứcchung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng” [257]

Như vậy, ta thấy văn hóa là một khái niệm bao trùm nhiều lĩnh vực của đời sốngtinh thần con người, là sự bảo tồn những gì tốt đẹp nhất từng được xã hội nhận thức vàcông nhận Mà xã hội của từng khu vực không hoàn toàn giống nhau, và xã hội quatừng thời đại lại có những chuẩn mực thẩm mỹ khác nhau A Gurevich viết: “Xã hộiloài người thường xuyên vận động, biến đổi và phát triển, trong những thời đại vànhững nền văn hóa khác nhau, con người ta cảm thụ và nhận thức thế giới theo nhữngcách khác nhau, tổ chức những ấn tượng và tri thức theo lối riêng, xây dựng theo tùyhoàn cảnh lịch sử mỗi bức tranh riêng về thế giới” [64, tr.8]

Ở Việt Nam cũng có nhiều định nghĩa về văn hoá Hồ Chí Minh viết: “Vì lẽ sinhtồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngônngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công

cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ nhữngsáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [114, tr.431] Phan Ngọc định nghĩa về vănhóa như sau: “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân

Trang 20

hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này

mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất trongmối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểulựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của cá nhân hay củatộc người khác” [122, tr.17] Trần Ngọc Thêm coi văn hóa là “một hệ thống hữu cơcác giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạtđộng thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội

Tất cả những định nghĩa trên đều cho thấy văn hóa là sản phẩm của con người

Chính con người trong quá trình tiến hóa và khẳng định các giá trị của mình đã sángtạo ra văn hóa rồi để từ văn hóa, mỗi con người, rộng hơn là mỗi cộng đồng, dân tộclại thể hiện những nét đặc trưng riêng, bản sắc riêng của mình Và trong tất cả nhữngsản phẩm của văn hóa, văn học là một trong những sản phẩm thuộc tầng cao nhất củavăn hóa Như vậy, thông qua văn học người ta có thể hiểu được văn hóa của một giaiđoạn, một cộng đồng dân tộc, ngược lại, cũng từ văn học, những giá trị văn hóa đượcthể hiện, khẳng định, lựa chọn lưu truyền và gìn giữ

Từ ý kiến trên, chúng tôi nhìn đối tượng khảo sát của mình (tiểu thuyết Nhất Linh)trong sự biến chuyển những giá trị thẩm mỹ của văn hóa giao thời - tức từ thời trung đạibước sang thời hiện đại, tất yếu có những thay đổi mang tính chất bước ngoặt Đó lànhững chuyển biến theo những phương thức mới thích hợp hơn: “duy tân đất nước” theocon đường phương Tây, bên cạnh đó là “tìm về” bảo vệ bản sắc dân tộc

Mối quan hệ giữa văn hoá và văn học từ lý thuyết đến ứng dụng

Từ những định nghĩa về văn hóa đã nêu trên, có thể thấy, giữa văn học và vănhóa có một mối quan hệ chặt chẽ và biện chứng Là một thành tố cơ bản của văn hóa,văn học là tấm gương phản chiếu văn hóa và đóng vai trò quan trọng trong việc phảnánh nền văn hóa của một dân tộc trên những bình diện như phong tục tập quán, tôngiáo, tín ngưỡng… Ở phía ngược lại, văn hóa giữ vai trò là cội nguồn của văn học,cung cấp những tri thức, vốn sống, cảm hứng… cho nhà văn

Văn học là một bộ phận của văn hóa vì thế nghiên cứu văn học không thể táchrời văn học với những mối liên hệ với nhiều bộ phận (cái riêng) khác, và nhất là không

Trang 21

thể không đặt nó trong mối quan hệ với văn hóa (cái chung) với tư cách là toàn bộsáng tạo vật chất và tinh thần của nhân loại Văn học là một bộ phận không thể thiếu,nếu không nói là cốt lõi nhất của văn hóa Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa là mốiquan hệ chặt chẽ, biện chứng Mỗi tác phẩm văn học đều là sản phẩm của một hoàncảnh văn hóa - lịch sử cụ thể Nó sẽ chịu sự tác động của hoàn cảnh văn hóa - lịch sử

ấy Hơn nữa, bất kỳ một sản phẩm văn hóa - văn học nào thì cũng đều do con ngườitạo ra Bản thân con người cũng lại là một sản phẩm của một hoàn cảnh cụ thể Và,như Đỗ Lai Thúy lưu ý, “một khi văn học chỉ là một yếu tố của hệ thống văn hóa vàchỉ “quan hệ” được với hệ thống xã hội thông qua văn hóa, thì khung nghiên cứu vănhọc cũng phải thông qua khung văn hóa” [192, tr.247] Văn hóa tác động đến văn họckhông chỉ ở đề tài mà còn trên mọi bình diện kể cả hoạt động sáng tạo của nhà văn vàhoạt động tiếp nhận của người đọc Như vậy, văn học chính là thước đo, là sự kiểmnghiệm về trình độ văn hóa của một xã hội Trên tinh thần đó, nhìn vào các dữ liệu vănhọc, người đọc có thể cảm nhận được bức tranh văn hóa của dân tộc ấy

Nếu văn hóa chi phối hoạt động của văn học thì văn học cũng tác động trở lại vănhóa thông qua những bộ phận hợp thành của nó như ngôn ngữ, biểu tượng, nhân vật,…

Bằng các biện pháp nghệ thuật, nhà văn đấu tranh chống lại những hiện tượng phản vănhóa, khẳng định những giá trị văn hóa tốt đẹp Trần Đình Sử trong bài “Vai trò sáng tạovăn hóa của văn học” đã khái quát vai trò sáng tạo văn hóa của văn học dưới các khíacạnh: phát huy vai trò sáng tạo những mô hình nhân cách con người; “phê phán văn hóa”;

lựa chọn văn hóa và sáng tạo văn học Từ các khía cạnh ấy, ông kết luận: “Chăm lo vănhọc là chăm lo văn hóa Tạo điều kiện cho văn học phát triển thật sự là một khâu tác độngmạnh mẽ đến đời sống văn hóa xã hội phát triển” [158, tr.184]

Giữa văn học và văn hóa có mối quan hệ hữu cơ và mật thiết như vậy nên bêncạnh hướng tiếp cận văn học từ xã hội học, thi pháp học,… thì cách tiếp cận văn học từvăn hóa giúp chúng ta lý giải trọn vẹn hơn tác phẩm nghệ thuật với các mã văn hóađược hàm chứa trong nó Vì vậy, nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa đang là một

xu hướng tất yếu trong văn học thế giới và văn học Việt Nam Nó mở ra những tiềmnăng trong việc nghiên cứu tác phẩm văn học, đưa đến cái nhìn mới và sâu sắc về conngười và cuộc sống của nhà văn

Trang 22

Hướng tiếp cận văn học trong mối quan hệ với văn hóa, trên thế giới cũng như ở

Việt Nam không phải là mới Các công trình thi pháp học lịch sử của I Lisevich (Tư

tưởng văn học Trung quốc cổ xưa, Nxb TP.HCM, 1993); N Konrat (Phương Đông và Phương Tây, Nxb GD, 1996); A Gurevich (Những phạm trù văn hóa trung cổ, Nxb

GD, 1996); M Bakhtin (Sáng tác của François Rabelais và nền văn hóa dân gian thời

Trung cổ - Phục hưng, Nxb KHXH, 2006) cho thấy vị trí phối cảnh của các thể loại

văn học cổ đại và trung đại, và từng thời kỳ, từng giai đoạn văn hóa giống như bệ đỡcho thể loại ra đời, đồng thời in dấu vết thời đại lên thể loại Khi lấy tác phẩm nghệthuật làm đối tượng nghiên cứu, A Gurevich nhấn mạnh, tuyệt nhiên “không đượctách nó ra khỏi văn cảnh văn hóa lịch sử rộng lớn, bởi vì chỉ có trong khuôn khổ củacái chỉnh thể rộng lớn mà chúng ta gọi là văn hóa trung cổ mới có thể hiểu được đúngđắn những thành tố của nó” [64, tr.13] Đúng như vậy, nhà nghiên cứu Việt Nam sẽkhông hiểu được nền văn học Nho giáo nếu không biết đến triết học Nho giáo tạo nênkhí quyển Nho giáo một thời; tương tự, sẽ không hiểu được văn học Phật giáo nếukhông tìm hiểu những lĩnh vực khác mà triết lý Phật giáo ăn sâu trong ý thức và tiềmthức dân tộc

Việc liên kết hai lĩnh vực văn học - văn hóa này đã tìm thấy ở Trần Trọng Kim

khi ông đặt Truyện Kiều của Nguyễn Du dưới tọa độ văn hóa Phật giáo (“Lý-thuyết Phật-học trong Truyện Kiều”, tập san Khai Trí Tiến Ðức số 1 (Octobre-Décembre,

1940); Hoài Thanh nhìn thấy “Một thời đại thi ca” được hình thành từ luồng gió văn

hóa Đông - Tây Đinh Gia Trinh trên tờ Thanh Nghị số 26 (12/1942) có bài “Đọc tiểu

thuyết Việt Nam cận đại” đã đưa nhận xét: “Tiểu thuyết đựng những nguyện vọng,những hoài bão của ta Nó luôn luôn là phản ảnh của đời sống tinh thần và vật chất của

xã hội Muốn suy xét một dân tộc, một nhà mỹ học khuyên ta nên để ý đến nền âmnhạc và lối kiến trúc ở nước ấy Ta phải thêm vào: nên xét đến văn chương của nước

ấy và nhất là môn tiểu thuyết của nước họ” [129, tr 368].

Càng về sau vấn đề mối quan hệ giữa văn hóa và văn học càng được quan tâm,nhất là khi hệ thống lý luận dựa theo lý thuyết phương Tây được áp dụng vào thực tiễn

Việt Nam Phan Ngọc trong công trình Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện

Kiều (1984) đã vận dụng những yếu tố văn hóa - xã hội để tìm ra những đặc trưng

Trang 23

phong cách của đại thi hào Trần Đình Hượu nhất quán đi theo hướng nghiên cứu này

từ trước 1995 Các tác phẩm Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb GD, 1995; Đến hiện đại từ truyền thống, Nxb Văn hóa, 1996; Các bài giảng về tư tưởng

phương Đông, Nxb ĐHQG, 2001 cho thấy ông luôn nhìn quá trình sáng tạo văn

chương trong mối tương tác với bối cảnh rộng hơn: xã hội - văn hóa - ý thức hệ Lứa

học trò ưu tú của ông như Trần Ngọc Vương (với Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam, 1995; Văn học Việt Nam - dòng riêng giữa nguồn chung, 1998; Thực thể Việt - nhìn từ

các tọa độ chữ, 2010 ), Trần Nho Thìn (với Nguyễn Du và quan niệm của nho giáo về nhân cách),… đều theo lối đi này và gặt hái được nhiều thành tựu Giờ đây nghiên cứu

theo hướng liên văn hóa càng trở nên phổ biến

Nhà nghiên cứu Phạm Vĩnh Cư đề cao cách tiếp cận liên văn hóa của hai nhà lýluận Nga Iu Tynianov và M Bakhtin Ông chuyển dẫn quan điểm của họ như sau:

“Không thể tách rời văn học ra khỏi hệ thống văn hóa và “vượt mặt” văn hóa liên hệtrực tiếp với các nhân tố chính trị - kinh tế - xã hội Những nhân tố ấy tác động trực tiếpđến văn hóa trong chỉnh thể của nó và chỉ thông qua nó mà ảnh hưởng đến văn học” [31,tr.182] Ông nhấn mạnh, khi nghiên cứu văn học, nên coi quan điểm của hai nhà lý luậnNga như một phương pháp luận chung, cụ thể là, cần nhìn đối tượng trong ba hệ thốngchỉnh thể liên đới: hệ chỉnh thể của tác phẩm, hệ chỉnh thể của văn học và hệ chỉnh thểcủa văn hóa Ông yêu cầu “tái thiết được ba hệ chỉnh thể ấy trong quan hệ tương hỗsống động và trong sự vận động của nó trong thời gian” Và trong ba hệ chỉnh thể này,

ông coi văn hóa là hệ nền, bởi “ngữ cảnh văn hóa ảnh hưởng tạo tác đến cả văn học

trong tổng thể của nó và đến từng thành tố của tác phẩm văn học” [31, tr.185]

Những công trình nghiên cứu kể trên đã cho thấy sự phát triển của xu hướng tìmhiểu văn học từ góc nhìn văn hóa Với xu hướng này, có thể soi rọi lại những giá trịvăn hóa được phản ánh ở chiều sâu trong văn học, vốn là “sự thâm nhập và tồn tại củavăn hóa trong các hiện tượng đời sống” để từ đó vừa làm phong phú thêm cách nhìn vềvăn học, vừa góp phần khẳng định bản sắc văn hóa và sức sống mãnh liệt của văn hóaViệt Nam trong văn học và đời sống người Việt

Kế thừa thành tựu của những người đi trước theo xu hướng này, chúng tôi sẽ

triển khai luận án Tiểu thuyết Nhất Linh với việc hiện thực hóa chủ trương canh tân

Trang 24

văn hóa, văn học của Tự lực văn đoàn trên ba hệ chỉnh thể liên đới đó, đi từ rộng hơn

đến hẹp dần, tức từ hệ nền văn hóa đến tác phẩm văn học cụ thể, đó là: hệ chỉnh thể

văn hóa thời đại gia tốc của tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1932 - 1945, hệchỉnh thể văn học Tự lực văn đoàn, hệ chỉnh thể tác phẩm Nhất Linh Ví dụ, xung đột

mới - cũ trong Đoạn tuyệt, Lạnh lùng không phải đặc điểm của một mình Nhất Linh,

nó nằm trong hệ thống đề tài của Tự lực văn đoàn (Gia đình, Thừa tự, Nửa chừng xuân của Khái Hưng, Chồng con của Trần Tiêu ), và được giải thích bởi bối cảnh văn hóa

những năm 30 thế kỷ XX khi hệ tư tưởng Nho gia vẫn còn chưa đứt rễ hẳn trong môhình gia đình nửa phong kiến nửa tư sản Hay như muốn hiểu những cuộc “ra đi” của

các khách chinh phu trong Đôi bạn của Nhất Linh, ta phải nhìn thấy nó như là sự nối tiếp từ các trang sách khác của Tự lực văn đoàn, như Tiêu sơn tráng sĩ, Giấc mộng Từ

Lâm, Làm gì mà băn khoăn thế , và tất cả những “băn khoăn” những “giấc mộng” ấy

trong Trần Lưu, Phạm Đài, Dũng, Thái, Tạo, Trúc chỉ có thể được hiểu trọn vẹn hơnkhi đặt tất cả vào bối cảnh không khí chiến tranh đang len lỏi đến, làm dấy lên ý thức

về cộng đồng, khát vọng lý tưởng của một tầng lớp thanh niên trí thức yêu nước

thương nòi, âm vọng trong Kinh Kha (Thao Thao), Tiễn đưa (Phan Văn Dật), Lưu biệt,

Tống biệt hành (Thâm Tâm)

1.1.3 Lý luận về sự canh tân văn học

Canh tân là một quy luật tất yếu của sự vận hành và phát triển Thời đại khôngngừng thay đổi và đòi hỏi những cuộc canh tân để phù hợp với bước đi của nó, loại bỏnhững cái đã lỗi thời, thay vào đó là những giá trị mới mẻ và hợp lý hơn

mới ở một lĩnh vực nào đó của hình thái ý thức, có quy mô rộng lớn, làm thay đổi cănbản đối tượng so với hình thức cũ (đang / đã) tồn tại trước đó Ở mức nào đó, nó có thểđược gọi là “cuộc cách mạng”, ví dụ: “canh tân văn hóa”, “canh tân văn học”, “canh tân

chính trị”, “canh tân đất nước” Canh tân tất kéo theo một loạt sự cải biến / đổi mới

cách tân”, “cách tân thể loại”, “cách tân phương pháp sáng tác” Đến lượt mình, cách

Trang 25

Như đã nói, ở mức độ nào đó, canh tân được coi là cuộc cách mạng Tuy nhiên,

cách mạng thường có ý nghĩa là thay đổi bằng “nhảy vọt”, bỏ qua những bước trung

chuyển, trong khi đó canh tân lại mang sắc thái thay đổi bằng cải tạo (cải tiến) trên cơ

sở cái cũ, dần dần thích nghi với cái mới Thay đổi bằng hình thức cách mạng thườngdiễn ra nhanh chóng, khi thành công thì giữ gìn thành quả không dễ dàng; khi thất bạithì hậu quả kéo dài Nếu sự thay đổi căn bản một nền văn hóa - văn học diễn ra cùngvới sự thay đổi hệ hình ý thức xã hội, thì nên tiến hành một cách tiệm tiến, tuần tự trảiqua các bước trung chuyển hợp lý, cùng thời gian đó kịp thời giáo dục và tập dượtđược tinh thần dân chủ, ý thức cộng đồng, và với nội lực mạnh mẽ ấy, nền độc lập tự

do của dân tộc sẽ được gìn giữ bền chắc hơn

Cuộc canh tân văn học Việt Nam diễn ra từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX vànhất là vào những năm 30 - 40 thế kỷ XX thực chất là một thay đổi hệ hình (paradigm)

Theo Trần Ngọc Vương, những thành tố sau đây làm nên hệ hình của một nền vănhọc:

1) Hệ thống những tư tưởng mang tính thẩm mỹ và quan niệm văn học chung của

5) Ngôn ngữ văn học - tức “chất nền” (substance) của mọi nền văn học [215, tr 397].

Dùng những tiêu chí trên đối chiếu vào nền văn học trung đại kéo dài suốt mườithế kỷ, với những ràng buộc đầy tính quy phạm như ước lệ, phi ngã, sùng cổ, cách điệu,cao nhã ta thấy hệ hình văn học ấy đã trở nên sờn mòn, khuôn sáo, ngày càng trở nên

xa lạ với đại đa số quần chúng, nhất là với giới độc giả thế hệ mới Sang đầu thế kỷ

XX, các nhà văn Việt Nam đã cố gắng thoát ra khỏi mọi ràng buộc của hệ hình cũ,khỏi thói quen thẩm mỹ cũ, đi tìm những giá trị mới, mỹ cảm mới, thay thế con ngườicộng đồng bằng con người cá nhân Một trong những cái cần thiết nhất cho một nềnvăn học như một chỉnh thể - đó là bên cạnh hệ thống thể loại thơ ca, cần có bổ sungcấp thời một hệ thống thể loại tự sự, hơn nữa, mang tính hiện đại Trong các công trìnhcủa mình, Trần Đình Hượu đã chỉ ra tính liên tục trong phát triển của tiến trình văn

Trang 26

học dân tộc, trong đó có giai đoạn giao thời Ông mô hình hóa các chặng đường củatiến trình đó như một sự nối tiếp, truyền lửa của các thế hệ Thế hệ đầu tiên dừng tạiPhan Bội Châu và Tản Đà Bằng việc “Cung chiêu anh hồn Tản Đà”, phe Thơ mớinắm lấy lá cờ tiên phong đi tiếp chặng đường không ngắt quãng, hòa giải với thơ cũ,những mong truyền thống và hiện đại cùng gia nhập chung vào tiến trình hiện đại hóa.

Sự biến đổi sâu sắc nhất nhìn thấy ở lĩnh vực văn xuôi, nhất là tiểu thuyết Và nhữngcách tân thể loại đã diễn ra lần lượt trong cuộc canh tân, đầy kiên gan từ cuối thế kỷXIX, ngày càng ráo riết ở những thập niên 30 thế kỷ XX

Có thể nói, canh tân văn học đi ra từ ý thức canh tân văn hóa được khởi phát từđầu thế kỷ XX bởi các nhà Duy Tân Cứu cánh của phong trào Duy Tân là lấy lại độclập tự do cho đất nước nhưng không bằng biện pháp bạo lực, mà bằng sự tự cường củadân tộc, được thực hiện bằng con đường “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”

Phan Chu Trinh chủ trương nâng cao dân trí; thức tỉnh tinh thần tự cường dân tộc, làmcho con người hiểu được quyền lợi của chính mình; cải tổ xã hội về mọi mặt: kinh tế,giáo dục, văn hóa; hướng đến nền chính trị dân chủ Tất cả cho thấy một tư tưởng coitrọng dân, quan tâm tới dân, phấn đấu vì dân, trao văn hóa, văn minh cho dân, tiến tớidân sẽ làm chủ được cuộc đời mình, đất nước mình

Với chủ trương trên, nền giáo dục cũng cần thay đổi: bỏ lối học khoa bảng từchương, thay đổi thành tư duy khoa học và nhân bản hơn Những điều này liên hệ trựctiếp đến sáng tác và tiếp nhận văn chương theo lối mới, lối hiện đại phương Tây Nhưvậy, nhu cầu canh tân văn học nằm ngay trong nhu cầu canh tân văn hóa, và gặp gỡnhu cầu hiện đại hóa văn học Thế hệ trí thức những năm 30 - 40 thế kỷ XX được thế

hệ đi trước và lịch sử trao vào tay sứ mệnh canh tân văn hóa - văn học này, hoàn thiện

nó, đưa nó đến thắng lợi cuối cùng Về những nhu cầu này, luận án sẽ trình bày cụ thểhơn trong phần 2.1 Ở đây chỉ xin nói thêm một điều, những nhu cầu “kép” như thế(canh tân văn hóa, canh tân văn học, hiện đại hóa văn học - ba trong một) trong tìnhtrạng đất nước nửa phong kiến nửa thuộc địa, đại đa số người dân còn tăm tối sẽ cókhả năng sinh ra thêm những “nhu cầu” khác, khiến dễ xảy ra những chùng chình haykhúc quanh do thời thế đưa lại, cần thiết có nhân tố chủ quan tác động để có thể xoaychuyển lại Sinh ra trong một thời đại như thế, những người có đầu óc cách tân thường

Trang 27

bao quát phạm vi hoạt động rất rộng, và không hiếm khi dấn thân vào lĩnh vực chínhtrị.

1.2 Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Nhất Linh

1.2.1 Nghiên cứu quan niệm của Nhất Linh về tiểu thuyết

Việc một người cùng lúc song hành làm lý luận và sáng tác không hiếm trên thế

giới Ví dụ như Milan Kundera Ông vừa viết lý luận về tiểu thuyết (Nghệ thuật tiểu

thuyết, 1985, Những di chúc bị phản bội, 1992) vừa thực hành sáng tác tiểu thuyết

(Đời nhẹ khôn kham, 1984, Sự bất tử, 1990, Chậm rãi, 1993, Bản nguyên, 1998) , và

tiểu thuyết của ông hầu hết được thực hiện trên cái khung lý thuyết do ông đặt ra, chothấy sự nhất quán trong cả lý luận và tác phẩm văn chương của ông

Nhất Linh được gọi là “nhà tiểu thuyết” Cách định danh này bao hàm haiphương diện: “người viết tiểu thuyết” và “người bàn về tiểu thuyết” Người viết tiểuthuyết thì đương nhiên là nhà văn, nhưng người bàn về tiểu thuyết thì có thể là nhà lýluận hoặc không Cũng như Kundera, Nhất Linh là nhà văn chuyên nghiệp nhưngkhông phải là nhà lý luận hàn lâm Khi “bàn về tiểu thuyết” của ông không sử dụngthao tác định nghĩa, không trình bày khái niệm, không xây dựng hệ thống lập luậnkhách quan, mà chỉ là lời trò chuyện về trải nghiệm bản thân từ việc “Viết và đọc tiểuthuyết” Vì không phải là nhà lý luận hàn lâm nên những lời bàn về tiểu thuyết của

Nhất Linh ít được nghiên cứu, chưa kể, những lời bàn này nằm trong tiểu luận Viết và

đọc tiểu thuyết được viết sau thời kì Tự lực văn đoàn (1952 - 1961), cũng là thời kì mà

tên tuổi của ông hầu như vắng bóng trong đời sống văn học miền Bắc Ở miền Nam,khi tiểu luận này xuất bản lần đầu năm 1961 đã nhận được sự quan tâm của giới lí luậnphê bình, trong đó nổi bật là ý kiến của Tràng Thiên, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn VănTrung Tuy nhiên, các tác giả này cũng chỉ trích dẫn một vài ý kiến của Nhất Linh đểlàm rõ hơn quan niệm của mình chứ không đi vào nghiên cứu quan niệm của ông

Tràng Thiên trong tiểu luận Tiểu thuyết hiện đại (1963) khi nhắc đến ý kiến của Nhất

Linh về cốt truyện trong sự so sánh với Phạm Quỳnh cho rằng hai vị “đi tới nhận địnhtrái ngược nhau” và “Từ Phạm Quỳnh tới Nhất Linh, một quan niệm khác về tiểuthuyết đã có thì giờ ảnh hưởng tới đường lối sáng tác ở nước ta” [179, tr.27] Doãn

Quốc Sỹ trong Văn học và tiểu thuyết trích dẫn khá nhiều ý kiến của Nhất Linh trong

Trang 28

chương 3 “Những yếu tố chính của tiểu thuyết: cốt truyện, nhân vật và bối cảnh” Mặc

dù, trước đó, trong chương “Định nghĩa và phân loại tiểu thuyết” thì cho rằng, NhấtLinh cũng như Thạch Lam, Vũ Bằng, Tràng Thiên có bàn về tiểu thuyết thì chỉ như

“Những con cá no mồi chợt hứng vùng lên như một thứ “cá bay” để nhìn xuống vùngbiển của mình, rồi phát biểu vài nhận xét chơi cho vui thế thôi” [164, tr.126] Như vậy,

có thể thấy, quan niệm về tiểu thuyết của Nhất Linh đã góp phần vào sự đa dạng củaviệc nghiên cứu thể loại tiểu thuyết ở miền Nam giai đoạn 1954 - 1975

Sang thời kì đổi mới, Nhất Linh được quan tâm và nghiên cứu trở lại ở cả 2 miềnNam - Bắc Tuy nhiên, trên tinh thần “nhìn lại”, “xét lại”, các nhà nghiên cứu cũng chỉtập trung vào sáng tác văn chương chứ ít bàn về ý kiến của ông về tiểu thuyết Dựatrên những ý kiến trước đó, luận án sẽ tìm hiểu kỹ lưỡng hơn quan niệm của Nhất Linh

về tiểu thuyết qua những lời bàn của ông để trên cơ sở đó đối chiếu, nghiên cứu sángtác văn chương của ông

Quan niệm về tiểu thuyết của Nhất Linh được hình thành, bồi đắp dần trong cả

một quá trình từ khi chưa viết tiểu thuyết (trước 1925) sang thời ông đang viết tiểu

thuyết (1925 - 1940), đến thời kỳ sau Tự lực văn đoàn (1949-1960, tức thời gian ông

viết tiểu luận Viết và đọc tiểu thuyết Chúng tôi tập trung nghiên cứu quan điểm về tiểu

thuyết của Nhất Linh được ông trình bày có chủ đích và kỹ càng trong cuốn tiểu luận

Viết và đọc tiểu thuyết (in lần đầu năm 1961, Nxb Đời Nay, Sài Gòn) Tuy viết vào

thập niên 60 nhưng tinh thần cơ bản của tiểu thuyết được ông đề cập vẫn là tinh thầntiểu thuyết tiền chiến, nó là những đúc rút, như Nhất Linh nói, “sau gần bốn mươi nămkinh nghiệm viết tiểu thuyết, trải qua bao phen lầm lỗi và tìm tòi” [230, tr.6] Cáchtrình bày quan điểm theo lối trò chuyện, giãi bày của người xưng “tôi” này thật khácvới cách trình bày của các cuốn lí luận thông thường

Viết và đọc tiểu thuyết đặt ra các vấn đề: Tiểu thuyết có lợi ích gì? Thế nào là

một cuốn tiểu thuyết thành công? Làm thế nào viết được một tiểu thuyết hay? Câu trảlời đều liên quan đến một từ “SỐNG”

Với câu hỏi thứ nhất, Nhất Linh cho rằng tiểu thuyết (thực ra là văn chương nóichung) là “một thứ ích lợi vì nó làm cho đời người có giá trị, sung sướng, văn minh

hơn” [232, tr.26] Ông đồng tình với Thạch Lam khi trích dẫn từ Theo giòng: “Tiểu

Trang 29

thuyết có ích lợi rất lớn, và theo ý tôi, quan trọng nhất, tiểu thuyết dạy ta biết sống,nghĩa là dạy ta biết sung sướng [ ], cái đời sống cần là cái đời sống bên trong, cái đờisống của tâm hồn” [232, tr.26] , vì khác với những việc đáp ứng nhu cầu vật chất,tiểu thuyết “đem lại sự phong phú dồi dào đến cho tâm hồn chúng ta.”, và “giá trị củamột cuốn tiểu thuyết là đi sâu vào tâm hồn người đời” [232, tr.69].

Để trả lời câu hỏi thứ hai, Nhất Linh cho rằng một cuốn tiểu thuyết hay, “sống”

được muôn đời là loại vượt qua mọi biên giới về không gian và thời gian, ông viết:

“Một cuốn sách hay phải có giá trị trong không gian và thời gian” [232, tr.36] Đó

cũng là suy nghĩ của văn sĩ Hộ trong Đời thừa (Nam Cao), khi nghĩ đến những tác

phẩm có thể ăn giải Nobel và được dịch ra mọi thứ tiếng, “một tác phẩm vượt lên bêntrên tất cả bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người” Những

tác phẩm như thế, theo Nhất Linh là Anna Kha Lệ Ninh của L Tolstoy, Ba anh em

Kazamazov của F Dostoievsky chúng, ông cảm thấy được “chiếu sáng những sâu xa

của cuộc đời, khiến mình hơi sờ sợ tưởng tác giả như một đấng tạo hóa đã mở cửa chomình thấy những cái mà mình không bao giờ hiểu thấu được” [232, tr.40], bởi chúng

“diễn tả được tất cả những cái mông lung bí ẩn trong tâm hồn” [232, tr.68]

Về vấn đề thứ ba, để có được tác phẩm hay, Nhất Linh đi từ những trải nghiệmbản thân trong việc “viết và đọc”, đúc rút thành “công thức” sau:

Thứ nhất, về trọng trách của văn chương, phải trả tiểu thuyết về đúng vai trò của

nó, tránh “viết tiểu thuyết để làm luân lý” hoặc đặt cho nó một nhiệm vụ ngoài nghệthuật, hy vọng ở nó “cách giải quyết một vấn đề” nào đó [232, tr.19] Một quan điểm

khác hẳn với văn chương truyền thống “văn dĩ tải đạo”, trái ngược với tiểu thuyết luân

lý, đòi hỏi nhân vật phải đạt được các tiêu chí trung hiếu nhân trí dũng và công

-dung - ngôn - hạnh Nhân vật Trương xuất hiện trong Bướm trắng chẳng để chứng

minh lý tưởng cao siêu hay thực hiện một sứ mệnh dời non lấp bể nào cả, mà chỉ chongười ta thấy những cô đơn, dằn vặt của một thanh niên đang khát khao được sống

Thứ hai, về chọn đề tài, để sống thành thực, sống hết mình với tác phẩm, nhà văn

không nên chạy theo thói thời thượng, phải biết chọn cái mình thực sự am hiểu và đam

mê Ông viết: “Cần tránh nhất là theo thời, thấy có phong trào bình dân mình cũng viếttruyện về dân thợ, dân quê mặc dầu mình không để ý đến họ bao giờ mà cũng khôngthích viết về họ Mình đã làm một việc giả dối Mà nếu mình giả dối, mình không bao

Trang 30

giờ có những rung động thật, khó lòng tác phẩm mình hay được.” [232, tr.46].

Thứ ba, về kỹ thuật dựng nhân vật, ông cho rằng, tác phẩm hay không phải vì có

cốt truyện “ngoắt ngoéo, ly kỳ cảm động vừa tầm hiểu của độc giả”, mà vì biết làmcho nhân vật trên trang sách thật sự có đời sống của mình

Thứ tư, về hành văn, ông đề nghị một lối viết giản dị, trong sáng, tránh “những

câu văn vẻ” theo lối văn chương Tàu “quãng 1922 - 1930”, “nghe êm tai, nhịp nhàngđăng đối nhưng trống rỗng” hoặc lối đặt câu lập dị “Tây hóa” Về yêu cầu này, đốichiếu với tiểu thuyết của Nhất Linh, ta thấy ở ông có một bước nhảy vọt về ngôn ngữ,thoát khỏi ảnh hưởng của từ Hán Việt và câu văn biền ngẫu, hình thành nên một thứngôn ngữ trong sáng, giàu sức biểu cảm và đậm tính dân tộc

Những yêu cầu cơ bản trên đây về một tiểu thuyết mà Nhất Linh cho là hay, làm

ta nhận diện ông hoàn toàn không phải là nhà cổ điển chủ nghĩa, và quan điểm của ônggần với chủ nghĩa hiện thực hơn là chủ nghĩa lãng mạn Điều này được chứng tỏ bởi

hai nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực: phản ánh hiện thực khách quan và nhìn con người trong sự vận động phức tạp Thứ nhất, trong suốt thiên tiểu luận, Nhất Linh luôn

đề cao thái độ khách quan trước hiện thực, không nên can thiệp lộ liễu vào xếp đặt câuchuyện, vì “sự thực, đời người có xếp đặt đâu Mà tiểu thuyết lại là thứ sách để tả cuộc đời”

[232, tr.47] Ông dẫn viện Theo giòng, ở những chỗ Thạch Lam tỏ lòng ngưỡng mộ một

“hiện thực tràn bờ” của các nhà hiện thực chủ nghĩa L Tolstoy, F Dostoievsky, cho rằnghiện thực Nga “gần sự thực hơn, gần cuộc đời hơn các nền văn chương khác” [232, tr.48]

Không những không được can thiệp vào xếp đặt cuộc sống, người viết còn không đượcphép trực tiếp đưa ý kiến của mình vào tiểu thuyết, “đừng chêm lời phê bình, chỉ cái nàygiảng cái kia như ông thầy giáo” [232, tr.64] Một quan điểm hết sức mới mẻ, về cái chếtcủa “nhà văn - Thượng đế” và thái độ dân chủ, tôn trọng sự đồng sáng tạo của độc giả

Thứ hai, là người rất mực ngưỡng mộ L Tolstoy - nhà hiện thực lỗi lạc với “phép biện

chứng tâm hồn”, Nhất Linh có lẽ rất tâm đắc với định nghĩa “Con người như nhữngdòng sông ” của nhà văn Nga, khi viết: “Nhân vật tức là người với hết thảy những cáitốt cái xấu của con người; ở đời không có ai hoàn toàn xấu và hoàn toàn tốt Bất cứ aichịu thành thực suy xét về tâm hồn mình sẽ thấy nhiều lúc chính mình có những ý nghĩxấu xa vô cùng Viết tiểu thuyết là tả sự thực, vậy không nên sợ sự thực” Ông tỏ ra

Trang 31

khó chịu với kiểu “nhân vật tượng gỗ trong các tiểu thuyết luân lý của Tàu và ta” vì nó

“thiếu tính cách riêng nêu lên chỉ cốt làm những quân cờ để tác giả dùng trong việcbênh vực cái này, đả đảo cái khác” [232, tr.42]

Nhất Linh luôn ấp ủ một cuốn tiểu thuyết đích thực Phạm Thế Ngũ gọi NhấtLinh là “người có não cách mạng”, người như thế không bao giờ hài lòng với những gì

dở dang và luôn có ý thức phủ nhận mình, mỗi chặng đường mới là mỗi lần “bỏ lạiđằng sau những hải cảng mưa buồn” (Trần Dần)

1.2.2 Nghiên cứu chung về vị trí và đặc điểm của tiểu thuyết Nhất Linh

Nghiên cứu trước 1945

Để định vị Nhất Linh, hầu hết các ý kiến giai đoạn này gọi ông là “tiểu thuyết gia

luận đề” Trương Chính dành ba bài trong Dưới mắt tôi (1939) để bàn về các tiểu thuyết Đoạn tuyệt, Lạnh lùng và Tối tăm, nhìn chúng như những tuyệt tác luận đề.

Đoạn tuyệt “kết án một chế độ, dựng lập một chế độ khác, và do đó, dùng nghệ thuật

tái thiết xã hội Việt Nam”; tiếp theo, Lạnh lùng “là mũi tên độc thứ hai ông Nhất Linh bắn vào đích nhắm: Khổng giáo”; và Tối tăm cũng nằm trong mạch đó: “Lúc nào ông

Nhất Linh cũng đi theo một con đường vạch sẵn để đi tới mục đích: cải tạo xã hội Từ

Đoạn tuyệt đến Lạnh lùng, từ Lạnh lùng đến Tối tăm, có một sợi dây liên lạc chắc chắn

và rõ rệt” [129, tr.419-424-429] Nhà phê bình trẻ tuổi (Trương Chính kém Nhất Linh

10 tuổi) nhìn thấy ở vị thủ lĩnh Tự lực văn đoàn sứ mệnh của nhà cải cách khi nhận lấy

“bổn phận soi sáng những đầu óc cổ hủ, ngu dốt”, kịp đến để “đánh thức giấc ngủ họ”,

“gợi cho họ những ước mơ khác”, “vẽ cho họ những cảnh đời khác” Điều này khiến ta

bất giác liên hệ đến nỗ lực của Lỗ Tấn đánh thức những con người “ngủ say trong một

cái nhà bằng hộp sắt” Những đánh giá của Trương Chính khẳng định lại ý kiến của

Nguyễn Lương Ngọc trên báo Tinh hoa số 3 ngày 27 Mars 1937: “Nó vẫn muốn đánh

đổ một quan niệm mà hoài bão một quan niệm khác Ông Nhất Linh đã tự gánh vác cáitrọng trách của một nhà cải tạo, - và sao ta chẳng dám nói đứt đi cho rồi - ông đã là

một nhà cách mạng” Trong cuốn Nhà văn hiện đại (Nxb Tân Dân, 1942), Vũ Ngọc

Phan lập tức nhìn thấy khuynh hướng cải cách xã hội của Nhất Linh - “tiểu thuyết gia

có khuynh hướng cải cách”, và nổi bật ở xu hướng tiểu thuyết luận đề: “Ông là mộttiểu thuyết gia muốn trừ bỏ những cái xấu xa trong gia đình và trong xã hội, mà bất kì

Trang 32

ở giai cấp nào, chứ không phải chỉ ở hạng thợ thuyền và dân quê; ông là nhà văn viết

về tục xấu của người Việt Nam và có cái tư tưởng khuyến khích người ta sửa đổi”

[143, tr.827] Dương Quảng Hàm trong công trình Việt Nam văn học sử yếu cũng xếp

Nhất Linh (cùng các nhà tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn) vào nhóm thuộc khuynhhướng xã hội và công nhận những đóng góp của ông trong việc cải tiến xã hội, canhtân văn hóa, “muốn phá bỏ các phong tục xưa và cải tạo xã hội theo một lý tưởng mới”,

“công kích những phong tục, tập quán họ cho là hủ lậu và giãi bày những quan niệmmới đối với các vấn đề thuộc về gia đình hoặc xã hội” [65, tr.451]

Cũng nhìn tiểu thuyết của Nhất Linh như tác phẩm luận đề, nhưng không phảilúc nào cũng “có lợi”, thậm chí “gây hại” - đó là “bên kia mặt trận”, “mấy nhà đạo đứccổ”, trong đó nổi bật nhất là Trương Tửu Xuất phát từ sự bất an về nền tảng đạo đức

gia đình, Trương Tửu không mấy để ý đến giá trị nghệ thuật tiểu thuyết Lạnh lùng,

Đời mưa gió, đã tập trung phê phán nội dung “suy đồi”, “chủ trương tự do phát triển

xác thịt”, “làm ngừng trệ sự tiến bộ tinh thần của phụ nữ” [129, tr.425].

Như vậy, dù ca ngợi hay phê phán Nhất Linh, tựu trung người ta cũng coi ôngtrước tiên là “tiểu thuyết gia luận đề” Nhất Linh viết tiểu thuyết luận đề là đúng, có điềugọi ông là “tiểu thuyết gia luận đề” thì e chưa phải toàn bộ, vì ngoài thể tài đó, ông còn

có Bướm trắng, và ngay trong các cuốn gọi là “luận đề” như Lạnh lùng, Đôi bạn ta thấy

chúng gần với tiểu thuyết tâm lý hơn Hơn nữa, tuy dùng văn chương để cải hóa, tiểuthuyết luận đề của Nhất Linh lại không hề khô khan, giáo điều, mà mang màu sắc vàcảm xúc tươi mới, thu phục lòng người Đó là lý do để các nhà nghiên cứu giai đoạntrước 1945 dù vẫn còn những chỗ bất đồng trong nhận định giá trị xã hội của tiểu thuyếtNhất Linh cũng đều nhất loạt ca ngợi nghệ thuật của ông Khi so sánh với Khái Hưng,Đinh Gia Trinh tỏ ra cảm phục tiểu thuyết Nhất Linh vì “đi sâu xa hơn vào tâm khảmngười ta, [ ] tả những nỗi uẩn khúc ” [129, tr.329] Nguyễn Lương Ngọc, trên báo

Tinh hoa số 3 ngày 27 Mars 1937, viết: “Từ Nho phong đến Lạnh lùng, nghệ thuật của

ông Nhất Linh đi dần dần tới sự đơn giản hoàn mĩ” Bỏ lối tả cảnh dài mà chưa bao giờông ưa; bỏ ngoại cảnh, ông đem hết trí nhận xét soi vào đấy, vào kẽ những linh hồn ông

tạo nên” Trương Chính gọi Đoạn tuyệt là “kiệt tác văn học Việt Nam hiện đại”, vì có

một lối “quan sát rất tinh vi để tả những trạng thái phiền phức trong tâm hồn riêng của

Trang 33

nhân vật trong truyện và để đi sâu vào đời bên trong của họ” [129, tr.423] Trương Tửu

cũng công tâm khen ngợi nghệ thuật miêu tả tâm lý con người của Nhất Linh, cho Đoạn

tuyệt “là một cuốn tiểu thuyết kiệt tác, phi nhà nghề không viết nổi” [211, tr.109].

Đời sống văn học những năm 1932 - 1944 hết sức sôi động bởi có nhiều văn phái,

và họ cùng cạnh tranh thị trường sách báo, nổi bật nhất là nhóm Tự lực văn đoàn vànhóm Tân Dân Dù là người phe Tân Dân, ủng hộ Vũ Trọng Phụng hết mình trongcuộc luận bút giữa ông vua phóng sự đất Bắc với thủ lĩnh Tự lực văn đoàn, và bản thâncũng “không có cảm tình đặc biệt với Nguyễn Tường Tam”, cũng như biết “chínhNguyễn Tường Tam không có cảm tình đặc biệt” với mình, Vũ Bằng vẫn phải côngnhận tài nghệ trong tiểu thuyết Nhất Linh Sau này ông nhớ lại: “Dù đứng ở phía nàocũng vậy, dù mang màu sắc chính trị nào cũng thế, không ai phủ nhận cái tài viết tiểuthuyết của Nguyễn Tường Tam” [237]

Việc định vị và đánh giá đặc điểm tiểu thuyết Nhất Linh thời tiền chiến không chỉ

có bấy nhiêu Công việc này đã được khảo sát khá kỹ lưỡng trong nhiều công trìnhnghiên cứu trước đây Chúng tôi xin được phép kết thúc phần này bằng nhận định của

tác giả Nhà văn hiện đại, người bao quát nhất tình hình sáng tác, người cẩn trọng lựa

chọn trong muôn vàn nhân tài văn chương lấy một vài thiểu số đưa vào cuốn khảo luận

lừng danh của mình: “Nếu đọc Nhất Linh, từ Nho phong cho đến những tiểu thuyết gần

đây nhất của ông ta thấy tiểu thuyết của ông biến đổi rất mau Ông viết từ tiểu thuyết áitình, tiểu thuyết tình cảm, qua những tiểu thuyết luận đề, đến tiểu thuyết tâm lí; sự tiếnhóa ấy chứng ra rằng mỗi ngày ông càng đi sâu vào tâm hồn người ta.” [143, tr.828]

Những đánh giá của giới học thuật trên đây về tiểu thuyết Nhất Linh, chê ít khennhiều, sẽ là định hướng cho nghiên cứu sau này về nhà văn, vì trên thực tế, suốt từ sau

1945, thậm chí kéo dài sang sau thời kỳ Đổi mới (1986), ta thấy vẫn không đi xa hơnnhững nhận định trên Điều này chứng tỏ, ngay lúc đương thời, khi Nhất Linh còn tạithế, tiểu thuyết của ông đã được đánh giá cao, các giá trị ổn định

Nghiên cứu từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1985

Nếu như các ý kiến đánh giá về tiểu thuyết Nhất Linh tương đối chụm trong thời

kì tiền chiến, cho dù chúng xuất phát từ những quan điểm nhìn nhận khác nhau, thìgiai đoạn sau 1945 không thế Giai đoạn này, sự khác biệt về thể chế chính trị giữa hai

Trang 34

miền Bắc - Nam đã gây những tác động không nhỏ đến đời sống văn hóa – văn học.

Điều này dẫn đến việc tên tuổi Nhất Linh cùng văn đoàn của ông được đánh giá hoàntoàn khác nhau ở hai miền

Ở miền Bắc, Tự lực văn đoàn dần thu hẹp phạm vi tác động trên văn đàn, sau sự

ra đời của Đề cương văn hóa Việt Nam 1943 Với tinh thần bài bác văn chương lãng

mạn, Tự lực văn đoàn, Xuân Thu nhã tập, xem tất cả những sáng tác này đều là loạinghệ thuật “phản đại chúng”, “nghệ thuật vị nghệ thuật”, “văn chương liếm gót giầy,không đau mà rên”, “bội phản tinh thần dân tộc độc lập” , các tác phẩm của NhấtLinh cũng như của Tự lực văn đoàn nói chung, rộng hơn nữa là của văn học lãng mạn

bị “kết tội” đã làm cho con người thờ ơ với hiện thực nô lệ của dân tộc, chỉ đắm chìmvào tình yêu đôi lứa và hưởng lạc cá nhân chủ nghĩa Không chỉ thế, những giá trị tốtđẹp trong sáng tác Nhất Linh như tinh thần dân tộc, vẻ đẹp lãng mạn của những nhânvật từng khiến độc giả say mê một thời bởi lý tưởng dấn thân cũng bị phủ nhận Từphong trào Giảm tô và Cải cách ruộng đất, văn chương Tự lực văn đoàn bị quy kếtnặng nề và nghiệt ngã bởi những người “cầm cương” văn hóa, thậm chí cả nhữngngười từng là thành viên văn đoàn (Thế Lữ, Xuân Diệu) hoặc người từng hết lòng cangợi (Nguyễn Tuân, Hoài Thanh) Ta không thấy Trương Chính nói gì, còn Thế Lữhoàn toàn phủ nhận sự đóng góp của Tự lực văn đoàn vào nền văn hóa dân tộc [9,

tr 89] (Sau này, về cuối đời, như một lời “sám hối”, Thế Lữ tâm sự: “Không có

báo Phong hóa, Ngày nay, không có bạn bè Tự lực, không có bạn thơ văn ngày ấy ăn ở

với nhau như bát nước đầy, sẵn lòng yêu tài, mến đức của nhau, thì không có Thế

Lữ”) [166, tr.293].

Ta có thể bắt gặp hàng loạt những nhận định nặng nề về Tự lực văn đoàn và Nhất

Linh trong các giáo trình như Văn học Việt Nam 1930 - 1945, Nxb Giáo dục, 1961; Sơ

thảo lịch sử văn học Việt Nam 1930 - 1945, Nxb Khoa học xã hội, 1963 Điển hình

như ý kiến của Vũ Đức Phúc: “Tinh thần dân tộc không có trong tác phẩm, ít nhấtcũng không có một cơ sở vững chắc (bởi lẽ tác giả không nói tới sự áp bức của đếquốc), cho nên khi Nhất Linh muốn vẽ những người cách mạng cho rõ nét hơn thì ông

ta định làm “cách mạng” thật thì hóa ra phản động” [57, tr.568,] Bạch Năng Thi viết:

“Nhân vật chính của Nhất Linh đều là thanh niên tư sản hoặc tiểu tư sản lớp trên, con

Trang 35

nhà quan, chủ đồn điền: chơi bời đàng điếm, cảm nghĩ băn khoăn, suốt đời tìm cáchgiải quyết vấn đề hạnh phúc và lý tưởng cho cá nhân” [57, tr.493] Điều đáng nói là,cái nhìn định kiến ấy kéo dài cho tới những năm đầu của thập niên 80 khi chiến tranh

đã kết thúc và nhiệm vụ chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những chuyển

hướng Trong giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam 1930 - 1945, tập 5, phần 1 (Huỳnh

Lý, Hoàng Dung, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Trác biên soạn)

dùng cho trường Đại học Sư phạm, Nxb Giáo dục, 1976; hay cuốn Văn học Việt Nam

1930 - 1945, tập 1 (Phan Cự Đệ, Hà Văn Đức, Nguyễn Hoành Khung biên soạn), Nxb

Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, 1988 - chúng ta vẫn tiếp tục bắt gặp những nhậnđịnh mang đầy định kiến ấy Trong một chương trình giáo dục như thế, các lứa sinhviên và học sinh thập niên 50 - 80 không hề nghe thấy tên tuổi Nhất Linh và không hềnhìn thấy bóng dáng các tiểu thuyết lừng danh một thời của ông (chúng nằm trongdanh mục sách độc hại, thậm chí phản động) Một dòng chảy văn học khác đã nuôidưỡng tinh thần của họ

Ở miền Nam, trong không khí tự do học thuật, tự do sáng tác, với cái nhìn kháchquan và đa chiều, sáng tác của Nhất Linh cũng như của tất cả nhà văn Tự lực văn đoànhiện lên dưới một ánh sáng khác Nhất Linh cùng Khái Hưng, Hoàng Đạo được đưavào chương trình giáo dục trung học (từ lớp 6 - 12) Trong cuốn phân tích chương

trình Giảng văn Đệ Nhị các ban A, B, C, D, Chu Đăng Sơn cho biết từ 1955 - 1967 đã

có 14 đề thi tú tài về Tự lực văn đoàn, trong đó 2 năm có đề thi về Nhất Linh Tác giảgọi sự xuất hiện của Tự lực văn đoàn “mà thành phần cốt cán là Nhất Linh, Khái Hưng,Hoàng Đạo” là sự xuất hiện của “một quần tinh chói lọi trên bầu trời văn học ViệtNam, ghi dấu thời kì cực thịnh của nền văn quốc lấy DÂN TỘC là đối tượng vàCHÂN THIỆN MỸ làm tiêu chuẩn” [154, tr.15] Sau khi bình giảng “Kỹ thuật hành

văn”, gồm Thuật tả cảnh, Thuật tả người, Thuật tự sự, Bút pháp của tiểu thuyết Đoạn

Tuyệt, Chu Đăng Sơn kết luận: khi xem xét tất cả những phương diện này, “ta gặp thấy

một nghệ sĩ thuần túy, vừa có năng khiếu hội họa vừa có chân tài văn sĩ” [154, tr.42]

Việc nghiên cứu về Nhất Linh được tự do thực hiện Nhà văn xuất hiện trong

những cuốn giáo trình hoặc biên khảo của các tác giả như Nguyễn Văn Xung (Bình

giảng về Tự lực văn đoàn, 1958); Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân

Trang 36

biên, tập 3, 1960); Doãn Quốc Sỹ (Tự lực văn đoàn, 1960); Bùi Xuân Bào (Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, 1972); Thanh Lãng (Phê bình văn học thế hệ 32, 1972) Ngoài ra,

trên một số tạp chí như Bách Khoa, Văn,… thường ra những số chuyên về Nhất Linh

với các bài viết như “Triết lý tuyệt hảo trong cuộc đời Nhất Linh - Nguyễn Tường

Tam” của Nguyễn Ngu Í (Bách Khoa, số 169, Sài Gòn, 1964), “Nhớ Nhất Linh Nguyễn Tường Tam”, Nguyễn Ngu Í (Bách Khoa, số 325, Sài Gòn, 1970); “Tôi đã biết gì về Nhất Linh” của Đông Hồ Lâm Tấn Phác (Bách Khoa, số 180, Sài Gòn, 1964); “Thử xác định vị trí của Nhất Linh” của Nguyễn Văn Xung (Văn, số 14, Sài

Gòn, 1964); “Triết lý tuyệt hảo trong cuộc đời của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam”

của Trương Bảo Sơn (Văn, số 14, Sài Gòn, 1964); “Nguyễn Tường Tam, một nhà văn

“đa bất mãn hoài” của Vũ Bằng (Văn, số 156, Sài Gòn, 1970)…

Nhìn chung ở miền Nam, khi nhận định về tiểu thuyết Nhất Linh, có thể thấyviệc hình thành thành hai “phe”, tuy không tuyệt đối Hai “phe” không đối lập nhau

về ý thức hệ, chỉ thể hiện sự khác biệt trong việc tiếp nhận văn chương giữa các thếhệ: thế hệ “cha anh” và thế hệ “cháu con” mà thôi Trước hết, không ai trong các thế

hệ này phủ nhận công lao của Nhất Linh trong công cuộc hiện đại hóa văn học nước

nhà Tất cả đều đánh giá cao những tiểu thuyết làm nên tên tuổi ông, như Đoạn tuyệt,

Lạnh lùng, Đôi bạn, và nhất là Bướm trắng Đơn cử vài ý kiến: “Cuốn Đoạn tuyệt của

Nhất Linh đã là một tiếng vang lớn trong lĩnh vực phát huy văn chương và cải cách xã

hội” [139, tr.16-17]; “Bướm trắng hầu như đã vượt khỏi giới hạn một cuốn tiểu thuyết.

Nó đánh dấu một sự thay đổi ngay trong quan niệm viết văn của tác giả Nó là một thínghiệm Nó mặc nhiên bao gồm trong nó một lí thuyết (về tiểu thuyết), bởi nó thể hiệnmột sự lựa chọn, một quyết định của chính tác giả: viết khác đi với những điều đã viết,

với những cách sử dụng để diễn đạt con người, xã hội, thế giới” [5, tr.256] Ý kiến của Huỳnh Phan Anh về tiểu thuyết Bướm trắng có sự gặp gỡ với nhiều nhà phê bình

khác, như Bùi Xuân Bào, Võ Phiến, Doãn Quốc Sỹ , trong việc ca ngợi sự trưởngthành vượt bậc của tiểu thuyết Nhất Linh, tiểu thuyết hiện đại Việt Nam khi thểnghiệm một lối tiểu thuyết tâm lí gần với Dostoievsky

Tuy nhiên, giữa thế hệ “già” và thế hệ “trẻ” đã có những cái nhìn khác nhau vềnghệ thuật tiểu thuyết Nhất Linh Với sự tương đồng về cảm quan thẩm mỹ Bùi Xuân

Trang 37

Bào, Võ Phiến, Huỳnh Phan Anh đã đặt tác phẩm Nhất Linh vào thời điểm xuất hiện.

Nhìn tác phẩm Bướm trắng trong bối cảnh văn học của nó khi ra đời, Bùi Xuân Bào

(học giả cùng trang lứa với Nhất Linh) viết: “Kỹ thuật tiểu thuyết của Nhất Linh ở đây

đã đạt tới độ toàn bích Từ bỏ những thủ pháp thuần trí thức, cắt từng vạt sáng tối nhưtrong các tác phẩm trước, tác giả đã uyển chuyển các phương tiện tra vấn nội tâm vàphương tiện diễn đạt, ông đã đụng vào những xu hướng, những vận động của tiềmthức Hình thức tự sự được sử dụng ưu tiên và nhuần nhuyễn, là độc thoại nội tâm;

không phải theo các bậc thầy nội vấn hiện đại như M Proust và J Joyce mải mê phântích chi li những nguồn mạch tâm lý, mà như phong cách F Dostoievsky; chúng tôikhông dám so bì Nhất Linh với bậc thầy của tiểu thuyết Nga, nhưng chắc chắn là bước

ngoặt của Bướm Trắng trong biến chuyển nghệ thuật Nhất Linh, phải có dấu ấn do ảnh hưởng của Tội ác và hình phạt Nói chung, tác phẩm mới nhất của Nhất Linh có một

hậu cảnh siêu hình và duy linh (métaphysique et spirituel) có lẽ do ảnh hưởng nhiều

chương trong Tội ác và Hình phạt” [17].

Lớp trí thức trẻ hơn, thậm chí là lớp con cháu trong nhà Nguyễn Tường, như DuyLam, Thế Uyên bắt đầu cảm thấy kính nhi viễn chi trước bậc tiền bối, họ thuộc thế hệhướng đến nghệ thuật hiện đại hơn Thế Uyên cho biết “vì môn học và nghề nghiệp”

ông phải tham khảo sách vở cũ tại thư viện, qua đó đọc lại Nhất Linh và cảm thấykhông còn sức hấp dẫn, “thấy nhạt nhẽo, vài đoạn kì dị và cổ kính hoặc quá ngây thơ”,

và “Đoạn tuyệt bây giờ xa lạ như một mái tóc đuôi gà” [213, tr.32] Dòng chảy văn

học miền Nam đã có sự phát triển xa hơn rất nhiều so với giai đoạn trước 1945, hìnhthành một thế hệ độc giả không giống thời tiền chiến nữa Miền Nam kính cẩn trướcmột tượng đài Nhất Linh đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình Và thời thế đã thayđổi Ngay cả khi Duy Lam lúc đó muốn tái phát động một phong trào kiểu “Tự lực vănđoàn mới” tại miền Nam cũng không đi đến đâu Trước mộ Nhất Linh lúc sắp hạ huyệt,linh mục Thanh Lãng thay mặt Trung tâm Văn bút Việt Nam đưa tiễn Nhất Linh “đivào vinh quang lịch sử và lâu đài văn hóa”, cất lời ai điếu: “Anh là thủ lãnh, là tổngthống trong cái nước cộng hòa văn học từ 1932-1945” [185, tr.218] Lý giải và mộtlần nữa khẳng định vị trí của tiểu thuyết Nhất Linh, Võ Phiến khẳng định: “Xét nhữngtác phẩm tiền chiến của Nhất Linh, chẳng qua chỉ có thể lượng định giá trị cùng ảnhhưởng; còn những tác phẩm hậu chiến, ngoài vấn đề giá trị, nó còn làm cho Nhất Linh

Trang 38

thành một trường hợp riêng biệt, hết sức độc đáo Trường hợp hiếm hoi không phải chỉcủa một thời kỳ văn học ở nước ta, mà ở nơi nào thời nào cũng ít thấy” [249].

Như vậy, có thể thấy cảm hứng chung của giới học thuật cũng như công chúngmiền Nam là khẳng định những đóng góp của Tự lực văn đoàn và vai trò thủ lĩnh củaNhất Linh - người vừa có tầm nhìn vừa có tài tổ chức, hoạch định những chủ trương,

kế hoạch cho cả nhóm trong thực hiện công cuộc canh tân văn hóa, văn học, vừa làmcuộc canh tân ấy trong tiểu thuyết của mình

Các công trình nghiên cứu từ năm 1986 đến nay Trong nước

Đối với đời sống tinh thần văn hóa xã hội Việt Nam, năm 1986 là một cột mốcđáng nói Với cột mốc này, văn học nước ta bước sang thời kỳ “Đổi mới” Một trongnhững biểu hiện đổi mới là “nhìn lại”, “đánh giá lại”, “xem xét lại” những hiệntượng có giá trị lớn của thời gian qua Tự lực văn đoàn là trường hợp như thế Chúngtôi xin điểm lại những sự kiện có tính bước ngoặt trong việc định vị lại Tự lực vănđoàn như:

- Ngày 27/5/1989: Hội thảo Đánh giá lại về Tự lực văn đoàn (do Khoa Ngữ văn

Đại học Tổng hợp Hà Nội và Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp tổ chức);

- Tháng 7/1989: Báo Người giáo viên nhân dân ra chuyên đề “Nhìn nhận lại một

số hiện tượng văn học”, số đặc biệt (27+28+29+30+31);

- 1989 - 1990: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành Tuyển tập Văn xuôi lãng

mạn Việt Nam 1930-1945, gồm 8 tập Từ đó, các nghiên cứu về Tự lực văn đoàn đã

lấy trích dẫn từ nguồn này;

- 1994: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành các Tổng tập Văn học Việt Nam,

trong đó các số 24B, 28A đã dành chỗ cho nghiên cứu và văn bản các tác phẩm của Tự

lực văn đoàn, ta thấy tiểu thuyết Nắng thu và Đoạn tuyệt của Nhất Linh;

- Năm 1997: Đài Truyền hình VTV cho công chiếu phim tài liệu dài 45 phút “Vàinét về Tự lực văn đoàn” với những lời đánh giá khách quan công lao của văn phái

(Lại Nguyên Ân viết lời thuyết minh);

- Ngày 9/5/2008: Hội thảo Tự lực văn đoàn ở Cẩm Giàng;

Ngày 20/10/2012: Hội thảo Phong trào Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn

-80 năm nhìn lại (do Khoa Ngữ văn ĐHSP Tp HCM và một số cơ quan khác tổ chức).

Trang 39

Như vậy, sau khi thoát khỏi nhãn “sách cấm”, sáng tác của Tự lực văn đoàn trởđối tượng nghiên cứu hấp dẫn của các nhà phê bình “cũ” và các nhà phê bình “mới”.

Riêng về trường hợp Nhất Linh, trên tinh thần đánh giá lại này, các ý kiến chiathành hai xu hướng Xu hướng thứ nhất là nếu trước kia hoàn toàn phủ nhận thì nay

“cơi nới” cách nhìn, giảm trừ thái độ khắt khe Với độ lùi của thời gian, với không khícởi mở của thời kì Đổi mới văn học, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Phong Lê bắt đầuphản tỉnh và đưa ra ý kiến đánh giá khác với trước kia về tiểu thuyết Nhất Linh Phan

Cự Đệ viết: “Nhìn chung, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn (chủ yếu của Nhất Linh và KháiHưng) có kết cấu và cốt truyện chặt chẽ, lối kể chuyện hấp dẫn, duyên dáng, ngôn ngữtrong sáng, trang nhã, còn thiếu cái gân guốc khỏe khoắn nhưng gợi cảm và giàu chấtthơ, những đoạn miêu tả thiên nhiên đất nước đậm đà màu sắc dân tộc, những dòngtâm lí tinh tế xen kẽ với độc thoại, đối thoại rất sinh động” [49, tr.131] Tuy nhiên,trong sự “nhìn lại” này không hiếm khi ta gặp những mệnh đề theo công thức cú pháp

biện minh “Tuy A nhưng B ”, trong đó vế “Tuy A” là một sự còn chưa tốt, “nhưng B”

sẽ dùng để “chiêu tuyết”, biện minh Chính vì vậy ta vẫn thấy một sự lừng khừng nào

đó trong việc xác nhận giá trị tiểu thuyết Nhất Linh, ví dụ như Phong Lê viết: “Nếutinh thần dân tộc và lòng yêu nước, còn lâu hoặc còn xa mới có thể vươn tới các đỉnhcao như các chiến sĩ cộng sản, thì một sự bất bình với thời cuộc, một gửi gắm ít nhiều

khát vọng tự do trong hình ảnh những “khách chinh phu” như Dũng trong Đôi bạn,

Đoạn tuyệt và Thế rồi một buổi chiều cũng là hiện tượng nên thể tình” [134, tr.28].

(Xét cho cùng “lòng yêu nước” cũng chỉ là một khái niệm, còn biểu hiện của nó có thểmuôn hình vạn trạng Không cứ phải cầm súng trực tiếp đánh giặc mới là “yêu nước”

Những khách chinh phu của Nhất Linh, như một loại hình nhân vật văn học, ra đikhông nhất thiết phải để trở thành người cộng sản, cái chính là những băn khoăn,những phản ứng trước thời cuộc của họ là cái băn khoăn triết lý của nhiều con ngườithời bấy giờ Và khi những băn khoăn, khát vọng siêu hình ấy được trình bày trêntrang giấy, nó bắt gặp bao nhiêu tâm sự của bạn đọc, trong đó không loại trừ ngườicộng sản Nó làm thăng hoa những phẩm chất cao quý trong đời sống trần tục xô bồ)

Thái độ lừng khừng đã dẫn đến thái độ tiếp tục phủ nhận, Nguyễn Trác - Đái XuânNinh viết: “Gần 40 năm cầm bút, Nhất Linh để lại một văn nghiệp không nhỏ về sốlượng, nhưng đáng buồn không lớn về giá trị tư tưởng” [204, tr.79]

Trang 40

Đó là xu hướng “nhìn lại” thứ nhất, còn xu hướng thứ hai, ít hơn, nhưng vẫn cầnnêu để thấy sự phức tạp của vấn đề ý thức hệ ảnh hưởng đến phê bình văn học Đó làtrường hợp những người có liên quan đến Tự lực văn đoàn, trong giai đoạn trước 1986thường im hơi lặng tiếng, hoặc thậm chí còn phủ định giá trị của văn phái mà trướcđấy mình từng ca ngợi, ví dụ Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Trương Chính Tròn 50

năm sau khi cuốn chuyên luận Dưới mắt tôi ra đời (1939), đến năm 1989 - 1990 mới

thấy Trương Chính quay trở lại khẳng định ý kiến trước kia của mình, nhắc lại NhấtLinh như một nhà tổ chức và như một nhà văn tài danh

Trên đây là những trường hợp “đánh giá lại” Tự lực văn đoàn như sự đánh giá lạichính quan điểm của bản thân các nhà phê bình Tiếp theo, trong thời gian này, xuấthiện song song những đánh giá mới của các nhà nghiên cứu về Nhất Linh “Mới” cũng

có hai trường hợp: thế hệ “già”, trước kia chưa từng lên tiếng và thế hệ “trẻ” mới làmquen với Tự lực văn đoàn và Nhất Linh sau này Trường hợp đầu là Đỗ Đức Hiểu,Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Huệ Chi - đọc Nhất Linh như sự chiêm nghiệm, ngẫmnghĩ; trường hợp thứ hai là Vu Gia, Nguyễn Hữu Hiếu, Trần Văn Toàn, Phạm ThịPhương - những người có trong tay lý thuyết phê bình hiện đại (Tiếp nhận văn học,Phân tâm học, Lý thuyết trường ) Đỗ Đức Hiểu có một loạt bài phân tích các tiểu

thuyết Đoạn tuyệt, Đôi bạn, Bướm trắng Nhà phê bình ghi nhận công sức to lớn của

Nhất Linh “trong công cuộc hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX Ông

in bóng dáng thật đẹp trong bức tranh hai nền văn hóa, Đông và Tây, hòa hợp với nhaunhịp nhàng, tương xứng đến thế Các tác phẩm lớn của ông tạo bước ngoặt của tiểuthuyết Việt Nam đương thời, với phong cách đầy chất tư tưởng và chất thơ” [74, tr.81]

Đỗ Đức Hiểu không dưới một lần nhắc đến chất hội họa trong văn chương Nhất Linh,cũng là nét các nhà nghiên cứu miền Nam trước 1975 và các nhà nghiên cứu hải ngoạitừng lưu tâm

Nguyễn Huệ Chi khẳng định những gì mà giới nghiên cứu trước 1945 từng nói

về Nhất Linh, và trên cơ sở đó, ông đẩy luận điểm đi xa hơn, với phát hiện một “dáng

dấp hiện sinh” trong Bướm trắng: “Nhà văn luôn luôn tìm tòi không ngừng không mỏi.

Vừa cho ra mắt một loạt tiểu thuyết luận đề làm cả một thế hệ thanh niên yêu thích,ông lại thoắt chuyển sang dạng tiểu thuyết không có truyện, lấy việc phân tích các biến

thái tâm lý nhân vật làm chủ điểm (Đôi Bạn) rồi lại thoắt chuyển sang dạng tiểu thuyết

Ngày đăng: 19/12/2022, 18:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. Bùi Xuân Bào (1985), Naissance et évolution du roman vietnamien moderne 1925-1945 (Hình thành và biến chuyển tiểu thuyết Việt Nam hiện đại 1925 - 1945), Đường Mới tái bản, Paris Sách, tạp chí
Tiêu đề: Naissance et évolution du roman vietnamien moderne 1925-1945 (Hình thành và biến đổi tiểu thuyết Việt Nam hiện đại 1925 - 1945)
Tác giả: Bùi Xuân Bào
Nhà XB: Đường Mới tái bản
Năm: 1985
18. Trần Lê Bảo (2011), Giải mã văn học từ văn hóa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải mã văn học từ văn hóa
Tác giả: Trần Lê Bảo
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
19. Barthes, R. (1997), Độ không của lối viết (Nguyên Ngọc dịch), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độ không của lối viết
Tác giả: Barthes, R
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội
Năm: 1997
20. Nguyễn Duy Bình (Chủ biên) (2015), Một số vấn đề tiếp nhận văn học Pháp ở Việt Nam (Dưới góc nhìn của lý thuyết phức hệ), Nxb Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề tiếp nhận văn học Pháp ở Việt Nam (Dưới góc nhìn của lý thuyết phức hệ)
Tác giả: Nguyễn Duy Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Vinh
Năm: 2015
21. Bourde, H. Martin (2001), Các trường phái sử học, (Phạm Quang Trung, Vũ Huy Phúc dịch), Nxb Viện sử học Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các trường phái sử học
Tác giả: H. Martin Bourde
Nhà XB: Nxb Viện sử học Việt Nam
Năm: 2001
22. Brewster, J. Brurrel (2003), Tiểu thuyết hiện đại, (Dương Thanh Bình dịch), Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết hiện đại
Tác giả: Brewster, J. Brurrel
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2003
23. Lê Nguyên Cẩn (2014), Tiếp cận Văn học từ góc nhìn Văn hoá, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận Văn học từ góc nhìn Văn hoá
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại họcQuốc gia Hà Nội
Năm: 2014
24. Lê Nguyên Cẩn (2018), Mã Văn hoá trong Tác phẩm Văn học - Những vấn đề lí thuyết và giảng dạy, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mã Văn hoá trong Tác phẩm Văn học - Những vấn đề líthuyết và giảng dạy
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2018
25. Huy Cận, Hà Minh Đức (Chủ biên) (1993), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca
Tác giả: Huy Cận, Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
26. Nguyễn Huệ Chi (2013), Văn học cổ cận đại Việt Nam, từ góc nhìn văn hóa, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học cổ cận đại Việt Nam, từ góc nhìn văn hóa
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb Giáo dục, Hà Nội
Năm: 2013
27. Đặng Thị Vân Chi (2008), Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước năm 1945, Luận án tiến sĩ, trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước năm 1945
Tác giả: Đặng Thị Vân Chi
Nhà XB: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2008
29. Trương Chính (1993), Dưới mắt tôi - Tiểu luận phê bình, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dưới mắt tôi - Tiểu luận phê bình
Tác giả: Trương Chính
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1993
30. Nguyễn Đình Chú (2015), “Sự áp đảo của phương Tây đối với phương Đông trên phương diện văn hóa và tinh thần truyền thống”, in trong Tiếp nhận tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự áp đảo của phương Tây đối với phương Đông trên phương diện văn hóa và tinh thần truyền thống
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Năm: 2015
31. Phạm Vĩnh Cư (2004), Sáng tạo và giao lưu, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo và giao lưu
Tác giả: Phạm Vĩnh Cư
Nhà XB: Nhà xuất bản Hội Nhà văn
Năm: 2004
32. Lê Dân, Thái Xuân Đệ (2011), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Lê Dân, Thái Xuân Đệ
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2011
33. Vũ Thị Khánh Dần (1997), Tiểu thuyết của Nhất Linh trước Cách mạng Tháng Tám, Luận án phó tiến sỹ, Viện văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết của Nhất Linh trước Cách mạng Tháng Tám
Tác giả: Vũ Thị Khánh Dần
Nhà XB: Viện văn học
Năm: 1997
34. Vũ Thị Khánh Dần (1997), “Nhìn nhận tiểu thuyết Nhất Linh hơn nửa thế kỷ qua”, Tạp chí Văn học, số 3/1997, tr.81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn nhận tiểu thuyết Nhất Linh hơn nửa thế kỷ qua
Tác giả: Vũ Thị Khánh Dần
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1997
35. Nguyễn Duy Diễn (1958), Luận đề về Tự lực văn đoàn (Dùng trong các kì thi trung học), Nxb Thăng Long, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận đề về Tự lực văn đoàn (Dùng trong các kì thi trung học)
Tác giả: Nguyễn Duy Diễn
Nhà XB: Nxb Thăng Long
Năm: 1958
36. Nguyễn Duy Diễn (1960), “Vai trò của Phong hoá và Ngày nay”, Hiện đại, số 6, Sài Gòn, tháng 9/1960, tr.19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Phong hoá và Ngày nay
Tác giả: Nguyễn Duy Diễn
Nhà XB: Hiện đại
Năm: 1960
37. Nguyễn Duy Diễn (1964), “Chân dung của Nhất Linh giữa cuộc đời và vai trò của Nhất Linh trước văn học sử”, Tin sách, Số đặc biệt về Nhất Linh, Sài Gòn, tháng 7/1964, tr.31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung của Nhất Linh giữa cuộc đời và vai trò của Nhất Linh trước văn học sử
Tác giả: Nguyễn Duy Diễn
Nhà XB: Tin sách
Năm: 1964

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w