DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ 3.1 Thực trạng công tác tuyển sinh ngành GDTC trường Đại học 3.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ, giảng viên bộ môn GDTC Khoa Nghệ thuật và TDTT Trường ĐH Hùng
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Quan điểm của Đảng và nhà nước về giáo dục và đổi mới giáo dục
Giáo dục và đào tạo đóng vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển đất nước, và nhận thức sâu sắc về vai trò ấy là nền tảng để Đảng ta tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nhằm đạt mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Đại hội XII của Đảng đã xác định đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, đồng thời xem phát triển nguồn nhân lực là định hướng lớn để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại Quan điểm về giáo dục và đào tạo được thể hiện như một bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng.
Giáo dục góp phần nâng cao dân trí cho mọi quốc gia, dân tộc và hình thành hệ thống chính trị, xã hội mới Trong nền kinh tế tri thức, tri thức là sản phẩm của giáo dục và đào tạo đồng thời là tài sản quý giá nhất của con người và xã hội được các nước thừa nhận và bảo hộ Nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia ngày càng chuyển từ tài nguyên và sức lao động cơ bắp sang nguồn lực con người có tri thức, yếu tố cơ bản nhất của sự phát triển.
Giáo dục và Đào tạo đóng vai trò chủ chốt trong việc bảo vệ chế độ chính trị của mỗi quốc gia và dân tộc; đồng thời xây dựng đội ngũ lao động có trình độ cao, góp phần làm giàu và cải thiện vật chất cho xã hội Bên cạnh đó, giáo dục còn bồi đắp bản lĩnh chính trị vững vàng, giúp lực lượng lao động có khả năng đề kháng trước các xâm lăng văn hóa trong quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa [4].
Giáo dục và đào tạo cung cấp nguồn nhân lực có trình độ, đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Việt Nam đang phổ cập giáo dục cấp trung học cơ sở; trình độ lao động phổ thông còn thấp, ít được đào tạo nghề, và khoảng 60% lao động nông nghiệp vẫn ở mức thấp, nên nước ta mới bước vào xây dựng nền kinh tế tri thức Giáo dục và đào tạo phát huy năng lực nội sinh, đi tắt đón đầu và rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Việt Nam khẳng định giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là điều kiện phấn đấu đến năm 2020.
Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp đi theo hướng hiện đại [1], [2], [3], [4]
Giáo dục và đào tạo là nền tảng để bồi dưỡng nhân tài và xây dựng đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao góp phần quan trọng vào phát triển khoa học và công nghệ, là yếu tố quyết định của nền kinh tế tri thức Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế có sự sản sinh, truyền bá và ứng dụng tri thức quyết định tăng trưởng, làm giàu vốn vật chất và nâng cao chất lượng cuộc sống Mọi quốc gia phát triển trên thế giới đều có chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo Trong báo cáo “giám sát toàn cầu giáo dục cho con người” của UNESCO, các nước được khuyến khích chi tiêu tối thiểu 6% GDP cho giáo dục và đào tạo.
Trước những đòi hỏi cấp bách về nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta xác định nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nhiệm vụ cốt lõi để phát triển trí tuệ cho nhân dân Ngay từ nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VII, Đảng coi khoa học và công nghệ song song với giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, và ở các đại hội VIII, IX, X, XI tiếp tục khẳng định đường lối phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, quán triệt quan điểm coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu.
Nhận thức rõ vai trò then chốt của giáo dục và đào tạo đối với tăng trưởng kinh tế - xã hội và sự phát triển của nguồn nhân lực chất lượng cao, Đảng ta đang chăm lo và quan tâm phát triển một nền giáo dục Việt Nam tiên tiến, hiện đại, chất lượng cao Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI khẳng định giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và đóng góp quan trọng vào xây dựng đất nước, xây dựng văn hóa và con người Việt Nam.
1.1.2 Quan điểm của Đảng và nhà nước về đổi mới giáo dục và đào tạo phù hợp với sự phát triển của xã hội Đổi mới giáo dục và đào tạo phù hợp với sự phát triển của xã hội luôn được Đảng và nhà nước ta quan tâm, đặt ra như một trong những yêu cầu cấp thiết trong sự nghiệp phát triển đất nước Quan điểm đó đã được thể hiện xuyên suốt trong các văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng từ lần thứ IV đến lần thứ XII, cũng như trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về giáo dục và đào tạo
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng xác định cần tiến hành cải cách giáo dục trên phạm vi cả nước và phát triển giáo dục phổ thông, đồng thời sắp xếp từng bước mở rộng và hoàn thiện mạng lưới trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, cùng với sự phát triển rộng rãi của các trường dạy nghề Quan điểm cải cách giáo dục này tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện qua các đại hội của Đảng, cho đến đại hội lần thứ XI nhấn mạnh đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục và phát triển đội ngũ giáo viên cùng cán bộ quản lý là khâu then chốt Để cụ thể hóa nghị quyết của Đại hội về yêu cầu đổi mới phù hợp với sự phát triển của đất nước ở từng giai đoạn khác nhau, Đảng và nhà nước đã ban hành nhiều văn bản, chỉ thị, nghị quyết về cải cách giáo dục như: Nghị quyết số 14/NQ/TW ngày …
Cải cách giáo dục Việt Nam bắt đầu từ những nghị quyết quan trọng, nổi bật là nghị quyết ngày 11 tháng 1 năm 1979 về chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ từ tuổi ấu thơ đến trưởng thành; nguyên lý cơ bản là học đi đôi với hành và giáo dục gắn với lao động sản xuất, gắn liền nhà trường với đời sống xã hội Đây là nghị quyết đầu tiên sau thống nhất đất nước, mở đường cho công cuộc đổi mới giáo dục trong thời kỳ 80 của thế kỷ XX Tiếp theo là nghị quyết 04-NQ/HNTW ngày 14 tháng 1 năm 1993 về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, nghị quyết 14/2005/NQCP ngày 2 tháng 11 năm 2005 về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học giai đoạn 2006-2010, và hiện nay là nghị quyết 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Nghị quyết này đặt ra 7 quan điểm chỉ đạo cho chiến lược giáo dục và đào tạo quốc gia.
Thứ nhất: Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu là sự nghiệp của Đảng, nhà nước và toàn dân
Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo nhằm giải quyết những vấn đề lớn, cốt lõi và cấp thiết từ quan điểm chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách và điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục và đào tạo, đồng thời mở rộng sự tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học và ngành học Trong quá trình đổi mới cần kế thừa, phát huy các thành tựu và phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức và hành động lệch lạc Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống và tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, lộ trình và bước đi phù hợp.
Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất của người học; học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường gắn với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời bám sát tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ và phù hợp với quy luật khách quan Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời vẫn đáp ứng yêu cầu về số lượng.
Thứ năm: Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt và liên thông giữa các bậc học, trình độ và các phương thức giáo dục, đào tạo để tăng tính thích nghi và đa dạng lộ trình học tập; đồng thời chuẩn hóa và hiện đại hóa giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi người và đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và sự phát triển bền vững.
Chủ động phát huy mặt tích cực của cơ chế thị trường, hạn chế mặt tiêu cực và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời phát triển giáo dục một cách hài hòa, gắn kết giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng miền Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo cho vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và cho các đối tượng chính sách Thực hiện dân chủ hóa và xã hội hóa giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận của mọi người học.
Một số khái niệm cơ bản trong xây dựng chương trình đào tạo, mô hình phát triển chương trình đào tạo
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản trong xây dựng chương trình đào tạo Khái niệm chuẩn đầu vào chương trình đào tạo: là những yêu cầu tối thiểu về trình độ, năng lực, kinh nghiệm mà người học cần có để theo học chương trình đào tạo
Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo là tập hợp các yêu cầu về phẩm chất và năng lực mà người học phải đạt được sau khi hoàn thành một chương trình, bao gồm các yêu cầu tối thiểu về kiến thức và kỹ năng, cũng như mức độ tự chủ và trách nhiệm khi tốt nghiệp Đây là thước đo chất lượng giáo dục và là căn cứ để thiết kế, đánh giá và cải thiện chương trình đào tạo nhằm phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động và xã hội.
Khung chương trình là văn bản do nhà nước ban hành, quy định khối lượng kiến thức tối thiểu và cơ cấu kiến thức cho các chương trình đào tạo, nhằm chuẩn hóa nội dung và xác định sự khác biệt giữa các chương trình tùy theo trình độ đào tạo khác nhau.
Chương trình khung là văn bản do nhà nước ban hành quy định cho từng ngành đào tạo cụ thể, xác định cơ cấu, nội dung môn học, thời gian đào tạo và tỷ lệ phân bổ thời gian giữa các môn học cơ bản và chuyên môn, giữa lý thuyết và thực hành, thực tập; nó gồm khung chương trình và nội dung cốt lõi, với chuẩn mực tương đối ổn định theo thời gian và bắt buộc phải có trong chương trình đào tạo của tất cả các trường Dựa trên chương trình khung, các trường xây dựng chương trình đào tạo của riêng mình; khác với chương trình khung, chương trình đào tạo có thể tích hợp kiến thức từ một ngành hoặc từ một số ngành.
Chương trình đào tạo là hệ thống các hoạt động giáo dục và đào tạo được thiết kế, tổ chức thực hiện nhằm đạt mục tiêu đào tạo và hướng tới cấp văn bằng giáo dục đại học cho người học Chương trình bao gồm mục tiêu, khối lượng kiến thức, cấu trúc, nội dung, phương pháp và hình thức đánh giá đối với môn học và ngành học ở trình độ đào tạo, đồng thời xác định chuẩn đầu ra phù hợp với khung trình độ quốc gia Việt Nam.
Chương trình đào tạo, theo quan điểm của Theo Wentling (1993), là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo hoặc khoá học, mô tả toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ những gì người học có thể mong đợi sau khi hoàn thành khoá, phác thảo quy trình cần thiết để triển khai nội dung đào tạo, chỉ ra các phương pháp đào tạo và cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, và tất cả những yếu tố đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ.
Theo Tyler (1949), một chương trình đào tạo về cấu trúc cần có bốn thành phần cơ bản: mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phương pháp hay quy trình đào tạo và cách đánh giá kết quả đào tạo Do đó, chương trình giảng dạy không chỉ phản ánh nội dung mà còn là một văn bản thiết kế thể hiện toàn diện các thành phần của quá trình đào tạo, các điều kiện, cách thức tổ chức và quy trình đánh giá các hoạt động đào tạo nhằm đạt được mục tiêu đào tạo.
Khái niệm chương trình đào tạo định hướng ứng dụng: là chương trình có mục tiêu và nội dung theo hướng phát triển kết quả nghiên cứu cơ bản, ứng dụng các công nghệ nguồn thành các giải pháp công nghệ, quy trình quản lý, thiết kế các công cụ hoàn chỉnh phục vụ nhu cầu đa dạng của con người [18]
Khái niệm chuẩn chương trình đào tạo của một trình độ giáo dục đại học: là những yêu cầu chung, tối thiểu đối với tất cả chương trình đào tạo của các ngành (các nhóm ngành, lĩnh vực) ở trình độ đó; bao gồm yêu cầu về mục tiêu, chuẩn đầu ra (hay yêu cầu đầu ra), chuẩn đầu vào (hay yêu cầu đầu vào), khối lượng học tập tối thiểu, cấu trúc và nội dung, phương pháp giảng dạy và đánh giá kết quả học tập, các điều kiện thực hiện chương trình để bảo đảm chất lượng đào tạo [18]
Khái niệm chuẩn chương trình đào tạo của một ngành (hoặc của một nhóm ngành, một lĩnh vực) ở một trình độ là các yêu cầu chung, tối thiểu đối với mọi chương trình đào tạo của ngành đó (hoặc nhóm ngành, lĩnh vực đó), nhằm bảo đảm sự phù hợp với chuẩn chương trình đào tạo trình độ tương ứng [18].
Khái niệm giáo dục thể chất (Physical Education) là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người
Khái niệm môn học, học phần (sau đây gọi chung là học phần) là tập hợp các hoạt động giảng dạy và học tập được thiết kế nhằm thực hiện các mục tiêu học tập cụ thể, trang bị cho người học kiến thức và kỹ năng thuộc phạm vi chuyên môn hẹp trong chương trình đào tạo Một học phần thông thường được tổ chức giảng dạy và học tập trong một học kỳ.
Chương trình môn học là một bản kế hoạch của nhà trường, thể hiện rõ mục tiêu học tập, thời gian thực hiện, nội dung giảng dạy, cách thức tổ chức thực hiện và phương thức đánh giá kết quả học tập cho một môn học cụ thể Bản kế hoạch được xây dựng dựa trên chương trình quốc gia, chương trình của nhà trường và kế hoạch hoạt động của nhà trường, nhằm đảm bảo sự phù hợp và nhất quán với mục tiêu giáo dục và nhu cầu phát triển của người học.
Phát triển chương trình môn học là quá trình xem xét, phân tích và điều chỉnh nội dung, bổ sung, cập nhật và cải tiến để chương trình ngày càng hoàn thiện, phù hợp với nhu cầu, sở thích và đặc điểm tâm–sinh lý của người học, đồng thời đáp ứng các yêu cầu của xã hội và sự tiến bộ của khoa học giáo dục.
Quy trình phát triển chương trình môn học gồm 4 bước, trong đó Bước 1 là Phân tích tình hình và nhu cầu của môn học Quá trình này phân tích các yếu tố tác động đến việc xác định mục tiêu, cấu trúc và nội dung của chương trình môn học, nhằm nắm bắt thông tin từ các bên liên quan về mức độ cần thiết, ý nghĩa và vai trò của môn học trong chương trình đào tạo của ngành Đồng thời bước này đánh giá xem môn học có còn cần thiết cho ngành đào tạo hay không và môn học có mang lại lợi ích cho người học sau khi tốt nghiệp hay không.
Quan điểm về đánh giá chương trình đào tạo hiện nay
Đánh giá CTĐT là một hoạt động quan trọng và thường xuyên trong các trường đại học Ở nhiều nước, đánh giá chương trình là một phần không thể thiếu của quá trình kiểm định nhà trường và kiểm định chương trình đào tạo nhằm đảm bảo nhà trường đào tạo nguồn nhân lực có kiến thức, kỹ năng và phẩm chất đạo đức đáp ứng chuẩn nghề nghiệp do các hiệp hội kiểm định nghề nghiệp đề ra và đáp ứng các yêu cầu của các ngành nghề trong xã hội Ví dụ ở Mỹ và Canada, hầu hết các chương trình đào tạo đều được kiểm định để đảm bảo chất lượng giáo dục và đáp ứng nhu cầu của người học cũng như các ngành nghề trong xã hội.
Quá trình đánh giá chương trình dựa trên các hoạt động và tiến trình đánh giá nhằm cung cấp bằng chứng cần thiết cho quá trình kiểm định chương trình Đánh giá chương trình là quá trình thu thập cẩn thận thông tin về một chương trình hoặc một số khía cạnh của nó để hỗ trợ các quyết định liên quan đến chương trình.
Đánh giá chương trình là một chuỗi các hoạt động có tính hệ thống được thực hiện trong một tiến trình nhằm kiểm tra toàn diện các khía cạnh của chương trình đào tạo: từ đầu vào (nguồn lực và mục tiêu của chương trình) đến các hoạt động thực hiện, các nhóm khách hàng sử dụng chương trình, các kết quả đầu ra và cách sử dụng nguồn lực hiệu quả để cải thiện chất lượng và hiệu quả của chương trình.
Hiện nay, nhờ sự phát triển kinh tế - xã hội, nhiều ngành nghề mới được hình thành để đáp ứng nhu cầu của xã hội Từ thực tế này nảy sinh nhiều quan điểm khác nhau về đánh giá một chương trình đào tạo, ở góc độ pháp lý do cơ quan nhà nước ban hành và ở góc độ của tổ chức cũng như cá nhân Tuy nhiên, khi tổng hợp các quan điểm này, ta có thể nhận diện những điểm chung về đánh giá chương trình đào tạo và những tiêu chí cốt lõi được trình bày dưới đây.
1.3.1 Quy định về đánh giá chương trình đào tạo Để đánh giá chất lượng giáo dục của trường đại học thì việc đánh giá chương trình đào tạo là một tiêu trí quan trọng được thể hiện trong quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Chương trình đào tạo của trường đại học được xây dựng theo các quy định hiện hành do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; có sự tham khảo chương trình đào tạo của các trường đại học có uy tín trong nước hoặc trên thế giới; có sự tham gia của các nhà khoa học chuyên môn, giảng viên, cán bộ quản lý, đại diện của các tổ chức xã hội nghề nghiệp, nhà tuyển dụng lao động và người đã tốt nghiệp [19],[57]
Chương trình đào tạo có mục tiêu rõ ràng và cụ thể, cấu trúc hợp lý và được thiết kế một cách hệ thống để đảm bảo tính nhất quán giữa các thành phần học tập Nó đáp ứng đầy đủ chuẩn kiến thức và kỹ năng ở trình độ đại học và được xây dựng nhằm chuẩn bị người học một cách toàn diện Đồng thời, chương trình linh hoạt điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, giúp sinh viên có cơ hội tiếp cận việc làm và phát triển nghề nghiệp [19].
Chương trình đào tạo được định kỳ cập nhật và điều chỉnh dựa trên tham khảo các chương trình tiên tiến quốc tế, các ý kiến phản hồi từ nhà tuyển dụng, người tốt nghiệp, các tổ chức giáo dục và các tổ chức khác nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương hoặc cả nước [19].
Chương trình đào tạo được thiết kế theo hướng đảm bảo liên thông với các trình độ đào tạo và chương trình đào tạo khác
Chương trình đào tạo được định kỳ đánh giá và thực hiện cải tiến chất lượng dựa trên kết quả đánh giá [19]
Từ quy định trên đã có việc định hướng đánh giá CTĐT của các ngành đào tạo trong các trường đại học
1.3.2 Đánh giá chương trình đào tạo theo quan điểm Peter F.Oliva Tác giả đã đưa ra các bước đánh giá như sau:
Bước 1 Mô tả chương trình:
Đoạn văn mô tả sứ mạng và mục tiêu của các hoạt động giảng dạy kết hợp với các đổi mới của chương trình giảng dạy sẽ được đánh giá hoặc đo lường, cung cấp tư liệu tham khảo cho quyết định đánh giá sau này Các mô tả gồm tuyên ngôn về nhu cầu (vấn đề hoặc cơ hội mà các hoạt động giảng dạy và đổi mới chương trình cần tập trung chú ý), hiệu quả giảng dạy mong muốn (những hoạt động và đổi mới cần triển khai để đạt được kết quả mong đợi), các hoạt động giảng dạy (các bước tiến hành, giải pháp hoặc hành động và các kết quả tương ứng), các nguồn lực sẵn có (thời gian, con người, kiến thức, công nghệ, dữ liệu, tiền và các phương tiện khác để thực hiện các hoạt động), các giai đoạn phát triển chương trình (giúp nhà đánh giá xác định hoạt động giảng dạy phù hợp và thiết kế quá trình học tập), và điều kiện giảng dạy (khung cảnh và môi trường nơi diễn ra hoạt động giảng dạy) [90].
Bước 2 xác định nhu cầu của những người liên quan Những người liên quan là các cá nhân hoặc tổ chức bị ảnh hưởng bởi kết quả đánh giá và có thể bao gồm những người điều hành hoạt động của chương trình, những người tham gia và chịu ảnh hưởng của chương trình, cũng như những người sử dụng kết quả đánh giá để ra quyết định Người tài trợ cho chương trình luôn được xem là một đối tượng liên quan.
Nhu cầu của các bên liên quan phản ánh các câu hỏi trọng tâm về hoạt động và việc đổi mới chương trình giảng dạy Việc xác định và phân tích những nhu cầu này giúp làm rõ mục tiêu giáo dục, đồng thời định hình thiết kế chương trình và phương pháp đánh giá cho phù hợp với thực tiễn Khi nắm bắt đúng nhu cầu của các bên liên quan, các kết quả đánh giá có thể được sử dụng một cách hiệu quả và có ý nghĩa để cải thiện chất lượng và hiệu suất của quá trình giáo dục.
Xác định mục đích đánh giá là bước quan trọng giúp tránh các quyết định nóng vội về cách tiến hành đánh giá Ba mục đích phổ biến khi đo lường và đánh giá chương trình giảng dạy là: đánh giá bản chất để làm rõ những hoạt động giảng dạy cần được thiết kế như thế nào nhằm mang lại những thay đổi mong muốn; thay đổi thực hành nhằm cải thiện chất lượng, hiệu quả và hiệu suất của hoạt động giảng dạy; và đo lường hiệu quả để kiểm tra mối quan hệ giữa hoạt động giảng dạy và kết quả.
Bước 4 xác định các dự định sử dụng kết quả đánh giá, là những cách cụ thể để áp dụng kết quả đánh giá vào hoạt động và chương trình giảng dạy Những dự định này nên được lên kế hoạch và ưu tiên, đồng thời gắn kết với các vấn đề nghiên cứu trọng tâm Các vấn đề trọng tâm đại diện cho những khía cạnh cụ thể của hoạt động và các đổi mới sẽ được xem xét trong chương trình giảng dạy [90].
Thiết kế một kế hoạch đánh giá là bản mô tả chi tiết về cách thức thực hiện quá trình đánh giá, bao gồm mục đích và mục tiêu đánh giá, các nguồn lực sẵn sàng cho thực hiện, những thông tin cần thu thập, các phương pháp đánh giá được sử dụng, vai trò và trách nhiệm của những người tài trợ và người đánh giá, và thời gian hoàn thành nhiệm vụ dự kiến Kế hoạch này giúp đảm bảo tính rõ ràng, tính khách quan và hiệu quả của quá trình đánh giá, đồng thời cung cấp khung làm việc cho nhóm thực hiện và các bên liên quan.
Bước 6 Thu thập dữ liệu Các nhà đánh giá cố gắng thu thập dữ liệu (thông tin) và chuyển chúng thành một bức tranh toàn diện về hoạt động giảng dạy và các đổi mới chương trình, nhằm cung cấp thông tin đáng tin cậy cho những người sử dụng chính Quá trình thu thập dữ liệu đòi hỏi tập hợp dữ liệu từ nhiều nguồn, đảm bảo tính đầy đủ, độ tin cậy và tính khách quan để phản ánh đúng thực tế Các khía cạnh sau đây của việc thu thập dữ liệu là hết sức quan trọng, bao gồm lựa chọn công cụ thu thập phù hợp, quản lý và bảo mật dữ liệu, cũng như phương pháp phân tích và trình bày kết quả một cách rõ ràng nhằm hỗ trợ quyết định và cải thiện chất lượng giảng dạy [90].
Các chỉ số đo lường cụ thể mô tả các khái niệm phổ biến về giảng dạy, bối cảnh và các hiệu quả mong đợi, được chuyển hóa thành đơn vị đo lường cụ thể hoặc biến số có thể giải thích được Những chỉ số này biến các khái niệm thành dữ liệu có thể thu thập và phân tích, hỗ trợ đánh giá và cải thiện chất lượng giảng dạy Chúng cung cấp cơ sở cho việc thu thập bằng chứng hợp lý và đáng tin cậy cho người dùng [90].
Khái quát về trường Đại học Hùng Vương tỉnh Phú Thọ và lịch sử phát triển khoa Nghệ thuật và TDTT 29 1 Khái quát về trường Đại học Hùng Vương tỉnh Phú Thọ
1.4.1 Khái quát về trường Đại học Hùng Vương tỉnh Phú Thọ
Trường Đại học Hùng Vương tỉnh Phú Thọ được thành lập theo quyết định 81/2003/QĐ-TTg ngày 29 tháng 4 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở trường Cao đẳng Sư phạm Phú Thọ; là một trường đại học công lập đa ngành với định hướng ứng dụng, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và là trung tâm nghiên cứu khoa học hiện đại, chuyển giao công nghệ tiên tiến, phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội - văn hóa của tỉnh Phú Thọ và cả nước Hiện nay trường có 416 cán bộ, viên chức, trong đó có 14 giáo sư, phó giáo sư và 65 tiến sĩ, cùng đội ngũ thạc sĩ và các chuyên viên khác.
Trường có 258 người, trong đó Cử nhân 62 người và Trình độ khác 17 người Nhà trường có 9 khoa, 6 phòng, 6 trung tâm, 01 viện nghiên cứu và 01 trạm y tế Đang đào tạo 44 ngành (sau đại học 8 ngành; đại học 36 ngành) với quy mô gần 9000 học viên, trong đó sau đại học 374 học viên; đại học chính quy 4863 sinh viên; các hệ đào tạo khác 3729 sinh viên.
Trường có địa chỉ tại phường Nông Trang, Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, với diện tích 97,4 ha Trường được xây dựng khang trang và hiện đại, bao gồm khu hành chính – hiệu bộ 15 tầng với đầy đủ phòng làm việc, hội trường, trường quay, thư viện và các phòng chức năng cùng khu làm việc cho các chuyên gia Khu giảng đường rộng trên 12.747 m2, gồm 76 phòng học lý thuyết được trang bị đầy đủ thiết bị dạy học.
Trường sở hữu hệ thống cơ sở vật chất hiện đại với 10 phòng học thực hành tin học được trang bị 254 máy tính, 3 phòng học chuyên dụng ngoại ngữ với 102 máy tính, 2 thư viện điện tử với 201 máy tính và 100% các phòng đều được kết nối mạng Internet tốc độ cao, 16 phòng thí nghiệm có diện tích 2040 mét vuông, 18 phòng thực hành có diện tích 1279 mét vuông, 01 viện nghiên cứu và phát triển, 01 trung tâm quốc phòng và an ninh, cùng 03 khu kí túc xá với quy mô nhất định.
2500 sinh viên; 01 không gian sinh viên với diện tích trên 2000 mét vuông; nhà ăn, siêu thị mini đảm bảo nhu cầu phục vụ sinh viên
Với triết lý giáo dục CHẤT LƯỢNG - TOÀN DIỆN - HỘI NHẬP, trường thực hiện nghiêm nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN Trong những năm vừa qua, nhà trường luôn giữ nề nếp, kỷ cương trong công tác đào tạo, kiên trì thực hiện nghiêm túc quy chế chuyên môn và đảm bảo chất lượng đào tạo.
1.4.2 Lịch sử phát riển khoa Nghệ thuật và TDTT Khoa TDTT Trường Đại học Hùng Vương tỉnh Phú Thọ được thành lập ngày
Ngày 13-5-2015, bộ môn Giáo dục thể chất được sáp nhập từ Khoa Khoa học Tự nhiên của trường và đến tháng 8-2018, sau khi sắp xếp và cơ cấu lại bộ máy, khoa được sáp nhập với khoa Nghệ thuật và đổi tên thành Khoa Nghệ thuật và TDTT Hiện nay, khoa có 25 cán bộ, giảng viên (01 PGS.TS; 24 ThS), được tổ chức thành 3 bộ môn và 1 trung tâm, đào tạo 4 ngành đại học gồm Đại học Giáo dục thể chất, Đại học Sư phạm Âm nhạc, Đại học Sư phạm Mỹ thuật và Đại học Thiết kế đồ họa, với quy mô trên 700 sinh viên Cơ sở vật chất của khoa được trang bị đồng bộ và hiện đại, gồm các phòng học chuyên dụng như phòng thanh nhạc, nhạc cụ, phòng múa và biểu diễn; phòng vẽ, phòng trưng bày nghệ thuật; phòng điêu khắc, phòng tập thể lực; nhà đa năng, bể bơi và sân vận động Bộ môn GDTC là một trong ba bộ môn trực thuộc khoa, có 13 cán bộ, giảng viên (01 PGS.TS; 04 NCS; 08 ThS) đang đào tạo mã ngành đại học GDTC với trên 200 sinh viên.
Trải qua hơn 40 năm đào tạo trình độ cao đẳng ngành giáo dục thể chất và 10 năm đào tạo trình độ đại học ngành GDTC, chương trình được nhà khoa và nhà trường ghi nhận và đánh giá cao nhờ sự nỗ lực vượt khó, nghiên cứu liên tục, cải tiến và đổi mới nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Sinh viên ngành GDTC khi ra trường bước đầu đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.
Một số công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận án
đề nghiên cứu của luận án
Phát triển chương trình giáo dục là một ngành khoa học được các nhà khoa học và các chuyên gia của nhiều nước trên thế giới đầu tư nghiên cứu nhiều năm nay, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục Nghiên cứu liên ngành trong lĩnh vực này kết nối lý thuyết với thực tiễn, hỗ trợ thiết kế giáo trình, đánh giá kết quả và tối ưu hóa trải nghiệm học tập cho người học.
Trải qua hơn một thế kỷ phát triển, ngành khoa học đã nghiên cứu hàng chục mô hình phát triển chương trình giáo dục, phản ánh đúng mức sự tiến bộ kinh tế - xã hội và nhu cầu giáo dục của từng thời đại Do đó, phát triển chương trình giáo dục cũng như chương trình môn học là lĩnh vực có lịch sử nghiên cứu sâu sắc và được các trường đại học hàng đầu thực hiện thường xuyên, dù ở nước ta lĩnh vực này vẫn còn khá mới mẻ Cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về phát triển chương trình giáo dục, và bài viết này tóm lược những nét khái quát về một số nghiên cứu trong nước và nước ngoài có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu của luận án.
1.5.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Đánh giá tổng quan về tài liệu Xây dựng và đánh giá chương trình môn học của Robert M Diamond (1998) cho thấy cách tiếp cận xây dựng và đánh giá chương trình môn học dựa trên nguyên tắc lấy người học làm trung tâm; Diamond làm rõ mối quan hệ giữa mục tiêu môn học, nội dung chương trình và các hoạt động giảng dạy, đồng thời phân tích cách thực thi đánh giá và cải tiến để hoàn thiện cả chương trình giáo dục và chương trình môn học [97].
Trong tài liệu "chương trình và những cơ sở và nguyên tắc về xây dựng chương trình'' của Aian Omstein và Francis P Hunkins (1998), các tác giả đã tổng hợp khá toàn diện về: (1) Các cơ sở xây dựng chương trình (cơ sở triết học, lịch sử, tâm lý và xã hội) cùng hệ thông lý luận về chương trình; (2) Phát triển chương trình giáo dục (thiết kế xây dựng, thực thi và đánh giá chương trình); (3) Các chính sách và khuynh hướng phát triển chương trình Những vấn đề này cũng được tìm thấy trong công trình
Chương trình các phương pháp tiếp cận vấn đề đang tiếp diễn của Collin J Marsh và George Willis (2003) đưa ra khuôn khổ phân tích và xử lý vấn đề mang tính liên tục trong giáo dục; đồng thời Susan Tooshcy (1999) trong cuốn "Thiết kế môn học trong giáo dục đại học" trình bày mô hình và phương pháp thiết kế môn học trong giáo dục đại học cũng như các chiến lược giảng dạy nhằm thực thi chương trình môn học Từ hai nguồn này có thể thấy rõ sự liên hệ giữa thiết kế môn học và thực tiễn giảng dạy, nhấn mạnh vai trò của cấu trúc chương trình và cách triển khai các hoạt động học tập để đạt được mục tiêu giáo dục.
Trong tác phẩm nổi tiếng “Xây dựng chương trình học” (Developing the Curriculum), Peter F Oliva phân tích toàn diện triết lý và mục đích giáo dục, các vấn đề lý luận và quá trình thiết kế, thực thi và đánh giá chương trình; đồng thời trình bày các mô hình xây dựng chương trình và phân tích mối quan hệ giữa chương trình học và giảng dạy Đặc biệt, tác giả đưa ra quan điểm phát triển chương trình của chính mình và giới thiệu một mô hình được cho là toàn diện nhất, bởi mô hình này liên kết chặt chẽ quá trình phát triển chương trình với quá trình giảng dạy và thực thi chương trình.
Vấn đề thiết kế, xây dựng và đánh giá chương trình giáo dục và chương trình môn học được phân tích sâu và làm sáng tỏ trong nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học và chuyên gia xây dựng chương trình nổi tiếng, trong đó tác giả Hilda Taba là một đại diện tiêu biểu Các nghiên cứu nhấn mạnh quy trình từ thiết lập mục tiêu giáo dục, xác định nội dung và phương pháp giảng dạy đến thiết kế hệ thống đánh giá, nhằm tạo ra một khung chương trình nhất quán, phù hợp với ngữ cảnh và mục tiêu học tập Việc vận dụng các nguyên tắc thiết kế của Hilda Taba và các học giả hàng đầu giúp người làm giáo dục xây dựng chương trình giáo dục và môn học chất lượng, đồng thời cải thiện hiệu quả giảng dạy và kết quả học tập của học sinh.
Trong nước và quốc tế, đã có nhiều nghiên cứu về xây dựng chương trình giáo dục và chương trình môn học, bắt đầu từ tác phẩm Xây dựng chương trình lý luận và thực tiễn (1962) và đóng góp của Kelly A.v (1977) cùng nhiều tác giả khác Tuy nhiên, các công trình này phần lớn mang tính khái quát về cách thức xây dựng và đánh giá một chương trình giáo dục đại học và chương trình môn học cơ bản, và chưa có công trình nào nghiên cứu một cách bài bản việc đổi mới chương trình môn học cho một ngành nghề cụ thể, đặc biệt là giáo dục thể chất.
1.5.2 Các nghiên cứu ở trong nước Việt Nam trong những năm gần đây số lượng công trình nghiên cứu về khoa học phát triển chương trình giáo dục cũng đã nhiều, song phần lớn chỉ ở mức độ tài liệu tham khảo cho giảng dạy và học tập, các bài báo hoặc báo cáo khoa học tại các hội nghị khoa học
Trong nhiều bài viết, tác giả Trần Khánh Đức đã làm sáng tỏ những vấn đề về đào tạo đại học theo niên chế và sự đổi mới phương thức quản lý nhà nước đối với nội dung và chương trình đào tạo nhằm thực hiện tinh thần của Luật giáo dục Bài viết về chương trình tập huấn tại Đại học Quốc gia Hà Nội "Cấu trúc lại chương trình đào tạo để chuyển từ đào tạo theo niên chế sang tín chỉ" của Ngô Doãn Đại phân tích đặc điểm của học chế tín chỉ, yêu cầu về cấu trúc nội dung và phân bổ thời lượng, cũng như các tiêu chí để xây dựng chương trình phù hợp với tín chỉ Các vấn đề liên quan tới tổ chức xây dựng và quản lý chương trình đào tạo trong học chế tín chỉ được Lâm Quang Thiệp trình bày và phân tích trong một số bài viết khác.
Trong kỷ yếu của Hội thảo Xây dựng chương trình đào tạo đại học, hai bài viết “Cơ sở khoa học của việc xây dựng chương trình đào tạo đại học và sau đại học” và “Chương trình chi tiết về ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn học là công cụ để đổi mới phương pháp dạy và học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo” trình bày cơ sở lý thuyết và thực tiễn cho thiết kế chương trình, đồng thời làm rõ vai trò của ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm như một công cụ đổi mới phương pháp dạy và học để nâng cao chất lượng đào tạo đại học; các bài viết cùng nhấn mạnh tầm quan trọng của đánh giá và công cụ đo lường trong quá trình đổi mới giáo dục và nâng cao chất lượng đào tạo.
Vào năm 2003, tác giả Lê Đức Ngọc đã đề cập và phân tích nội hàm chất lượng đào tạo đại học, đồng thời làm rõ các nguyên tắc xây dựng và phát triển chương trình đào tạo Ông nhấn mạnh vai trò của chương trình môn học trong việc quản lý chất lượng giáo dục, ảnh hưởng của nó đến công tác giảng dạy, quá trình học tập và nội dung của mỗi chương trình môn học Nội dung chương trình môn học được xem là yếu tố then chốt trong tổ chức giáo dục, quyết định phương pháp giảng dạy, cách đánh giá và định hướng phát triển người học Việc thiết kế và quản lý chương trình môn học theo các nguyên tắc chất lượng giúp nâng cao hiệu quả đào tạo đại học và đáp ứng mục tiêu giáo dục.
Trong kỷ yếu hội thảo, bài viết của Lê Văn Hào mang tự đề Xây dựng chương trình đào tạo hướng đến rèn luyện kỹ năng đã phân tích thực trạng xây dựng chương trình đại học ở Việt Nam và đề xuất một hướng đi mới: tích hợp rèn luyện các kỹ năng thiết yếu vào chương trình đào tạo để người tốt nghiệp có thể thích ứng và cạnh tranh hiệu quả trên thị trường lao động Đây được xem như một ý tưởng đổi mới trong thiết kế chương trình đào tạo vào thời điểm đó.
Trong bài viết 'Một số vấn đề cần quan tâm khi xây dựng chương trình đào tạo đại học', tác giả Phùng Rân phân tích các nguyên tắc cơ bản trong xây dựng chương trình và đề xuất các tiêu chí mà chương trình đào tạo bậc đại học cần đáp ứng nhằm đảm bảo chất lượng và tính phù hợp với nhu cầu xã hội và thị trường lao động Ông nhấn mạnh sự liên hệ giữa mục tiêu đào tạo, nội dung giảng dạy và kết quả học tập, đồng thời khuyến nghị khung chuẩn đầu ra rõ ràng cho từng ngành học Các tiêu chí được nêu bao gồm tính logic và nhất quán của chương trình, sự cân bằng giữa lý thuyết và thực hành, tính cập nhật và linh hoạt để thích nghi với tiến bộ khoa học, cùng với cơ chế đánh giá và đảm bảo chất lượng liên tục Bài viết cũng nhấn mạnh vai trò của quản trị chương trình và sự phối hợp giữa giảng viên, nhà tuyển dụng và người học để đảm bảo tính phù hợp và tính bền vững của chương trình đào tạo đại học.
Chương trình giáo dục được thiết kế để phù hợp với sự phân cấp, phân luồng của hệ thống giáo dục quốc dân và tương thích với trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ trong nước Đồng thời, mục tiêu là đào tạo lực lượng lao động phù hợp với sự phân công lao động xã hội, đáp ứng yêu cầu chủ động hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới, và tăng cường tính liên thông để tạo điều kiện thuận lợi cho người học.