Tổng quan các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tới giá trị cổ phiếu .... Luận án đã rà soát các nghiên cứu liên quan đến những
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua nhiều thế kỷ hình thành và phát triển, các nguyên tắc kế toán chung được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới, trong đó GAAP (Generally Accepted Accounting Principles) đóng vai trò nền tảng và nguyên tắc thận trọng vẫn được minh chứng qua lý thuyết và thực tiễn là rất quan trọng trong kế toán quốc tế nói chung và kế toán Việt Nam nói riêng qua các thời kỳ Việc áp dụng nguyên tắc thận trọng ảnh hưởng trực tiếp tới tính trung thực, độ tin cậy và hữu ích của các yếu tố trình bày trên báo cáo tài chính, từ đó nâng cao chất lượng thông tin kế toán Nguyên tắc này đòi hỏi các nghiệp vụ kinh tế được ghi nhận ở mức bảo thủ, có nghĩa là cần xem xét, cân nhắc và đưa ra các phán đoán cần thiết để thiết lập các ước tính kế toán trong điều kiện không chắc chắn.
Chính đặc tính thận trọng trong thông tin kế toán có thể mang lại cả lợi ích và hạn chế cho doanh nghiệp Thận trọng trong kế toán nhằm ngăn tài sản và thu nhập bị đánh giá quá cao, đồng thời không để chi phí và nợ phải trả bị ghi nhận ở mức thấp hơn giá trị thực Hơn nữa, phản ứng nhanh với các dấu hiệu thông tin tích cực và tiêu cực từ thị trường được thực hiện bằng cách chỉ ghi nhận thông tin tích cực về tăng doanh thu hay tăng tài sản khi có bằng chứng chắc chắn, còn thông tin tiêu cực về xuất hiện chi phí sẽ được ghi nhận ngay khi có khả năng xảy ra Các phương án này giúp nhà đầu tư dự đoán và kiểm soát rủi ro tài chính, cảnh báo những hao tổn hoặc bất lợi cho người sử dụng thông tin.
Luận án rà soát các nghiên cứu liên quan đến những nhân tố tác động tới việc thực hiện nguyên tắc thận trọng kế toán ở Việt Nam và trên thế giới trong các điều kiện cụ thể Trên phạm vi toàn cầu, các nghiên cứu cho thấy mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố riêng lẻ hoặc của một tổ hợp nhân tố tới thực hành thận trọng, điển hình với các nhân tố như quy mô doanh nghiệp, thời gian hoạt động, đòn bẩy tài chính, chất lượng dịch vụ kiểm toán và đặc điểm quản trị công ty, được minh chứng qua các công trình như Behrghani & Pajoohi (2013) và Geimechi Những phát hiện này cho thấy thực hiện nguyên tắc thận trọng phụ thuộc vào đặc điểm tổ chức và môi trường hoạt động của doanh nghiệp, từ đó cung cấp những gợi ý quản trị rủi ro và nâng cao chất lượng báo cáo tài chính.
Những nghiên cứu về nguyên tắc thận trọng và các yếu tố môi trường bên ngoài, như thời kỳ khủng hoảng kinh tế (Leune, 2014), cho thấy mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố kinh tế và môi trường Tại Việt Nam, các nghiên cứu thực nghiệm nhằm tìm kiếm, phát hiện và đo lường các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán ngày càng được chú ý hơn những năm gần đây Hai nghiên cứu của Lê Tuấn Bách (2018) về cấu trúc sở hữu ảnh hưởng tới nguyên tắc thận trọng và Nguyễn Thị Bích Thủy (2019) về đặc điểm quản trị công ty đến mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong các công ty Việt Nam vẫn tồn tại những hạn chế liên quan đến mô hình đo lường nguyên tắc thận trọng và việc chọn biến nghiên cứu Luận án này sẽ phân tích rõ hơn ở các phần sau Từ nhận định này cho thấy chủ đề đo lường các nhân tố ảnh hưởng tới nguyên tắc thận trọng trong kế toán vẫn còn khoảng trống nghiên cứu cần bù đắp.
Song song với đó, các nghiên cứu liên quan đến vai trò của việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán vẫn có nhiều quan điểm trái chiều, vì tính tích cực hay tiêu cực của đặc tính thận trọng phụ thuộc vào mức độ phát triển của từng thị trường và đặc tính của hệ thống tài chính của các quốc gia (Watts, Zuo, & Balakrishnan, 2016) Do vậy, việc nghiên cứu sự ảnh hưởng của nguyên tắc thận trọng tới các doanh nghiệp tại thị trường Việt Nam là cần thiết Tuy nhiên đây là một vấn đề lớn, đòi hỏi rất nhiều thông tin và phân tích tài chính cũng như phi tài chính; luận án sẽ chỉ bàn tới tầm ảnh hưởng của việc thực hiện thận trọng trong kế toán đến giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam như một phần gia tăng thêm, hỗ trợ trong việc đưa ra các gợi ý thực tiễn hơn ở chương cuối.
Như vậy, luận án nghiên cứu về thận trọng trong kế toán, trong đó tập trung vào
Luận án tập trung vào hai vấn đề chính: (1) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại thị trường Việt Nam; (2) bàn luận thêm tác động của thận trọng kế toán tới giá trị cổ phiếu tại Việt Nam Hai động lực chính thúc đẩy thực hiện luận án này là nhằm làm rõ vai trò của thận trọng kế toán đối với sự minh bạch và ổn định của thị trường tài chính Việt Nam và cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của nguyên tắc thận trọng đến định giá cổ phiếu.
Thứ nhất, từ sự thiếu hụt khoảng trống trong các nghiên cứu lịch sử, đặc biệt là các nghiên cứu ở Việt Nam, tổng quan tài liệu về thận trọng trong kế toán cho thấy dù các nghiên cứu đã xác định một số nhân tố riêng lẻ hoặc nhóm nhân tố ảnh hưởng đến mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng, song vẫn chưa thật sự đầy đủ và toàn diện Hơn nữa, các mô hình đo lường thận trọng trong các nghiên cứu Việt Nam trước đây vẫn bộc lộ nhiều bất cập cần được khảo sát sâu hơn, như được minh họa qua các công trình của Lê Tuấn Bách (2018) và Nguyễn Thị Bích Thủy (2019).
Thận trọng trong kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam có thể bị lợi dụng để tạo áp lực lên báo cáo lợi nhuận và từ đó tác động đến giá cổ phiếu trên thị trường Việc khai thác khía cạnh này là một thực tế đang diễn ra và đòi hỏi sự quan tâm của nhà quản lý cùng các bên liên quan Việc thảo luận sâu về vấn đề này cung cấp thông tin cần thiết để ra quyết định và giúp nhận diện cả mặt tích cực lẫn tiêu cực của việc quản trị và áp dụng thận trọng trong kế toán tại doanh nghiệp.
Luận án hướng tới tổng hợp các trường phái lý thuyết và quan điểm liên quan tới thận trọng trong kế toán, nổi bật với Lý thuyết kế toán thực chứng, Lý thuyết đại diện và Lý thuyết thông tin bất đối xứng; đồng thời mở rộng nguồn dữ liệu để đo lường mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng, so sánh các phương pháp đo lường thận trọng trong kế toán nhằm tìm ra mô hình thực nghiệm phù hợp với thị trường chứng khoán Việt Nam Việc nắm vững các lý thuyết và các nhân tố ảnh hưởng tới thận trọng sẽ hỗ trợ quá trình xây dựng mô hình đo lường thực nghiệm ở các phần tiếp theo, từ đó rút ra các nhận định về cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực của thận trọng trong kế toán.
Tổng quan các công trình nghiên cứu
1.2.1 T ổ ng quan các công trình nghiên c ứ u v ề m ứ c độ th ự c hi ệ n nguyên t ắ c th ậ n tr ọ ng trong k ế toán
Nguyên tắc thận trọng trong kế toán bắt đầu xuất hiện từ đầu thế kỷ 20, được ghi nhận qua các nghiên cứu sơ khai mô tả cách thận trọng được áp dụng trong các trường hợp kế toán (Bliss, 1924; Paton và Littleton, 1940) Nửa sau thế kỷ 20 chứng kiến sự phát triển và hệ thống hóa nguyên tắc này trong lĩnh vực kế toán, phản ánh sự nhận thức ngày càng tăng về vai trò của thận trọng trong ghi nhận và trình bày thông tin tài chính một cách cân đối và đáng tin cậy.
Trong số 20 công trình nghiên cứu gần đây về nguyên tắc thận trọng, các tác giả đã chú ý nhiều hơn đến cách đo lường mức độ thực hiện nguyên tắc này và đánh giá mức độ rủi ro mục tiêu trong báo cáo tài chính Đáng chú ý là khi IASB chính thức đưa nguyên tắc thận trọng vào khuôn khổ lập và trình bày Báo cáo tài chính năm 1989, các nghiên cứu về đo lường và áp dụng nguyên tắc thận trọng đã trở nên phong phú và sâu sắc hơn.
Về mặt chuẩn mực kế toán, nguyên tắc thận trọng được đưa vào khuôn khổ lập và trình bày Báo cáo tài chính năm 1989 (IASB, 1989) Tuy nhiên, do lo ngại thận trọng có thể bị lợi dụng để thao túng thông tin kế toán nhằm mục đích khác nhau như dự phòng quá mức hoặc trì hoãn ghi nhận thu nhập để tránh thuế, IASB đã loại bỏ khái niệm này trong bản sửa đổi năm 2010 Tuy vậy, do còn nhiều ý kiến trái chiều, nguyên tắc thận trọng một lần nữa được đưa vào dự thảo sửa đổi Khung khái niệm của IASB năm 2015 và chính thức được giới thiệu lại trong Khung khái niệm cho hoạt động báo cáo tài chính năm 2018 (IASB, 2018).
Các nghiên cứu thực nghiệm cuối thế kỷ 20 tập trung đo lường mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán Tuy nhiên, các mô hình này chưa đo lường trực diện và đầy đủ nguyên tắc thận trọng mà chỉ đánh giá các dấu hiệu thể hiện mức độ thực hiện nguyên tắc này Trong số các công trình nổi tiếng, Feltham và Ohlson (1995) đề xuất phương pháp so sánh giữa giá trị sổ sách và giá trị thị trường; Basu (1997) và Givoly–Hayn (2000) trình bày cách đo lường thông qua giá trị dồn tích âm; Ball và Shivakumar (2005) với phương pháp dựa trên dòng tiền; Khan và Watts (2009) mở rộng mô hình Basu (1997) Những đóng góp này đã tạo nền tảng cho các phương pháp đo lường mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng và vẫn được áp dụng trong các nghiên cứu hiện đại ngày nay.
Trong chương 2, luận án sẽ trình bày chi tiết và so sánh các phương pháp đo lường này
1.2.2 T ổ ng quan các công trình nghiên c ứ u v ề các nhân t ố ả nh h ưở ng t ớ i m ứ c độ th ự c hi ệ n nguyên t ắ c th ậ n tr ọ ng trong k ế toán
Trong phần này, luận án rà soát và phân tích các nghiên cứu trong nước và quốc tế về các nhân tố ảnh hưởng tới nguyên tắc thận trọng của doanh nghiệp làm cơ sở cho nghiên cứu trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam Như đã nói ở trên, nguyên tắc thận trọng trong kế toán chưa thể đo lường một cách trọn vẹn và trực tiếp theo định nghĩa, vì vậy các nghiên cứu dưới đây dựa vào các mô hình đo lường các dấu hiệu thể hiện mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán, từ đó đưa ra các yếu tố ảnh hưởng
Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng tới mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng của doanh nghiệp được tiến hành tại các nước phát triển như Mỹ: Beatty, Ke, và Petroni, (2002), (Kim và Zhang, 2014), Anh Quốc (Beekes, Pope, và Young, 2004);
Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành tại các thị trường mới nổi và các nước đang phát triển, như Malaysia (Mohammed, Ahmed và Ji, 2017), Hy Lạp (Reyad, 2012), Iran (Geimechi và Khodabakhshi, 2015) và Indonesia (Akuntansi & Ekonomi, 2018; Rahayu, 2018) Tại Việt Nam, hai nghiên cứu về vấn đề này được thực hiện bởi Lê Tuấn Bách (2018) và Nguyễn Thị Bích Thủy (2019) Một số nghiên cứu xem xét tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng, trong khi một số khác lại đi sâu tìm hiểu từng nhân tố cụ thể.
Rà soát các nghiên cứu liên quan tại các thị trường mới nổi có thể thấy một vài công trình nổi bật như sau:
Nghiên cứu của Mohammed, Ahmed và Ji (2017) sử dụng bộ số liệu gồm 206 công ty Malaysia từ năm 2004 đến 2017, trong đó các công ty được lựa chọn dựa trên giá trị vốn hóa thị trường cao nhất in năm 2007 vì nhóm này được cho là chịu tác động lớn từ các yếu tố chính sách Đề tài phân tích mối quan hệ giữa quản trị công ty, nguyên tắc thận trọng trong kế toán và ảnh hưởng của yếu tố chính sách, cho thấy các công ty Malaysia trong khoảng thời gian này tuân thủ nguyên tắc thận trọng hoặc phản ứng nhanh với luồng thông tin tiêu cực hơn so với thông tin tích cực Biến đo lường quản trị công ty gồm quy mô hội đồng quản trị, quy mô ban kiểm toán nội bộ và chất lượng kiểm toán viên Kết quả chỉ ra có mối quan hệ giữa nguyên tắc thận trọng trong kế toán và hệ thống quản trị công ty dưới biến điều tiết bởi chính sách của chính phủ; cụ thể, quy mô hội đồng quản trị và ban kiểm toán tác động tới mức độ tuân thủ nguyên tắc thận trọng, trong khi chất lượng kiểm toán không ảnh hưởng tới chỉ tiêu thận trọng Đề tài cũng lưu ý rằng ở các nền kinh tế đang phát triển như Malaysia, các doanh nghiệp có vốn sở hữu Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hình ảnh của thị trường tài chính nói chung, do đó các công ty này cần tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc kế toán và đảm bảo chất lượng báo cáo tài chính.
Rahayu (2018) tiến hành phân tích dữ liệu với 144 công ty sản xuất niêm yết trên thị trường chứng khoán Indonesia trong giai đoạn 2013–2016 nhằm làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán Nghiên cứu nhấn mạnh các nhân tố bắt nguồn từ nguyên nhân hình thành nên nguyên tắc thận trọng và được xem như các yếu tố “thúc đẩy” làm tăng mức độ thực hiện, gồm tính rủi ro pháp lý, tình trạng khó khăn tài chính, chi phí chính trị và quy mô thị trường huy động vốn; đồng thời nhấn mạnh rằng những yếu tố này thường khó kiểm soát Ngược lại, một số nghiên cứu tập trung vào các nhân tố có thể kiểm soát được, như biến số quản trị công ty, cấu trúc sở hữu, kiểm toán độc lập và chính sách cổ tức, gợi ý sự khác biệt giữa các yếu tố nguồn và yếu tố kiểm soát trong thực hành kế toán.
Reyad (2012) với nghiên cứu “Accounting Conservatism and Auditing Quality:
An Applied Study on Egyptian Corporations năm 2012 cho thấy mối quan hệ giữa nguyên tắc thận trọng và chất lượng báo cáo kiểm toán tại 54 công ty thuộc ngành công nghiệp được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hy Lạp, được ước lượng bằng phương pháp OLS từ 2006 đến 2010 Kết quả chỉ ra rằng mức độ tuân thủ nguyên tắc thận trọng phụ thuộc vào các yếu tố liên quan đến công ty kiểm toán, bao gồm việc là công ty kiểm toán nội địa hay quốc tế, và trình độ, kinh nghiệm của kiểm toán viên.
Nghiên cứu của Lara, Osma và Penalva (2009) sử dụng dữ liệu từ năm 1992 đến 2003 với 1611 công ty thuộc các sàn chứng khoán S&P 500, MidCap và Small Cap Đề tài áp dụng phương pháp đo lường mức độ tuân thủ nguyên tắc thận trọng bằng cách đánh giá phản ứng của lợi nhuận trước luồng thông tin tích cực và tiêu cực, kết hợp các chỉ tiêu về đặc điểm bên trong và bên ngoài của cơ cấu kiểm soát doanh nghiệp Kết quả cho thấy các doanh nghiệp có cơ cấu quản trị vững mạnh sẽ tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc thận trọng trong kế toán Đồng thời, đề tài đã nêu nhận định về mối quan hệ nhân quả giữa hai chỉ tiêu này và xử lý biến nội sinh với biến quản trị công ty.
Tại Việt Nam, hai nghiên cứu nổi bật trong chủ đề này gồm công trình của Lê Tuấn Bách (2018) và Nguyễn Thị Bích Thủy (2019):
Lê Tuấn Bách (2018) trong luận án tiến sĩ của mình đã sử dụng bộ dữ liệu gồm
Trong giai đoạn 2005–2015, nghiên cứu quan sát và thu thập dữ liệu từ 5021 công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội và Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh nhằm đo lường ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu (sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài) đến mức độ tuân thủ nguyên tắc thận trọng trong kế toán, được kiểm soát bởi quy mô doanh nghiệp và đòn bẩy tài chính Điểm mới của mô hình là áp dụng mô hình Basu mở rộng (Basu, 1997; Khan và Watts, 2009) để đo lường mức độ tuân thủ nguyên tắc thận trọng tại các doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, mô hình còn một số hạn chế khi chưa tính tới mức độ ảnh hưởng của chính nhà quản lý trong doanh nghiệp; khi nắm giữ một lượng cổ phần nhất định, quản lý trở thành chủ sở hữu, có thể làm giảm chi phí đại diện, từ đó làm giảm xung đột giữa quản lý và cổ đông và ảnh hưởng tới mức ghi nhận và tuân thủ nguyên tắc thận trọng Bên cạnh đó, đề tài chưa làm rõ tầm quan trọng của tuân thủ nguyên tắc thận trọng đối với các yếu tố như giá trị doanh nghiệp, giá cổ phiếu hay quyết định tài chính, khiến các đề xuất chưa thật sự rõ ràng.
Nguyễn Thị Bích Thủy (2019) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm quản trị công ty và mức độ tuân thủ nguyên tắc thận trọng của 528 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam từ năm 2012 đến 2016 Kết quả cho thấy hai yếu tố có tác động tích cực đến việc thực hiện thận trọng trong kế toán: (1) sự kiêm nhiệm chức danh kết hợp với thành viên Hội đồng quản trị có chuyên môn kế toán tài chính; và (2) yếu tố chuyên môn của Ban kiểm soát Ngược lại, sở hữu của Ban giám đốc và sở hữu của Nhà nước có tác động tiêu cực đến việc thực hiện thận trọng Hạn chế của nghiên cứu là tác giả sử dụng phương pháp giá trị dồn tích (Admed và Duellman).
Phương pháp đo lường mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng được đề xuất từ năm 2007 nhằm đo lường mức độ tuân thủ trong kế toán Ưu điểm của phương pháp này là không đòi hỏi nhiều mục dữ liệu và không phụ thuộc vào thông tin thị trường của doanh nghiệp nên dễ triển khai Tuy nhiên, nó bỏ qua phản ứng của doanh nghiệp trước thông tin tích cực và tiêu cực từ thị trường – yếu tố được xem là nền tảng cho nguyên tắc thận trọng Vì vậy, để đánh giá chuẩn xác hơn, việc đo lường mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng nên được kết hợp với các phương pháp khác có độ tin cậy cao hơn.
Khoảng trống nghiên cứu về nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại Việt Nam được nhận diện từ tổng quan khi các yếu tố cá nhân hoặc nhóm yếu tố tác động tới mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng vẫn chưa được làm rõ đầy đủ, thể hiện bất cập trong việc lựa chọn mô hình đo lường phù hợp Nghiên cứu còn thiếu sự phân tích sâu về ảnh hưởng của các yếu tố này đến tính khách quan, tin cậy và tính so sánh của báo cáo tài chính, đồng thời cần xác định khung đo lường và điều kiện áp dụng tối ưu cho nguyên tắc thận trọng tại Việt Nam Vì vậy, việc bổ sung các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất các mô hình đo lường phù hợp là cần thiết để nâng cao sự nhất quán và khả năng so sánh của dữ liệu kế toán ở Việt Nam.
1.2.3 T ổ ng quan các công trình nghiên c ứ u v ề ả nh h ưở ng c ủ a m ứ c độ th ự c hi ệ n nguyên t ắ c th ậ n tr ọ ng trong k ế toán t ớ i giá tr ị c ổ phi ế u
Khoảng trống nghiên cứu
Từ tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước về mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán cho thấy thận trọng là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của kế toán, thể hiện cách phản ứng thận trọng trước những yếu tố không chắc chắn và đảm bảo xem xét đầy đủ mọi bất ổn và rủi ro tiềm ẩn trong các tình huống kinh doanh Vì vậy, luận án chỉ ra những khoảng trống tồn tại trong các nghiên cứu trước đây và đề xuất những hướng hoàn thiện để bổ sung và làm rõ thêm hiểu biết về thận trọng trong thực hành kế toán.
Hoạt động nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu đã chỉ ra nhiều nhân tố ảnh hưởng tới mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng, tuy nhiên tại Việt Nam chưa có một phân tích tổng hợp và đầy đủ các yếu tố này Hiện nay chỉ có hai công trình của Lê Tuấn Bách (2018) và Nguyễn Thị Bích Thủy (2019) tập trung riêng vào nhóm yếu tố cơ cấu sở hữu và quản trị công ty, chưa trình bày bức tranh toàn diện về các nhóm nhân tố còn lại Vì vậy cần có một nghiên cứu tổng hợp, bao quát đầy đủ các nhóm nhân tố ảnh hưởng tới mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng ở Việt Nam để cung cấp cơ sở cho quản trị doanh nghiệp và chuẩn mực kế toán trong nước.
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy thận trọng trong kế toán có vai trò ảnh hưởng tới các chỉ số như giá cổ phiếu và giá trị doanh nghiệp, nhưng kết quả vẫn chưa thống nhất do đặc điểm của hệ thống thị trường tài chính và giai đoạn phát triển của từng thị trường Tại Việt Nam, thị trường chứng khoán đang phát triển với nhiều biến động và rủi ro tiềm ẩn; thị trường tài chính phụ thuộc nhiều vào các ngân hàng và tổ chức tín dụng lớn; và các yêu cầu về báo cáo tài chính cũng như công bố thông tin kế toán còn nhiều bất cập Vì vậy, việc lựa chọn bối cảnh đặc thù của thị trường Việt Nam để nghiên cứu là cần thiết, và việc mở rộng thêm phần nghiên cứu mối quan hệ giữa thận trọng trong kế toán và giá trị cổ phiếu tại thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ giúp các khuyến nghị của luận án có tính thực tiễn hơn.
Trong kế toán, khi tổng kết mô hình đo lường thận trọng, nhiều mô hình khác nhau được áp dụng với ưu nhược điểm riêng, bao gồm đo lường dựa trên giá trị sổ sách so với giá trị thị trường; mô hình Basu; đo lường dựa trên giá trị dồn tích; đo lường dựa trên dòng tiền; và mở rộng Basu của Khan và Watts (2009) Tuy nhiên, việc xác định một mô hình phù hợp với bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam chưa thật sự tương thích Nhiều nghiên cứu ở Việt Nam vẫn vận dụng các phương pháp đo lường tương đối cũ, tồn tại nhiều hạn chế, dù tính toán và thu thập dữ liệu dễ dàng hơn so với các phương pháp mới cập nhật gần đây Việc lựa chọn được mô hình đo lường thích hợp sẽ đóng góp lớn cho phát triển nghiên cứu về nguyên tắc thận trọng tại Việt Nam Trong luận án này, tác giả sẽ so sánh và trình bày lý do sử dụng phương pháp đo lường mở rộng của Khan và Watts (2009), là phương pháp mới, cải tiến và đang được sử dụng rộng rãi làm thay thế cho các phương pháp cũ.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là dựa trên cơ sở lý luận và tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước để làm rõ nguyên tắc thận trọng trong kế toán và thực nghiệm kiểm tra các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam; đồng thời mở rộng phân tích để đánh giá tác động của mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng lên giá trị cổ phiếu như một phần gia tăng nhằm hỗ trợ các khuyến nghị thực tiễn cho các bên liên quan Để đạt được mục tiêu chung, luận án giải quyết các mục tiêu cụ thể như xây dựng mô hình đo lường mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng, kiểm định các nhân tố tác động, đánh giá ảnh hưởng lên giá cổ phiếu và đề xuất các khuyến nghị thực tiễn phù hợp với điều kiện thị trường chứng khoán Việt Nam.
Phần mở đầu của bài viết hệ thống hóa cơ sở lý thuyết của nguyên tắc thận trọng trong kế toán, làm rõ khung khái niệm và các nguyên lý nền tảng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ thực hiện nguyên tắc này Bài viết cũng phân tích các yếu tố nội tại và yếu tố bên ngoài tác động đến mức độ áp dụng, như môi trường pháp lý, chuẩn mực kế toán và chất lượng thông tin tài chính, nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về mối quan hệ giữa mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng và giá cổ phiếu Việc nhận diện và đánh giá các yếu tố này giúp làm rõ cách mức độ thận trọng tác động đến định giá cổ phiếu, sự tin cậy của nhà đầu tư và hiệu quả quản trị doanh nghiệp, từ đó làm cơ sở cho các gợi ý thực tiễn và khuyến nghị cải thiện thực hành kế toán theo nguyên tắc thận trọng.
Thứ hai, bài viết trình bày tổng quan các phương pháp đo lường và từ đó gợi ý cách lựa chọn mô hình phù hợp để đánh giá mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Việc chọn mô hình đo lường phù hợp giúp tăng tính khách quan và độ tin cậy của kết quả đánh giá, đồng thời hỗ trợ quản trị rủi ro và đảm bảo sự tuân thủ chuẩn mực tài chính Nội dung này nhấn mạnh tầm quan trọng của một khung đo lường chuẩn cho thị trường chứng khoán Việt Nam nhằm thúc đẩy minh bạch thông tin và tối ưu hóa quyết định quản trị.
Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam là mục tiêu chủ đạo của nghiên cứu, nhằm làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình áp dụng nguyên tắc thận trọng Các yếu tố này được chia thành hai nhóm: nội tại như hệ thống kiểm soát nội bộ, chất lượng thông tin kế toán và văn hóa quản trị, và ngoại tại như khung pháp lý, mức độ minh bạch thông tin và áp lực thị trường, từ đó cung cấp cái nhìn tổng thể để cải thiện thực hành kế toán thận trọng tại các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam.
Trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam, việc thảo luận thêm về mối quan hệ giữa mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng và giá trị cổ phiếu tại các công ty phi tài chính niêm yết là rất đáng quan tâm Mức độ tuân thủ thận trọng trong quản trị và báo cáo tài chính ảnh hưởng đến chất lượng thông tin tài chính, từ đó tác động đến định giá cổ phiếu và kỳ vọng của nhà đầu tư Khi các công ty phi tài chính áp dụng nguyên tắc thận trọng một cách đầy đủ, thông tin được công khai minh bạch hơn, giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định chính xác và có thể nâng cao giá trị cổ phiếu trên thị trường Ngược lại, mức độ thực hiện thấp có thể làm gia tăng rủi ro và tạo áp lực điều chỉnh giá cổ phiếu Vì vậy, phân tích mối quan hệ này sẽ làm sáng tỏ vai trò của thận trọng trong quản trị doanh nghiệp và tác động của nó đối với thị trường chứng khoán Việt Nam, đặc biệt ở nhóm công ty phi tài chính niêm yết.
Câu hỏi nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu, một số câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:
Câu hỏi 1: Nên lựa chọn mô hình đo lường mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán nào để áp dụng tại TTCK Việt Nam?
Câu hỏi 2: Đối với TTCK Việt Nam, những yếu tố nào có ảnh hưởng tới mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán?
Câu hỏi 4: Đối với TTCK Việt Nam, mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán ảnh hưởng như thế nào tới giá cổ phiếu?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu của luận án tập trung vào các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán và mở rộng phân tích để xem xét hệ quả của mức độ thực hiện nguyên tắc này đối với giá trị cổ phiếu của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2014–2019.
Phạm vi nghiên cứu đề tài tập trung vào lý thuyết liên quan đến nguyên tắc thận trọng trong kế toán, các phương pháp đo lường nguyên tắc thận trọng và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ thực hiện, từ đó áp dụng vào thực tiễn đánh giá mối quan hệ giữa nguyên tắc thận trọng và báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Đề tài cũng xem xét tác động của nguyên tắc thận trọng đến giá cổ phiếu, nhằm làm rõ hệ quả và định hướng các khuyến nghị mang tính thực tiễn được trình bày ở chương 5.
Phạm vi nghiên cứu về thời gian và không gian nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán và xem xét tác động của nó đối với giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên HOSE và HNX trong giai đoạn 2014–2019 Tuy nhiên, luận án đã loại bỏ khỏi phạm vi khảo sát các tổ chức tài chính, ngân hàng và tín dụng do đặc thù về cấu trúc tài chính và các quy định riêng của nhà nước cho hoạt động của nhóm này Vì vậy, phạm vi nghiên cứu được giới hạn còn lại ở các công ty phi tài chính niêm yết trên HOSE và HNX trong giai đoạn 2014–2019. -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tiếp cận đề tài này dựa trên hệ thống lý luận về lý thuyết kế toán, các quan điểm thận trọng và các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán Luận án bước 1 kiến tạo thang đo cho biến “mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng” phù hợp với đặc điểm thị trường chứng khoán Việt Nam; từ đó, bước 2 xây dựng lớp mô hình 1 để kiểm tra các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng; bước 3 đề tài xây dựng lớp mô hình 2 nhằm xem xét ảnh hưởng của mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng tới giá cổ phiếu của doanh nghiệp.
Trong bài luận này, dựa trên phần mềm Stata, chúng tôi xây dựng và ước lượng các mô hình hồi quy để kiểm chứng tính phù hợp của các mô hình với dữ liệu bảng, gồm mô hình hồi quy bình phương tối thiểu cổ điển (OLS), mô hình ảnh hưởng cố định (FEM) và mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) Sau khi ước lượng, chúng tôi áp dụng các kiểm định để đánh giá và chọn mô hình phù hợp nhất, trong đó kiểm định Hausman được dùng để quyết định giữa FEM và REM, cùng với các kiểm định bổ sung như kiểm định LM cho hiệu ứng ngẫu nhiên và kiểm định F cho hiệu ứng cố định, nhằm xác định mô hình tối ưu cho phân tích và kết quả nghiên cứu.
Phương pháp thu thập dữ liệu được triển khai bằng cách thu thập thông tin và dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội, từ các tài liệu và báo cáo của các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp, cũng như từ các công trình khoa học đã được công bố Những nguồn dữ liệu này được tổng hợp nhằm đảm bảo tính đầy đủ, khách quan và đáng tin cậy cho phân tích và nghiên cứu.
Phương pháp xử lý dữ liệu bằng phần mềm thống kê là cách làm phổ biến để xử lý thông tin và số liệu trong nghiên cứu Các công cụ thống kê như Stata được áp dụng rộng rãi để thực hiện các bước làm sạch dữ liệu, phân tích và trình bày kết quả nghiên cứu một cách chính xác và trực quan.
Ngoài ra, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh v.v.
Thiết kế nghiên cứu
Luận án bước đầu trình bày khung lý thuyết và tổng quan các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán và hệ quả của nó tới giá cổ phiếu, đồng thời chỉ ra khoảng trống nghiên cứu Dựa trên tổng quan này, hai lớp mô hình được thiết lập: mô hình 1 xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán; mô hình 2 đánh giá tác động của mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng tới giá cổ phiếu Các giả thuyết nghiên cứu sẽ được kiểm định thông qua các mô hình hồi quy, và kết quả thu được sẽ được thảo luận để đưa ra các khuyến nghị và kết luận cho nghiên cứu và thực tiễn.
KhungKhung lý thuyết, tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Khoảng trống nghiên cứu về mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng, các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ thực hiện và hệ quả của nó tới giá cổ phiếu vẫn chưa được làm rõ Nghiên cứu này tập trung nhận diện các yếu tố ảnh hưởng và phân tích cách thực hiện nguyên tắc thận trọng tác động đến định giá cổ phiếu Trên cơ sở đó, giả thuyết nghiên cứu được đề xuất nhằm kiểm định mối quan hệ giữa mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng và biến động giá cổ phiếu, đồng thời làm rõ vai trò của các nhân tố ảnh hưởng trong mối quan hệ này.
Thu thập và xử lý số liệu bằng phần mềm Stata 12
- Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu
- Kiểm định mối quan hệ tương quan
- Thực hiện hồi quy theo từng mô hình OLS, REM, FEM, kiểm định sự tồn
Kết cấu của luận án
Kết cấu của luận án được chia thành 5 chương, bao gồm:
Ch ươ ng 1: Gi ớ i thi ệ u đề tài nghiên c ứ u
Ch ươ ng 2: C ơ s ở lý lu ậ n và t ổ ng quan v ề m ứ c độ th ự c hi ệ n nguyên t ắ c th ậ n tr ọ ng trong k ế toán c ủ a doanh nghi ệ p
Ch ươ ng 3: Xây d ự ng gi ả thuy ế t khoa h ọ c và Ph ươ ng pháp nghiên c ứ u
Ch ươ ng 4: Th ự c tr ạ ng v ề s ự tác độ ng c ủ a các nhân t ố t ớ i m ứ c độ th ự c hi ệ n nguyên t ắ c th ậ n tr ọ ng trong k ế toán và h ệ qu ả c ủ a nó t ớ i giá tr ị c ổ phi ế u t ạ i các công ty niêm y ế t trên th ị tr ườ ng ch ứ ng khoán Vi ệ t Nam
Ch ươ ng 5: Th ả o lu ậ n k ế t qu ả nghiên c ứ u, các khuy ế n ngh ị và k ế t lu ậ n
Chương 1 của luận án mở đầu và giới thiệu những nội dung cơ bản, trong đó: phần đầu của chương nêu lên tính cấp thiết của luận án, mục tiêu chung và câu hỏi nghiên cứu Nhận thức được tầm ảnh hưởng quan trọng của mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán, luận án đặt mục tiêu xem xét những nhân tố tác động lên mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán, sau đó xem xét thêm mối quan hệ giữa mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng và giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Câu hỏi nghiên cứu đã cụ thể hóa mục tiêu nghiên cứu nêu ở trên
Phần tiếp theo chương giới thiệu phương pháp nghiên cứu định lượng trong kế toán, giới thiệu về bộ dữ liệu thứ cấp thu thập được tại thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2014 đến 2019 Ngoài ra, chương cũng trình bày cụ thể về đối tượng, phạm vi không gian, thời gian của luận án Sơ đồ mô tả khung nghiên cứu thể hiện nội dung và các bước nghiên cứu, đồng thời kết cấu luận án được nêu cuối chương thể hiện nội dung chi tiết của luận án.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỨC ĐỘ THỰC HIỆN THẬN TRỌNG
Những vấn đề cơ bản về nguyên tắc thận trọng
2.1.1 Đị nh ngh ĩ a và yêu c ầ u nguyên t ắ c th ậ n tr ọ ng
Nguyên tắc kế toán được coi như một tập hợp các tuyên bố chung về chuẩn mực, thước đo và chỉ dẫn mà doanh nghiệp phải tuân thủ khi lập báo cáo tài chính nhằm đảm bảo tính nhất quán và tin cậy của các báo cáo Trong nhóm nguyên tắc này, thận trọng trong kế toán là một nguyên tắc lâu đời, được chấp nhận rộng rãi và được áp dụng ở nhiều góc độ quản trị và hoạt động của doanh nghiệp (Sterling, 1970).
Các nhà nghiên cứu đã đề xuất nhiều định nghĩa khác nhau về nguyên tắc thận trọng, nhưng các định nghĩa này vẫn chỉ dừng ở mức mô tả tính thận trọng trong các trường hợp kế toán.
Xét từ góc nhìn báo cáo kết quả kinh doanh, Bliss (1924) cho rằng thận trọng trong kế toán là doanh nghiệp không dự báo trước phần lợi ích mà thay vào đó trích lập dự phòng cho mọi khoản lỗ có thể xảy ra Như vậy, các hao tổn và chi phí sẽ được xác định và ghi nhận sớm hơn so với việc ghi nhận phần lợi ích thu được.
(Basu, 1997) định nghĩa thận trọng là việc ghi nhận các thông tin tiêu cực nhanh hơn so với ghi nhận thông tin tích cực Điều này nghĩa là điều kiện và thời điểm ghi nhận những thông tin tích cực (doanh thu) và thông tin tiêu cực (chi phí) là khác nhau Và sự chênh lệch thời điểm ghi nhận hai loại thông tin này được sử dụng như một cách đo lường thận trọng Hay như Givoly và Hyan (2000) cũng mô tả thận trọng là sự lựa chọn cách ghi nhận trong kế toán dẫn đến việc tối thiểu hóa thu nhập (kế toán theo cơ sở tiền hay kế toán theo cơ sở dồn tích) Từ đó họ đưa ra cách đo lường việc thực hiện thận trọng kế toán dựa trên sự chênh lệch cộng dồn giữa kế toán theo cơ sở tiền và kế toán theo cơ sở dồn tích
Bên cạnh đó, dưới góc nhìn từ Bảng cân đối kế toán, (Watts & Zimmerman,
Khái niệm thận trọng trong kế toán được mô tả từ năm 1986 là việc báo cáo giá trị thấp nhất có thể cho tài sản và giá trị cao nhất cho nợ, phản ánh quan điểm tài sản và nợ phải trả của doanh nghiệp được đo lường trong nhiều tình huống không chắc chắn; vì thế, sai lệch đo lường được kỳ vọng nghiêng về báo cáo giảm nhằm tăng mức độ an toàn của tài sản bảo đảm cho các khoản vay, tạo tín hiệu tốt đối với các tổ chức tín dụng Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASB) đã đưa thận trọng vào khuôn khổ Báo cáo tài chính năm 1989 để bảo đảm tính tin cậy của thông tin kế toán, định nghĩa thận trọng là mức độ cẩn trọng trong việc đưa ra các ước tính cần thiết trong điều kiện không chắc chắn, như tài sản và thu nhập không được đánh giá quá cao và các khoản nợ, chi phí không được đánh giá quá thấp Năm 2010, khi IASB sửa đổi Khung khái niệm, thận trọng bị loại khỏi các yêu cầu cơ bản do tranh luận về tính hữu ích của thông tin; tuy nhiên thực tế thận trọng vẫn tồn tại trong thực hành và vẫn xuất hiện phổ biến trong các chuẩn mực quốc tế Do đó, IASB đã đưa khái niệm thận trọng vào dự thảo sửa đổi Khung khái niệm năm 2015, và trong bản chính thức của Khung khái niệm cho hoạt động báo cáo tài chính năm 2018 thận trọng được giới thiệu lại như một khía cạnh phụ của đặc điểm trình bày trung thực và được mô tả là "sự cẩn trọng trong việc nhận định, đánh giá và cân nhắc trong điều kiện không chắc chắn."
Tại Việt Nam, theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 – Chuẩn mực chung, nguyên tắc thận trọng được định nghĩa là việc xem xét, cân nhắc và phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế toán trong điều kiện không chắc chắn Từ đó, nguyên tắc thận trọng đòi hỏi doanh nghiệp: a/ Không lập quá lớn các khoản dự phòng; b/ Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập; c/ Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí; d/ Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí.
Nguyên tắc thận trọng có sự đa dạng trong cách nhìn nhận và gặp phải nhiều ý kiến tranh luận, nhưng thực hiện thận trọng mang lại lợi ích và sự đáng tin cậy cho thông tin kế toán Tuy nhiên có ý kiến cho rằng việc nhà quản trị áp dụng nguyên tắc này có thể tác động đến các nguyên tắc kế toán khác, và đôi khi do chủ quan nhà quản trị lạm dụng thận trọng để bóp méo thông tin Việc đo lường mức độ thực hiện và tuân thủ nguyên tắc kế toán một cách trực diện là khó khăn vì nó đòi hỏi phán đoán về cả thông tin tài chính và phi tài chính của doanh nghiệp Vì vậy luận án sẽ đi sâu nghiên cứu mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán dưới một số khía cạnh, xem xét đặc tính thận trọng thông qua các dấu hiệu và hành vi thể hiện của nhà quản lý.
Trong phạm vi của luận án, đo lường mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán là đánh giá cách ghi nhận một số khoản mục trong hệ thống kế toán thông qua các mô hình đo lường, đồng thời áp dụng sự thận trọng trong các tình huống không chắc chắn để đảm bảo rủi ro tiềm ẩn được cân nhắc đầy đủ.
2.1.2 Phân lo ạ i vi ệ c th ự c hi ệ n nguyên t ắ c th ậ n tr ọ ng trong k ế toán
Nguyên tắc thận trọng trong kế toán thể hiện sự cẩn trọng của kế toán khi đối mặt với các tình huống không chắc chắn (Ball & Shivakumar, 2005) Do đó, nguyên tắc này được phân loại thành hai trường hợp chính: thận trọng có điều kiện và thận trọng không có điều kiện Sự phân loại này giúp ghi nhận và ước lượng các yếu tố tài sản, nợ phải trả, chi phí và doanh thu theo mức độ thận trọng phù hợp với rủi ro và khả năng xảy ra của các sự kiện, nhằm đảm bảo thông tin tài chính phản ánh đúng đắn rủi ro và biến động.
2.1.2.1 Thực hiện nguyên tắc thận trọng có điều kiện
Nguyên tắc thận trọng có điều kiện trong kế toán là cách kế toán viên xem xét ảnh hưởng của thông tin sự kiện kinh tế tới việc ghi nhận và hạch toán Khi thông tin kinh tế tiêu cực ảnh hưởng tới lợi nhuận như chi phí và nợ phải trả, chúng được ghi nhận nhanh hơn các thông tin tích cực như doanh thu hay thu nhập Nói cách khác, nếu doanh nghiệp phản ánh ngay với các thông tin tích cực hoặc ghi nhận doanh thu và thu nhập khi chưa có bằng chứng chắc chắn, mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng có điều kiện sẽ giảm Ngược lại, mức độ này sẽ cao lên khi doanh nghiệp phản ứng nhanh với thông tin tiêu cực hoặc ghi nhận chi phí, hao tổn khi có thông tin về khả năng xảy ra Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 thể hiện đặc tính này của nguyên tắc thận trọng và chính những điều kiện về thời gian cùng đặc điểm ghi nhận đã hình thành nguyên tắc thận trọng có điều kiện.
Một số ví dụ điển hình của thực hiện nguyên tắc thận trọng có điều kiện có thể kể đến đó là:
Nguyên tắc thận trọng trong kế toán yêu cầu ghi nhận dự phòng nợ phải trả khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí và có bằng chứng chắc chắn về thu được doanh thu; tốc độ phản ứng của hệ thống kế toán với thông tin tích cực và tiêu cực là dấu hiệu quan trọng cho mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng Khi một sự kiện đã xảy ra có khả năng làm giảm giá trị kinh tế trong tương lai, doanh nghiệp cần xem đó là một nghĩa vụ nợ phải trả; khi doanh nghiệp có nghĩa vụ nợ phải trả hiện tại và có ước tính đáng tin cậy về giá trị của nghĩa vụ, kế toán ghi nhận dự phòng và chi phí dự tính để thanh toán nghĩa vụ đó Ví dụ công ty bán hàng kèm theo dịch vụ bảo hành sản phẩm với thời hạn một năm sau khi mua; khi áp dụng nguyên tắc thận trọng, kế toán sẽ đánh giá xác suất xảy ra nghĩa vụ bảo hành và ước tính chi phí bảo hành cho trường hợp này.
Nguyên tắc thận trọng trong kế toán thể hiện ở sự bất cân xứng giữa ghi nhận thông tin tích cực (doanh thu, thu nhập) và thông tin tiêu cực (nghĩa vụ nợ, chi phí) Khi xuất hiện các dấu hiệu cho thấy có thể xảy ra tổn thất và mức ước tính tổn thất có thể xác định được một cách hợp lý, các khoản dự phòng tổn thất sẽ được ghi nhận đồng thời trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (chi phí) và trên bảng cân đối kế toán (nợ phải trả).
Lợi thế thương mại được hình thành từ thương hiệu, nền tảng khách hàng, giá trị của đội ngũ nhân viên lành nghề và ứng dụng khoa học kỹ thuật của doanh nghiệp Nó được hạch toán khi thu mua, sát nhập doanh nghiệp và cần được đánh giá lại giá trị hàng năm Theo IAS 36, hàng năm nếu giá trị thị trường lớn hơn giá trị còn lại theo sổ sách, lợi thế thương mại không cần định giá lại và không cần bút toán điều chỉnh; ngược lại, khi giá trị thị trường nhỏ hơn giá trị theo sổ sách, phần chênh lệch đó có thể được ghi nhận như Lỗ do giảm giá trị lợi thế thương mại Sự suy giảm này có thể đến từ những tin tức kinh tế tiêu cực, tăng cấp độ cạnh tranh, điều kiện kinh tế của ngành, mất nhân sự quan trọng hoặc các chính sách quản lý mới Việc đánh giá lại giá trị của lợi thế thương mại hàng năm và khi nhận diện Lỗ do giảm giá trị thể hiện nguyên tắc thận trọng trong ghi nhận kế toán.
Nguyên tắc thận trọng có điều kiện được áp dụng trong quản trị tài chính và kế toán doanh nghiệp thông qua việc thành lập các dự phòng nhằm đảm bảo phản ánh đúng giá trị thực tế của tài sản và rủi ro Các hình thức phổ biến gồm trích lập dự phòng tổn thất tài sản, dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng đầu tư tài chính và dự phòng nợ phải thu khó đòi Ngoài ra, việc đánh giá lại tài sản cố định cũng là một biện pháp quan trọng giúp điều chỉnh giá trị sổ sách theo mức độ hao mòn và biến động thị trường, từ đó nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy của báo cáo tài chính.
2.1.2.2 Thực hiện nguyên tắc thận trọng không có điều kiện
Thận trọng không có điều kiện là nguyên tắc kế toán khi ước tính được thực hiện một cách thận trọng và đáng tin cậy để ghi sổ nhưng không phụ thuộc hay bị chi phối bởi đặc tính thông tin kinh tế tiêu cực hay tích cực Khi so sánh với thận trọng có điều kiện, thận trọng không có điều kiện không dựa vào các sự kiện hay tin tức kinh tế mà căn cứ vào tình hình thực tế để ghi nhận trong các trường hợp cụ thể Nói cách khác, việc hạch toán kế toán được tiến hành thận trọng nhưng không chịu ảnh hưởng của các luồng thông tin kinh tế, đây là dấu hiệu của nguyên tắc thận trọng không có điều kiện.
Một số ví dụ điển hình của thực hiện nguyên tắc thận trọng có điều kiện có thể kể đến đó là:
Các lý thuyết vận dụng để nghiên cứu việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán
2.2.1 Nghiên c ứ u th ự c ch ứ ng trong k ế toán
Qua quá trình hình thành và phát triển, nghiên cứu kế toán ngày càng mang tính đa ngành và đa lĩnh vực Vào những năm 60 của thế kỷ trước, chủ yếu nghiên cứu kế toán là nghiên cứu chuẩn tắc, dần được mở rộng sang nghiên cứu kế toán thực chứng Nghiên cứu kế toán chuẩn tắc tập trung vào phương pháp nghiên cứu suy diễn và định tính, không đi từ các quan sát thực nghiệm; những nghiên cứu thời kỳ này thường bàn về vấn đề kế toán cần được thực hiện, hạch toán hay báo cáo như thế nào, thay vì kế toán được làm thế nào hàng ngày và tại sao người lập báo cáo tài chính lại làm như vậy Nói cách khác, kế toán chuẩn tắc trả lời câu hỏi người lập báo cáo tài chính được yêu cầu làm những gì Nội dung cơ bản xuất hiện trong các nghiên cứu thời kỳ này là: nghiên cứu phê phán giá gốc và đi tìm các lý thuyết định giá mới thích hợp hơn hay đề xuất một khuôn mẫu lý thuyết kế toán, từ đó đưa ra các nguyên tắc trong kế toán Những nghiên cứu này chính là tiền đề cốt lõi để các cơ quan soạn thảo (như Hội đồng Chuẩn mực Kế toán tài chính Hoa Kỳ FASB hay Ủy ban Chuẩn mực Kế toán quốc tế (IASC)) soạn thảo ra nguyên tắc và chuẩn mực kế toán hiện nay.
Từ giữa những năm 1970 cho đến nay, bản chất của nghiên cứu kế toán đã có sự thay đổi căn bản, chuyển từ các khung lý thuyết sang phương pháp định lượng để kiểm định tác động của thông tin kế toán đối với các sự kiện kinh tế và dự báo tương lai dựa trên bằng chứng thực nghiệm từ quá khứ Hiện nay, một chủ đề được nhiều nhà khoa học quan tâm là chất lượng thông tin kế toán được trình bày trong báo cáo tài chính Dù các chuẩn mắc và đặc trưng về chất lượng thông tin kế toán đã được thiết lập từ những nghiên cứu chuẩn tắc, việc đánh giá mức độ chất lượng và tìm ra biện pháp để đảm bảo Báo cáo tài chính cung cấp thông tin trung thực vẫn còn nhiều khó khăn Bên cạnh đó, các nghiên cứu về tổn thất và chi phí do báo cáo tài chính cung cấp thông tin không đảm bảo chất lượng cũng xứng đáng được đề cập.
Nghiên cứu thực chứng và nguyên tắc thận trọng trong kế toán
Nghiên cứu chuẩn tắc được cho là không thực tiễn khi chỉ tập trung mô tả các quy định và nhận định về những việc kế toán viên cần làm, mà thiếu lời giải về tính khả thi khi áp dụng trong thực tế và lý do vì sao nên làm như vậy để từ đó có thể thực hiện các điều chỉnh phù hợp (Watts & Zimmerman, 1986) Chính vì vậy, nghiên cứu thực chứng giúp các nhà hoạch định chính sách hiểu bản chất của những hiện tượng chưa được nhận biết đầy đủ và từ đó đề xuất các chính sách kế toán mới phù hợp với thực tế.
Khác với kế toán chuẩn mực xa rời diễn biến thị trường, kế toán thực chứng xem xét phản ứng của thị trường khi áp dụng các quy định kế toán mới Nghiên cứu kế toán thực chứng nhằm kết nối lý thuyết và thực tế bằng cách đo lường tác động của các chuẩn mực kế toán lên hành vi của nhà đầu tư, biến động giá cổ phiếu và luồng vốn, từ đó đánh giá hiệu quả và điều chỉnh việc thực thi các quy định kế toán mới trong thực tế Bài viết nhấn mạnh vai trò của việc quan sát động thái thị trường khi triển khai quy định kế toán mới và tối ưu hoá báo cáo tài chính cho các bên liên quan.
Chính vì vậy việc xem xét các nguyên tắc trong kế toán dưới góc độ thực chứng là xu thế trong nghiên cứu hiện đại
Về nguyên tắc thận trọng, đây là nguyên tắc phổ biến nhất và đã xuất hiện từ rất lâu trong kế toán Theo nghiên cứu của Sterling (1970), nguyên tắc thận trọng đã được nhắc tới từ những năm đầu thế kỷ XV khi hồ sơ của doanh nhân Francesco di Marco đánh giá giá trị hàng tồn kho thấp hơn chi phí hay thấp hơn giá thị trường của nó Đến năm 1673, nguyên tắc này được ghi nhận trong Bộ Luật Thương mại Pháp và sau đó có mặt trong Bộ Luật Thương mại Đức năm 1884 Tuy nhiên lúc đó các ý kiến vẫn tập trung vào trách nhiệm của kiểm toán viên đối với các ước tính kế toán Các nghiên cứu sau này của Sterling (1970), Watt và Zimmerman đã mở rộng và làm rõ thêm vai trò của nguyên tắc thận trọng trong định giá và ước tính kế toán.
Năm 1986 xem xét lại nguyên tắc thận trọng trong kế toán từ góc nhìn của bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh, đồng thời nêu những tranh luận về vai trò và tác động của nguyên tắc thận trọng tới bản chất các nghiệp vụ kinh tế và tính hữu ích của thông tin kế toán.
Nghiên cứu thực chứng của Watts và Zimmerman (1986) trở thành động lực và tạo xu hướng cho các nghiên cứu thực nghiệm về nguyên tắc thận trọng Những năm
Trong giai đoạn 1960–1980, các nghiên cứu chủ yếu nhấn mạnh việc ứng dụng nguyên tắc thận trọng trong kế toán, nhằm tăng tính tin cậy và hệ thống hóa báo cáo tài chính Đồng thời, có các bài bình luận phê bình và phân tích cho thấy sự mâu thuẫn giữa nguyên tắc thận trọng với các đặc tính và nguyên tắc kế toán khác, từ đó đặt ra những thách thức và định hướng điều chỉnh thực tiễn áp dụng.
Nguyên tắc thận trọng trong kế toán có thể gây nhiễu loạn hoặc làm sai lệch giá trị kế toán Những nghiên cứu thời kỳ đầu về thận trọng còn mang tính đơn giản và chưa giải thích được vì sao nguyên tắc này vẫn được áp dụng trong thực tiễn kế toán Từ những năm 1990 trở đi, các nghiên cứu đi sâu vào bản chất và phân loại nguyên tắc thận trọng và xây dựng các mô hình đo lường nguyên tắc này, điển hình với phương pháp tỷ lệ giá trị thị trường so với giá trị sổ sách (Feltham & Ohlson, 1995), phương pháp Basu (1997), và phương pháp giá trị kế toán dồn tích và dòng tiền (Ball & Shivakumar, 2005) Mỗi phương pháp có ưu điểm, nhược điểm riêng và phù hợp với từng trường hợp thực hành thận trọng của doanh nghiệp trong kế toán.
Dựa trên các mô hình đo lường mức độ tuân thủ nguyên tắc thận trọng kế toán, các nghiên cứu sau này tại Mỹ, Anh, Đức và cả các nước đang phát triển như Ấn Độ, Indonesia, Trung Quốc đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả Những nghiên cứu thực nghiệm gần đây tập trung trả lời các câu hỏi: nguyên tắc thận trọng kế toán ảnh hưởng như thế nào tới doanh nghiệp, tới chính sách và quyết định tài chính cụ thể, tới giá trị doanh nghiệp và lý do tại sao các công ty lại thực hiện nguyên tắc thận trọng kế toán Từ đó, họ xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng kế toán Nhờ các lý thuyết kế toán thực chứng, các nhà nghiên cứu có thêm cơ sở và phương pháp tiếp cận để hiểu sâu sắc về nguyên tắc thận trọng và giải thích ý nghĩa của nguyên tắc thận trọng kế toán trong thực tế.
Vấn đề xung đột lợi ích giữa người đại diện và người sở hữu được Adam Smith nhắc đến lần đầu trong Sự giàu có của các quốc gia (1776) Về sau, Jensen và Meckling (1976) đã phát triển và chính thức mô tả nó thành một lý thuyết kinh tế quan trọng, được biết đến với khái niệm lý thuyết đại diện (principal–agent) Đây là một trong những nền tảng của kinh tế học hiện đại và có ứng dụng cao, trở thành cơ sở cho nhiều nghiên cứu thực nghiệm và phân tích doanh nghiệp.
Lý thuyết giải thích mối quan hệ mẫu thuẫn giữa người ủy quyền và người đại diện cho thấy mâu thuẫn chủ yếu giữa chủ sở hữu và người quản lý công ty; ngoài ra còn có các nhóm mâu thuẫn khác như giữa chủ sở hữu và chủ nợ, hoặc giữa cổ đông lớn và cổ đông thiểu số Đối với mâu thuẫn giữa chủ sở hữu và người quản lý, đây là một quan hệ hợp đồng được ký kết nhằm thuê người quản lý điều hành doanh nghiệp dưới danh nghĩa của người chủ sở hữu Mâu thuẫn nảy sinh khi người quản lý không hành động vì lợi ích của chủ sở hữu, khiến các quyết định của họ không đạt kết quả như kỳ vọng của cổ đông Vấn đề cốt lõi là làm sao để người quản lý chấp nhận làm việc vì lợi ích cao nhất cho chủ sở hữu đã thuê họ, trong khi người quản lý lại có lợi thế về thông tin và các lợi ích của hai nhóm này thường không trùng khớp Điều này dẫn tới hai rắc rối điển hình: thứ nhất, chủ sở hữu nghi ngờ năng lực của người quản lý để thực hiện công việc quản lý; thứ hai, người quản lý có thể không nỗ lực hết mình theo hợp đồng và tìm cách trục lợi cá nhân do quyền lực và quyền tiếp cận thông tin tài chính của công ty mà họ nắm giữ (Ross, 1973).
Trong quản trị doanh nghiệp, mâu thuẫn đại diện giữa chủ sở hữu và quản lý nảy sinh khi người quản lý vì lợi ích cá nhân có thể trực tiếp quyết định tài chính để bỏ qua những dự án có tỷ suất lợi nhuận cao do tâm lý e ngại rủi ro, hoặc móc nối để mang lại lợi ích cho riêng họ hoặc nhóm lợi ích của họ Đặc biệt tại các công ty cổ phần có sự chi phối của Nhà nước, mâu thuẫn này làm tăng chi phí đại diện và đòi hỏi giám sát nghiêm ngặt Ban giám đốc nhằm đảm bảo quản lý hướng tới mục tiêu và lợi ích chung của công ty Đối với mâu thuẫn giữa chủ sở hữu và chủ nợ, chủ nợ ưu tiên lãi suất và rủi ro tài sản bảo đảm, trong khi chủ sở hữu thường muốn đầu tư vào các dự án rủi ro cao hơn mức độ rủi ro mà người cho vay dự tính, dẫn tới khả năng chủ nợ yêu cầu tham gia và giám sát tiến trình dự án để bảo vệ khoản vay; đây có thể được xem là chi phí đại diện mà chủ sở hữu phải trả để huy động vốn từ nợ Về mâu thuẫn giữa cổ đông lớn và cổ đông thiểu số, ở nhiều quốc gia cổ đông phổ thông có quyền tham gia và biểu quyết, nhưng thực tế ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam một số cổ đông sở hữu thấp lại có quyền bỏ phiếu cao nhờ cơ chế đòn bẩy bỏ phiếu và sở hữu chéo, tạo ra sự tách biệt giữa quyền kiểm soát và quyền nhận lợi tức, dẫn tới sự thống trị của nhóm cổ đông lớn và mâu thuẫn với cổ đông thiểu số.
Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới những mâu thuẫn đã đề cập là việc thao túng hệ thống kế toán và tác động lên thông tin kế toán Nói cách khác, ghi chép và tuân thủ các nguyên tắc kế toán đóng vai trò quan trọng trong việc xử lý và điều tiết mâu thuẫn giữa người ủy quyền và người đại diện; ngược lại, các mối quan hệ đại diện này cũng tác động và giúp giải thích các vấn đề trong kế toán (Nguyễn Hà Linh, 2017).
Vận dụng Lý thuyết đại diện trong nghiên cứu về nguyên tắc thận trọng trong kế toán
Lý thuyết đại diện phân tích hành vi cơ hội của các nhóm người khác nhau, điển hình là mối quan hệ giữa chủ sở hữu, người quản lý và người cho vay Do lợi ích của từng nhóm khác nhau, hành động của họ sẽ phục vụ lợi ích riêng của nhóm mình Chính đặc điểm này làm cơ sở cho nghiên cứu và giải thích hiện tượng công bố thông tin kế toán trên thị trường chứng khoán cũng như mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong hạch toán kế toán của doanh nghiệp (Bricker & Chandar, 1998; Fathi, 2013).
Theo lý thuyết đại diện, mâu thuẫn lợi ích giữa người ủy nhiệm và người đại diện khi nắm quyền kiểm soát hệ thống kế toán có thể dẫn tới thao túng và làm lệch quyết định tài chính của doanh nghiệp Nhà quản trị có thể hành động trái với lợi ích của chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu muốn vượt qua các chủ nợ để định hướng nguồn vốn vay vào các dự án có tỷ suất lợi nhuận cao, khiến cổ đông lớn áp đảo cổ đông thiểu số và tác động tới ghi nhận kế toán, từ đó làm tăng rủi ro thông tin Một trong những nguyên tắc kế toán thường được dùng để can thiệp vào ghi nhận thông tin là nguyên tắc thận trọng, vì nguyên tắc này ảnh hưởng tới ghi nhận tài sản, nguồn vốn, chi phí và doanh thu.
Các phương pháp đo lường việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán
Việc đo lường một nguyên tắc trong hệ thống nguyên tắc kế toán là khó khăn và chưa được thực hiện đầy đủ, bởi nó đòi hỏi những phán đoán liên quan đến thông tin tài chính và phi tài chính, cũng như xây dựng một bộ chỉ tiêu đánh giá trên nhiều khía cạnh Hiện tại, nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đang đề xuất các phương pháp đo lường mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán dựa vào một số khía cạnh và dấu hiệu của nguyên tắc thận trọng Các nghiên cứu về sau bổ sung và dần loại bỏ được những hạn chế của các nghiên cứu trước.
Như vậy, luận án khẳng định các mô hình đo lường dưới đây là chưa toàn vẹn, và chỉ xem xét được dấu hiệu trên một số khía cạnh của nguyên tắc thận trọng Có thể chia các mô hình đo lường thành các nhóm như sau: phương pháp đo lường dựa vào giá trị sổ sách so với giá trị thị trường; phương pháp đo lường dựa vào giá trị dồn tích; phương pháp đo lường dựa vào dòng tiền; phương pháp đo lường dựa vào mô hình Basu (1997) và phương pháp đo lường Basu mở rộng của Khan và Watts (2009) Dưới đây, luận án trình bày các mô hình đo lường theo trình tự thời gian để thấy sự cập nhật và điểm mới của từng mô hình
2.3.1 Mô hình Basu (1997) - Basu Asymmetric Timeliness Measure
Mô hình Basu (1997) là một trong những phương pháp đầu tiên đo lường việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán Phương pháp này tập trung vào khía cạnh giá trị thu nhập sẽ phản ảnh thông tin tiêu cực nhanh hơn thông tin tích cực, hay còn gọi là tính bất cân xứng trong thời gian ghi nhận thông tin Basu (1997) là nhà nghiên cứu đầu tiên sử dụng khía cạnh này để đo lường, và tính bất cân xứng này càng lớn thì dấu hiệu thể hiện mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán càng cao Nói cách khác, nếu khoản lợi nhuận trên sổ sách kế toán có sự thay đổi ngay lập tức khi nhận thông tin tiêu cực như các khoản lỗ hay hao tổn thì doanh nghiệp đang thực hiện nguyên tắc thận trọng kế toán; ngược lại nếu lợi nhuận thay đổi khi nhận thông tin tích cực như doanh thu hay thu nhập khi chưa có bằng chứng xác đáng cho các khoản mục này xảy ra thì những dấu hiệu cho việc thực hiện nguyên tắc thận trọng kế toán còn thấp
Basu sử dụng sức sinh lời thị trường của cổ phiếu để đánh giá luồng thông tin tích cực hay tiêu cực dựa vào sự biến động giá cổ phiếu, xem đây là tiêu chuẩn để nhận diện tin tức thị trường một cách kịp thời Một doanh nghiệp được cho là nhận thông tin tích cực nếu Rit > 0 (giá cổ phiếu cuối năm cao hơn đầu năm), ngược lại là thông tin tiêu cực khi Rit < 0 Việc xem xét tác động của luồng thông tin này lên lợi nhuận của công ty được thực hiện bằng cách so sánh lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) với giá cổ phiếu đầu năm, từ đó ước lượng mức độ thực hành thận trọng trong kế toán của các công ty.
Đây là biến giả được sử dụng trong mô hình, có giá trị bằng 1 khi công ty đối mặt với thông tin xấu và bằng 0 khi đối mặt với thông tin tích cực Do đó, hệ số độ dốc và hệ số chặn sẽ khác nhau giữa hai trường hợp này, cho phép mô hình phân biệt tác động của thông tin xấu và thông tin tích cực lên kết quả.
Trong ngữ cảnh mô hình tuyến tính, Dit được dùng để phân biệt thông tin tiêu cực và tích cực Khi đối mặt với thông tin tiêu cực (Dit = 1), hệ số góc của mô hình là β0 + β1; khi đối mặt với thông tin tích cực (Dit = 0), hệ số góc bằng β0 Điều này cho thấy sự hiện diện của thông tin tiêu cực làm thay đổi độ dốc của mô hình bằng cách cộng β1 vào β0, còn thông tin tích cực giữ nguyên hệ số góc ở mức β0. -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.
Các hệ số góc cho thấy mức độ khác biệt giữa cách công ty đối mặt và ghi nhận thông tin tiêu cực so với thông tin tích cực, từ đó ảnh hưởng đến giá trị lợi nhuận của doanh nghiệp Việc phân tích những hệ số này giúp nhận diện tác động của từng loại thông tin lên lợi nhuận, hỗ trợ tối ưu hóa quản trị rủi ro và chiến lược tài chính nhằm tăng cường hiệu quả lợi nhuận.
Trong khuôn khổ mô hình hồi quy này, hệ số chặn β2 thể hiện mức độ phản ứng của lợi nhuận trước thông tin tích cực, trong khi hệ số chặn β2 + β3 thể hiện mức độ phản ứng của lợi nhuận trước thông tin tiêu cực Nhờ vậy, β3 đo lường sự khác biệt trong cách tiếp nhận thông tin tích cực và tiêu cực Nếu β3 càng cao, dấu hiệu thực hiện nguyên tắc thận trọng kế toán của công ty được đánh giá càng cao, phản ánh sự thận trọng trong nhận diện và báo cáo lợi nhuận và rủi ro.
X it = β 0 + β 1 D it + β 2 R it + β 3 D it R it + à it (1) Trong đó:
Xit là thu nhập mỗi cổ phần sau khi đã loại trừ các khoản mục tăng thêm hay giảm đi của giá cổ phiếu đầu kỳ:
Xit = EPSit/Pit (EPSit : là thu nhập trên mỗi cổ phiếu của công ty i cuối năm t
Pit : là giá mở cửa của công ty i năm t) i: công ty i t: năm tài chính t β i (i=0,1,2,3) là các hệ số của các biến trong mô hình
Rit : Sức sinh lời thực tế của cổ phiếu, được tính bằng sự thay đổi giá cổ phiếu trong năm chia cho giá cổ phiếu đầu năm
Dit: Biến giả nhận giá trị 1 khi tỷ lệ lợi nhuận thực tế âm, và nhận giá trị 0 khi tỷ lệ này dương
Trong thực tế nghiên cứu, mô hình Basu được xem là công cụ đo lường nguyên tắc thận trọng trong kế toán được áp dụng rộng rãi nhất (Ryan, 2006) Grambovas, Giner và Christodoulou (2006) đã áp dụng mô hình Basu để đo lường dấu hiệu nguyên tắc thận trọng của các công ty trên thị trường Mỹ và châu Âu, kết quả cho thấy không có sự khác biệt lớn về mức độ thể hiện nguyên tắc thận trọng giữa hai thị trường này trong ghi nhận kế toán Ball, Robin và Sadka (2008) sử dụng Basu để nghiên cứu ảnh hưởng của các nguồn huy động vốn tới mức độ áp dụng nguyên tắc thận trọng trong hệ thống kế toán, kết quả cho thấy các doanh nghiệp chú trọng huy động vốn từ thị trường nợ (sử dụng chủ yếu các công cụ nợ) sẽ quan tâm và có xu hướng nâng cao mức độ áp dụng nguyên tắc thận trọng trong báo cáo tài chính so với những công ty chủ yếu huy động vốn từ nguồn vốn chủ sở hữu.
Trong vòng 9 năm sau khi mô hình này ra đời thì đây là thước đo được sử dụng nhiều nhất trong nghiên cứu về nguyên tắc thận trọng trong kế toán Nhiều nghiên cứu đã cho kết quả thực nghiệm phù hợp với giả thuyết, khiến cho phương pháp đo lường này càng được tin dùng Tuy nhiên hạn chế của phương pháp là thứ nhất không đo lường được mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng cho từng doanh nghiệp cụ thể Nghĩa là với mô hình này sẽ chỉ đưa ra dự đoán mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán tổng thể cho toàn bộ mẫu, chứ chưa tính được điểm thận trọng cho từng doanh nghiệp Điều này khiến cho các nghiên cứu muốn so sánh mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng giữa các doanh nghiệp với nhau gặp khó khăn Thứ hai, phương pháp này chưa tính tới những đặc tính đặc thù của doanh nghiệp như quy mô hay đòn bẩy tài chính,… Vì vậy các nhà nghiên cứu sau đã cố gắng hoàn thiện phương pháp này, trong đó nổi bật là nghiên cứu của Khan
& Watts (2009) sẽ được trình bày ở phần sau
2.3.2 Ph ươ ng pháp t ỷ l ệ giá tr ị s ổ sách so v ớ i giá tr ị th ị tr ườ ng (BTM) - Book to market based measures
Phương pháp này lần đầu được giới thiệu năm 1995 bởi Feltham và Ohlson và được Beaver và Ryan cải tiến vào năm 2000 Ý tưởng chủ đạo dựa trên thực tế nguyên tắc thận trọng thường làm giảm giá trị sổ sách so với giá trị thị trường Do đó, tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường cao hay thấp phản ánh mức thận trọng trong công tác kế toán của công ty, và khi một công ty thực hiện thận trọng ở mức cao sẽ ghi nhận thu nhập ít hơn hoặc ghi nhận tài sản ở giá trị nhỏ hơn, đồng thời bảo thủ hơn trong hệ thống kế toán làm cho giá trị sổ sách thấp hơn so với giá trị thị trường Đây là một mô hình đơn giản, phù hợp để áp dụng cho công ty niêm yết Tuy nhiên, giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu phụ thuộc vào giá cổ phiếu tại thời điểm ghi nhận.
Trong khi giá cổ phiếu thường được xem xét chủ yếu dựa trên hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu (ROE) mà nhà đầu tư đạt được, thước đo này đôi khi không phản ánh đầy đủ bản chất hoạt động của công ty Đánh giá cổ phiếu cần cân nhắc thêm các yếu tố khác như dòng tiền tự do, mô hình kinh doanh, biên lợi nhuận và triển vọng tăng trưởng để có cái nhìn toàn diện về sức khỏe tài chính và tiềm năng của doanh nghiệp.
Mô hình của Feltham & Ohlson (1995) được đưa ra như sau:
CONit: thận trọng kế toán của công ty i trong năm t
MVit: giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu công ty i tại thời điểm cuối năm t
BVit: Giá trị ghi sổ của vốn chủ sở hữu công ty i tại thời điểm cuối năm t
ROE được đánh giá dựa trên thông tin quá khứ, do đó mô hình Feltham và Ohlson (1995) bỏ qua sự biến động của tỷ lệ BTM theo từng năm Về sau, Beaver & Ryan (2000) cải tiến bằng cách hồi quy tỷ lệ BTM lên ROE hiện tại và ROE lag 6 năm theo phương pháp hồi quy dữ liệu mảng ảnh hưởng cố định Trong đó, tỷ lệ BTM được phân thành hai thành phần: thành phần độ lệch chuẩn (đại diện bởi hệ số chặn của từng công ty) và thành phần độ trễ (đo lường sự thay đổi hàng năm của BTM cho toàn bộ các công ty) So với tỷ lệ BTM nguyên gốc của Feltham và Ohlson (1995), thành phần độ lệch chuẩn được xem như một chỉ số đo lường mức thận trọng ở từng công ty, còn thành phần độ trễ cho biết sự biến đổi của tỷ lệ BTM theo thời gian đối với toàn bộ các công ty.
BTMt,i là tỷ lệ giữa giá trị ghi sổ và giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu của công ty i tại thời điểm cuối năm t αi là thành phần độ lệch của tỷ lệ BTM của doanh nghiệp i, cho thấy sự khác biệt riêng của từng công ty so với mức chuẩn αt là thành phần độ trễ trong BTM, đại diện cho các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu và phản ánh ảnh hưởng của yếu tố thời gian lên tỷ lệ BTM ở thời điểm t.
Ri : Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) của công ty i β: hệ số hồi quy t: năm tài chính trong khoảng thời gian nghiên cứu
BV it j nhận giá trị từ 0 đến 6 (Khoảng thời gian nghiên cứu là 6 năm)
Các nhà nghiên cứu cho rằng mô hình BTM của Beaver và Ryan (2000) có ưu điểm là đo lường được mức độ thực hiện thận trọng một cách riêng biệt cho từng doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu Đồng thời, Beaver và Ryan cho rằng đây là phương pháp được các nhà khoa học trên toàn thế giới sử dụng nhiều thứ hai để đo lường mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng kế toán, nhờ tính đơn giản và dễ sử dụng, cũng như khả năng thu thập số liệu dễ dàng.
Nhân tố ảnh hưởng tới nguyên tắc thận trọng của doanh nghiệp
Trong tổng quan công trình nghiên cứu ở Chương 1, trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam, luận án tập trung vào hai nhóm biến: nhóm biến thuộc đặc điểm quản lý - kiểm soát gồm các biến liên quan đến Hội đồng quản trị (HĐQT) và kiểm toán độc lập; và nhóm biến thuộc đặc điểm cơ cấu sở hữu của công ty Luận án trình bày chi tiết từng nhân tố ảnh hưởng riêng lẻ và phân tích mối liên hệ giữa các biến quản lý - kiểm soát với cơ cấu sở hữu, nhằm làm sáng tỏ tác động của chúng đối với quản trị doanh nghiệp và kết quả hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
2.4.1 Các nhân t ố thu ộ c đặ c đ i ể m qu ả n lý - ki ể m soát 2.4.1.1 Quy mô của HĐQT
Hội đồng quản trị được thành lập để giám sát và theo dõi hoạt động của người quản lý, nhằm đảm bảo họ hành động vì lợi ích của cổ đông Hiệu quả của hoạt động giám sát phụ thuộc vào quy mô của Hội đồng, tức là số lượng thành viên Theo Nghị định 71/2017/NĐ-CP, số lượng thành viên của hội đồng quản trị công ty đại chúng được quy định tối thiểu 3 và tối đa 11 Lipton và Lorsch (1992) cho rằng quy mô Hội đồng không nên quá nhỏ cũng không nên quá lớn, lý tưởng ở mức 7–9 thành viên; thực tế ở nhiều quốc gia quy mô có thể lên tới 31 thành viên Nhiều nghiên cứu cho thấy quy mô càng lớn thì chức năng kiểm soát càng hiệu quả hơn vì công ty có cơ hội đa dạng hóa và tiếp cận nhiều quan điểm và ý kiến khác nhau để giải quyết các vấn đề.
Các nghiên cứu của Beekes, Pope và Young (2004) và Lim (2010) cho thấy quy mô Hội đồng quản trị (HĐQT) có tác động tích cực đến các dấu hiệu cho thấy việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán, ngụ ý rằng quy mô HĐQT lớn hơn có thể thúc đẩy báo cáo tài chính thận trọng hơn.
Có những quan điểm trái chiều cho rằng khi quy mô HĐQT tăng lên, sẽ xuất hiện khó khăn về hợp tác và giao tiếp giữa các thành viên Jensen (1993) cho rằng quy mô HĐQT nhỏ hơn sẽ có hiệu quả cao hơn vì khả năng và mức độ thực thi nhiệm vụ của HĐQT được đồng nhất hơn, từ đó góp phần giải quyết mâu thuẫn đại diện Admed và Henry (2012) và Boussaid và cộng sự cũng đề cập đến các quan điểm khác về tác động của quy mô HĐQT đối với quản trị và sự đồng thuận trong thực thi nhiệm vụ.
Nghiên cứu năm 2015 cũng cho thấy quy mô Hội đồng quản trị (HĐQT) có tác động ngược chiều tới mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng Nguyên nhân là những HĐQT có quy mô lớn dễ nảy sinh mâu thuẫn giữa các thành viên và bất đồng ý kiến trong các quyết định quan trọng, từ đó làm giảm hiệu quả thực hiện các nguyên tắc thận trọng trong quản trị doanh nghiệp.
Vijayakumaran (2019) cho rằng thiếu thời gian bàn bạc và ra quyết định khiến HĐQT quy mô lớn thường dựa vào một hoặc hai thành viên chủ chốt có tiếng nói và vị trí quan trọng, dẫn đến các vấn đề về hợp tác, chi phí phối hợp và hiện tượng người ăn theo Vì vậy, quy mô HĐQT càng nhỏ sẽ cho thấy mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong quản trị doanh nghiệp càng cao.
Ở Việt Nam, các nghiên cứu như Nguyễn Hà Linh (2017) cho thấy quy mô HĐQT có mối quan hệ nghịch chiều với mức điều chỉnh lợi nhuận, trong khi Nguyễn, Doan và Nguyễn (2020) ghi nhận tác động ngược chiều giữa quy mô HĐQT và chi phí đại diện; Nguyễn Thị Bích Thủy (2019) lại không tìm thấy mối quan hệ thống kê giữa quy mô HĐQT và mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán Dựa trên tổng quan các kết quả này và đặc điểm của thị trường chứng khoán Việt Nam, luận án cho rằng khi quy mô HĐQT tăng lên vượt quá một ngưỡng nhất định sẽ phát sinh thêm các điểm bất lợi, thậm chí vượt qua cả lợi ích, và một số nghiên cứu đã gợi ý dạng hàm tác động hình chữ U cho biến này Tuy nhiên, do quy định pháp luật, quy mô HĐQT tại các công ty Việt Nam ở mức độ trung bình (theo Nghị định 71/2017/NĐ-CP, tối đa 11 thành viên và tối thiểu 3), không quá cao so với nhiều quốc gia, nên luận án dự đoán quy mô HĐQT sẽ mang tác động ngược chiều đối với mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng tại thị trường Việt Nam.
2.4.1.2 Tỷ lệ thành viên HĐQT không điều hành
Theo lý thuyết đại diện, sự độc lập của HĐQT là một yếu tố giúp giám sát hiệu quả hơn hoạt động của Ban giám đốc Điều này nhằm mục tiêu giảm thiểu chi phí đại diện và nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp.
Sự độc lập này thể hiện qua tỷ lệ thành viên HĐQT không điều hành — những người không có quan hệ vật chất với công ty, kể cả các công ty con, công ty liên kết Theo Nghị định 71/2017/NĐ-CP, một phần ba tổng số thành viên HĐQT phải là thành viên độc lập.
Trên thực tế, các thành viên HĐQT điều hành đảm nhận các nhiệm vụ kinh doanh, sản xuất và bán hàng nên không thể thực hiện đầy đủ vai trò giám sát của Ban giám đốc Sự chồng chéo này có thể làm giảm tính độc lập trong quản trị công ty, ảnh hưởng đến tính minh bạch và hiệu quả ra quyết định chiến lược Để bảo đảm cân bằng giữa vận hành và giám sát, các tổ chức nên tách biệt chức danh điều hành và chức danh giám sát hoặc thiết lập các cơ chế kiểm soát độc lập như ủy ban kiểm toán, ủy ban giám sát hoặc kiểm tra nội bộ nhằm tăng trách nhiệm giải trình và cải thiện quản trị doanh nghiệp.
Vì vậy, một cơ chế quản trị doanh nghiệp gồm các thành viên HĐQT độc lập và không tham gia điều hành là cần thiết để kiểm soát vấn đề đại diện trong công ty Fama và Jensen (1983) cho rằng với tính bất cân xứng thông tin, các thành viên HĐQT có thể tiếp cận nhiều thông tin hơn nên dễ dàng cấu kết với nhà quản trị để tác động lên phương pháp và cách thức ghi nhận kế toán, gây tổn hại cho cổ đông bằng cách thao túng báo cáo tài chính Do đó, HĐQT có thành viên bên ngoài sẽ tăng khả năng giám sát và giúp loại bỏ được vấn đề này Beekes, Pope và Young cũng nhấn mạnh vai trò của giám sát độc lập trong提升 tính minh bạch và cải thiện quản trị tài chính.
Các nghiên cứu trước đây cho thấy mối quan hệ thuận chiều giữa mức độ độc lập của HĐQT và mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán; cụ thể, các công trình từ năm 2004 và của Mohammed, Ahmed và Ji (2017) đều tìm thấy mối liên hệ này.
Nói cách khác HĐQT càng độc lập thì doanh nghiệp đó có dấu hiệu thể nguyên tắc thận trọng trong kế toán càng cao
Ở các công ty niêm yết tại Việt Nam, sự độc lập thực sự của HĐQT vẫn còn nhiều vấn đề cần thảo luận, do các công ty có xu hướng chỉ đối phó với quy định pháp lý chứ chưa chú trọng xây dựng một HĐQT độc lập thực sự Vì vậy, một số nghiên cứu cho thấy chưa có bằng chứng rõ ràng về mối quan hệ giữa sự độc lập của HĐQT và việc thực hiện nguyên tắc thận trọng kế toán (Nguyễn Thị Bích Thủy, 2019) Bùi Văn Dương và Ngô Hoàng Điệp (2017) cũng cho thấy không có mối quan hệ giữa số lượng thành viên HĐQT không điều hành và việc điều chỉnh lợi nhuận.
2.4.1.3 Sự kiêm nhiệm CEO và chủ tịch HĐQT
Về mặt lý thuyết, xác định rõ trách nhiệm và quyền hạn của CEO (Tổng giám đốc) và Chủ tịch HĐQT là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp hoạch định công việc và chiến lược hoạt động Một số ý kiến cho rằng việc tách bạch hai chức danh này sẽ khiến bộ máy quản trị cồng kềnh và khó bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất từ trên xuống dưới Đặc biệt ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, sự đồng bộ giữa hai vị trí này được cho là có thể giảm thiểu chi phí bằng cách loại bỏ nhu cầu tuyển dụng nhân sự cấp cao từ bên ngoài làm CEO và giảm bớt chi phí kiểm soát trong quá trình giám sát hoạt động của CEO Ngược lại, các nghiên cứu cũng cho thấy nếu không cân nhắc việc phân tách CEO và chủ tịch HĐQT thì rất khó đảm bảo tính khách quan trong đánh giá mức độ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Trong quản trị doanh nghiệp, ban điều hành chịu trách nhiệm thực thi chiến lược và quản trị vận hành hàng ngày, nhất là khi Chủ tịch HĐQT là người được giao nhiệm vụ quản trị Tuy nhiên, đôi khi Chủ tịch HĐQT lại thiếu kiến thức chuyên môn sâu trong lĩnh vực quản trị Tình trạng này có thể làm giảm hiệu quả quản trị, tăng rủi ro và ảnh hưởng đến niềm tin của cổ đông, nhà đầu tư và đối tác Do đó cần xem xét lại cơ cấu tổ chức, bổ sung năng lực quản trị và thiết lập các cơ chế giám sát để đảm bảo ban điều hành có đầy đủ chuyên môn và năng lực thực thi.
Mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán và giá cổ phiếu của công ty
Việc nghiên cứu tác động của việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán lên giá trị của doanh nghiệp, bao gồm cả ảnh hưởng tích cực và tiêu cực, đang thu hút sự quan tâm lớn do liên quan đến cả thông tin tài chính và phi tài chính Tuy nhiên, đây là một vấn đề rộng và phức tạp, vì vậy bài viết tập trung xem xét mối quan hệ giữa mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán và giá cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết như một phần nhằm bổ sung gợi ý cho các nhà quản lý và bên liên quan.
2.5.1 M ộ t s ố khái ni ệ m v ề c ổ phi ế u và giá c ổ phi ế u c ủ a các công ty niêm y ế t 2.5.1.1 Cổ phiếu
Theo Luật Doanh nghiệp 2020, cổ phiếu là chứng nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với công ty cổ phần, có giá trị bằng nhau và được công ty cổ phần phát hành nhằm mục đích gọi vốn Người sở hữu cổ phiếu được xem là chủ sở hữu của công ty cổ phần và chịu trách nhiệm pháp lý trong phạm vi phần vốn đã góp Cổ đông không được rút vốn bằng cách yêu cầu trả lại cổ phiếu mà sẽ được chia cổ tức theo tỷ lệ vốn góp và các quy định của công ty.
Theo luật doanh nghiệp 2020, cổ phiếu được phân thành hai loại chính là cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi, mỗi loại có đặc điểm riêng biệt; cổ phiếu phổ thông là loại phổ biến nhất và không thể chuyển đổi thành cổ phiếu ưu đãi.
Thông thường, cổ tức của cổ phiếu phổ thông phụ thuộc vào kết quả kinh doanh nên có tính không ổn định Khi doanh nghiệp hoạt động tốt, cổ đông phổ thông có thể được hưởng lợi nhuận cao hơn so với các loại cổ phiếu ưu đãi có lãi suất cố định; ngược lại, khi công ty thua lỗ, cổ tức cổ phiếu phổ thông thường rất thấp hoặc không có Khi công ty phá sản hoặc giải thể, cổ đông phổ thông là người nhận giá trị tài sản thanh lý cuối cùng sau cổ đông ưu đãi và các chủ nợ Vì vậy, rủi ro của cổ phiếu phổ thông cao hơn nợ cho vay, nhưng kỳ vọng lợi nhuận lại lớn hơn Trên thị trường thứ cấp, giá cổ phiếu biến động nhanh nhạy do nhiều yếu tố, cơ bản nhất là kỳ vọng của nhà đầu tư dựa trên hiệu quả kinh doanh và giá thị trường của công ty.
2.5.1.2 Các loại giá cổ phiếu
Giá cổ phiếu của công ty niêm yết gồm có: mệnh giá cổ phiếu, giá trị sổ sách và giá trị thị trường cổ phiếu
Mệnh giá cổ phiếu là giá trị ghi trên mỗi cổ phiếu, thể hiện giá trị danh nghĩa ban đầu của cổ phiếu khi phát hành Khi một công ty gọi vốn, số vốn cần huy động được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau và mỗi phần có giá trị bằng mệnh giá cổ phiếu.
Mệnh giá cổ phiếu được dùng làm căn cứ để ghi nhận giá trị sổ sách của công ty, tuy nhiên nó không có giá trị thực tế với nhà đầu tư sau khi mua cổ phiếu, do đó không ảnh hưởng đến giá trị thị trường cổ phiếu Mệnh giá cũng được sử dụng để tính giá trị vốn cổ phần và cổ tức bằng tiền trên mỗi cổ phiếu.
Giá trị sổ sách của cổ phiếu phổ thông được xác định khi công ty chỉ phát hành loại cổ phiếu này Để tính, người ta lấy tổng vốn chủ sở hữu hoặc tổng tài sản thuần của công ty chia cho số cổ phiếu đang lưu hành Giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu phản ánh giá trị kế toán dựa trên nguồn lực nội tại và cấu trúc vốn của doanh nghiệp, phù hợp cho các công ty không có cổ phiếu ưu đãi hoặc công cụ vốn phức tạp.
Trong trường hợp công ty phát hành đồng thời cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu phổ thông, giá trị tài sản thuần được trừ phần giá trị thuộc cổ phiếu ưu đãi và sau đó chia cho số cổ phiếu phổ thông đang lưu hành để xác định giá trị trên mỗi cổ phiếu phổ thông.
Xem xét giá trị sổ sách cho cổ phiếu thường cho thấy cổ đông có thể thấy được giá trị tăng thêm sau một thời gian công ty hoạt động so với số vốn góp ban đầu Giá trị sổ sách phản ánh lợi nhuận giữ lại và giá trị tài sản ròng của doanh nghiệp, từ đó cho thấy tiềm năng tăng giá của cổ phiếu khi hiệu suất hoạt động được cải thiện Việc phân tích này giúp cổ đông đánh giá mức tăng trưởng vốn và rủi ro liên quan, đồng thời so sánh giá trị sổ sách với vốn góp để nhận diện cơ hội đầu tư Do đó, sự gia tăng của giá trị sổ sách là chỉ số quan trọng cho sự hấp dẫn của cổ phiếu thường đối với nhà đầu tư theo thời gian.
Giá thị trường của cổ phiếu là giá trị thị trường hiện tại được ghi nhận từ các giao dịch trên thị trường, không do công ty phát hành ấn định mà hình thành dựa trên sự cân bằng cung-cầu giữa người bán và người mua Do đó, giá cổ phiếu phản ánh quan hệ cung – cầu và có thể bị ảnh hưởng bởi hình ảnh và hoạt động kinh doanh của công ty, kỳ vọng về hiệu suất tương lai, thông tin về ngành nghề và quy mô, cũng như các yếu tố nền kinh tế vĩ mô và xu hướng thị trường liên quan.
Giá thị trường của cổ phiếu sẽ thay đổi liên tục trong ngày giao dịch, vì vậy các công ty sẽ quan tâm tới giá đóng cửa (giá cuối phiên giao dịch trong ngày) để đánh giá tình hình biến động của cổ phiếu Tuy nhiên giá đóng cửa mới chỉ thể hiện giá trị tiền của giá giao dịch cuối cùng trước khi thị trường đóng cửa Một số hành động của công ty sau khi thị trường đóng cửa thị trường (như điều chỉnh giá sau đợt chia tách cổ phiếu, điều chỉnh sau chia cổ tức, do phát hành quyền mua cổ phiếu) cũng ảnh hưởng tới giá cổ phiếu Chính vì thế, để phản ánh chính xác giá trị thực sự của cổ phiếu đó, nhà đầu tư sẽ dựa vào giá đóng cửa điều chỉnh
Như vậy giá đóng cửa điều chính được dùng để sửa đổi giá đóng cửa cho một số cổ phiếu để phản ánh chính xác giá trị cổ phiếu đó sau một số hoạt động của công ty Trong luận án này, tác giả sẽ sử dụng giá đóng cửa điều chỉnh để tính toán các chỉ tiêu liên quan trong những chương sau
2.5.2 M ứ c độ th ự c hi ệ n nguyên t ắ c th ậ n tr ọ ng trong k ế toán và giá c ổ phi ế u
Việc xem xét mối quan hệ giữa nguyên tắc thận trọng trong kế toán và giá cổ phiếu mang lại cái nhìn về lợi ích và hạn chế của thận trọng, đồng thời hỗ trợ đề xuất khuyến nghị cho các chương sau Khi bàn về lợi ích, cần xem xét thận trọng trong thông tin kế toán liên kết với hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý, từ đó tác động tới doanh nghiệp theo các cách khác nhau Dấu hiệu nhận diện thận trọng là phản ứng nhanh với các tín hiệu tích cực và tiêu cực từ thị trường: thông tin tích cực như tăng doanh thu hoặc tài sản được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn, trong khi thông tin tiêu cực về chi phí được ghi nhận ngay khi có khả năng xảy ra, giúp nhà đầu tư dự đoán và kiểm soát rủi ro tài chính Lợi ích của thận trọng còn thể hiện ở khả năng tiếp cận nguồn vốn trên thị trường, tăng cơ hội huy động vốn và góp phần tăng giá trị doanh nghiệp dưới các điều kiện thị trường và tỷ lệ sở hữu nhất định, đồng thời giúp giảm thiểu giao dịch nội gián Tuy vậy, một số nghiên cứu chỉ ra hạn chế như ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng lợi nhuận và giảm sự linh hoạt trong các quyết định tài chính, dẫn đến hạn chế chi trả cổ tức hoặc tích lũy tiền mặt để dự phòng rủi ro, đặc biệt ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa; nhìn chung thận trọng trong kế toán có cả tác động tích cực và tiêu cực đối với doanh nghiệp.
Nguyên tắc thận trọng kế toán phát sinh từ nhu cầu ký kết hợp đồng giao dịch với những người sử dụng báo cáo tài chính bên ngoài doanh nghiệp, và các nhà khoa học cho rằng thận trọng sẽ làm tăng giá cổ phiếu thông qua hai kênh chính: nâng khả năng vay vốn của công ty với điều kiện vay và điều khoản tốt hơn, đồng thời tăng cường cơ chế kiểm soát hành vi của quản lý Đối với chủ nợ, khi đánh giá một khoản vay tiềm năng, họ thường xem giá trị công ty ở mức thấp nhất như một biện pháp bảo đảm và sử dụng các điều khoản giao ước để giám sát khả năng thanh toán suốt kỳ vay; thiếu các ràng buộc này có thể cho phép quản lý phân bổ và sử dụng tài sản theo ý muốn, đẩy rủi ro không thu hồi vốn lên Theo Zhang (2008), các công ty thực hiện thận trọng cao có thể được hưởng lãi suất vay ưu đãi hơn, và chi phí vay thấp sẽ tạo điều kiện để đầu tư vào các dự án có giá trị hiện tại ròng dương Nói cách khác, thận trọng kế toán giúp giảm khó khăn tài chính và nâng cao hiệu quả đầu tư, từ đó đóng góp vào đà tăng của giá cổ phiếu trên thị trường.
Vẫn theo quan điểm này, mức độ thực hiện cao nguyên tắc thận trọng trong báo cáo tài chính có thể nâng cao giá cổ phiếu công ty bằng cách hạn chế hành vi cơ hội từ nhà quản lý Người quản lý được thuê theo hợp đồng và có trách nhiệm hữu hạn với công ty, nên trong nhiệm kỳ có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận và tác động vào báo cáo tài chính để mang lại lợi ích cho bản thân Thực hiện thận trọng giúp hạn chế khả năng phóng đại tài sản ròng và thu nhập, đồng thời giảm khả năng tham ô tài sản công ty bởi người quản lý Hơn nữa, các nhà quản lý thường muốn tiếp tục vận hành các dự án có khả năng bị thua lỗ trong tương lai vì từ bỏ dự án có thể ảnh hưởng đến thu nhập hiện tại hoặc lợi ích riêng của họ Việc ghi nhận thận trọng sẽ ghi nhận các khoản lỗ từ những dự án đó một cách nhanh chóng; doanh nghiệp sẽ kết thúc sớm các dự án có thể thua lỗ, giúp các nhà đầu tư có cái nhìn thiện cảm hơn về hình ảnh của công ty và cổ phiếu được đánh giá cao hơn Theo Bliss (1924), những công ty có mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng cao sẽ không dự báo lợi ích mà dự báo tất cả các tổn thất có thể có, có nghĩa là tổn thất được xác định sớm hơn khi lợi nhuận bị hoãn lại cho đến khi có bằng chứng thực sự Nhiều ý kiến cho rằng thận trọng là nguyên tắc quan trọng nhất của kế toán, thể hiện phản ứng cẩn trọng trước những điều không chắc chắn và đảm bảo các bất ổn và rủi ro tiềm ẩn được xem xét đầy đủ và trọn vẹn.