1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN án TIẾN sĩ) địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản việt nam hiện nay

176 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Thái Trường
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Viết Tý
Trường học Học viện Khoa học xã hội
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng việc thu thập và nghiên cứu các báo cáo thực tiễn, các luận văn, luận án và các bài báo khoa học có đề cập đến vấn đề thực tiễn pháp luật và thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý c

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN VIẾT TÝ

HÀ NỘI – năm 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của Thầy giáo hướng dẫn khoa học Mọi thông tin được trình bày trong luận án đều có tính trung thực, được trích dẫn nguồn chi tiết và khách quan Tôi xin chịu trách nhiệm nếu luận án có những vi phạm về quy tắc khoa học

Tác giả

Nguyễn Thái Trường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Viết Tý - Thầy giáo hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn tôi từ định hướng tư duy đến kỹ năng nghiên cứu khoa học để hoàn thành luận án này Tôi cũng xin được cảm ơn Học viện Khoa học

xã hội đã tạo ra một môi trường nghiên cứu cởi mở, chất lượng Đồng thời tôi cũng xin chân thành cảm ơn quý nhà khoa học trong suốt quá trình bảo vệ các cấp của luận án đã cho tôi những lời khuyên chân thành và giá trị để giúp luận án của tôi ngày một hoàn thiện hơn

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở phạm vi nước ngoài 8

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở phạm vi trong nước 21

1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu 30

1.4 Lý thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 33

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 37

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA QUẢN TÀI VIÊN THEO PHÁP LUẬT PHÁ SẢN 38

2.1 Khái niệm và đặc điểm địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản 38

2.2 Sự cần thiết ghi nhận địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản 49

2.3 Nội dung địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản 52

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 69

Chương 3: THỰC TRẠNG ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA QUẢN TÀI VIÊN THEO PHÁP LUẬT PHÁ SẢN VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH 70

3.1 Lược sử hình thành và phát triển địa vị pháp lý của Quản tài viên 70

3.2 Thực tiễn quy định của pháp luật phá sản Việt Nam về địa vị pháp lý của quản tài viên 72

3.3 Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật phá sản Việt Nam về địa vị pháp lý của quản tài viên 102

3.4 Đánh giá thực trạng địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản Việt Nam 118

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 132

Chương 4: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA QUẢN TÀI VIÊN THEO PHÁP LUẬT PHÁ SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY 133

Trang 6

4.1 Bối cảnh xây dựng giải pháp hoàn thiện và nâng cao địa vị pháp lý của quản tài viên ở Việt Nam hiện nay 133 4.2 Những yêu cầu đặt ra cho việc hoàn thiện và nâng cao địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản ở Việt Nam hiện nay 137 4.3 Giải pháp hoàn thiện và nâng cao địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản Việt Nam hiện nay 142

TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 156 KẾT LUẬN 157 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 159 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 160

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kinh tế thị trường là môi trường lý tưởng để phát triển Doanh nghiệp (DN), Hợp tác xã (HTX) Thông qua các cơ chế của thị trường, nhiều DN, HTX đã mở rộng sản xuất, kinh doanh, không ngừng thiết lập những quy mô mới và nâng tầm danh tiếng trên thị trường Tuy nhiên, cũng với những cơ chế đó đã tạo ra một cuộc cạnh tranh khốc liệt, dẫn tới không ít DN, HTX không đáp ứng đủ các yêu cầu của thị trường đã phải ―hụt hơi‖ trong cuộc đua giành thị phần, hoạt động sản xuất ngưng trệ, các khoản nợ gia tăng, mất khả năng thanh toán và kết quả là lâm vào tình trạng khánh kiệt về tài sản dẫn đến phá sản

Để giải quyết tình trạng phá sản của các DN, HTX, cơ chế tự nhiên cho phép

DN đó tự ngừng sản xuất và rút lui khỏi thị trường Tuy nhiên, đối với các DN có tình trạng nợ, cơ chế này sẽ dẫn tới hệ lụy tiêu cực về thanh toán nợ cho các chủ nợ

Theo đó, DN, HTX sẽ tự ý tiến hành trả nợ riêng rẽ, ưu tiên các con nợ thân quen hoặc đòi nợ trước, dẫn tới các chủ nợ khác bị ảnh hưởng quyền lợi do ít thân quen hơn hoặc do đòi nợ sau Điều này nhìn rộng ra ảnh hưởng rất tiêu cực đến hoạt động kinh tế và an ninh, trật tự xã hội Chính vì thế, khi lâm vào tình trạng khánh kiệt, các DN và HTX phải tuân theo một thủ tục pháp lý được nhà nước quy định chặt chẽ với tên gọi là thủ tục phá sản – vốn được hiểu sát nghĩa là một thủ tục đòi nợ tập thể

Thủ tục phá sản có mục đích cuối cùng giúp cho quá trình rút lui khỏi thị trường của một DN, HTX diễn ra trong trật tự và việc thanh toán nợ cho các chủ nợ được thực hiện theo nguyên tắc công bằng, bình đẳng và hợp lý Thẩm quyền tuyên

bố phá sản thông thường được trao cho Toà án cùng với sự tham gia của con nợ và các chủ nợ Mỗi chủ thể kể trên đều có một mục đích khác nhau trong quan hệ pháp luật về phá sản, do đó rất cần đến một chế định trung gian để thay mặt tất cả họ điều phối lợi ích chung Chế định đó được gọi là Quản tài viên (QTV) hoặc Quản trị viên tuỳ vào từng nền pháp lý

QTV có bản chất là định chế trung gian, là người không có quyền và lợi ích liên quan đến thủ tục phá sản DN, HTX trước khi được chỉ định tham gia thủ tục

đó Định chế này có địa vị pháp lý độc lập, được các chủ thể thừa nhận và thay mặt các chủ thể thực hiện các thủ tục giải quyết phá sản cho DN và HTX Trong đó, chủ yếu là quản lý, thanh lý sản nghiệp phá sản và thanh lý nợ cho các chủ nợ Cơ sở để

Trang 9

QTV thực thi nhiệm vụ là quy định của pháp luật, chính vì thế sự ghi nhận của pháp luật phá sản về địa vị pháp lý của QTV đóng vai trò cốt lõi đối với việc xác lập vị trí, vai trò của định chế này trong thủ tục phá sản

Tại Việt Nam, QTV được pháp lý hoá từ năm 2014 với Luật Phá sản năm

2014 nhằm thay thế cho Tổ quản lý, thanh lý tài sản tồn tại trong các văn bản pháp luật về phá sản trước đó Địa vị pháp lý của QTV cũng được Luật Phá sản năm

2014 và văn bản hướng dẫn thi hành quy định tương đối chi tiết, tạo điều kiện xác lập một nghề mới và cũng là cơ sở thể hiện vị trí, vai trò của QTV trong giải quyết thủ tục phá sản ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, cho đến nay, sau hơn sáu năm xác lập, địa vị pháp lý của QTV vẫn còn chưa hoàn thiện Nhiều cấu thành địa vị pháp

lý quan trọng của QTV còn thiếu hoặc chưa được làm rõ như: trình tự thực hiện nghiệp vụ của QTV chưa được xây dựng; cơ chế đảm bảo thù lao cho QTV chưa vững chắc; một số nội dung quyền và nghĩa vụ của QTV còn chung chung và chưa được văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành; điều kiện được chỉ định tham gia thủ tục phá sản của QTV chưa chi tiết, vẫn còn những yếu tố cảm tính, không có đơn vị

đo lường… Sự thiếu đầy đủ này của địa vị pháp lý của QTV khiến cho việc thực thi địa vị này trên thực tiễn gặp nhiều hạn chế Thực tế cho thấy, đến nay QTV vẫn chưa được xem là một nghề, thay vào đó chỉ là một hoạt động kiêm nhiệm; nhiều vụ việc phá sản kéo dài trên mười năm do không thể tìm ra phương án giải quyết thù lao cho QTV; tình trạng các QTV từ chối tham gia khi có sự chỉ định của toà án diễn ra nhưng không có cơ chế giải quyết; những người có chứng chỉ hành nghề QTV thiếu sự hứng thú, gắn bó với công việc… Những khuyết điểm này làm cho hoạt động của QTV trên thực tế chưa được đánh giá cao và các thủ tục phá sản DN, HTX gặp nhiều khó khăn, thời gian kéo dài gây thiệt hại công sức, tiền của cho cả con nợ, chủ nợ lẫn nhà nước

Thực tiễn này đòi hỏi phải có một hoạt động nghiên cứu khoa học bài bản về địa vị pháp lý của QTV và thực tiễn thực thi địa vị pháp lý của QTV hiện nay, để có những đánh giá, đề xuất hoàn thiện địa vị pháp lý của định chế này Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học, cho đến nay nghiên cứu về QTV nói chung còn hạn chế, nghiên cứu trực tiếp địa vị pháp lý của QTV ở quy mô lớn dường như chưa được thực hiện

Xuất phát từ những vướng mắc trong thực tiễn và khoảng trống trong nghiên cứu

khoa học trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài: Địa vị pháp lý của Quản tài viên

Trang 10

theo pháp luật phá sản Việt Nam hiện nay làm luận án tiến sĩ chuyên ngành Luật

Kinh tế, mã số 9 38 01 07

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Luận án được nghiên cứu nhằm mục đích đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật phá sản hiện hành ở Việt Nam về địa vị pháp lý của QTV

Để đạt được mục đích nghiên cứu kể trên, tác giả xác định các nhiệm vụ nghiên cứu của luận án như sau:

Thứ nhất, hệ thống và phân tích lịch sử nghiên cứu vấn đề địa vị pháp lý của

QTV theo luật phá sản Từ đó rút ra được những đánh giá, nhận định về tình hình nghiên cứu cũng như xác định các ―khoảng trống‖ nghiên cứu của đề tài luận án

Thứ hai, phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến địa vị pháp lý

của QTV trong pháp luật phá sản như: khái niệm; bản chất; đặc điểm; mục đích và ý nghĩa; các cấu thành địa vị pháp lý của QTV theo pháp luật phá sản

Thứ ba, dẫn chiếu và phân tích thực tế địa vị pháp lý của QTV ở một số quốc

gia trên thế giới và rút ra các kinh nghiệm cho Việt Nam,

Thứ tư, thống kê và phân tích thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam và

thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật đó về địa vị pháp lý của QTV giai đoạn

từ năm 2015 đến nay Trên cơ sở đó, tiến hành đánh giá thực trạng để rút ra được những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân

Thứ năm, xác lập các quan điểm, xây dựng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện

địa vị pháp lý của QTV theo pháp luật phá sản ở Việt Nam hiện nay

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là các quy định pháp luật và thực hiện các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của QTV

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: phạm vi không gian nghiên cứu lý thuyết của đề tài luận án bao gồm cả ở Việt Nam và trên thế giới Phạm vi nghiên cứu thực tiễn và giải pháp của đề tài luận án là trên toàn lãnh thổ Việt Nam

- Phạm vi nội dung: phạm vi nội dung nghiên cứu của luận án là Luật học, chuyên ngành Luật Kinh tế

- Phạm vi thời gian: phạm vi thời gian nghiên cứu của đề tài luận án được xác định từ năm 2015 đến hết năm 2020 Năm 2015 là thời điểm có hiệu lực của Luật

Trang 11

Phá sản năm 2014 (hiện hành), đồng thời đây cũng là thời điểm chế định về QTV lần đầu tiên có hiệu lực trên thực tiễn Năm 2020 là năm có báo cáo tổng kết hoạt động gần nhất so với thời điểm hoàn thành luận án (2021) Đồng thời, các giải pháp được luận án đề xuất có phạm vi thời gian áp dụng định hướng đến năm 2025 và

lý luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Cụ thể, lý luận chủ nghĩa duy vật lịch sử đặt ra yêu cầu tiến trình lịch sử của việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu và chủ nghĩa duy vật biện chứng đặt ra yêu cầu về quan hệ tương hỗ, kế thừa của các phương pháp nghiên cứu Bên cạnh đó, trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về kinh tế thị trường

và vấn đề pháp quyền xã hội chủ nghĩa cũng là phương pháp luận của đề tài luận án

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện bởi nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Trong

đó, tác giả chia thành hai nhóm phương pháp nghiên cứu sau: Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận và Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn của đề tài luận án

a Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp Bằng cách thu thập các tài liệu thứ

cấp gồm: sách, báo, báo cáo khoa học và pháp luật thực định, tác giả tiến hành nghiên cứu, sàng lọc và tập hợp các thông tin thứ cấp nhằm tạo nguyên liệu thông tin đầu vào cho hoạt động nghiên cứu Đây là phương pháp thu thập thông tin cơ bản trong nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận Phương pháp này chủ yếu được vận dụng tại Chương 1 và Chương 2 của luận án

- Phương pháp phân tích, tổng hợp Sau khi đã có được những thông tin đầu

vào từ phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để tiến hành làm sâu sắc các thông tin lý luận Sau đó cùng với tư duy nghiên cứu khoa học của bản thân, tác giả sẽ tiến hành tổng hợp các luận điểm lý

Trang 12

luận của đề tài thành các vấn đề nghiên cứu cần làm rõ Phương pháp này chủ yếu được vận dụng tại Chương 1 và Chương 2 của luận án

- Phương pháp so sánh luật học Phương pháp này được tác giả sử dụng tập

trung chủ yếu tại Chương 2 của Luận án bằng cách nghiên cứu thực tiễn quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và so sánh với nhau nhằm tìm ra những điểm khác biệt

- Phương pháp lịch sử Phương pháp này được sử dụng nhằm làm rõ diễn trình

lịch sử của những vấn đề lý luận của đề tài luận án Bằng cách thống kê, phân tích, đánh giá diễn trình lịch sử đó, tác giả sẽ rút ra được những giá trị lý luận cần kế thừa trong đề tài luận án Phương pháp này chủ yếu được tác giả sử dụng trong Chương 1 và Chương 2 của luận án

b Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp Bằng việc thu thập và nghiên cứu

các báo cáo thực tiễn, các luận văn, luận án và các bài báo khoa học có đề cập đến vấn đề thực tiễn pháp luật và thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của QTV, tác giả

có được các thông tin thứ cấp để cùng với phương pháp quan sát khoa học hoàn thiện hệ thống dữ liệu về nghiên cứu thực tiễn phù hợp với nhu cầu của đề tài

- Phương pháp phân tích, thống kê Trên cơ sở những dữ liệu có được, tác giả

tiến hành phân tích để làm sâu sắc các vấn đề thực tiễn của đề tài Từ đó tiến hành thống kê những vấn đề thực tiễn cần đối chiếu để làm rõ và đưa ra những nhận định đánh giá về cả thực tiễn pháp luật và thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của QTV

Phương pháp này ứng dụng chủ yếu tại các mục của Chương 3 và Chương 4

- Phương pháp quan sát khoa học Phương pháp quan sát là một trong ba

phương pháp thu thập dữ liệu của đề tài Theo đó, tác giả tiến hành quan sát trực quan hoạt động của QTV trong một số vụ việc phá sản tiêu biểu để rút ra được những kết luận mang tính trường hợp về thực tiễn thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của QTV trên thực tế Phương pháp này được sử dụng trong mục 3.3 của Chương 3

- Phương pháp lịch sử Phương pháp này được sử dụng tại mục 3.1 nhằm khái

quát lịch sử hình thành của luật phá sản cũng như địa vị pháp lý của QTV trong luật phá sản Phương pháp này còn được sử dụng một phần ở mục 3.2 khi phân tích thực trạng quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của QTV

- Phương pháp chuyên gia Phương pháp chuyên gia được thực hiện thông qua các

hình thức như: tham dự hội nghị, hội thảo và tham khảo ý kiến các chuyên gia về vấn đề

Trang 13

cần nghiên cứu nhằm làm phong phú hơn nhận thức về lý luận và thực tiễn địa vị pháp lý của QTV Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt đề tài luận án và được biểu hiện chủ yếu bằng kết quả nghiên cứu của mục 4.2 thuộc Chương 4 của luận án

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án có những đóng góp mới về khoa học sau:

Luận án góp phần kiến giải những vấn đề lý luận mới về QTV và địa vị pháp

lý của QTV Qua đó làm rõ những nội hàm nội dung về địa vị pháp lý của QTV hiện nay

Bên cạnh đó, luận án còn cung cấp một bức tranh toàn cảnh thực tiễn về các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật phá sản Việt Nam về địa vị pháp lý của QTV Qua đó, luận án đã đánh giá, phân tích thực trạng quy định của pháp luật cũng như kết quả thực hiện các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của QTV ở Việt Nam trong thời gian qua Những kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần bổ khuyết vào những khoảng trống trong nghiên cứu thực tiễn về vấn đề địa vị pháp lý của QTV ở Việt Nam hiện nay

Những giải pháp được luận án nghiên cứu đề xuất cũng là những đóng góp mới quan trọng về mặt khoa học Những giải pháp này được rút ra từ hoạt động nghiên cứu, đánh giá thực tiễn và sẽ cung cấp thêm những ý tưởng, giải pháp về hoàn thiện pháp luật và nâng cao địa vị pháp lý của QTV ở Việt Nam hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa khoa học

Luận án góp phần làm phong phú, đa dạng thêm những giá trị khoa học về địa vị pháp lý của QTV nói riêng và pháp luật về phá sản nói chung Bên cạnh đó, trên cơ sở những kết quả nghiên cứu, luận án hứa hẹn sẽ là sự gợi mở về những hướng nghiên cứu mới liên quan đến pháp luật về phá sản và vai trò của QTV trong thủ tục phá sản

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Những kết quả nghiên cứu thực trạng của luận án cung cấp cho các nhà quản

lý một bức tranh tổng thể về quy định và thực hiện các quy định của pháp luật phá sản hiện hành về địa vị pháp lý của QTV Đồng thời, với những phân tích, đánh giá thực tiễn và đề xuất các giải pháp hoàn thiện và nâng cao thực tiễn đó nếu được các nhà quản lý đồng thuận sẽ trở thành một tài liệu tham khảo có ý nghĩa cho những dự định cải cách sắp tới Bên cạnh đó, luận án cũng có thể trở thành tài liệu có giá trị

Trang 14

phục vụ cho công tác giảng dạy ở bậc đại học và sau đại học các ngành Luật Kinh tế; Thương mại… ở những góc độ nhất định

7 Kết cấu của Luận án

Luận án ngoài Phần Mở đầu; Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo thì phần Nội dung chính được kết cấu thành 04 Chương theo kiểu truyền thống Gồm:

- Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu;

- Chương 2 Những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản;

- Chương 3 Thực trạng địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản Việt Nam và thực tiễn thi hành

- Chương 4 Hoàn thiện pháp luật và nâng cao địa vị pháp lý của quản tài viên theo pháp luật phá sản Việt Nam hiện nay

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở phạm vi nước ngoài

1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến

đề tài luận án

a Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về phá sản

Phá sản (Bankrupt) là chủ đề nghiên cứu phổ biến của học giới các ngành kinh

tế, tài chính DN, ngân hàng và pháp lý trên thế giới Các nghiên cứu có sự đa dạng cấp độ và góc độ tiếp cận đã góp phần làm rõ một cách sinh động và đầy đủ vấn đề phá sản Nghiên cứu lý luận về phá sản vì thế có thể coi là đã phủ lên hầu hết các vấn đề thuộc về ―tình trạng quẫn bách của DN‖ cần phải nghiên cứu Chính vì thế, kết quả này cùng với tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về phá sản trong nước trở thành những nền tảng lý luận vững chắc, được thừa nhận đã cơ bản toàn vẹn và có rất ít khoảng trống để nghiên cứu thêm

Các nghiên cứu về phá sản bằng phương pháp nghiên cứu chủ yếu như:

phương pháp lịch sử; phương pháp quan sát khoa học; phương pháp phân tích – tổng hợp và phương pháp so sánh luật học đều đã làm rõ được các vấn đề lý luận quan trọng sau:

- Thừa nhận phá sản là một tình trạng tồi tệ của của một chủ thể sản xuất hoặc kinh doanh (bao gồm cả tổ chức và cá nhân) khi lâm vào trạng thái không thể trả được các khoản chi phí khi tới hạn

- Xem xét và phân tích các dấu hiệu của tình trạng phá sản gồm: khả năng thanh toán các khoản phải chi trả cho hoạt động chi thường xuyên và nợ tới hạn không còn; tài sản hiện hữu thấp hơn dư nợ; tình trạng sản xuất, kinh doanh đình trệ không sinh lợi nhuận cao hơn hoặc bằng số chi phí và nợ phải trả trong một kỳ và tình trạng chán nản, tâm lý bỏ mặc của người sở hữu cơ sở sản xuất, kinh doanh

- Xác lập quan điểm cho rằng phá sản là một hoạt động rút lui trong trật tự của chủ thể tham gia sản xuất, kinh doanh Và để đảm bảo sự trật tự đó, hoạt động phá sản phải được ghi nhận và bảo đảm bởi nhà nước Như vậy, các nghiên cứu đều đồng quy rằng, thủ tục phá sản được đảm bảo đó là một cuộc đòi nợ chung nhân văn

Ba nội dung đã được các nghiên cứu đề cập này dù được chỉ rõ ở các nghiên cứu hiện đại hay rất lâu trong quá khứ đều bao trùm được các vấn đề lý luận mang

Trang 16

tính nhận diện vấn đề phá sản và được thừa nhận, sử dụng cho đến ngày nay Các nghiên cứu tiêu biểu cho nội dung này có thể kể tới như: tác giả Jon P Nelson

(1999) với nghiên cứu ―Consumer Bankruptcy And Chapter Choice: State Panel

Evidence‖ (tạm dịch: Phá sản của người tiêu dùng và vấn đề lựa chọn: bằng chứng

từ hội đồng cấp bang); nhóm tác giả Wang, Hung-Jen & White, Michelle J (2000)

với nghiên cứu ―An Optimal Personal Bankruptcy Procedure and Proposed

Reforms‖ (tạm dịch: Một thủ tục phá sản cá nhân ưu việt và những ý tưởng được đề

xuất); tác giả Couwenberg, Oscar (2001) với nghiên cứu ―Survival rates in

bankruptcy systems: overlooking the evidence” (tạm dịch: Tỷ lệ phục hồi của các

thủ tục phá sản: xem xét các bằng chứng); nhóm tác giả Julian Franks & Oren

Sussman (2005) với nghiên cứu "Financial Distress and Bank Restructuring of

Small to Medium Size UK Companies" (tạm dịch: Khó khăn tài chính và tái cấu trúc

ngân hàng của các công ty vừa và nhỏ ở Vương quốc Anh); nhóm tác giả Stijn

Claessens & Leora F Klapper (2005) với nghiên cứu "Bankruptcy around the

World: Explanations of Its Relative Use" (tạm dịch: Vấn đề phá sản trên thế giới:

Giải thích mang tính tương đối); các tác giả Couwenberg, O & de Jong, A (2007) với

nghiên cứu ―Costs and Recovery Rates in the Dutch Liquidation-Based Bankruptcy

System‖ (tạm dịch: Chi phí và Tỷ lệ thu hồi trong Hệ thống phá sản dựa trên thanh lý

của Hà Lan) và tác giả Chien-An Wang (2012) với nghiên cứu ―Determinants of the

Choice of Formal Bankruptcy Procedure: An International Comparison of Reorganization and Liquidation‖ (tạm dịch: Các yếu tố quyết định việc lựa chọn thủ

tục phá sản chính thức: So sánh quốc tế giữa việc tổ chức lại và thanh lý)

b Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của QTV

Nghiên cứu về địa vị pháp lý của QTV với từ dùng chính xác là tình trạng pháp lý (Legal status) của QTV (Liquidator) đã được nhiều nghiên cứu nước ngoài

đề cập Các nghiên cứu này chủ yếu được triển khai tại các quốc gia Phương Tây (Châu Âu và Mỹ) – đây cũng chính là khu vực có nền kinh tế thương mại thịnh vượng nhất thế giới cho đến ngày nay Những nội dung đã được đề cập trong phần nghiên cứu các vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của QTV ở phạm vi này bao gồm:

Thứ nhất, nghiên cứu khái niệm địa vị pháp lý của QTV Đây là nội dung

nghiên cứu phổ biến nhất, mang tính đồng nhất nhất và thành công nhất của các công trình nước ngoài ở các cấp độ khác nhau Theo đó, các nghiên cứu bằng

Trang 17

phương pháp phân tích – tổng hợp đã làm rõ nội hàm khái niệm của địa vị pháp lý;

QTV và địa vị pháp lý của QTV Cụ thể:

- Đối với khái niệm địa vị pháp lý, các nghiên cứu sau đây: tác giả David C

ParkeKyle (2000) với nghiên cứu ―An Empirical Analysis of Personal Bankruptcy

and Delinquency‖ (tạm dịch: Phân tích thực nghiệm về phá sản cá nhân và vi phạm

pháp luật); nhóm tác giả Bliss, Robert R & Kaufman, George G (2006) với nghiên

cứu "Derivatives and systemic risk: Netting, collateral, and closeout” (tạm dịch:

Các công cụ phái sinh và rủi ro hệ thống: mạng lưới, tài sản thế chấp và khóa sổ);

nhóm tác giả Ricardo J Caballero & Mohamad L Hammour (1998) với nghiên cứu

"The Macroeconomics of Specificity" (tạm dịch: Kinh tế học vĩ mô về tính cụ thể)

và tác giả Henderson, Vicky (2012) với nghiên cứu ―Prospect theory, liquidation,

and the disposition effect‖ (tạm dịch: Lý thuyết triển vọng, thanh lý và hiệu ứng

định đoạt) cho rằng địa vị pháp lý chính là tình trạng ghi nhận của pháp luật về một vấn đề nào đó Cách tiếp cận này rất rộng, theo đó, địa vị pháp lý sẽ được hiểu như quy định của pháp luật về một thứ gì đó Đây chính là cách tiếp cận dựa trên bản chất pháp lý của vấn đề Tiếp cận hẹp hơn, các nghiên cứu của: tác giả Prescott,

Edward C (1986) với nghiên cứu "Theory ahead of business-cycle measurement"

(tạm dịch: Lý thuyết đi trước đo lường chu kỳ kinh doanh); nhóm tác giả Ricardo J

Caballero & Mohamad L Hammour (2005) với nghiên cứu ―The Cost of Recessions

Revisited: A Reverse-Liquidationist View" (tạm dịch: Chi phí của kỳ thu hồi được

xem xét lại: Một quan điểm ngược lại người thanh lý); nhóm tác giả Matthew

Rognlie & Andrei Shleifer & Alp Simsek (2018) với nghiên cứu "Investment

Hangover and the Great Recession" (tạm dịch: Sự cố gắng đầu tư và sự suy thoái vĩ

đại)… lại cho rằng địa vị pháp lý là sự ghi nhận của pháp luật về vị trí, vai trò và mối quan hệ của chủ thể nào đó với các chủ thể khác Cách tiếp cận này đáng giá ở chỗ đã cho thấy được địa vị pháp lý là để phân biệt bản chất pháp lý của một chủ thể này với các chủ thể khác, từ đó vừa nhận diện chủ thể, nhưng đồng thời cũng thiết lập các mối quan hệ pháp lý giữa chủ thể đó với các chủ thể khác liên quan

Cho đến nay, trong kinh tế học và các ngành liên quan đến tài chính, kinh tế, DN vẫn dùng cách tiếp cận thứ nhất này của các học giới Trong khi đó, dưới góc nhìn của pháp lý, cách tiếp cận thứ hai được thừa nhận rộng rãi hơn

- Đối với khái niệm QTV, các nghiên cứu xuất phát từ các quốc gia khác nhau

sử dụng tên gọi khác nhau cho chế định này Ví dụ như: quản lý tài sản; nhân viên

Trang 18

phân phối nợ; nhân viên hỗ trợ tài chính hay nhân viên hỗ trợ quản lý tài sản khi phá sản Kết quả nghiên cứu của các công trình nước ngoài cũng có những cách thức xác lập định nghĩa khác nhau về vấn đề này vì phụ thuộc rất lớn vào quan điểm pháp lý của từng quốc gia Quan điểm chung nhất được đưa ra cho rằng, QTV là người giúp quản lý tài sản của chủ thể phá sản trong suốt quá trình giải quyết phá sản và được đề cập trong các nghiên cứu của tác giả B.H McPherson (2001) với

nghiên cứu ―The Law of Company Liquidation" (tạm dịch: Luật thanh lý công ty);

các tác giả Sabrina Pellerin & John R Walter (2012) với nghiên cứu "Orderly

liquidation authority as an alternative to bankruptcy" (tạm dịch: Cơ quan thanh lý

có trật tự như một giải pháp thay thế cho phá sản); các tác giả Marcello Estevão &

Tiago Severo (2014) với nghiên cứu "Shocks, financial dependence and efficiency:

Evidence from U.S and Canadian industries‖ (tạm dịch: Những cú sốc, sự phụ

thuộc vào tài chính và hiệu quả: Bằng chứng từ các ngành công nghiệp của Hoa Kỳ

và Canada) và rất nhiều nghiên cứu khác

Tuy nhiên, như đã trình bày, một số nghiên cứu bám sát quan điểm pháp lý của từng quốc gia khác nhau lại đưa ra những luận giải cặn kẽ hơn về khái niệm QTV Theo đó, các tác giả như: tác giả Free Huizinga & Peter Broer (2004) với

nghiên cứu "Wage moderation and labour productivity" (tạm dịch: Kiểm duyệt tiền

lương và năng suất lao động); các tác giả Sabrina Pellerin & John R Walter (2012)

với nghiên cứu "Orderly liquidation authority as an alternative to bankruptcy" (tạm

dịch: Cơ quan thanh lý có trật tự như một giải pháp thay thế cho phá sản); tác giả

Henderson, Vicky (2012) với nghiên cứu ―Prospect theory, liquidation, and the

disposition effect‖ (tạm dịch: Lý thuyết triển vọng, thanh lý và hiệu ứng định đoạt);

tác giả Ben S Bernanke (2013) với nghiên cứu "A Century of US Central Banking:

Goals, Frameworks, Accountability" (tạm dịch: Một thế kỷ của Ngân hàng Trung

ương Hoa Kỳ: Mục tiêu, Khuôn khổ, Trách nhiệm giải trình)… cho rằng QTV là một người được uỷ thác pháp lý thay mặt toà án hoặc các thiết chế phân xử trong thủ tục phá sản tiến hành quản lý, thanh lý tài sản của chủ thể phá sản nhằm mục đích chi trả nợ cho tất cả các chủ nợ theo một cách thức luật định Cách tiếp cận này cho thấy vai trò và mối liên hệ giữa QTV với các chủ thể pháp lý khác Cho đến nay, nhiều nghiên cứu thừa nhận khái niệm này

- Đối với khái niệm địa vị pháp lý của QTV, như những phân tích cấu thành của khái niệm này kể trên ở các nghiên cứu tiêu biểu, có thể thấy các công trình có

Trang 19

những tiếp cận khác nhau đưa ra những khái niệm khác nhau về địa vị pháp lý của QTV Theo đó, nhóm các nghiên cứu của nhóm tác giả Kydland, Finn E & Prescott,

Edward C (1982) "Time to Build and Aggregate Fluctuations" (tạm dịch: Thời gian

để xây dựng và tổng hợp biến động); tác giả Matthew Rognlie & Andrei Shleifer &

Alp Simsek (2018) với nghiên cứu "Investment Hangover and the Great Recession‖

(tạm dịch: Sự cố đầu tư và cuộc suy thoái lớn); tác giả Sabrina Pellerin & John R

Walter (2012) với nghiên cứu "Orderly liquidation authority as an alternative to

bankruptcy‖ (tạm dịch: Cơ quan thanh lý có trật tự như một giải pháp thay thế cho

phá sản)… bằng phương pháp phân tích đối chiếu cho rằng địa vị pháp lý của QTV

là những thứ được pháp luật quy định để phân biệt nó với những thứ khác trong một mối quan hệ phá sản Cách tiếp cận này đã làm rõ bản chất của địa vị pháp lý chính

là cơ sở để phân biệt chủ thể pháp luật này với các chủ thể pháp luật khác Chi tiết

hơn, các nghiên cứu của tác giả Ben S Bernanke (2013) với nghiên cứu "A Century

of US Central Banking: Goals, Frameworks, Accountability" (tạm dịch: Một thế kỷ

của Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ: Mục tiêu, Khuôn khổ, Trách nhiệm giải trình)

và tác giả Carlos Carreira & Paulino Teixeira (2008) ―Internal and external

restructuring over the cycle: a firm-based analysis of gross flows and productivity growth in Portugal‖ (tạm dịch: Tái cấu trúc bên trong và bên ngoài theo chu kỳ:

phân tích dựa trên cơ sở công ty về tổng dòng chảy và tăng trưởng năng suất ở Bồ Đào Nha)… xây dựng một khái niệm địa vị pháp lý của QTV cặn kẽ hơn với những nội dung cấu thành như: (1) vị trí pháp lý của QTV trong thủ tục phá sản; (2) vai trò của QTV trong thủ tục phá sản; (3) mối quan hệ giữa QTV và các chủ thể khác và (4) những trách nhiệm pháp lý bất lợi mà QTV phải gánh chịu khi thực hiện các hành vi trái với pháp luật Khái niệm này của các nghiên cứu kể trên là tương đối đầy đủ và là cơ sở khoa học quan trọng cho các nghiên cứu kế thừa

Thứ hai, nghiên cứu về bản chất pháp lý của QTV Đây là nội dung nghiên

cứu được rất nhiều công trình ở những cấp độ khác nhau ở phạm vi nước ngoài nghiên cứu, đề cập Theo đó, hầu hết các nghiên cứu của tác giả Prescott, Edward C

(1986) với nghiên cứu ― Theory ahead of business-cycle measurement‖ (tạm dịch:

Lý thuyết về đo lường chu kỳ kinh doanh); tác giả Sergei Belyakov (2019) với

nghiên cứu ―Liquidator: The Chernobyl Story‖ (tạm dịch: Người thanh lý: Câu

chuyện Chernobyl); các tác giả Matthew Rognlie & Andrei Shleifer & Alp Simsek

(2018) với nghiên cứu "Investment Hangover and the Great Recession" (tạm dịch:

Trang 20

Sự cố đầu tư và cuộc suy thoái lớn); nhóm tác giả Stijn Claessens & Leora F

Klapper (2005) với nghiên cứu "Bankruptcy around the World: Explanations of Its

tương đối của nó)… đều có điểm đồng quy khi cho rằng QTV có bản chất là một thụ uỷ viên pháp lý (được một tổ chức có địa vị pháp lý công quyền uỷ quyền thực hiện một số hoạt động) trong giải quyết thủ tục phá sản Đây là một khẳng định mang tính bao quát rất lớn khi khẳng định bản chất địa vị pháp lý của QTV không phải là một pháp nhân công quyền mà chỉ là một thụ uỷ pháp lý

Ở cách tiếp cận cụ thể hơn, các nghiên cứu của: tác giả Ben S Bernanke

(2013) với nghiên cứu "A Century of US Central Banking: Goals, Frameworks,

Accountability" (tạm dịch: Một thế kỷ của Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ: Mục

tiêu, Khuôn khổ, Trách nhiệm giải trình); tác giả B.H McPherson (2001) với

nghiên cứu ―The Law of Company Liquidation‖ (tạm dịch: Luật thanh lý công ty);

tác giả Free Huizinga & Peter Broer (2004) với nghiên cứu "Wage moderation and

labour productivity" (tạm dịch: Kiểm duyệt tiền lương và năng suất lao động);

nhóm tác giả Kydland, Finn E & Prescott, Edward C (1982) với nghiên cứu "Time

biến động) … đã chỉ ra bản chất pháp lý của QTV là một điều phối viên trong việc thanh toán nợ chung nhằm giúp cho hoạt động phá sản được diễn ra trong trật tự và không ai phải chịu thiệt hơn phần người khác trong các chủ nợ Đây là quan điểm dựa vào vấn đề phá sản một cách chặt chẽ Bản chất của QTV xuất phát từ bản chất của thủ tục phá sản

Hiện nay, cả hai kết quả nghiên cứu của nhóm này đều được nhiều nghiên cứu

kế thừa, sử dụng

Thứ ba, nghiên cứu về cấu thành địa vị pháp lý của QTV Đây là nội dung

nghiên cứu trọng tâm của rất nhiều công trình nước ngoài Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được lựa chọn sử dụng cho nội dung này ở hầu hết các nghiên cứu là phân

tích quan điểm pháp lý và đối chiếu lịch sử quan điểm đó về địa vị pháp lý của QTV Có 03 nhóm nghiên cứu đưa ra ba kết quả khác nhau cho nội dung này, gồm:

- Nhóm nghiên cứu thứ nhất cho rằng cấu thành của địa vị pháp lý QTV chính

là quyền và nghĩa vụ của chủ thể này Cụ thể, các nghiên cứu nhóm này đều cho rằng, bản chất hay cốt yếu của địa vị pháp lý chính là giới hạn quyền và nghĩa vụ của một chủ thể pháp luật Chính vì thế, giới hạn quyền và nghĩa vụ của QTV chính

Trang 21

là địa vị pháp lý của định chế này Hướng tiếp cận này có ưu điểm là chỉ ra được trọng tâm của địa vị pháp lý là quyền và nghĩa vụ Song lại thiếu đầy đủ khi bỏ qua các yếu tố khác nhằm xác định cụ thể vị trí, vai trò của QTV trong hoạt động phá sản Đại diện của nhóm này gồm: nhóm tác giả Dong He, Stefan Ingves, and Steven

A Seelig (2006) với nghiên cứu ―Issues in the Establishment of Asset Management

Companies‖ (tạm dịch: Các vấn đề trong việc thành lập các công ty quản lý tài sản);

tác giả B.H McPherson (2001) với nghiên cứu ―The Law of Company Liquidation‖

(tạm dịch: Luật thanh lý công ty); tác giả Sergei Belyakov (2019) với nghiên cứu

―Liquidator: The Chernobyl Story‖ (tạm dịch: Người thanh lý: Câu chuyện

Chernobyl)…

- Nhóm nghiên cứu thứ hai đi theo hướng tiếp cận sự hiện diện của QTV trong một tổng thể quan hệ pháp luật phá sản Kết quả nghiên cứu của nhóm này chỉ ra rằng: địa vị pháp lý của QTV được cấu thành bởi vị trí; vai trò và mối quan hệ của QTV với các chủ thể khác trong tổng thể quan hệ pháp luật phá sản Như vậy, ưu điểm của kết quả này là xác định rõ tính nhận diện vị trí pháp lý của QTV là vấn đề trọng tâm của địa vị pháp lý QTV – cũng như những địa vị pháp lý khác Tuy nhiên, cách tiếp cận này lại làm hạn chế những cấu thành về quyền và nghĩa vụ – thứ vốn

là trung tâm khi thực thi địa vị pháp lý của QTV trên thực tế Nhóm nghiên cứu này

được đại diện bởi: tác giả David C ParkeKyle (2000) với nghiên cứu ―An Empirical

Analysis of Personal Bankruptcy and Delinquency‖ (tạm dịch: Phân tích thực

nghiệm về phá sản cá nhân và vi phạm pháp luật); tác giả Free Huizinga & Peter

Broer (2004) với nghiên cứu "Wage moderation and labour productivity" (tạm dịch:

Kiểm duyệt tiền lương và năng suất lao động) và nhóm tác giả Wang, Hung-Jen &

White, Michelle J (2000) "An Optimal Personal Bankruptcy Procedure and

Proposed Reforms" (tạm dịch: "Một thủ tục phá sản cá nhân tối ưu và những cải

cách được đề xuất)

- Nhóm nghiên cứu thứ ba có cách tiếp cận tương đối bao quát hơn với những

công trình của: tác giả Donald P Morgan (2002) với nghiên cứu "Rating Banks:

Risk and Uncertainty in an Opaque Industry" (tạm dịch: Xếp hạng ngân hàng: Rủi

ro và sự không chắc chắn trong một ngành công nghiệp không rõ ràng); tác giả

Chien-An Wang (2012) với nghiên cứu ―Determinants of the Choice of Formal

Bankruptcy Procedure: An International Comparison of Reorganization and Liquidation‖ (tạm dịch: Các yếu tố quyết định việc lựa chọn thủ tục phá sản chính

Trang 22

thức: So sánh quốc tế về tái tổ chức và thanh lý); nhóm tác giả Wenli Li &

Pierre-Daniel G Sarte (2003) với nghiên cứu "The macroeconomics of U.S consumer

bankruptcy choice: Chapter 7 or Chapter 13?" (tạm dịch: "Kinh tế vĩ mô về sự lựa

chọn phá sản của người tiêu dùng Hoa Kỳ: Chương 7 hay Chương 13?"); nhóm nghiên cứu Igor Livshits & James MacGee & Michèle Tertilt (2007) với đề tài

"Consumer Bankruptcy: A Fresh Start" (tạm dịch: Phá sản người tiêu dùng: Một khởi đầu mới)… Kết quả nghiên cứu cho thấy, địa vị pháp lý của QTV phải được cấu thành bởi: điều kiện hành nghề; nội dung hành nghề; bổn phận; mối quan hệ và các đe doạ của chế tài Nhìn chung các cấu thành này đã bao quát được hầu hết những vấn đề quan trọng về địa vị pháp lý của QTV, hay suy rộng ra là địa vị pháp

lý của các chủ thể pháp lý khác cần phải có Đây cũng là những nội dung được sử dụng hầu hết trong các nghiên cứu sau này

1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề thực tiễn liên quan đến đề tài luận án

Nghiên cứu về thực tiễn địa vị pháp lý của QTV ở nước ngoài được cấu thành bởi hai nội dung lớn: thực tiễn quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật Nội dung nghiên cứu này hoàn toàn phụ thuộc vào phạm vi nghiên cứu (không gian và thời gian) Do đó, rất khó để có được sự nhóm chung các kết quả của các nghiên cứu khác nhau về quốc gia (phạm vi không gian nghiên cứu) Do đó, cách nhóm dễ thấy được sự trùng hợp nhất chính là theo địa bàn nghiên cứu

Thứ nhất, tình hình nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật về địa vị pháp lý của QTV Các nghiên cứu ở phạm vi nước ngoài khi xem xét thực trạng địa vị pháp

lý của QTV đều có những thống kê và đánh giá khác nhau Kết quả nghiên cứu này như đã đề cập ở trên, phụ thuộc hoàn toàn vào địa bàn nghiên cứu Theo đó, có hai nhóm quốc gia cơ bản được đề cập nhiều nhất:

- Nhóm các nghiên cứu thực trạng pháp luật về QTV ở các quốc gia châu Âu

và Mỹ La tinh Nhóm các nghiên cứu này phản ánh, thống kê và phân tích thành công các quy định của pháp luật trong lịch sử và hiện tại về chế định QTV tại các quốc gia theo hệ thống Common law Theo đó, kết quả nghiên cứu cho thấy chế định này xuất hiện rất sớm tại các quốc gia tư sản và gắn liền với cơ chế thị trường

tự do Các quy định này theo thời gian có sự biến đổi và hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Kết quả nghiên cứu cho thấy xu hướng hoàn thiện này chủ yếu tập trung vào vấn đề quyền và nghĩa vụ của QTV trong thủ tục phá sản Các tác

Trang 23

giả tiêu biểu cho nhóm này gồm: tác giả David B Gross (2002) với nghiên cứu ―An

Empirical Analysis of Personal Bankruptcy and Delinquency" (tạm dịch: Phân tích

thực nghiệm về phá sản cá nhân và vi phạm pháp luật); các tác giả Scott Fay & Erik

Hurst & Michelle J White (2002) với nghiên cứu ―The Household Bankruptcy

Decision" (tạm dịch: Quyết định Phá sản Hộ gia đình); nhóm tác giả Wenli Li &

Pierre-Daniel G Sarte (2003) với nghiên cứu "The macroeconomics of U.S

consumer bankruptcy choice: Chapter 7 or Chapter 13?" (tạm dịch: "Kinh tế vĩ mô

về sự lựa chọn phá sản của người tiêu dùng Hoa Kỳ: Chương 7 hay Chương 13?";

nhóm tác giả Julian Franks & Oren Sussman (2005) với nghiên cứu "Financial

Distress and Bank Restructuring of Small to Medium Size UK Companies" (tạm

dịch: Khó khăn tài chính và tái cấu trúc ngân hàng của các công ty vừa và nhỏ ở Vương quốc Anh); nhóm tác giả Stijn Claessens & Leora F Klapper (2005) với

nghiên cứu "Bankruptcy around the World: Explanations of Its Relative Use" (tạm

dịch: Vấn đề phá sản trên thế giới: Giải thích về cách sử dụng tương đối của nó); hai

tác giả Bliss, Robert R & Kaufman, George G (2006) với nghiên cứu "Derivatives

and systemic risk: Netting, collateral, and closeout” (tạm dịch: Các công cụ phái

sinh và rủi ro hệ thống: mạng lưới, tài sản thế chấp và khóa sổ)… Điểm đạt được của các nghiên cứu này chính là tính khái quát của các quốc gia tiêu biểu theo hệ thống thông luật về quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của QTV Trong đó, đã chứng minh được nội dung của địa vị pháp lý này gắn liền chặt chẽ với thăng trầm của lịch sử tư bản Tuy nhiên, hạn chế là chỉ bó hẹp về không gian đó mà chưa có

sự đối chiếu với các quốc gia theo hệ thống khác Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu cũng tỏ ra khá chủ quan khi nhận định địa vị pháp lý của QTV là một sản phẩm sáng tạo của hệ thống thông luật và luôn thuộc về hệ thống thông luật

- Nhóm các nghiên cứu QTV ở các quốc gia châu Á, đặc biệt ở Nhật Bản và Trung Quốc Nhóm này gồm các tác giả như: nhóm tác giả Wang, Hung-Jen &

White, Michelle J (2000) "An Optimal Personal Bankruptcy Procedure and

Proposed Reforms" (tạm dịch: "Một thủ tục phá sản cá nhân tối ưu và những cải

cách được đề xuất); tác giả Chien-An Wang (2012) với nghiên cứu ―Determinants

of the Choice of Formal Bankruptcy Procedure: An International Comparison of Reorganization and Liquidation‖ (tạm dịch: "Các yếu tố quyết định việc lựa chọn

thủ tục phá sản chính thức: So sánh quốc tế giữa việc tổ chức lại và thanh lý); nhóm

tác giả Dong He, Stefan Ingves, and Steven A Seelig (2006) với nghiên cứu ―Issues

Trang 24

in the Establishment of Asset Management Companies‖ (tạm dịch: Các vấn đề trong

việc thành lập các công ty quản lý tài sản)… Các nghiên cứu này chủ yếu sử dụng phương pháp quan sát khoa học và lịch sử để cho thấy được lịch sử hình thành quan điểm pháp lý về QTV tại các quốc gia châu Á Kết quả cho thấy, ở những quốc gia tiếp cận nền tư bản sớm hơn như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Philippine và Thái Lan, QTV được hình thành sớm hơn và mang nhiều đặc trưng giống với chế định QTV của các nước phương Tây Ở chiều hướng khác, các quốc gia có quá trình chuyển đổi muộn hơn với tiêu biểu là Trung Quốc lại ghi nhận về chế định QTV chậm hơn và có nhiều yếu tố khác biệt với phương Tây Theo đó, QTV ở các quốc gia này thực ra là một luật sư hoặc một kế toán kiêm nhiệm việc quản lý tài sản phá sản trong lúc làm thủ tục Trước đó nữa, QTV được đảm nhiệm bởi một nhóm được thành lập nên bởi đại diện các bên Đây cũng là một dạng thường thấy

dưới mô hình tổ chức xã hội của Chủ nghĩa xã hội

Nhìn chung, cả hai nhóm nghiên cứu đều cung cấp những cái nhìn sinh động

về ghi nhận của pháp luật về địa vị pháp lý của QTV Từ kết quả nghiên cứu này, học giới có thể tìm kiếm các tài liệu thứ cấp có giá trị về lịch sử hình thành và biến đổi của QTV trên thế giới Đồng thời, dựa vào đó để có những đối chiếu thú vị về

sự giống nhau và khác biệt giữa địa vị pháp lý của QTV ở các quốc gia và các khu vực trên thế giới

Thứ hai, tình hình nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về QTV Đây cũng là

nội dung quan trọng thứ hai trong phần nghiên cứu thực trạng, bên cạnh thực trạng quy định của pháp luật được nghiên cứu bởi các công trình ở phạm vi nước ngoài Các nghiên cứu chủ yếu được thực hiện ở một số quốc gia như: Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan và tập trung chủ yếu trong khoảng 20 năm trở lại đây Các nghiên cứu này cho thấy rằng, sự hiện diện của QTV trong thủ tục phá sản là tất yếu

Rất nhiều quốc gia thậm chí còn áp dụng định chế này ở cuối thế kỷ 18 và mang lại những kết quả rất tích cực đối với việc giải quyết phá sản cho các chủ thể

Đỉnh điểm về nghiên cứu thực tiễn thực hiện địa vị pháp lý của QTV được thực hiện vào giai đoạn những năm từ 2008 đến 2011 – đây là giai đoạn của khủng hoảng kinh tế trầm trọng diễn ra ở hầu hết các châu lục và gây ra thiệt hại lớn đối với nền kinh tế thế giới Chính vì thế, thời điểm này số lượng DN, cá nhân kinh doanh lâm vào tình trạng phá sản lớn, vượt trội hơn so với tất cả các giai đoạn trước Chính vì thế, sự hiện diện của QTV phổ biến hơn

Trang 25

Các nghiên cứu cũng đã phân tích các những hạn chế khi thực thi địa vị pháp

lý của QTV Trong đó có 03 vấn đề chính được đưa ra gồm: QTV ở một số quốc gia không được coi trọng do thủ tục phá sản không được coi trọng – đây là vấn đề mà nhiều nghiên cứu, đặc biệt là các nghiên cứu về châu Á chỉ ra Theo đó, tâm lý xã hội không coi trọng thủ tục phá sản khiến cho hoạt động này trên thực tế ít được lựa chọn Khi đó, tất yếu QTV sẽ không có nhiều sự hiện diện Tiêu biểu cho luận điểm

này là các nghiên cứu của: tác giả David C ParkeKyle (2000) với nghiên cứu ―An

Empirical Analysis of Personal Bankruptcy and Delinquency‖ (tạm dịch: Phân tích

thực nghiệm về phá sản cá nhân và vi phạm pháp luật); tác giả Free Huizinga &

Peter Broer (2004) với nghiên cứu "Wage moderation and labour productivity" (tạm

dịch: Kiểm duyệt tiền lương và năng suất lao động); tác giả Henderson, Vicky

(2012) với nghiên cứu ―Prospect theory, liquidation, and the disposition effect‖

(tạm dịch: Lý thuyết triển vọng, thanh lý và hiệu ứng định đoạt); tác giả Ben S

Bernanke (2013) với nghiên cứu "A Century of US Central Banking: Goals,

Frameworks, Accountability" (tạm dịch: Một thế kỷ của Ngân hàng Trung ương Hoa

Kỳ: Mục tiêu, Khuôn khổ, Trách nhiệm giải trình); tác giả Donald P Morgan (2002)

với nghiên cứu "Rating Banks: Risk and Uncertainty in an Opaque Industry" (tạm

dịch: Xếp hạng ngân hàng: Rủi ro và sự không chắc chắn trong một ngành công nghiệp

không rõ ràng) và tác giả Chien-An Wang (2012) với nghiên cứu ―Determinants of the

Choice of Formal Bankruptcy Procedure: An International Comparison of Reorganization and Liquidation‖ (tạm dịch: Các yếu tố quyết định việc lựa chọn thủ

tục phá sản chính thức: So sánh quốc tế giữa việc tổ chức lại và thanh lý)

Cơ sở pháp lý thiếu đầy đủ khiến cho việc thực hiện địa vị pháp lý của QTV trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn Đây là lý do được chỉ ra khi nghiên cứu các địa bàn là những quốc gia mới có ghi nhận về địa vị pháp lý của QTV Các nghiên cứu

của tác giả Prescott, Edward C (1986) với nghiên cứu ―Theory ahead of

business-cycle measurement‖ (tạm dịch: Lý thuyết về đo lường chu kỳ kinh doanh); nhóm tác

giả Ricardo J Caballero & Mohamad L Hammour (2005) với nghiên cứu ―The

Cost of Recessions Revisited: A Reverse-Liquidationist View" (tạm dịch: Chi phí

của kỳ thu hồi được xem xét lại: Một quan điểm ngược lại người thanh lý); các tác giả Matthew Rognlie & Andrei Shleifer & Alp Simsek (2018) với nghiên cứu

"Investment Hangover and the Great Recession" (tạm dịch: Sự cố đầu tư và cuộc suy thoái lớn); tác giả David C ParkeKyle (2000) với nghiên cứu ―An Empirical

Trang 26

Analysis of Personal Bankruptcy and Delinquency‖ (tạm dịch: Phân tích thực

nghiệm về phá sản cá nhân và vi phạm pháp luật); tác giả Free Huizinga & Peter

Broer (2004) với nghiên cứu "Wage moderation and labour productivity" (tạm dịch:

Kiểm duyệt tiền lương và năng suất lao động)… đã chỉ ra rằng, chính sự thiếu hụt

cơ chế hoàn thiện pháp lý về QTV như tiêu chuẩn hành nghề, quyền và nghĩa vụ và các cơ chế đảm bảo hành nghề đã khiến cho QTV gặp khó khăn trên thực tế

Cuối cùng, vấn đề số ba được chỉ ra là hầu hết các quốc gia đều chưa có tính đồng nhất về định chế này nên sự liên kết kinh tế toàn cầu gặp những vấn đề rắc rối mang tính đặc thù Các nghiên cứu đã chỉ ra vấn đề này được công bố bởi: tác giả

Prescott, Edward C (1986) với nghiên cứu ―Theory ahead of business-cycle

measurement‖ (tạm dịch: Lý thuyết về đo lường chu kỳ kinh doanh); nhóm tác giả

Ricardo J Caballero & Mohamad L Hammour (2005) với nghiên cứu ―The Cost of

Recessions Revisited: A Reverse-Liquidationist View" (tạm dịch: Chi phí của kỳ thu

hồi được xem xét lại: Một quan điểm ngược lại người thanh lý); các tác giả Matthew Rognlie & Andrei Shleifer & Alp Simsek (2018) với nghiên cứu

"Investment Hangover and the Great Recession" (tạm dịch: Sự cố đầu tư và cuộc

suy thoái lớn)… Cụ thể, mỗi quốc gia có một quy định khác nhau về QTV và thậm chí tên gọi cũng không giống nhau Điều này đã khiến cho việc thực hiện phá sản của các DN đa quốc gia tại các quốc gia khác nhau là khác nhau

Nhìn chung, các nghiên cứu đã chỉ ra được thực trạng pháp luật, thực trạng thực hiện pháp luật của các quốc gia là địa bàn nghiên cứu của từng công trình

Điều này mặc dù không mang lại giá trị đồng nhất, song lại đem đến một bức tranh hết sức sinh động về thực tiễn địa vị pháp lý của QTV trên thực tế Hầu hết các nghiên cứu sau này đều kế thừa các giá trị nghiên cứu thực tiễn này

1.1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề kiến nghị, giải pháp liên quan đến đề tài luận án

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực tiễn đã nêu ở trên, các nghiên cứu khoa học

ở phạm vi ngoài nước cũng đã nghiên cứu đề xuất các kiến nghị, giải pháp liên quan đến địa vị pháp lý của QTV

Theo đó, có hai nhóm kiến nghị, đề xuất chủ yếu được đưa ra gồm:

- Nhóm các kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của QTV được nghiên cứu bởi các tác giả như: tác giả Prescott, Edward C (1986) với nghiên

cứu ―Theory ahead of business-cycle measurement‖ (tạm dịch: Lý thuyết về đo

Trang 27

lường chu kỳ kinh doanh); nhóm tác giả Ricardo J Caballero & Mohamad L

Hammour (2005) với nghiên cứu ―The Cost of Recessions Revisited: A

Reverse-Liquidationist View" (tạm dịch: Chi phí của kỳ thu hồi được xem xét lại: Một quan

điểm ngược lại người thanh lý); các tác giả Matthew Rognlie & Andrei Shleifer &

Alp Simsek (2018) với nghiên cứu "Investment Hangover and the Great Recession"

(tạm dịch: Sự cố đầu tư và cuộc suy thoái lớn); tác giả David C ParkeKyle (2000)

với nghiên cứu ―An Empirical Analysis of Personal Bankruptcy and Delinquency‖

(tạm dịch: Phân tích thực nghiệm về phá sản cá nhân và vi phạm pháp luật); tác giả

Free Huizinga & Peter Broer (2004) với nghiên cứu "Wage moderation and labour

productivity" (tạm dịch: Kiểm duyệt tiền lương và năng suất lao động) Các nghiên

cứu này đề xuất chủ yếu những giải pháp như: hoàn thiện quy định của pháp luật phá sản nâng địa vị pháp lý của QTV lên cao hơn mức thụ uỷ pháp lý hoặc ở dạng thụ uỷ pháp lý toàn quyền – khi này QTV có quyền tự quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp; quy định các chế tài về từ chối thủ tục về phá sản của các chủ thể thương mại; quy định mở rộng về quyền và nghĩa vụ của QTV; quy định chặt chẽ

về chế tài và các cơ chế đảm bảo thực hiện địa vị pháp lý của QTV

- Nhóm các kiến nghị, đề xuất đảm bảo thực thi địa vị pháp lý của QTV được

đề xuất riêng ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ Nhưng tựu chung lại, có sự đồng nhất

ở một số giải pháp sau: tác giả Prescott, Edward C (1986) với nghiên cứu ―Theory

ahead of business-cycle measurement‖ (tạm dịch: Lý thuyết về đo lường chu kỳ

kinh doanh); nhóm tác giả Ricardo J Caballero & Mohamad L Hammour (2005)

với nghiên cứu ―The Cost of Recessions Revisited: A Reverse-Liquidationist View"

(tạm dịch: Chi phí của kỳ thu hồi được xem xét lại: Một quan điểm ngược lại người

thanh lý); tác giả Couwenberg, Oscar (2001) với nghiên cứu ―Survival rates in

bankruptcy systems: overlooking the evidence” (tạm dịch: Tỷ lệ phục hồi của các

thủ tục phá sản: xem xét các bằng chứng); các tác giả Matthew Rognlie & Andrei

Shleifer & Alp Simsek (2018) với nghiên cứu "Investment Hangover and the Great

Recession" (tạm dịch: Sự cố đầu tư và cuộc suy thoái lớn); nhóm tác giả Julian Franks

& Oren Sussman (2005) với nghiên cứu "Financial Distress and Bank Restructuring of

Small to Medium Size UK Companies" (tạm dịch: Khó khăn tài chính và tái cấu trúc

ngân hàng của các công ty vừa và nhỏ ở Vương quốc Anh)… Các nghiên cứu đề xuất các giải pháp như: đảm bảo sự trao quyền cho QTV ở mức hợp lý; duy trì hệ thống thông tin chung của các bên tham gia phá sản; có sự liên hệ giữa các quốc gia để duy trì

Trang 28

hệ thống các quy tắc chung về QTV; đào tạo QTV bài bản; cải thiện chi phí cho QTV

và gia tăng sự cạnh tranh ngành nghề đối với QTV…

Các giải pháp, kiến nghị được những nghiên cứu kể trên đề xuất không bao hàm ý nghĩa cho tất cả các quốc gia Tuy nhiên, giá trị tham khảo của nó rất lớn đối với nghiên cứu ứng dụng ở từng điều kiện quốc gia cụ thể Đối với luận án, phạm vi nghiên cứu là Việt Nam, việc nghiên cứu tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên cứu này giúp cho quá trình xây dựng luận án có được nhiều thuận lợi hơn

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở phạm vi trong nước

Ở phạm vi nghiên cứu trong nước, số lượng các công trình ít hơn so với ngoài nước Điều này hoàn toàn đến từ nguyên nhân khách quan của chế định QTV Theo

đó, mặc dù pháp luật về phá sản ở Việt Nam đã hiện diện trong hơn ba thập kỷ, nhưng QTV chỉ được chính thức ghi nhận từ năm 2014 và có hiệu lực từ năm 2015

Nghĩa là cho đến nay, chỉ mới hơn 6 năm địa vị pháp lý của QTV được thực thi trên thực tiễn Bên cạnh đó, với đặc trưng nhận thức về vấn đề phá sản còn hạn chế, rất nhiều DN, HTX khi lâm vào tình trạng phá sản thay vì tiếp cận thủ tục phá sản theo quy định của pháp luật thì thường lựa chọn phương án tự đóng cửa hoạt động sản xuất, kinh doanh Chính vì thế, trên thực tế số lượng vụ việc phá sản giải quyết bằng thủ tục phá sản không lớn, sự hiện diện của QTV cũng vì thế mà tương đối hạn chế

Do đó, các nghiên cứu về vấn đề này có số lượng ít và thiếu tính đa dạng

1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến

đề tài luận án

Nghiên cứu về những vấn đề lý luận liên quan đến địa vị pháp lý của QTV được một số công trình – chủ yếu ở cấp độ luận văn thạc sĩ và bài báo khoa học đăng tải trên một số tạp chí chuyên ngành luật học và kinh tế ở trong nước như: tác

giả Nguyễn Thị Thanh Mai (2014) với nghiên cứu ―Thủ t c thanh l t i sản, các

khoản nợ của doanh nghiệp lâm v o t nh trạng phá sản theo quy định của pháp luật phá sản Việt Nam‖; tác giả Vũ Huy Hoàng (2015) với nghiên cứu ―Thủ t c phá sản theo Luật Phá sản năm 2014‖; tác giả Quách Thị Thu Hương (2015) với nghiên cứu

―Luật Phá sản năm 2014 - ư c phát tri n của pháp luật phá sản Việt Nam‖; tác giả Dương Kim Thế Nguyên (2016) với nghiên cứu ―Khái niệm phá sản, thủ t c

phá sản v những liên hệ đ n Luật Phá sản năm 2014‖; tác giả Đào Hải Lâm (2015)

với nghiên cứu ―Quản l t i sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ theo

pháp luật phá sản hiện h nh‖; tác giả Trần Danh Phú (2017) với ghiên cứu ―Sự

Trang 29

tham gia của Quản tài viên trong quá trình giải quy t phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của Luật Phá sản năm 2014”; Nguyễn Thị ích Tuyền (2015)

với nghiên cứu ―So sánh những đi m m i của Luật Phá sản năm 2014 v i Luật phá

sản trư c đó‖, …

Các nghiên cứu kể trên bằng phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp và phân tích, tổng hợp đã tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến địa vị pháp lý của QTV như sau:

Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về phá sản và thủ t c phá sản Đây

là kết quả nghiên cứu lớn nhất và có tính toàn vẹn nhất Theo đó, các tác giả đã phân tích làm rõ được nội hàm khái niệm phá sản và bản chất của hoạt động phá sản Đồng thời, những vấn đề thuộc về nguồn gốc, quan điểm và sự khác biệt trong ghi nhận về những nội dung điều chỉnh của pháp luật về phá sản cũng được các nghiên cứu làm rõ Trong đó, đặc biệt bốn tác giả: Dương Kim Thế Nguyên (2016)

với nghiên cứu ―Khái niệm phá sản, thủ t c phá sản v những liên hệ đ n Luật Phá

sản năm 2014‖; Đào Hải Lâm (2015) với nghiên cứu ―Quản l t i sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ theo pháp luật phá sản hiện h nh‖; Trần Danh

Phú (2017) với nghiên cứu ―Sự tham gia của Quản tài viên trong quá trình giải

quy t phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của Luật Phá sản năm 2014‖

và Nguyễn Thị ích Tuyền (2015) với nghiên cứu ―So sánh những đi m m i của

Luật Phá sản năm 2014 v i Luật phá sản trư c đó‖, với góc độ tiếp cận luật thực

định đã tiến hành xây dựng khái niệm, bản chất, các nội dung điều chỉnh của pháp luật về phá sản trong Luật Phá sản năm 2014 – văn bản pháp lý hiện hành về phá sản Các kết quả nghiên cứu này cơ bản đã bao trùm hầu hết các vấn đề lý luận về phá sản và thủ tục phá sản Do đó, đây là những công trình có giá trị nghiên cứu mang tính nền tảng khi nghiên cứu luận án

Thứ hai, nghiên cứu khái niệm địa vị pháp lý của QTV Các nghiên cứu của

các tác giả: Dương Kim Thế Nguyên (2016) với nghiên cứu ―Khái niệm phá sản,

thủ t c phá sản v những liên hệ đ n Luật Phá sản năm 2014‖; Đào Hải Lâm

(2015) với nghiên cứu ―Quản l t i sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

nợ theo pháp luật phá sản hiện h nh‖; Trần Danh Phú (2017) với ghiên cứu ―Sự tham gia của Quản tài viên trong quá trình giải quy t phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của Luật Phá sản năm 2014‖; Nguyễn Thị ích Tuyền (2015)

với nghiên cứu ―So sánh những đi m m i của Luật Phá sản năm 2014 v i Luật phá

Trang 30

sản trư c đó‖; Cao Đăng Vinh (2014) với nghiên cứu ― ảo to n t i sản doanh nghiệp trong quá tr nh giải quy t thủ t c phá sản - m t số t n tại c n kh c ph c‖…

đã làm rõ những vấn đề lý luận của QTV như:

- Nghiên cứu khái niệm của QTV Đây là kết quả nghiên cứu được xác lập phổ biến nhất trong các công trình kể trên Khái niệm QTV chủ yếu được xây dựng dựa trên cơ sở của luật thực định Điều này hoàn toàn hợp lý với góc độ nghiên cứu pháp lý của Việt Nam Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cũng đã viện dẫn và phân tích khái niệm QTV ở một số quốc gia trên thế giới để cho thấy tính đa dạng trong quan niệm về vấn đề pháp lý này Khái niệm QTV vì thế được nghiên cứu tương đối đầy đủ, còn rất ít khoảng trống nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên, khái niệm địa

vị pháp lý của QTV lại chưa được các nghiên cứu đề cập tới Vì hầu hết các nghiên cứu kể trên đều tiếp cận QTV thông qua các quy định của pháp luật – quy định pháp

lý về QTV vốn chỉ có một phần nhỏ nội hàm trùng với địa vị pháp lý của QTV

Chính vì thế, các kết quả nghiên cứu không xây dựng khái niệm địa vị pháp lý và địa vị pháp lý của QTV Đây là khoảng trống nghiên cứu lớn, mang tính cơ bản khi nghiên cứu về lý luận địa vị pháp lý của QTV

- Nghiên cứu đặc trưng địa vị pháp lý của QTV Chính vì các nghiên cứu hiện nay không nghiên cứu trực tiếp địa vị pháp lý của QTV mà chỉ nghiên cứu các quy định của pháp luật phá sản về QTV, do đó, hầu hết các đặc trưng được chỉ ra trong các nghiên cứu trên là đặc trưng của QTV Theo đó, các đặc trưng này gồm: là một thực thể độc lập; thực hiện hoạt động quản lý và thanh lý tài sản; được chi trả thù lao cho hoạt động nghề nghiệp… Các đặc trưng này đóng vai trò quan trọng khi là

cơ sở để nhận diện QTV Tuy nhiên, những đặc trưng của địa vị pháp lý của QTV lại mang bản chất là để phân biệt địa vị pháp lý của QTV với địa vị pháp lý của các chủ thể pháp lý khác thì chưa được các nghiên cứu làm rõ Điều này hoàn toàn vì lý

do góc độ tiếp cận Chính vì thế, có thể thấy đặc trưng địa vị pháp lý của QTV cũng

là một khoảng trống nghiên cứu lý luận quan trọng của luận án

- Nghiên cứu mục đích, ý nghĩa quy định pháp luật về địa vị pháp lý của QTV

Cũng vì góc độ tiếp cận của các nghiên cứu như phân tích ở trên, nên mục đích, ý nghĩa của quy định pháp luật về địa vị pháp lý của QTV chủ yếu được nghiên cứu dưới dạng vai trò của QTV Theo đó, các vai trò của QTV như: thay mặt các bên quản lý sản nghiệp phá sản; tham gia Hội nghị chủ nợ; tham gia đấu giá tài sản; đề nghị áp dụng các biện pháp khẩn cấp để bảo toàn sản nghiệp phá sản… Các kết quả

Trang 31

nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ vai trò, ý nghĩa của QTV trong thủ tục phá sản DN, HTX Tuy nhiên, khi đặt dưới góc độ tiếp cận của luận án

là địa vị pháp lý của QTV thì vai trò của QTV không có sự trùng khớp với mục đích

và ý nghĩa quy định pháp luật về địa vị pháp lý của QTV Do đó, tác giả xác định đây là nội dung quan trọng số ba trong phần nghiên cứu về lý luận mà luận án phải làm rõ

- Nghiên cứu các cấu thành địa vị pháp lý của QTV Đây là nội dung chỉ xuất hiện trong các nghiên cứu về địa vị pháp lý của QTV Tuy nhiên, các nghiên cứu trong nước hiện nay chưa có công trình nào tiếp cận dưới góc độ này Do đó, chủ yếu các kết quả chỉ ra những quyền và nghĩa vụ của QTV trong thủ tục phá sản

Những quyền và nghĩa vụ này gắn liền với bản chất và vai trò của QTV, do đó góp phần làm sáng tỏ những đặc trưng pháp lý của chế định này Tuy nhiên, một lần nữa, cách tiếp cận này không có sự trùng khớp với địa vị pháp lý của QTV Do đó, cấu thành địa vị pháp lý của QTV là khoảng trống nghiên cứu thứ tư và cũng là nội

dung quan trọng nhất trong phần nghiên cứu về lý luận của luận án

1.2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề thực tiễn liên quan đến đề tài luận án

Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến thực tiễn địa vị pháp lý của QTV bao gồm các tác giả tiêu biểu như: tác giả Dương Kim Thế Nguyên (2016) với nghiên

cứu ―Khái niệm phá sản, thủ t c phá sản v những liên hệ đ n Luật Phá sản năm

2014‖; tác giả Đào Hải Lâm (2015) với nghiên cứu ―Quản l t i sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ theo pháp luật phá sản hiện h nh‖; tác giả Trần

Danh Phú (2017) với nghiên cứu ―Sự tham gia của Quản tài viên trong quá trình

giải quy t phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của Luật Phá sản năm 2014‖; tác giả Nguyễn Thị ích Tuyền (2015) với nghiên cứu ―So sánh những đi m

m i của Luật Phá sản năm 2014 v i Luật phá sản trư c đó‖; tác giả Cao Đăng

Vinh (2014) với nghiên cứu ― ảo to n t i sản doanh nghiệp trong quá tr nh giải

quy t thủ t c phá sản - m t số t n tại c n kh c ph c‖; tác giả Vũ Huy Hoàng (2015)

với nghiên cứu ―Thủ t c phá sản theo Luật Phá sản năm 2014‖; Hoàng Thị Kim Anh (2014) với nghiên cứu ―Luật Phá sản 2004 - Những hạn ch , bất cập v giải

pháp ho n thiện‖; tác giả Nguyễn Thị Thanh Mai (2014) với nghiên cứu ―Thủ t c thanh l t i sản, các khoản nợ của doanh nghiệp lâm v o t nh trạng phá sản theo quy định của pháp luật phá sản Việt Nam‖; tác giả Quản Văn Minh (2016) với

Trang 32

nghiên cứu ―Thực tiễn v những vư ng m c của Quản t i viên trong quá tr nh h nh

nghề‖; Trương Thị Quỳnh Trâm (2019) với nghiên cứu ―Hoàn thiện các quy định của Luật Phá sản năm 2014‖; và tác giả Khúc Thị Phương Nhung (2020) với

nghiên cứu ―Ch định quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản theo

pháp luật phá sản Việt Nam hiện hành – M t số hạn ch , bất cập và ki n nghị hoàn thiện pháp luật‖ Các nghiên cứu này chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu tài

liệu thứ cấp và quan sát khoa học đã làm rõ một số những nội dung quan trọng sau

đây liên quan đến thực tiễn địa vị pháp lý của QTV:

Thứ nhất, nghiên cứu thực tiễn pháp luật về địa vị pháp lý QTV ở m t số quốc gia trên th gi i Một số nghiên cứu tập trung vào nội dung này như: tác giả Phan

Thị Thu Hà (2010) với nghiên cứu ―T m hi u pháp luật phá sản trên th gi i‖; tác giả Vũ Thị Hòa Như, Lê Ngọc Anh (2013) với nghiên cứu ―Pháp luật phá sản của

m t số quốc gia trên th gi i‖… Các nghiên cứu trên tập trung làm rõ các quy định

của pháp luật thực định về QTV ở một số quốc gia trên thế giới như: Anh; Hoa Kỳ;

Singapore; Nhật Bản; Thái Lan… Kết quả nghiên cứu cho thấy, không có sự đồng nhất trong quy định về chế định QTV ở các quốc gia trên thế giới Tuỳ vào lịch sử, chính trị, quan điểm pháp lý… mà quy định của pháp luật các quốc gia về QTV là khác nhau Sự khác nhau này bao gồm từ tên gọi, bản chất, quyền và nghĩa vụ, điều kiện hành nghề cho tới kinh phí được chi trả và các hậu quả pháp lý phải gánh chịu

Nội dung nghiên cứu này cơ bản đã được các công trình kể trên làm rõ, trở thành những giá trị tham khảo lớn khi tìm hiểu, đánh giá quy định của pháp luật về QTV ở một số quốc gia trên thế giới

Thứ hai, nghiên cứu thực tiễn pháp luật về địa vị pháp lý của QTV Đây là nội

dung nghiên cứu phổ biến nhất trong các nghiên cứu được liệt kê ở trên Với mục tiêu đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về QTV nói riêng và luật phá sản nói chung, các nghiên cứu chủ yếu tập trung phân tích các quy định pháp luật thực định

về QTV để chỉ ra những nội dung đã được pháp định, những nội dung chưa pháp định hoặc còn chồng chéo hoặc khó thực thi trên thực tế Theo đó, những nội dung được các nghiên cứu làm rõ thực tiễn pháp luật quy định về QTV như sau:

- Điều kiện hành nghề QTV Đây là nội dung được khá nhiều nghiên cứu đề cập tới Bằng cách tiếp cận các quy định của pháp luật thực định về các điều kiện hành nghề QTV, các nghiên cứu đã phân tích, đối chiếu và bình luận về các điều kiện này Theo đó, có một tranh luận xảy ra xung quanh việc ghi nhận điều kiện

Trang 33

hành nghề mang tính ―kiêm nhiệm‖ của QTV trong Luật Phá sản năm 2014 khiến định chế này thiết lập nên một nghề hay không phải là một nghề độc lập Đây là nội dung rất thú vị mà các nghiên cứu đã đặt ra, lý giải nhưng chưa có sự thống nhất

- Quyền và nghĩa vụ của QTV Nội dung này đã được làm rõ ở các nghiên cứu bằng cách phân tích từng quyền và nghĩa vụ của QTV Theo đó, các quyền và nghĩa

vụ cơ bản của QTV được chỉ ra gồm: quản lý tài sản; thanh lý tài sản; tổ chức Hội nghị chủ nợ; tham gia xây dựng phương án phục hồi DN, HTX… Mỗi quyền và nghĩa vụ này được đánh giá để cho thấy được sự đầy đủ hay thiếu sót của pháp luật hiện hành Các kết quả nghiên cứu này mặc dù chưa có sự toàn vẹn do góc độ tiếp cận khác nhau, tuy nhiên cũng đóng vai trò rất quan trọng khi cung cấp những giá trị học thuật mang tính tham khảo rất lớn cho luận án

- Mối quan hệ giữa QTV và các chủ thể pháp luật khác trong thủ tục phá sản

Hai nghiên cứu tiêu biểu cho nội dung này đến từ hai tác giả: Trần Danh Phú (2017)

với nghiên cứu ―Sự tham gia của Quản tài viên trong quá trình giải quy t phá sản

doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của Luật Phá sản năm 2014‖ và tác giả

Đặng Văn Huy (2020) với nghiên cứu ―Đặc đi m pháp lý và các mối liên hệ cơ bản

của quản tài viên‖ Hai tác giả kể trên cùng với nghiên cứu của mình đã làm rõ mối

liên hệ giữa QTV với: toà án; chủ nợ; con nợ và sản nghiệp phá sản Các mối quan

hệ này đã được phân tích dựa trên sự ghi nhận của pháp luật về phá sản hiện hành

Theo đó, mối quan hệ giữa QTV với toà án là mối quan hệ uỷ quyền – toà án uỷ quyền còn QTV nhận quyền; giữa chủ nợ với QTV là mối quan hệ đại diện – QTV đại diện các chủ nợ; giữa con nợ với QTV là mối quan hệ đại diện; giữa sản nghiệp phá sản với QTV1 là mối quan hệ quản lý Kết quả nghiên cứu này cơ bản đã cho thấy vị trí pháp lý của QTV so với các chủ thể pháp luật khác Tuy nhiên, vì góc tiếp cận đơn thuần là quy định của pháp luật về định chế này mà không phải phân tích với tư cách là một cấu thành quan trọng của địa vị pháp lý của QTV Đây cũng

là một trong những nội dung trọng tâm khi nghiên cứu thực tiễn quy định pháp luật

về địa vị pháp lý của QTV trong luận án

- Trách nhiệm pháp lý của QTV Nội dung này xuất hiện trong các nghiên cứu

kể trên với một tiểu mục nhỏ hoặc một nội dung phụ khi phân tích quy định của pháp luật về QTV Do đó, việc phân tích chuyên sâu và có sự lý giải còn hạn chế

1

Tác giả cho rằng đây không phải là mối quan hệ giữa quản tài viên với một chủ thể pháp luật Tuy nhiên, tác giả tôn trọng nghiên cứu của tác giả Đặng Văn Huy nên phản ánh trung thực kết quả nghiên cứu này

Trang 34

Chính vì thế, có thể xác định đây là một ―khoảng trống‖ nghiên cứu mà luận án cần làm rõ

Thứ hai, nghiên cứu thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật về QTV Đây

là nội dung nghiên cứu chủ yếu tập trung tại các luận văn thạc sĩ luật học của các

tác giả như: tác giả Đào Hải Lâm (2015) với nghiên cứu ―Quản l t i sản của doanh

nghiệp mất khả năng thanh toán nợ theo pháp luật phá sản hiện h nh‖; tác giả Trần

Danh Phú (2017) với ghiên cứu ―Sự tham gia của Quản tài viên trong quá trình giải

quy t phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của Luật Phá sản năm 2014‖

và tác giả Quách Thị Thu Hương (2015) với nghiên cứu ―Luật Phá sản năm 2014 -

ư c phát tri n của pháp luật phá sản Việt Nam‖ ên cạnh đó còn được đề cập ở

một số báo cáo chuyên môn của Viện Kiểm sát về tổng kết giai đoạn 2015-2020 về thực hiện Luật Phá sản và của Bộ Tư pháp về quản lý nhà nước đối với QTV Theo

đó, những nội dung sau đây đã được làm rõ:

- Vấn đề thực tiễn đăng ký hành nghề của QTV đã được thống kê và phân tích được các kết quả này Nghiên cứu cho thấy số lượng QTV có tăng theo từng năm nhưng không đáng kể Các nghiên cứu cũng đã phân tích được nguyên nhân của hiện tượng này

- Vấn đề thực tiễn thực hiện trách nhiệm của QTV trong thủ tục phá sản Nội dung này chưa được các nghiên cứu kể trên chú trọng phân tích Do đó, các nghiên cứu chỉ mới làm rõ vấn đề ghi nhận của pháp luật về các hậu quả pháp lý mà QTV phải gánh chịu khi vi phạm pháp luật nên quá trình thực hiện trên thực tiễn gặp nhiều khó khăn

Như vậy, kết quả nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của QTV tuy được một số công trình đề cập, nhưng nhìn chung ở phạm vi trong nước số lượng nghiên cứu về vấn đề này còn chưa nhiều và chưa trực tiếp nghiên cứu vấn đề thực tiễn địa vị pháp lý của QTV Tác giả xác định đây là nội dung –

―khoảng trống‖ trọng tâm trong phần nghiên cứu thực trạng của luận án

1.2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề kiến nghị, giải pháp liên quan đến đề tài luận án

Song song với việc nghiên cứu thực trạng của QTV tại Việt Nam, các tác giả được liệt kê ở trên cũng dành một phần lớn nội dung để nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp luật về

Trang 35

QTV trong thủ tục phá sản ở Việt Nam Các nghiên cứu đã đề xuất được hai nhóm giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của QTV Các tác giả tiêu biểu cho nội dung này bao gồm: tác giả Dương Kim Thế

Nguyên (2016) với nghiên cứu ―Khái niệm phá sản, thủ t c phá sản v những liên

hệ đ n Luật Phá sản năm 2014‖; tác giả Nguyễn Thị ích Tuyền (2015) với nghiên

cứu ―So sánh những đi m m i của Luật Phá sản năm 2014 v i Luật phá sản trư c

đó‖; tác giả Cao Đăng Vinh (2014) với nghiên cứu ― ảo to n t i sản doanh nghiệp trong quá tr nh giải quy t thủ t c phá sản - m t số t n tại c n kh c ph c‖; tác giả

Vũ Huy Hoàng (2015) với nghiên cứu ―Thủ t c phá sản theo Luật Phá sản năm

2014‖; tác giả Hoàng Thị Kim Anh (2014) với nghiên cứu ―Luật Phá sản 2004 - Những hạn ch , bất cập v giải pháp ho n thiện”; tác giả Nguyễn Thị Thanh Mai

(2014) với nghiên cứu ―Thủ t c thanh l t i sản, các khoản nợ của doanh nghiệp

lâm v o t nh trạng phá sản theo quy định của pháp luật phá sản Việt Nam‖; tác giả

Quản Văn Minh (2016) với nghiên cứu ―Thực tiễn v những vư ng m c của Quản

t i viên trong quá tr nh h nh nghề‖; tác giả Trương Thị Quỳnh Trâm (2019) với

nghiên cứu ―Hoàn thiện các quy định của Luật Phá sản năm 2014‖; tác giả Khúc Thị Phương Nhung (2020) với nghiên cứu ―Ch định quản tài viên, doanh nghiệp

quản lý, thanh lý tài sản theo pháp luật phá sản Việt Nam hiện hành – M t số hạn

ch , bất cập và ki n nghị hoàn thiện pháp luật‖… Đặc biệt, nghiên cứu sâu sắc nội

dung này có ba tác giả tiêu biểu sau: tác giả Đào Hải Lâm (2015) với nghiên cứu

―Quản l t i sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ theo pháp luật phá

sản hiện h nh‖; tác giả Trần Danh Phú (2017) với ghiên cứu ―Sự tham gia của Quản tài viên trong quá trình giải quy t phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của Luật Phá sản năm 2014‖ và tác giả Quách Thị Thu Hương (2015) với

nghiên cứu ―Luật Phá sản năm 2014 - ư c phát tri n của pháp luật phá sản Việt

Nam‖ Các tác giả và nghiên cứu kể trên đã chỉ ra một số giải pháp hoàn thiện pháp

luật về QTV đáng chú ý sau:

- Hoàn thiện pháp luật về tiêu chuẩn hành nghề QTV Hầu hết các tác giả kể trên đều đề xuất giải pháp này nhằm tạo ra một cơ chế chắc chắn hơn để xác lập QTV là một nghề độc lập Rất nhiều ý tưởng được đề xuất như: xây dựng bộ tiêu chuẩn cụ thể cho người hành nghề QTV; xem nghề QTV là một nghề độc lập mà không cần phải có điều kiện đang thực hiện các nghề nghiệp khác; bổ sung tiêu

Trang 36

chuẩn về đạo đức nghề nghiệp và đặc biệt là đề xuất hoàn thiện quy định về công bố thông tin của QTV

- Hoàn thiện pháp luật về quy trình làm việc của QTV Các nghiên cứu cũng

đề xuất giải pháp về quy trình thực hiện công việc của QTV từ khi được chỉ định cho đến khi kết thúc thủ tục phá sản Quy trình này bao gồm quy định chi tiết quyền

và nghĩa vụ và thủ tục thực hiện quyền và nghĩa vụ đó Đáng chú ý, ở một số nghiên cứu cũng đã đề xuất giải pháp xây dựng cơ chế trao quyền nhiều hơn – tăng tính tự quyết cho QTV

- Hoàn thiện pháp luật về các tiêu chuẩn đánh giá QTV và cơ chế chỉ định QTV Đây là hai nội dung được một số bài viết đề cập tới để khắc phục tình trạng mâu thuẫn trong việc chỉ định QTV chưa được giải quyết Đồng thời để tạo cơ sở cho việc chỉ định QTV, cần có kết quả đánh giá QTV dựa trên một bảng tham chiếu khoa học

- Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của QTV Nội dung cuối cùng này mặc dù không được phổ biến như ba nội dung còn lại, song cũng được đề xuất hoàn thiện nhằm làm cơ sở xem xét quy trách nhiệm cho QTV trong trường hợp chủ thể này vi phạm pháp luật

Nhìn chung các giải pháp đề xuất hoàn thiện pháp luật về QTV mà các tác giả

kể trên đề xuất đã bao trùm cơ bản những vấn đề cần phải sửa đổi, hoàn thiện của pháp luật phá sản hiện hành về QTV Tuy nhiên, do cách thức tiếp cận của các nghiên cứu trên không trực tiếp vào vấn đề địa vị pháp lý của QTV, do đó, các giải pháp hoàn thiện pháp luật không đi sâu và theo trình tự các cấu thành địa vị pháp lý của QTV

Thứ hai, nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của QTV Các tác giả tiêu biểu cho nội dung này gồm: tác giả

Đào Hải Lâm (2015) với nghiên cứu ―Quản l t i sản của doanh nghiệp mất khả

năng thanh toán nợ theo pháp luật phá sản hiện h nh‖; tác giả Trần Danh Phú

(2017) với ghiên cứu ―Sự tham gia của Quản tài viên trong quá trình giải quy t phá

sản doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của Luật Phá sản năm 2014‖ và tác giả

Quách Thị Thu Hương (2015) với nghiên cứu ―Luật Phá sản năm 2014 - ư c phát

tri n của pháp luật phá sản Việt Nam‖ Đây là ba tác giả với ba luận văn thạc sĩ

nghiên cứu về QTV Vì dưới quy mô của một luận văn, do đó, các tác giả có nhiều không gian học thuật hơn để trình bày về giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy

Trang 37

định của pháp luật phá sản hiện hành về QTV – thứ được ít nhắc tới hơn trong các bài viết khoa học của các tác giả liệt kê ở phần đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Trong ba nghiên cứu kể trên, tác giả Trần Danh Phú có những phân tích sâu sắc nhất về các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp luật phá sản hiện hành về QTV Theo đó, các tác giả đã đề xuất được một số giải pháp sau:

- Đề xuất giải pháp phổ biến chính sách pháp luật về QTV Giải pháp này được các tác giả đề xuất trên cơ sở cho rằng trên thực tiễn định chế QTV nói riêng

và pháp luật về phá sản nói chung không được xã hội biết đến nhiều Việc phổ biến thông tin pháp lý về hai nội dung trên sẽ giúp nâng cao dân trí về pháp lý nói chung

và nâng cao nhận thức cũng như sự đón nhận của xã hội về QTV nói riêng

- Đề xuất giải pháp đảm bảo tiền thù lao cho QTV Đây là giải pháp phổ biến nhất nhằm giải quyết vấn đề vướng mắc trong chi trả thù lao cho QTV Theo đó, đa

số đồng ý giải pháp ngay khi thanh lý tài sản để đảm bảo kinh phí thực hiện thủ tục phá sản, QTV có quyền ước tính toàn bộ kinh phí cho mình khi giải quyết xong thủ tục phá sản và cộng khoản kinh phí này vào trong tổng chi phí dự kiến cho thủ tục phá sản để tiến hành bán đấu giá tài sản của DN Đây là một giải pháp tối ưu nhất hiện nay

- Đề xuất giải pháp phân công lại thẩm quyền của các bên tham gia thủ tục phá sản theo hướng QTV được tự do chủ động áp dụng biện pháp khẩn cấp để bảo vệ tài sản khi thấy cần thiết

Tựu chung lại, các kết quả nghiên cứu kể trên đã làm sáng tỏ rất nhiều vấn đề

về giải pháp khắc phục các vướng mắc trong thực tiễn quy định pháp luật và thực hiện pháp luật về QTV Những kết quả đó ở nhiều khía cạnh khác nhau đóng vai trò

là tài liệu tham khảo có giá trị lớn đối với luận án Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề liên quan đến giải pháp cần được tập trung nghiên cứu làm rõ

1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

1.3.1 Những kết quả nghiên cứu đã đạt được

Các nghiên cứu được thống kê ở trên cả phạm vi trong và ngoài nước đã đạt được những kết quả sau:

Thứ nhất, các nghiên cứu đã l m rõ được những vấn đề lý luận về QTV dư i các góc đ ti p cận khác nhau Kết quả phân tích tình hình nghiên cứu cho thấy, các

công trình ở những cấp độ khác nhau trong và ngoài nước (đặc biệt là ngoài nước)

đã làm rõ những vấn đề lý luận quan trọng của QTV gồm: khái niệm, bản chất pháp

Trang 38

lý và cấu thành quyền và nghĩa vụ Các vấn đề lý luận này mặc dù không đồng nhất

do góc độ tiếp cận nghiên cứu khác nhau (chủ yếu dựa trên góc độ tiếp cận nghiên cứu luật thực định, mà mỗi quốc gia lại có sự ghi nhận khác nhau về QTV), song những kết quả nghiên cứu này đã làm sinh động, đa dạng nội dung lý luận về chế định QTV

Thứ hai, các nghiên cứu đã l m rõ được những quy định của pháp lý hiện hành về QTV Theo đó, các nghiên cứu tuỳ vào phạm vi không gian và thời gian

nghiên cứu đã làm rõ được các cơ sở pháp lý thực định về QTV ở dưới các góc độ nội dung: chỉ dẫn pháp lý; tên gọi; nội dung được điều chỉnh bởi pháp luật thực định của QTV (vấn đề tiêu chuẩn; quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm bất lợi) Mặc dù các nghiên cứu về thực tiễn pháp lý này có nội dung phụ thuộc chặt chẽ vào phạm vi thời gian và không gian nghiên cứu nên thiếu tính đồng nhất trong kết quả công bố, tuy nhiên chính đặc điểm này lại cung cấp những giá trị so sánh luật học hết sức quan trọng

để cho thấy được quan điểm trong lập pháp của các quốc gia về vấn đề QTV

Thứ ba, các nghiên cứu đã phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về QTV Ở cả các nghiên cứu trong và ngoài nước kết quả đều

hướng tới việc phân tích và đánh giá thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật về QTV Đây là kết quả đi liền sau sự phân tích quy định của pháp luật thực định về chế định này Kết quả của các nghiên cứu cũng phụ thuộc hoàn toàn vào phạm vi không gian và thời gian của nghiên cứu nên đã cung cấp một bức tranh sinh động về cách thức thực hiện và kết quả thực hiện quy định của pháp luật về QTV ở các quốc gia và các thời kỳ khác nhau Kết quả đạt được giá trị nhất của vấn đề nghiên cứu này là những phân tích, đánh giá về ưu và nhược điểm, những mặt tích cực và tiêu cực của thực trạng thực hiện pháp luật về QTV ở các quốc gia, các thời kỳ Kết quả này cung cấp một bài học kinh nghiệm quý giá cho học giới về vấn đề QTV

Thứ tư, các nghiên cứu cũng đã đề xuất được các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về QTV Dựa trên kết quả nghiên cứu

thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về QTV, các nghiên cứu cũng đã đưa ra

những đề xuất hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về QTV ở những phạm vi lãnh thổ nhất định Các giải pháp này đều có giá trị áp dụng

ở những mức độ nhất định ở không gian nghiên cứu của các đề tài, đồng thời có ý nghĩa tham khảo quan trọng trong việc nghiên cứu giải pháp áp dụng cho các địa

bàn nghiên cứu khác

Trang 39

1.3.2 Những vấn đề đặt ra cần được luận án tiếp tục nghiên cứu

Bên cạnh các kết quả nghiên cứu đã đạt được như phân tích ở trên, tình hình nghiên cứu của đề tài ở cả phạm vi trong và ngoài nước còn có nhiều khoảng trống nghiên cứu – đây được xác định là những nội diện nghiên cứu chính của Luận án

Trên cơ sở đó, có thể khẳng định những vấn đề đặt ra cần được luận án tiếp tục nghiên cứu gồm:

Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của QTV trong điều kiện Việt Nam Các nghiên cứu được phân tích kể trên tiếp cận về QTV

dưới góc độ tư duy pháp lý thực định của mỗi quốc gia, do đó vấn đề lý luận về QTV trong môi trường pháp lý Việt Nam chưa được xem xét một cách thấu đáo

Đặc biệt, địa vị pháp lý của một chủ thể pháp luật còn gắn liền chặt chẽ với tư duy lập pháp của một quốc gia, việc xem xét những vấn đề lý luận về QTV trong điều kiện Việt Nam lại là vấn đề then chốt trong nghiên cứu của Luận án Theo đó, các vấn đề lý luận cần được luận án tiếp tục làm rõ bao gồm:

- Xác lập khái niệm địa vị pháp lý của QTV với hai nội dung cơ bản: làm rõ

nội hàm khái niệm ―địa vị pháp lý‖ và khái niệm ―Quản tài viên‖ dưới góc độ tư

duy pháp lý của Việt Nam hiện hành

- Phân tích đặc điểm địa vị pháp lý của QTV thông qua việc chỉ ra những điểm khác biệt mang tính nhận diện địa vị pháp lý của QTV so với các định chế mang tính pháp lý khác

- Làm rõ mục đích, ý nghĩa sự ghi nhận của pháp luật về địa vị pháp lý của QTV Nội dung này cho thấy được tính tất yếu của ghi nhận pháp luật về địa vị pháp lý của QTV

- Xây dựng và phân tích sâu sắc các cấu thành địa vị pháp lý của QTV Đây là phần nội dung nghiên cứu quan trọng nhất trong phần nghiên cứu những vấn đề lý luận về QTV mà đề tài luận án phải làm rõ Các cấu thành này sẽ giúp nhận diện vị trí và vai trò pháp lý của QTV trong hệ thống pháp luật quốc gia

Thứ hai, nghiên cứu m t số trường hợp địa vị pháp lý của QTV ở các quốc gia trên th gi i v rút ra được những bài học, giá trị kinh nghiệm Nội dung này nhằm

cung cấp một góc nhìn so sánh luật học về địa vị pháp lý của QTV ở một số quốc gia trên thế giới Các quốc gia được luận án phân tích vừa có điều kiện tương đồng, nhưng cũng vừa hàm chứa những vấn đề khác biệt với Việt Nam nhằm góp phần đa dạng góc nhìn về địa vị pháp lý của QTV Trên cơ sở phân tích các thực tiễn điển

Trang 40

hình đó, luận án sẽ chỉ ra được những giá trị mang tính tham khảo có thể có những

ý nghĩa nhất định đối với Việt Nam

Thứ ba, thống kê v phân tích quy định của pháp luật hiện hành về địa vị pháp

lý của QTV Luận án sẽ làm rõ những quy định của pháp luật hiện hành (bao gồm

Luật Phá sản và các văn bản liên quan) về địa vị pháp lý của QTV dựa trên cấu thành của nó đã được phân tích tại phần lý luận Đây là một trong hai nội dung trọng điểm khi phân tích thực tiễn địa vị pháp lý của QTV Nội dung phân tích làm

rõ bao gồm khái lược bối cảnh hình thành và các nội dung được điều chỉnh bởi pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của QTV Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp bức tranh thực tiễn pháp luật thực định về địa vị pháp lý của QTV ở Việt Nam hiện nay

Thứ tư, phân tích v đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của QTV ở Việt Nam từ năm 2015 đ n năm 2020 Đây là nội dung

nghiên cứu trọng tâm thứ hai của phần thực trạng Phần nghiên cứu này cần được thực hiện dưới cả hai góc độ: xét về mặt tổng thể và xét các trường hợp chi tiết

Trong đó, về mặt tổng thể phải nghiên cứu bức tranh chung về sự hiện diện của QTV trong giải quyết thủ tục phá sản của các DN, HTX ở Việt Nam từ năm 2015 đến năm 2020 Xét các trường hợp chi tiết bằng cách dẫn chiếu và phân tích các trường hợp điển hình thực hiện thủ tục phá sản có sự hiện diện của QTV Kết quả nghiên cứu chỉ rõ được những đánh giá về các kết quả đạt được, những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của nó

Thứ năm, nghiên cứu bối cảnh, đề xuất quan đi m và các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của QTV ở Việt Nam Theo đó, nội dung này đặt ra ba vấn đề nghiên cứu lớn: phân tích bối

cảnh đề xuất giải pháp là làm rõ các vấn đề thuộc về bối cảnh trong và ngoài nước hiện nay; đề xuất các quan điểm về việc xây dựng các giải pháp Hiểu một cách đơn giản thì nội dung nghiên cứu này chính là làm rõ các nguyên tắc khi xây dựng những giải pháp; xây dựng và đề xuất các giải pháp nhằm vừa hoàn thiện pháp luật vừa nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của QTV ở Việt Nam hiện nay

1.4 Lý thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

a Lý thuy t nghiên cứu

Tác giả xác định lý thuyết nghiên cứu của luận án là thuyết về sự uỷ quyền

Theo đó, xu hướng thu hẹp phạm vi quản lý của nhà nước để xác lập ―một nhà nước

Ngày đăng: 19/12/2022, 17:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1) Hoàng Thị Kim Anh. 2014. Luật phá sản 2004 - Những hạn ch , bất cập v giải pháp ho n thiện, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật phá sản 2004 - Những hạn ch , bất cập v giải pháp ho n thiện
4) ộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý. 2006. Từ đi n luật học, Nxb Từ điển ách khoa - Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ đi n luật học
Nhà XB: Nxb Từ điển ách khoa - Nxb Tư pháp
5) ộ Tư pháp. 2008. Thực trạng ho n thiện pháp luật về phá sản v việc ho n thiện môi trường pháp luật kinh doanh tại Việt Nam, chủ biên: Dương Đăng Huệ, Nguyễn Thanh Tịnh, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng ho n thiện pháp luật về phá sản v việc ho n thiện môi trường pháp luật kinh doanh tại Việt Nam
7) Ngô Huy Cương. 2014. ―So sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số nước về phá sản và định hướng sửa đổi Luật phá sản năm 2004‖, Tạp chí Tòa án nhân dân, kỳ I, tháng 02 - 2014 (số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tòa án nhân dân
12) Phan Thị Thu Hà. 2010. ―T m hi u pháp luật phá sản trên th gi i‖, Chuyên đề Khoa học xét xử của Viện Khoa học xét xử, Tòa án nhân dân tối cao, số tháng 4/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T m hi u pháp luật phá sản trên th gi i
13) Trần Thị Mỹ Hạnh (2015), nh luận những đi m m i cơ bản của Luật phá sản 2014, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: nh luận những đi m m i cơ bản của Luật phá sản 2014
Tác giả: Trần Thị Mỹ Hạnh
Năm: 2015
15) Phạm Thị Lệ Hằng. 2015. Quản t i viên, doanh nghiệp quản l , thanh l t i sản theo quy định của Luật phá sản năm 2014, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản t i viên, doanh nghiệp quản l , thanh l t i sản theo quy định của Luật phá sản năm 2014
16) Đào Thị Hu Hằng. 2020. Quy ch quản t i viên trong so sánh v i Luật Phá sản của Trung quốc và Singapore,http://www.lapphap.vn/Pages/TinTuc/210623/Quy-che-quan-tai-vien-trong-so-sanh-voi-Luat-Pha-san-cua-Trung-quoc-va-Singapore.html<truycậpngày20/7/2021&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy ch quản t i viên trong so sánh v i Luật Phá "sản của Trung quốc và Singapore
17) Ma Thị Huyền. 2015. nh luận những đi m m i của Luật phá sản năm 2014, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: nh luận những đi m m i của Luật phá sản năm 2014
18) Nguyễn Thanh Huyền. 2012. Địa vị pháp l của Tổ quản l v thanh l t i sản theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa vị pháp l của Tổ quản l v thanh l t i sản theo pháp luật Việt Nam
6) ộ Tư pháp. 2021. Thông báo Danh sách Quản t i viên v doanh nghiệp h nh nghề quản l , thanh l t i sản cập nhật tháng 7/2021, https://bttp.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/quan-tai-vien.aspx?ItemID=75 <truy cập ngày 05/9/2021&gt Link
11) Hồng Duy. 2021. ―Điêu đứng và phá sản: Hơn 70 nghìn DN dừng hoạt động‖, https://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/dau-tu/hon-70-nghin-doanh-nghiep-tam-dung-hoat-dong-751107.html, <truy cập này 26/7/2021&gt Link
28) Luật Công ty Singapre 1967, truy cập ngày 10/10/2020 tại https://sso.agc.gov.sg/Act/CoA1967 Link
35) Khúc Thị Phương Nhung. 2020. Ch định quản t i viên, doanh nghiệp quản l , thanh l t i sản theo pháp luật phá sản Việt Nam hiện h nh – M t số hạn ch , bất cập v ki n nghị ho n thiện pháp luật, https://iluatsu.com/doanh-nghiep/hoan-thien-che-dinh-quan-tai-vien-doanh-nghiep-quan-ly-thanh-ly-tai-san/ <truy cập ngày 16/8/2021&gt Link
39) Trần Hồng Quang. 2021. Giai đoạn 2021-2030: Việt Nam sẽ đạt tốc độ tăng trưởng GDP 7%/năm, https://vneconomy.vn/giai-doan-2021-2030-viet-nam-se-dat-toc-do-tang-truong-gdp-7-nam.htm, <truy cập ngày 26/7/2021&gt Link
48) Lê Sơn. 2021. ―Gỡ vướng cho quản tài viên‖, http://baochinhphu.vn/Phap- luat/Go-vuong-cho-quan-tai-vien/445159.vgp, <truy cập ngày 04/9/2021&gt Link
49) Đình Thư. 2021. ―COVID-19 khiến kinh tế thế giới thiệt hại trên 10.000 tỷ USD trong năm 2020-2021‖, https://bnews.vn/covid-19-khien-kinh-te-the-gioi-thiet-hai-tren-10-000-ty-usd-trong-nam-2020-2021/184133.html <truy cập ngày 27/7/2021&gt Link
75) Linh Vũ. 2017. Kết luận vụ ― ảo vệ còng tay giám đốc, rút súng doạ giáo viên‖, < https://congan.com.vn/tin-chinh/ket-luan-vu-bao-ve-cong-tay-giam-doc-rut-sung-doa-giao-vien_36334.html>, truy cập ngày 10/10/2021 Link
100) MSD Manual. 2021. https://www.msdmanuals.com/vi/chuyên-gia/resourcespages/global-spread-of-covid-19, <truy cập ngày 27/7/2021&gt Link
112) The World bank. 2021. Tổng quan về Việt Nam, https://www.worldbank.org/vi/country/vietnam/overview,<truycậpngày27/7/2021&gt Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w