Bởi những lý do nêu trên, NCS lựa chọn vấn đề Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan làm đề tài luận án của mình với mong muốn đóng góp
Trang 1VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
-
Nguyễn Thị Huyền
DI SẢN HÓA TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG
Ở PHÚ THỌ NHÌN TỪ LÝ THUYẾT CÁC BÊN LIÊN QUAN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
-
Nguyễn Thị Huyền
DI SẢN HÓA TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG
Ở PHÚ THỌ NHÌN TỪ LÝ THUYẾT CÁC BÊN LIÊN QUAN
Ngành: Quản lý văn hóa
Mã số: 9229042
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Đặng Hoài Thu PGS.TS Trần Thúy Anh
Hà Nội - 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện
Các số liệu và trích dẫn đều được trích nguồn chính xác và đầy đủ Các kết quả nghiên cứu trình bày trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu của tác giả nào khác Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Huyền
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 11
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 11
1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương 11
1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về di sản hóa và các bên liên quan 15
1.2 Cơ sở lý luận 23
1.2.1 Các khái niệm cơ bản 23
1.2.2 Các quan điểm và lý thuyết nghiên cứu 32
1.2.3 Khung phân tích luận án 41
Tiểu kết 43
Chương 2 QUÁ TRÌNH DI SẢN HÓA TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG 45
2.1 Cơ sở hình thành tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương 45
2.1.1 Cơ sở tín ngưỡng 45
2.1.2 Cơ sở xã hội 46
2.2 Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương - Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại 50
2.2.1 Giai đoạn 1472 đến 1945 52
2.2.2 Giai đoạn 1945 đến 2012 62
2.2.3 Giai đoạn 2012 đến nay 67
Tiểu kết 76
Chương 3 VAI TRÒ CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN TRONG QUÁ TRÌNH DI SẢN HÓA TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG Ở PHÚ THỌ 77
3.1 Vai trò của nhà nước 77
3.1.1 Trước khi Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được UNESCO ghi danh 77
3.1.2 Sau khi Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được UNESCO ghi danh 82
3.2 Vai trò của cộng đồng 84
3.2.1 Trước khi Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được UNESCO ghi danh 84
3.2.2 Sau khi Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được UNESCO ghi danh 87
3.3 Vai trò của các bên liên quan khác 90
3.3.1 Nhà nghiên cứu 90
3.3.2 UNESCO 92
3.3.3 Doanh nghiệp 93
3.3.4 Các tổ chức xã hội 94
Trang 53.3.5 Truyền thông 95
3.4 Đánh giá chung 96
3.4.1 Những thành công và nguyên nhân 96
3.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 102
Tiểu kết 122
Chương 4 GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG NHÌN TỪ CÁC BÊN LIÊN QUAN 123
4.1 Căn cứ xác định giải pháp 123
4.1.1 Định hướng của Đảng và Nhà nước trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa 123
4.1.2 Chương trình hành động quốc gia nhằm bảo tồn, phát huy giá trị Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương 124
4.1.3 Những vấn đề thực tiễn đặt ra 124
4.2 Đề xuất giải pháp xây dựng mô hình quản lý tham gia 128
4.2.1 Mô hình quản lý tham gia 128
4.2.2 Đề xuất một số nhóm giải pháp mang tính ứng dụng mô hình 132
4.3 Đánh giá một số giải pháp thử nghiệm 143
4.3.1 Giải pháp tăng cường tiếp cận thông tin cho cộng đồng dựa vào công nghệ 143 4.3.2 Giải pháp nâng cao năng lực sáng tạo/tái tạo di sản thông qua việc khai thác các giá trị văn hóa thời Hùng Vương nhằm đặc trưng hóa sản phẩm lưu niệm du lịch Phú Thọ 148
4.3.3 Giải pháp tăng cường nhận thức di sản cho cộng đồng mở rộng thông qua sản phẩm giáo dục trải nghiệm di sản 152
Tiểu kết 154
KẾT LUẬN 156
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 162
TÀI LIỆU THAM KHẢO 163
PHỤ LỤC 182
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa DSVH Di sản văn hóa
DSVHPVT Di sản văn hóa phi vật thể
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc
United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization VH-TT&DL Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Trang 7DANH MỤC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Các bên liên quan tới di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương 29
Sơ đồ 1.2 Khung khái niệm các bên liên quan tại điểm đến du lịch 37
Sơ đồ 1.3 Mô hình bảo tồn, phát huy di sản theo quan điểm của Đoàn Văn Luân 37
Sơ đồ 1.4 Vận dụng lý thuyết trong nghiên cứu 43
Sơ đồ 2.1 Quá trình biểu tượng hóa tổ tiên của người Việt theo Đinh Hồng Hải 49
Sơ đồ 2.2 Khái quát quá trình di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú
Sơ đồ 3.1 Vùng giao nhau giữa giá trị và lợi ích di sản của nhà nước và cộng đồng 80
Sơ đồ 3.2 Sự hình thành biểu tượng di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trong
Sơ đồ 4.2 Mô tả minh họa việc áp dụng mô hình quản lý tham gia trong quản lý nhà
Sơ đồ 4.3 Khung đáp ứng mô hình quản lý tham gia 132 Bảng 2.1 Số liệu di tích thờ Hùng Vương trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 69 Bảng 2.2 Một số dự án công trình được đầu tư tu bổ tôn tạo, xây dựng từ nguồn công
đức, xã hội hóa tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng 72 Bảng 3.1 Số liệu khách du lịch đến Đền Hùng giai đoạn 2005 - 2011 109 Bảng 3.2 Số liệu khách du lịch đến Đền Hùng giai đoạn 2011 - 2019 109 Bảng 4.1 Các BLQ với kỳ vọng và vai trò tham gia vào di sản hóa (giai đoạn 2012 -
Bảng 4.2 Sự tham gia và đáp ứng huy động các nguồn vốn của BLQ trong dự án
thiết kế sản phẩm lưu niệm mang đặc trưng văn hóa Hùng Vương 151 Bảng 4.3 Kết quả đánh giá các bên liên quan về chương trình du lịch học đường
trong bộ sản phẩm giáo dục trải nghiệm di sản 153
Trang 8
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vấn đề quản lý di sản “có danh hiệu” hiện nay đang ngày càng thu hút sự quan tâm trong giới học thuật Các quan điểm nghiên cứu xung quanh vấn đề này hiện nay chủ yếu tập trung vào các vấn đề nhận diện giá trị, đánh giá hiện trạng và đưa ra những đề xuất cho giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của di sản sau khi được “ghi danh” “công bố” trong các danh sách quốc gia hoặc quốc tế
Trong những năm gần đây, giới nhân học Âu - Mỹ có xu hướng sử dụng thuật ngữ di sản hóa thay cho di sản với ý nghĩa rằng di sản “được cho là tồn tại bởi vì nó được gọi như vậy” bởi một quyền lực quốc gia hoặc quốc tế hay một tổ chức nào đó [7, tr 37] Điều đó có nghĩa di sản chính là một lựa chọn, một hành động văn hóa cụ thể có thể được gọi là di sản hóa - trở thành di sản Tuy nhiên, các nghiên cứu về di sản hóa chủ yếu theo xu hướng đánh giá những mặt trái, những nguy cơ và cảnh báo các mối đe dọa phương hại đến di sản do quá trình này mang lại
Ở Việt Nam, quá trình di sản hóa đang diễn ra như một xu thế quan trọng trong lĩnh vực di sản những năm gần đây Đó là việc ghi danh/xướng danh/vinh danh/xếp hạng hay nói cách khác là tôn vinh và mang lại “danh hiệu” cho các DSVH với mục tiêu chính là bảo tồn, phát huy giá trị của di sản trong đời sống xã hội, cộng đồng Di sản hóa có thể xem là một vấn đề nổi cộm trong công tác quản lý
di sản Nó đặt ra những vấn đề trọng yếu như: Lựa chọn yếu tố nào để ghi danh/xếp hạng? Định danh di sản là gì? Nhận diện giá trị di sản như thế nào? Ứng xử với di sản được ghi danh/xếp hạng ra sao? Thậm chí, di sản hóa còn kéo theo những vấn
đề mang tính đối nghịch, mâu thuẫn và đầy tính hệ lụy như sự sính danh/háo danh,
sự hoành tráng hóa, thương mại hóa, sân khấu hóa, thế tục hóa, hành chính hóa…
đối với các di sản sau khi có “danh hiệu”
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã xác định quan điểm: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa
là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” và xây dựng nền văn hóa “tiên
Trang 9tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [94] Ở phương diện khác, di sản văn hóa hiện nay đã trở thành một nguồn lực phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới Thực tế cho thấy rất nhiều các di sản “có danh hiệu” đã có cách quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, trở thành di sản có “thương hiệu”, tự tạo được sức hấp dẫn du khách và công chúng Để văn hoá thực sự đi sâu vào cuộc sống, góp phần nâng cao chất lượng đời sống của người dân đồng thời gìn giữ được những giá trị, sáng tạo tinh hoa - hệ thống DSVH của các thế hệ đi trước trao truyền lại, công tác quản lý văn hoá đóng vai trò hết sức quan trọng
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là một trong các DSVHPVT được UNESCO ghi vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Tuy nhiên, trong hệ thống các DSVHPVT của Việt Nam, đây là một di sản có tính đặc biệt, thể hiện ở mấy điểm cơ bản sau:
- Di sản có nhiều hợp phần đa dạng với lịch sử hình thành lâu đời và sự tích hợp cao nhiều giá trị trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam;
- Chủ thể “cộng đồng” của di sản có sự khác biệt so với các DSVHPVT khác, đó là “cộng đồng quốc gia - dân tộc” với sự đa dạng về thành phần và phạm vi lan tỏa rộng
- Quá trình di sản hóa diễn ra sớm với vai trò của nhiều BLQ (cộng đồng, nhà nước, tầng lớp trí thức, doanh nghiệp, tổ chức ) và có sự thay đổi về thành phần, đặc điểm, lợi ích và trách nhiệm của các BLQ qua quá trình di sản hóa
Hiện nay, công tác quản lý di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề ở nhiều góc độ, trong đó, phần nhiều có nguyên do từ mối quan hệ giữa các đối tượng liên quan đến Di sản Ở một bình diện khác, việc được UNESCO ghi danh cũng khiến cho Di sản được đặt trong mối quan tâm ngày càng sâu rộng hơn của nhiều thành phần trong cộng đồng xã hội Các nhà nghiên cứu nhận thấy những hệ lụy tiêu cực của vấn đề gắn danh hiệu cho di sản Cộng đồng và các BLQ mới như doanh nghiệp, du khách, truyền thông… có nhiều phản ứng và kỳ vọng khác nhau về việc di sản được ghi danh
Nhà nước cũng gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý di sản do những điều
Trang 10kiện khách quan về bối cảnh xã hội tác động đến không gian, chủ thể cũng như nhiều thực hành tín ngưỡng, do những yêu cầu khai thác di sản và phát triển kinh
tế, xã hội Việc tìm ra một mô hình quản lý cũng như những giải pháp bảo vệ, phát huy phù hợp với đặc thù của di sản là một yêu cầu cấp thiết
Bởi những lý do nêu trên, NCS lựa chọn vấn đề Di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ nhìn từ lý thuyết các bên liên quan làm đề tài luận án
của mình với mong muốn đóng góp một nghiên cứu mang tính ứng dụng cho công tác quản lý DSVHPVT, đặc biệt là các DSVHPVT được UNESCO ghi danh
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn vấn đề
di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ và vai trò của các bên liên quan trong quá trình di sản hóa; trên cơ sở đó đưa ra giải pháp phù hợp trong công tác bảo vệ, phát huy di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở giai đoạn hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu:
(1) Tổng quan lý thuyết, các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, về vấn đề di sản hóa và các bên liên quan; xây dựng cơ sở lý luận cho luận án; (2) Phân tích, luận giải quá trình di sản hoá Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ trong lịch sử với sự vận động về giá trị của Di sản và mục đích di sản hóa;
(3) Nhìn nhận vai trò của các bên liên quan trong quá trình di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ và những vấn đề về bảo vệ, phát huy Di sản sau khi được UNESCO ghi danh thông qua các khảo sát một số trường hợp cụ thể; (4) Đưa ra những giải pháp nhằm bảo vệ, phát huy di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ từ góc nhìn các bên liên quan, đặc biệt là giải pháp xây dựng mô hình quản lý tham gia và đánh giá một số thử nghiệm mô hình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 11Luận án nghiên cứu vấn đề di sản hoá tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ từ góc nhìn các bên liên quan
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận án nghiên cứu quá trình di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng
Hùng Vương ở Phú Thọ theo các phân đoạn thời gian dưới quan điểm di sản hóa và
lý thuyết các bên liên quan
Về không gian: Luận án tiến hành khảo sát, nghiên cứu thực tiễn các hợp
phần di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trên cơ sở lựa chọn một số đối tượng tiêu biểu là các cơ sở thờ cúng Hùng Vương, lễ hội, địa bàn cụ thể Trong một số phân tích, phạm vi không gian có thể mở rộng đến một số
cơ sở thực hành Tín ngưỡng trên địa bàn trong và ngoài nước để làm minh chứng về giá trị, phạm vi lan tỏa và các vấn đề đặt ra đối với di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương qua quá trình di sản hóa
Về thời gian: Luận án tổng hợp, kế thừa các kết quả nghiên cứu đi trước có liên
quan tới đề tài cho tới năm 2021 và sử dụng các kết quả nghiên cứu thực địa từ năm
2015 đến năm 2022 Các nội dung đánh giá cũng như những đề xuất về giải pháp của luận án có thể sử dụng trong giai đoạn tiếp theo (tới năm 2030) theo tầm nhìn của ngành VH,TT&DL nói chung và định hướng phát triển của địa phương nói riêng
4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu 1: Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương có quá trình di sản hoá như thế nào? Giả thuyết: Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương có quá trình di sản hoá lâu đời từ nhiều thế kỉ gắn với hệ thống các giá trị đặc thù đối với cộng đồng quốc gia - dân tộc
Câu hỏi nghiên cứu 2: Vai trò của các bên liên quan trong quá trình di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương? Giả thuyết: Vai trò của các bên liên quan đối với di sản có sự vận động theo giá trị, lợi ích từ di sản và nhu cầu, trách nhiệm của mỗi bên đối với di sản
Câu hỏi nghiên cứu 3: Giải pháp phù hợp trong việc bảo vệ, phát huy di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ giai đoạn hiện nay? Giả thuyết: Các
Trang 12giải pháp hướng tới sự hài hòa mối quan hệ và vai trò các bên liên quan là một lựa chọn phù hợp đối với công tác bảo vệ, phát huy di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các nhiệm vụ nghiên cứu như đã nêu, luận án sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hóa học, xã hội học, dân tộc học và quản lý văn hóa Do tiếp cận vấn đề nghiên cứu ở góc nhìn các bên liên quan trong quá trình di sản hóa, luận án sử dụng chủ yếu các phương pháp cụ thể của khoa học
xã hội định tính bao gồm: tổng hợp, phân tích tài liệu, điền dã dân tộc học, quan sát tham dự và phỏng vấn sâu… Song song với đó, các phương pháp của khoa học quản lý như phương pháp logic - lịch sử, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh và phương pháp mô hình hóa được sử dụng xuyên suốt trong luận án nhằm phục vụ cho các nhiệm vụ nghiên cứu mang tính luận giải, đánh giá các vấn đề về lĩnh vực quản lý di sản
5.1 Tổng hợp, phân tích tài liệu
(1) Tổng hợp, nghiên cứu, phân tích hệ thống các văn bản pháp quy quốc tế, Việt Nam và địa phương (Phú Thọ) liên quan đến quản lý di sản và quá trình di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ Thao tác này giúp NCS có được căn cứ quan trọng về pháp lý trong vấn đề quản lý di sản ở các phạm vi khác nhau, đặc biệt đối với một di sản được đưa vào danh sách DSVHPVT đại diện của nhân loại của tổ chức UNESCO; (2) Tổng hợp, phân tích và đánh giá hệ thống tài liệu nghiên cứu của quốc tế và Việt Nam về các vấn đề liên quan được sử dụng trong luận án như lý thuyết, quan điểm nghiên cứu; các khái niệm công cụ
5.2 Điền dã dân tộc học và quan sát tham dự
Nhằm có được các thông tin thực tế để diễn giải quá trình di sản hóa đối với Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, NCS đã thực hiện các cuộc điền dã tại 03 nhóm địa bàn nghiên cứu đã lựa chọn Cụ thể là:
Nhóm 1: Khu vực Đền Hùng và lân cận bao gồm các điểm: (1) Khu di tích
lịch sử Đền Hùng với lễ hội Đền Hùng (Xã Hy Cương, thành phố Việt Trì): là trung
Trang 13tâm thực hành tín ngưỡng lâu đời, quan trọng nhất trong hệ thống cơ sở thờ cúng Hùng Vương và có sự thay đổi rõ rệt trên mọi phương diện trong quá trình di sản hóa; (2) Làng Vi, Trẹo (Thị trấn Hùng Sơn, huyện Lâm Thao) làng Cổ Tích (xã Hy Cương, thành phố Việt Trì: ba làng cổ liên quan đến Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trên núi Hùng được đề cập chủ yếu trong các nghiên cứu về hiện trạng quản
lý di sản sau khi được ghi danh; (3) Đình Cả với lễ hội Rước vua về làng vui xuân (xã Tiên Kiên, huyện Lâm Thao): một trong hơn 40 làng vùng ven Đền Hùng có thực hành tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương từ lâu đời và có công tác tự quản tốt
Nhóm 2: Di tích cấp quốc gia, bao gồm các điểm: Đình Đào Xá (xã Đào Xá,
huyện Thanh Thủy); Đền Lăng Sương (xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy); Đình Hùng Lô (xã Hùng Lô, thành phố Việt Trì) Đây là nhóm các di tích được xếp hạng cấp quốc gia, song có nhiều điểm tương đồng và khác biệt trong công tác quản lý di tích cũng như sự vận động của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản
Nhóm 3: Di tích cấp tỉnh bao gồm: (1) Đền Thượng (xã Ninh Dân, huyện Thanh
Ba); (2) Đền Quốc Tế (xã Thọ Văn, huyện Tam Nông) Đây là hai di tích cấp tỉnh có sự khác biệt rõ rệt sau thời điểm Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được UNESCO ghi danh, một cơ sở có nhiều thay đổi tích cực, một cơ sở còn khá hạn chế
Các cuộc điền dã chia làm nhiều đợt từ năm 2015 cho tới năm 2021 nhằm:
(1) Quan sát, thu thập các dữ liệu sơ cấp về hiện trạng sinh hoạt thực hành tín ngưỡng (tại các địa bàn nghiên cứu lựa chọn); (2) Ghi nhận thông tin đánh giá bước đầu về thực trạng công tác bảo vệ, phát huy di sản cũng như công tác quản lý di sản
và mối quan hệ giữa các bên liên quan sau ghi danh
Thời gian điền dã tập trung ở hai thời điểm: (1) Trong dịp lễ hội, ngày tiệc (lễ trọng) tại các điểm nghiên cứu; (2) Ngoài thời điểm lễ hội (Tết Nguyên đán - dịp quan trọng nhất đối với các di tích thờ cúng Hùng Vương, người quản lý, trông nom
mở cửa di tích và phân công trực thường xuyên) Ngoài ra, nhằm có được những thông tin tổng quan và tham chiếu trong hệ thống các hợp phần di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ trong bối cảnh di sản hóa, NCS cũng thực hiện một số các cuộc khảo sát tại các cơ sở tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trên địa
Trang 14bàn tỉnh và một số chuyến đi ngoại tỉnh phía Nam như: tỉnh Bình Dương (Công viên nghĩa trang Bến Cát, phường Bến Cát; Trường PTTH chuyên Hùng Vương, thành phố Thủ Dầu Một), thành phố Hồ Chí Minh (Đền thờ vua Hùng ở một số địa điểm tiêu biểu như công viên Tao Đàn, khu Suối Tiên, Thảo Cầm Viên), tỉnh Đắc Lắc (đình Lạc Giao)
5.3 Phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu là phương pháp quan trọng nhất được sử dụng do đặc thù về
lý thuyết sử dụng (các bên liên quan) Các thông tin cần thu thập vừa mang tính cá
nhân cao, vừa có độ nhạy cảm và khác biệt từ phía các đối tượng khác nhau Các cuộc phỏng vấn được thực hiện với các cá nhân hoặc nhóm (với đối tượng có số lượng mẫu lớn như du khách, cộng đồng địa phương…) Câu hỏi sử dụng phỏng vấn là dạng câu hỏi mở Các câu hỏi được thiết kế dựa trên cơ sở vấn đề cần tìm hiểu ở mỗi một đối tượng phỏng vấn và mỗi địa bàn nghiên cứu
5.3.1 Đối tượng phỏng vấn
Từ góc nhìn các BLQ, luận án cố gắng tiếp cận đa dạng nhất ý kiến của các BLQ khác nhau bao gồm các đối tượng: cán bộ quản lý nhà nước (trong đó cũng phân cấp và phân nhóm: cán bộ quản lý chuyên môn, cán bộ quản lý phía chính quyền ở các cấp từ tỉnh đến xã, trong đó, một số trường hợp sẽ hỏi ở các vai khác nhau); các nhà nghiên cứu, các chuyên gia (thuộc các lĩnh vực văn hóa dân gian, lịch sử - khảo cổ, kiến trúc - mỹ thuật, Hán Nôm…); cộng đồng (cộng đồng địa phương ở Phú Thọ, cộng đồng người Việt trong nước và nước ngoài), các tổ chức,
du khách, doanh nghiệp, truyền thông… Ngay trong từng đối tượng cũng có thể phân tách nhiều thành phần khác nhau như đối với cộng đồng tại địa phương có đối tượng tham gia quản lý cơ sở thờ cúng, có đối tượng chỉ tham gia lễ hội hoặc đi lễ ngày tuần, có đối tượng là hộ gia đình làm du lịch…) Trong đó, đối tượng phỏng vấn được chia thành 3 nhóm chính để thuận tiện cho việc thiết kế các nội dung: (1) Nhóm quản lý; (2) Nhóm cộng đồng; (3) Nhóm các đối tượng liên quan khác
Phần phụ lục 1 giới thiệu một số bảng liệt kê những nội dung chính được triển khai phỏng vấn sâu bao gồm các đề cương phỏng vấn đối với từng cá nhân và
Trang 15nhóm được phỏng vấn thiết kế dưới dạng các câu hỏi mở Trong đó, nhiều nội dung/câu hỏi sử dụng chung cho nhiều đối tượng để thu nhận thông tin nhiều góc
độ, một số nội dung/câu hỏi được trộn lẫn để kiểm tra chéo Việc thu nhận được nhiều ý kiến của các bên về một vấn đề là căn cứ để luận án nhìn nhận đa chiều hơn một số các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra về vấn đề di sản hóa nói chung và di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói riêng, đồng thời giúp cho luận án luận giải nhiều trường hợp quản lý khác nhau trong hệ thống các hợp phần của Di sản
5.3.2 Nội dung phỏng vấn
Các nội dung phỏng vấn chung bao gồm: (1) Quan điểm về việc khôi phục, bảo tồn và tôn vinh các giá trị di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương cũng như việc “xếp hạng” “ghi danh” di sản…; (2) Đánh giá về các hoạt động quản lý, bảo vệ
và phục hồi, tu bổ di tích, cơ sở thờ tự, việc tổ chức lễ hội và các sinh hoạt thực hành, tín ngưỡng khác trước và sau khi di sản được ghi danh; (3) Xác định các vấn
đề nảy sinh trong quá trình di sản hóa và mối quan hệ giữa các bên liên quan trong
quá trình đó Bên cạnh đó, những nội dung phỏng vấn riêng phù hợp với vai trò của từng đối tượng sẽ được lồng ghép để thu được thông tin cần thiết
Tiếp đó, để nhìn nhận vấn đề nghiên cứu trong hai tương quan lịch đại và
Trang 16đồng đại, luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp hệ thống, phương pháp mô hình hóa và phương pháp so sánh để khái quát và đánh giá các kết quả sau mỗi nội dung nghiên cứu Các sơ đồ và mô hình sử dụng trong luận án được tác giả tổng hợp và đưa ra trên cơ sở các quan điểm tiếp cận, sự kế thừa các nghiên cứu đi trước
và những phân tích, đánh giá riêng đối với các vấn đề đặt ra trong luận án
6 Đóng góp của luận án
6.1 Về lý luận
Luận án đề xuất một điểm mới về lý luận, đó là quan điểm di sản hóa và lý thuyết các bên liên quan trong lĩnh vực quản lý di sản nói chung và DSVHPVT nói riêng ở Việt Nam Thông qua trường hợp một di sản đặc biệt (DSVHPVT có mối
tương tác nhiều BLQ trong lịch sử; có không gian lan toả sâu rộng và có các lớp giá trị hướng tới một cộng đồng đặc thù - cộng đồng quốc gia dân tộc), luận án biện giải
sự vận động của một di sản trong hành trình di sản hóa nhìn từ sự tương tác và mối quan hệ giữa các BLQ để từ đó có những đề xuất về giải pháp bảo vệ, phát huy các
di sản cùng loại hình Bên cạnh đó, NCS hy vọng rằng luận án có thể là một tài liệu tham khảo có ích cho các nghiên cứu về di sản văn hóa
6.2 Về thực tiễn
Những kết quả khảo sát và phân tích, đánh giá thực trạng di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương từ góc nhìn các bên liên quan của luận án đóng góp một phần cho việc đưa ra các giải pháp quản lý di sản nói chung và loại hình di sản văn hoá phi vật thể vẫn còn thực hành trong cộng đồng nói riêng Bên cạnh đó, điểm mới của luận án là việc đề xuất, xây dựng một mô hình quản lý phù hợp - mô hình quản lý tham gia Lý do lựa chọn, đề xuất mô hình xuất phát từ đặc thù của Di sản và yêu cầu thực tiễn của công tác bảo vệ, phát huy di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trong giai đoạn hiện nay Trên cơ sở đó, đóng góp của luận án là đánh giá một số các thử nghiệm triển khai mô hình đề xuất qua những kinh nghiệm thực
tế của NCS trong quá trình thực hiện luận án
7 Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 247 trang được chia làm phần chính văn và phần phụ lục Phần
Trang 17chính văn gồm 176 trang với Mở đầu (10 trang), Kết luận (6 trang), Tài liệu tham khảo (19 trang) và Nội dung luận án (141 trang) với 4 chương như sau:
- Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý luận (34 trang);
- Chương 2 Quá trình di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ (31 trang);
- Chương 3 Vai trò của các bên liên quan trong quá trình di sản hóa (45 trang);
- Chương 4 Giải pháp bảo vệ và phát huy di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nhìn từ các bên liên quan (31 trang)
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là một di sản đặc biệt trong hệ thống di sản văn hoá của người Việt Đó là một sản phẩm văn hoá mang tính chất sáng tạo độc đáo bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Trải qua các thời kì lịch sử, từ thời dựng nước cho tới những giai đoạn song hành với giữ nước, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã khẳng định được vị thế của mình trong đời sống dân tộc
Tính độc đáo của di sản này đã được rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học
đề cập Cố giáo sư Hà Văn Tấn từng nhận định về giá trị đặc biệt đó: “Không ở đâu trên trái đất này, có một dân tộc tin rằng có một mộ tổ chung, một ngôi đền tổ chung, để một ngày trong năm, hành hương về tưởng niệm như trường hợp Việt Nam” [129, tr 429] Nhà nghiên cứu Tạ Ngọc Tấn cho rằng: “Trên thế giới có nhiều tộc người, nhiều quốc gia thờ cúng tổ tiên ở các mức độ và dạng thức khác nhau, nhưng thờ cúng Hùng Vương dưới dạng thờ Quốc Tổ thì chỉ có ở người Việt
và ở Việt Nam” [127, tr 7] Cùng chung quan điểm đó, nhà nghiên cứu Đinh Gia
Khánh đã viết trong Địa chí Vĩnh Phú: Văn hóa dân gian vùng đất Tổ:
Cả nước làm giỗ Tổ! Đối với chúng ta thì đó dường như là một điều tự nhiên, một điều bình thường Những xét cho kỹ thì điều đó không bình thường một chút nào cả Trái lại, đó là một trong những nét độc đáo, rất độc đáo trong văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam Ở trên thế giới, cũng có những nước lấy quốc hiệu từ tên một vị thủy tổ Nhưng không một nước nào giống như nước
ta có lệ hằng năm lại làm lễ giỗ Tổ, tưởng niệm các vị thủy tổ đã khai cơ lập nghiệp, đã mở đầu việc xây dựng Tổ quốc [90, tr 9]
Xét về góc độ văn hoá, tục thờ cúng Hùng Vương bồi đắp niềm tự hào, ý thức tự tôn thiêng liêng của cả dân tộc trong mọi nỗ lực xây dựng và bảo vệ tổ quốc song hành với bản sắc văn hoá, văn hiến riêng của người Việt Xét về góc độ xã hội, đây là một tập quán xã hội lâu đời gắn với tâm thức của dân tộc Việt Nam vốn có
Trang 19truyền thống ứng xử trọng ơn nghĩa, nặng ân tình, luôn coi trọng các giá trị văn hoá nguồn cội Ở góc độ đạo đức, ý thức về việc thờ cúng Hùng Vương mang giá trị nhân văn sâu sắc, đó là một biểu tượng hướng thiện giúp con người trong nâng cao giá trị của chính mình và cộng đồng xã hội nơi mình được sinh ra Chính trên nền tảng đó, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương với xuất phát điểm là những tín ngưỡng dân gian của cư dân nông nghiệp đã gắn kết với nét đẹp đạo lý uống nước nhớ nguồn, coi trọng tổ tiên để hình thành riêng nên tín ngưỡng độc đáo là thờ vua Tổ
Những truyền thuyết Hùng Vương dựng nước, giữ nước, những hình tượng Lạc Long Quân, Âu Cơ, Tản Viên, Thánh Gióng, Lang Liêu, …cùng với phong tục, tập quán, nghi lễ, sinh hoạt… của người Văn Lang là những câu chuyện phổ biến trong đời sống cộng đồng dân tộc Những cứ liệu truyền thuyết là căn cứ để một số nhà sử học đưa thời Hùng Vương dựng nước Văn Lăng vào những bộ sử lịch sử dân
tộc đầu tiên từ cuối thời Trần và thời Lê Sơ Đó là Việt Nam thế chí của Hồ Tông Thốc (1372), Việt sử lược (khuyết danh - thế kỉ XVI) [71, tr 71]
Trong các DSVHPVT có danh hiệu UNESCO ở Việt Nam, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và những vấn đề liên quan có lẽ thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu nhiều hơn cả Trong thế kỉ XX, từ những năm sau 1945, các nghiên cứu
đã bắt đầu xuất hiện liên tục, đặc biệt trong các thập kỉ 70 trở đi Cho tới năm 2012, theo thống kê sưu tầm các công trình nghiên cứu về Hùng Vương và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã có tới 703 công trình trong đó có loạt hội thảo chuyên đề
về Hùng Vương dựng nước (4 lần) diễn ra lần lượt từ năm 1968 tới năm 1971 [99,
tr 807-871] Trong danh mục này có rất nhiều công trình của những nhà khoa học nổi tiếng trong giới nghiên cứu như Đào Duy Anh, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng,
Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Khắc Xương, nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn, nhà sử học Lê Văn Lan… Nội dung của các nghiên cứu này tập trung vào mấy vấn đề cơ bản:
- Các vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội và lịch sử - khảo cổ thời Hùng Vương (thời gian, thời đại Hùng Vương và nhà nước Văn Lang)
- Các vấn đề văn hóa, giá trị văn hóa thời Hùng Vương (trong đó có văn học, đặc biệt là hệ thống truyền thuyết, truyện cổ)
Trang 20- Nhân vật và địa danh liên quan đến thời Hùng Vương (Phú Thọ và vùng lân cận, địa bàn các kinh đô của các nhà nước Văn Lang - Âu Lạc)
Nổi bật trong những nghiên cứu này là công trình Lịch sử Việt Nam - bộ
Quốc sử đầu tiên của thời đại Hồ Chí Minh của nhà sử học Phan Huy Lê Trong bộ
sử 30 tập này, ông đã giới thiệu quá trình hình thành nhà nước Văn Lang trong tập
1, được xuất bản năm 1985 và tái bản nhiều lần Sau đó, nội dung này còn được
trình bày trọn vẹn trong công trình Lịch sử và văn hóa Việt nam - tiếp cận bộ phận
xuất bản năm 2015 Phần nội dung này đã nêu và luận giải thuyết phục về sự hình thành cũng như tồn tại và những giá trị khoa học lịch sử của nhà nước Văn Lang
Đồng thời, ông cũng xác định sự ra đời loại hình “cộng đồng” riêng cho di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trong kết luận: “Sự xuất hiện một hình thái Nhà nước như thế, dù còn sơ khai, vào thời Hùng Vương, đánh dấu một bước tiến quan trọng của lịch sử Nó xác nhận quá trình dựng nước thời Hùng Vương và đặt cơ sở cho sự ra đời của một loại hình cộng đồng người mới: cộng đồng quốc gia - dân tộc” [71, tr 15]
Sau năm 2012, tức là sau khi UNESCO ghi danh Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là DSVHPVT đại diện của nhân loại, số lượng các nghiên cứu càng tăng cả
về số lượng và tần suất Các cuộc hội thảo khoa học lớn cấp tỉnh, quốc gia và cấp quốc tế về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và thời đại Hùng Vương trong lịch sử cùng với những vấn đề liên quan (hệ thống di tích, di chỉ, cơ sở tín ngưỡng, truyền thuyết dân gian…) đã được tổ chức Có thể kể đến các
hội thảo tiêu biểu như: Hội thảo khoa học quốc tế Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong
xã hội đương đại (nghiên cứu trường hợp tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Việt Nam) (2011) với 130 bài viết; Hội thảo quốc gia Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
ở Việt Nam (2014) với 39 bài viết; Hội thảo khoa học quốc gia Thời đại Hùng Vương trong tiến trình lịch sử Việt Nam (2019) với 69 bài viết Với sự tham gia của
đông đảo các nhà nghiên cứu, nhà khoa học trong nước và quốc tế, số lượng và nội dung phong phú, đa dạng của các bài viết đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu đối với các chủ đề liên quan đến di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng
Trang 21Vương Nội dung cơ bản của các bài nghiên cứu trình bày tại các hội thảo này tập trung vào mấy vấn đề: (1) Nhận diện, đánh giá giá trị của Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương với tư cách là một sáng tạo văn hóa độc đáo của người Việt; (2) Sưu tầm, thống kê và bàn luận về các hợp phần di sản (di tích, cơ sở thờ cúng Hùng Vương, lễ hội, diễn xướng, các tư liệu văn học dân gian, phong tục, tập quán, nghi
lễ, hệ thống văn tự, di chỉ, hiện vật ) trên một phạm vi lan tỏa rộng của di sản từ vùng Phú Thọ cho tới cả nước và vượt qua ranh giới quốc gia, được bảo tồn, phát huy giá trị trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài; (3) Các vấn đề về bảo tồn, phát huy Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trong giai đoạn hiện nay sau khi được UNESCO ghi danh là DSVHPVT đại diện của nhân loại Đặc biệt, các tác giả đã bày tỏ nhiều quan điểm, cách tiếp cận nhiều chiều về Tín ngưỡng thờ cúng Hùng
Vương ở những trường hợp nghiên cứu cụ thể Trong số đó, Hội thảo Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong xã hội đương đại (nghiên cứu trường hợp tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Việt Nam) là sự kiện khoa học có ý nghĩa đặc biệt trong việc
khẳng định và bàn luận về cơ sở khoa học, những vấn đề lí luận và thực tiễn về giá trị lịch sử, tư tưởng, văn hóa, xã hội đa chiều và sâu sắc của di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
Bên cạnh đó, các tác giả có nghiên cứu sâu về Đền Hùng và Tín ngưỡng Thờ cúng Hùng Vương tiêu biểu có thể kể đến là Nguyễn Thị Tuyết Hạnh với luận án
Khu di tích Đền Hùng trong tiến trình lịch sử dân tộc (2003) [39], Trần Thị Tuyết Mai với luận án Lễ hội đền Hùng trong đời sống văn hóa cộng đồng (2013) [87], Nguyễn Đắc Thủy với luận án Bảo vệ và phát huy giá trị di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và hát Xoan ở Phú Thọ (2018) [145] Các công trình này tập
trung phân tích quá trình phát triển cũng như vai trò của Khu di tích lịch sử Đền Hùng trong lịch sử dân tộc, giá trị của lễ hội Đền Hùng và di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung trong đời sống cộng đồng và dân tộc Những kết quả nghiên cứu này giúp ích cho luận án trong việc kế thừa các thông tin liên quan đến quá trình hình thành và phát triển của Khu di tích lịch sử Đền Hùng, lễ hội Đền Hùng, đặc biệt là kết luận khoa học về việc đánh giá giá trị cũng hiện trạng bảo tồn,
Trang 22phát huy di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ Tiếp cận ở phương diện lịch sử và văn hóa học, hai công trình luận án của Nguyễn Thị Tuyết Hạnh và Trần Thị Tuyết Mai tập trung phân tích, luận giải một số khía cạnh cơ bản liên quan tới con đường di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (mối quan hệ giữa di sản và cộng đồng, cộng đồng với di sản, sự thay đổi của di sản qua những giai đoạn lịch sử) thể hiện qua hai hợp phần quan trọng là Khu di tích lịch sử Đền Hùng và lễ hội Đền Hùng Tiếp cận ở phương diện quản lý, luận án tiến sĩ văn hóa học của
Nguyễn Đắc Thủy Bảo vệ và phát huy giá trị di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và hát Xoan ở Phú Thọ (2018) [145] và sách xuất bản cùng tên (2019) [146]
không chỉ tổng hợp những giá trị của di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, trong đó có những giá trị mới mang tính thời đại (giá trị tài nguyên du lịch) mà còn nhấn mạnh sự hỗ trợ (bảo trợ) của nhà nước đối với cộng đồng trong công tác quản
lý di sản, trong các hoạt động thực hành tín ngưỡng, đặc biệt là những khuyến nghị theo tinh thần Công ước năm 2003 của UNESCO về việc nâng cao vai trò cộng đồng trong bảo tồn di sản
Tuy nhiên, khoảng trống ở tất cả các nghiên cứu nêu trên là sự vận động của Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trong quá trình di sản hóa; hành trình trở thành
di sản của Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở góc nhìn các bên liên quan Khoảng trống đó là cơ hội để NCS tìm hiểu và hy vọng có những đóng góp về lý luận và thực tiễn cho công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trong bối cảnh hiện nay
1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về di sản hóa và các bên liên quan
1.1.2.1 Các công trình ngoài nước
Nhìn từ quan điểm của UNESCO, di sản hoá được coi là một quá trình có sự đóng góp, tham gia, can thiệp của các bên điển hình: cộng đồng địa phương, quốc gia và quốc tế (Công ước 2003) Cùng chiều quan điểm này, Awoke Amzaye
Assoma (2010) cho rằng di sản hoá là quá trình có sự đóng góp vai trò của 3 bên:
nhà nước, cộng đồng địa phương và UNESCO nhằm hướng đến các mục đích liên quan tới nhau [169] Quá trình này thể hiện các động lực, xung đột cũng như quan
Trang 23hệ quyền lực ở cả ba cấp độ: Ở cấp độ địa phương: di sản hoá có ý nghĩa củng cố
bản sắc văn hoá địa phương (Konso - trường hợp địa bàn nghiên cứu - NCS chú
thích) cùng với tạo ra cơ hội về phát triển kinh tế; Ở cấp độ quốc gia: di sản hoá
tăng cường sự can thiệp quan liêu từ phía nhà nước (chính quyền) vào các vấn đề của địa phương, trong đó có bảo tồn và phát triển văn hoá, bên cạnh đó là đóng góp cho việc xây dựng hình ảnh của quốc gia trên bình diện quốc tế; Ở cấp độ quốc tế,
di sản hoá có vai trò thúc đẩy diễn ngôn di sản của UNESCO với tư cách một phần
của diễn ngôn toàn cầu hoá Rõ ràng, quá trình di sản hóa không tách rời mối quan
hệ các BLQ Vấn đề đặt ra là cần phải tìm hiểu và “dàn xếp” mối quan hệ này trong quá trình di sản hóa như thế nào ở mỗi trường hợp cụ thể
Từ sau những nghiên cứu về các bên liên quan trong lĩnh vực quản lý, các tiếp cận theo lý thuyết này ngày càng được quan tâm nhiều hơn ở rất nhiều lĩnh vực khác như giáo dục, chính sách công, dự án cộng đồng - xã hội và đặc biệt là các lĩnh vực sự kiện, du lịch và quản lý di sản Xu hướng phổ biến trong các nghiên cứu có tiếp cận các BLQ đó là khẳng định vai trò và mức độ quan trọng của các bên đối với việc thực thi các dự án, kế hoạch hay giải pháp trong các trường hợp/loại hình di sản khác nhau Nghiên cứu mối quan hệ giữa di sản văn hóa với phát triển du lịch, Jansen- Verbeke và Lievois (1999) đã xem xét và xác định những yếu tố chính ảnh hưởng tới thành công của việc phát triển sản phẩm du lịch văn hóa bao gồm: (1) Giá trị và mục tiêu của các BLQ; (2) Đặc điểm hình thái của tài sản di sản văn hóa; (3) Khả năng tiếp cận và chức năng; (4) Sự kết hợp của di sản với các hoạt động du lịch
và các yếu tố bổ trợ khác Tập trung hơn vào mối quan hệ giữa các bên liên quan và quản lý văn hóa, bài nghiên cứu “Stakeholder collaboration and heritage management” của các tác giả Aas, C., A.Ladkin and J.Fletcher (2005) đã phân tích một điển hình cho nghiên cứu ứng dụng quan điểm lý thuyết này, đó là Dự án của UNESCO ''Quản lý Di sản văn hóa và du lịch: Mô hình hợp tác giữa các bên liên quan” mà Luang Prabang là một trong chín địa điểm Di sản Thế giới ở Châu Á - Thái Bình Dương được lựa chọn thí điểm Dự án áp dụng cách tiếp cận phù hợp với quan điểm các bên liên quan trong vận hành di sản, đó là lập và thực hiện các kế
Trang 24hoạch hành động để quản lý bền vững di sản và du lịch dựa trên nhóm làm việc của các bên liên quan bao gồm từ cơ quan quản lý địa phương, các bộ ngành chuyên môn (Ngoại giao, Văn hóa - Thông tin, Du lịch, Xây dựng) và đại diện của UNESCO Thông qua việc khảo sát kết quả dự án, các tác giả đã đưa ra những vấn
đề thảo luận về việc áp dụng lý luận các bên liên quan trong vấn đề quản lý di sản, trong đó quan trọng nhất là mức độ hợp tác giữa các bên liên quan [166] Trong
luận văn Phương pháp tiếp cận sự tham gia của các bên liên quan trong quản lý và bảo tồn di sản văn hóa đô thị (2007) của tác giả Jia Wen, lý thuyết về các bên liên
quan được áp dụng để phân tích sự tham gia của các nhóm bên liên quan khác nhau trong bảo tồn và quản lý di sản văn hóa đô thị (trường hợp nghiên cứu là các di sản văn hóa đô thị ở Trung Quốc) Nghiên cứu không chỉ giải thích sự cần thiết của việc
sử dụng phương pháp tiếp cận có sự tham gia của các bên liên quan mà còn phân tích ứng dụng cả về mặt lý thuyết và thực tế để đưa ra một minh chứng rõ ràng về
ba nhóm bên liên quan chính, đó là khách du lịch - người dân và cộng đồng địa phương - các cơ quan quản lý (chính phủ), từ đó đưa ra một khung đề xuất về cách thức tiếp cận hoạt động cho các bên liên quan trong trường hợp nghiên cứu [203]
Cùng nghiên cứu về di sản văn hóa đô thị, nhóm tác giả Ulrika Lundh Snis, Anna Karin Olsson, Iréne Bernhard trong nghiên cứu “Trở thành một đô thị cổ thông minh - Cách quản lý hợp tác các bên liên quan với di sản văn hóa” (Becoming a smart old town - How to manage stakeholder collaboration and cultural heritage) đã khẳng định quản lý di sản văn hóa là một quá trình đặc biệt phức tạp vì bảo tồn cái
“cũ” phải đi đôi với đổi mới cái “mới” và thông minh để duy trì tính xác thực và giá trị cho các bên liên quan [201, tr 630]
Không chỉ xác định vai trò của các BLQ trong tổ chức, dự án hay sự kiện và các lĩnh vực ứng dụng, các nghiên cứu còn đưa ra những cách phân loại, phân nhóm các BLQ để thuận tiện hơn cho việc tiếp cận các vấn đề về quản lý Trong bài nghiên cứu
“Hướng tới một lý thuyết về xác định các bên liên quan và sự phục tùng: Xác định nguyên tắc về ai và điều gì thực sự được tính” (Toward a Theory of Stakeholder Identification and Salience: Defining the Principle of Who and What Really Counts), các
Trang 25tác giả Ronald K Mitchell, Bradley R Agle và Donna J Wood (1997) đã xác định các bên liên quan và khả năng phục vụ dựa trên các bên liên quan sở hữu một hoặc nhiều hơn ba thuộc tính: quyền lực, tính hợp pháp và tính cấp thiết [199] Trong khi đó, Freeman (1984) phân loại các bên liên quan thành 2 nhóm: chính yếu và thứ yếu Nhóm chính yếu là nhóm có quyền quyết định đối với hoạt động quản lý Nhóm thứ yếu là chịu phối hoặc quan tâm song có thể không có mặt và tham gia vào việc ra quyết định [175]
Các cách xác định và phân loại như vậy phù hợp với việc xem xét quá trình di sản hóa đối với DSVHPVT trong mối liên hệ, tương tác giữa các BLQ Ở từng hoạt động cụ thể, mỗi BLQ sẽ có mức độ tham gia và đóng góp khác nhau tùy thuộc vào giá trị, lợi ích, sự quan tâm cũng như khả năng tham gia
1.1.2.2 Các công trình trong nước
Về vấn đề di sản hóa nói chung, có thể nhận thấy, hầu như các nghiên cứu về di
sản đều ít nhiều bàn đến song ở những mức độ đề cập khác nhau Các nghiên cứu đề cập
tới vấn đề di sản hóa chủ yếu thông qua các bàn luận về nhận diện, đánh giá giá trị di
sản, quá trình bảo tồn, phát huy, ghi danh, xếp hạng, vinh danh… hay việc thực thi các Công ước, các điều luật về di sản cũng như những tác động của những hành xử đó đối
với từng di sản Tiếp cận vấn đề di sản hóa ở góc nhìn các bên liên quan trong các
nghiên cứu chủ yếu được đề cập ở hai chủ thể nhà nước và cộng đồng
Các xu thế tiêu cực như “thương mại hóa”, “trần tục hóa”, “quan phương hóa” lễ hội truyền thống; các hiện tượng “buôn thần bán thánh”, tạo dựng các di tích mới để thu tiền, mai một các nghi thức tế lễ, trò chơi dân gian ảnh hưởng đến tính thiêng của lễ hội… có những nguyên nhân xuất phát từ chủ thể cộng đồng hoặc nhà nước cũng được các tác giả Phan Phương Anh, Trần Thị Thủy đề cập trong các nghiên cứu: “Di sản hóa
lễ hội truyền thống và tính thiêng của nghi lễ” [7], “Cân bằng giữa vai trò của cộng đồng
và nhà nước trong bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể” (Nghiên cứu trường hợp lễ hội đền Bà Chúa Kho ở Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh) [147]
Nhìn từ góc độ di sản lễ hội, nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh bày tỏ quan điểm lo ngại sâu sắc về vấn đề “nở rộ” của lễ hội trong bối cảnh mà ông gọi là “sự phục hưng về văn hóa truyền thống” đã dẫn đến nhưng “lệch lạc”, “khiếm khuyết” cần phải khắc phục
Trang 26Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra bốn cảnh báo về những hiện tượng, những nguy cơ tác động tiêu cực tới lễ hội truyền thống, đó là “đơn điệu hóa”, “trần tục hóa”, “quan phương hóa”
và “thương mại hóa” lễ hội
Tổng hợp nhiều ý kiến, quan điểm của các nhà nghiên cứu về những tác động mang tính xung đột giữa bảo tồn và phát huy di sản văn hóa (sự cám dỗ của lợi ích, sự đánh mất vai trò của cộng đồng), tác giả Lương Hồng Quang trong nghiên cứu “Đa dạng
về các biểu đạt văn hóa từ các di sản văn hóa phi vật thể (Bàn về khuynh hướng chính sách và thực tiễn cổ vũ cho sự tham gia của cộng đồng)” đã phân tích, luận giải sâu sắc những thay đổi bên trong của các lễ hội truyền thống trong xu thế, bối cảnh hiện tại Từ
đó, tác giả cho rằng: “đã có sự thay đổi về mục đích tổ chức lễ hội cũng như tâm thế của chủ thể lễ hội Một sự kiện làng xã trở thành sự kiện vùng, một quốc gia, thậm chí nó mang tính quốc tế khi có du khách quốc tế tham dự hay qua hệ thống truyền thông Động thái này đưa vào lễ hội cộng đồng tính chất nhà nước của nó, với sự tham dự và can thiệp
về mặt chính sách và tổ chức” [116, tr 458] Trên phương diện khuyến nghị những thách thức đặt ra với công tác bảo tồn, phát huy DSVHPVT có danh hiệu UNESCO, tác giả Nguyễn Thị Hiền trong bài nghiên cứu “Bảo tồn di sản Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc sau khi được UNESCO vinh danh” đã nhấn mạnh quan điểm nâng cao nhận thức của người dân, của cộng đồng chủ thể di sản để cho họ trực tiếp nhận diện và đề xuất được các biện pháp bảo vệ di sản của họ Theo đó, Ban quản lý đền Sóc phải “lắng nghe” ý kiến của “các cụ”, của người dân trong việc xây dựng kịch bản lễ hội [43, tr
286-287] Ở một chuyên khảo khác, tác giả đã có khá nhiều luận giải về các vấn đề liên quan đến di sản hóa:
Các quy định pháp luật về vấn đề xếp hạng, quản lý, sân khấu hóa, bảo vệ có chọn lọc trong công tác bảo vệ và phát huy di sản của các tác nhân bên ngoài (nhà nghiên cứu, cán bộ văn hóa, tổ chức kinh tế )
có khả năng dẫn đến sự suy giảm quyền (quản lý, tổ chức, sáng tạo, hưởng lợi ) đối với di sản văn hóa của cộng đồng [45, tr 20]
Trong các nghiên cứu về di sản hóa ở Việt Nam, Oscar Salemink được coi là tác giả có nhiều công trình trực tiếp đề cập và bàn luận Các nghiên cứu của tác giả
Trang 27tập trung chủ yếu vào các di sản có danh hiệu UNESCO Trong bài nghiên cứu
“Appropriating culture: The politics of intangible cultural heritage in Vietnam”
(Chiếm đoạt văn hóa: Tính chính trị của di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam”), in
trong State, Society and the market in Contemporary Vietnam - property, power and value (Nhà nước, xã hội và thị trường ở Việt Nam đương đại - tài sản, quyền lực và
giá trị), tác giả đã chỉ trích một cách gay gắt rằng việc gắn “danh hiệu”, “nhãn hiệu”
cho di sản là hành động mang tính chính trị, mang tính “chiếm đoạt” di sản văn hóa của cộng đồng thành tài sản của nhà nước Tác giả đưa ra giả định về quyền kiểm soát di sản như là “tài sản văn hóa” trong việc định nghĩa, quản lý và sử dụng di sản của nhà nước Nhà nước đã xác thực, sửa đổi và công cụ hóa các quy trình của địa phương dưới sự bảo trợ quốc gia như là “tài sản của nhà nước” [188, tr 159-160]
Oscar Salemink diễn đạt một cách dễ hiểu hơn về di sản hóa, đó là sự chính trị hóa
và hoành tráng hóa đối với di sản, biến di sản của cộng đồng thành tài sản văn hóa quốc gia Ông phân tích sự cạnh tranh hay là chạy đua ở phạm vi địa phương, quốc gia và toàn cầu để được Nhà nước và UNESCO công nhận di sản, liên quan đến quá trình “khách quan hóa”, “sửa đổi” và “chiếm đoạt” các thực hành văn hóa Nghiên
cứu tập trung vào vấn đề lý do của hành động di sản hóa của các quốc gia và những
đối nghịch mà nó mang lại Theo đó, những phân tích và bàn luận được đưa ra chủ
yếu là sự cảnh báo cho những nguy cơ của xu hướng di sản hóa trên toàn thế giới
hiện nay và điều tất yếu kéo theo là sự liên quan của các bên tác động hoặc chịu tác động của xu hướng này Tác giả nhấn mạnh “di sản hóa - cả ở cấp quốc tế, được công nhận là di sản thế giới hay di sản văn hóa phi vật thể thế giới, và ở cấp quốc gia - đều tôn vinh tính địa phương, tính độc đáo, tính riêng biệt, tính chân thực, nhưng lại mang đến tính toàn cầu, điều mà theo UNESCO là mối đe dọa chính đối với đa dạng văn hóa” [108, tr 495]
Trong các nghiên cứu về vấn đề di sản hóa đối với trường hợp Đền Hùng và tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Oscar Salemink có thể coi là tác giả có nhiều quan điểm, kết luận mang tính phản biện và phê phán nặng nề nhất Đặc biệt là vấn
đề “chính trị hóa” di sản và những tác động tiêu cực của di sản hóa đối với di sản và
Trang 28chủ thể cộng đồng của di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là một trong các trường hợp điển hình xuất hiện nhiều lần trong các nghiên cứu này với tư cách là DSVHPVT có danh hiệu UNESCO Tác giả nhấn mạnh tính chính trị của di sản hóa
và cảnh báo những hệ lụy của di sản hóa cũng như lặp lại nhiều lần kết luận di sản hóa là một “con đường trơn trượt”, “là con dao hai lưỡi” [108] [188] [189] Tác giả
cho rằng ngay cả những hoạt động được chọn trong chương trình lễ hội Đền Hùng như màn biểu diễn múa trống đồng lấy cảm hứng từ biểu tượng trống đồng Đông Sơn cũng chính là biểu tượng mang tính chính trị - văn hóa [189, tr 90]
Cùng mạch quan điểm đó, ở bài viết khác gần đây (2019) “The 'heritagization'
of culture in vietnam: intangible cultural heritage between communities, state and market” (“Di sản hóa” văn hóa ở Việt Nam: di sản văn hóa phi vật thể giữa cộng đồng, nhà nước và thị trường), Oscar Salemink đã mở rộng phân tích những hệ quả của di sản hóa hay việc “dán nhãn di sản” đối với những yếu tố văn hóa gắn liền với các cộng đồng cụ thể trong lịch sử Tác giả định nghĩa di sản hóa để chỉ ra cách mà nhãn di sản
đã xác định lại mối quan hệ giữa cộng đồng, thị trường, nhà nước và cả giới khoa học, tập trung vào các di sản được UNESCO ghi danh ở Việt Nam Ở công trình nghiên cứu này, Oscar Salemink không chỉ đưa ra khái niệm di sản hóa một cách rõ ràng mà còn đặt ra những vấn đề phải đối mặt với quá trình này ở các di sản có danh hiệu UNESCO
ở Việt Nam Thậm chí theo quan điểm của tác giả, nhà nước chính là chủ thể lựa chọn, quyết định “chính trị hóa” các DSVHPVT, chẳng hạn như chọn các lễ hội địa phương được cho là mang “tính cách dân tộc” để tuyên truyền chính trị, văn hóa và quảng bá
du lịch Lễ hội Đền Hùng được phân tích như một ví dụ tiêu biểu cho những kết luận này của Oscar Salemink Tựu trung, quan điểm của Salemink về di sản hóa bao gồm những luận điểm cơ bản là: (1) Di sản hóa là một xu hướng diễn ra ở nhiều quốc gia mang đến nhiều nguy cơ biến đổi di sản; (2) Nhà nước là chủ thể quyết định vấn đề di sản hóa với tính “chính trị hóa”, sự “can thiệp” và “chiếm đoạt” quyền sở hữu di sản từ cộng đồng
Ở một góc nhìn khác, Karen Fjelstad trong “Tác động của việc vinh danh của UNESCO vào cộng đồng địa phương: trường hợp thờ cúng Hùng Vương” đã đề cập
Trang 29và bàn luận về tác động tích cực của sự kiện ghi danh di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đối với cộng đồng người Việt nhập cư ở thành phố San Jose (California, Hoa Kỳ) Việc công nhận mang lại một kết quả rõ rệt và to lớn Đó là
“mang lại cho các thành viên của Hội Đền Hùng ở San Jose sự chính thức trong những nỗ lực của họ, và điều đó dẫn đến việc hình thành những mối quan hệ xã hội mới”, giúp họ có được sự tự tin để thể hiện mối quan tâm, nguyện vọng của mình trước các nhà khoa học Mỹ và Việt Nam, các quan chức, chính quyền Việt Nam và
cả những người quan tâm và hỗ trợ hoạt động của họ về việc xây dựng ngôi đền thờ vua Hùng và việc gìn giữ, trao truyền những giá trị văn hóa tâm linh của người Việt [59, tr 194-195]
Lựa chọn Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương với tư cách di sản được UNESCO ghi danh là một trong các trường hợp nghiên cứu, trong chuyên khảo
Quản lý nhà nước và vai trò của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, tác giả Nguyễn Thị Hiền đã bàn luận chi tiết và sâu sắc về vai
trò của cộng đồng đối với DSVHPVT ở góc nhìn quản lý nhà nước Tác giả đã phân tích mô hình quản lý nhà nước đối với di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương giai đoạn sau ghi danh di sản và chỉ ra những vấn đề chưa tuân thủ các quy định quản lý nhà nước về di sản trong Luật Di sản văn hóa ở trường hợp này Từ đó, tác giả đã đưa ra hệ thống các giải pháp cụ thể và chi tiết nhằm nâng cao hiệu quả quản
lý nhà nước và vai trò cộng đồng trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể [45]
Qua tổng quan nghiên cứu, tác giả luận án nhận thấy rằng, vấn đề di sản hóa DSVHPVT nhìn từ các bên liên quan còn khá mới:
(1) Vấn đề di sản hóa trong mối quan hệ các bên liên quan ở các nghiên cứu ngoài nước chủ yếu được bàn luận ở các trường hợp di sản vật thể và di sản mang tính không gian vật lý Các nghiên cứu trong nước chủ yếu bàn luận về tác động nhiều chiều của việc ghi danh, xếp hạng, tôn vinh di sản ở những cấp độ khác nhau đối với diện mạo và giá trị của các di sản văn hóa; từ đó đặt ra cho công tác bảo vệ, phát huy cũng như quản lý, vận hành di sản những đòi hỏi về
Trang 30giải pháp quản lý hướng tới việc xử lý mối quan hệ của hai đối tượng chủ yếu là nhà nước và cộng đồng
(2) Các nghiên cứu liên quan đến di sản hóa DSVHPVT, đặc biệt là nghiên cứu di sản hóa đối với trường hợp nghiên cứu Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương chủ yếu bàn luận về những hệ lụy, những cảnh báo về tác động của di sản hóa đến quyền cộng đồng và giá trị đích thực của di sản Trong đó, nhà nước được coi như một chủ thể quản lý có vai trò áp đặt mục tiêu chính trị, ý chí và quyền lực trong vấn đề di sản hóa và cũng chính bởi vậy, các hệ lụy đối với di sản sau khi có danh hiệu thường bắt nguồn từ nguyên nhân này
Như vậy, tác giả luận án nhận thấy khoảng trống cần nghiên cứu bổ sung là:
vấn đề di sản hóa DSVHPVT Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nhìn ở vai trò của các BLQ trong quá trình di sản hóa (từ việc nhìn nhận giá trị, kỳ vọng cho tới quyền lợi, trách nhiệm và khả năng tham gia vào việc bảo vệ, phát huy giá trị di sản trong bối cảnh hiện nay)
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Các khái niệm cơ bản
1.2.1.1 Di sản hóa
Di sản hoá có thể coi là một khái niệm, thuật ngữ, một xu thế và là một “thực
hành xã hội” Đó là một quá trình bao gồm nhiều động thái xã hội - chính trị của các bên liên quan đến những yếu tố của một nền văn hoá Bất kể là yếu tố nào, được phân loại theo những tiêu chí và cơ sở khác nhau ra sao thì việc xem xét quá trình di sản hoá có thể coi là một công cụ, quan điểm đối với việc nghiên cứu di sản
Bắt đầu từ những nghiên cứu ở những lĩnh vực khác nhau như lịch sử, địa lý,
nhân học, thuật ngữ di sản hoá có thể coi là dấu mốc cho sự nhận diện một xu
hướng mang tính phổ biến trong lĩnh vực văn hoá, đó là hành động/thực hành xã hội tác động đến các sáng tạo văn hoá bao gồm tổng thể những động thái và mục đích khác nhau của các BLQ
Khái niệm di sản hóa được tác giả Robert Hewison nhắc đến lần đầu tiên trong cuốn The heritage Industry: Britain in a Climate of decline (Công nghiệp di
Trang 31sản: Vương quốc Anh trong sự đi xuống) và tiếp tục phát triển luận điểm của mình trong bài nghiên cứu “Heritage: an interpretation” (Di sản văn hóa - một diễn giải)
Phạm vi các nghiên cứu này tập trung ở một số địa điểm di sản ở Anh Theo đó, di sản hóa được coi là một quá trình lựa chọn quá khứ được các thế hệ hiện tại và
tương lai đánh giá cao, những gì được chọn có giá trị đối với một nhóm cộng đồng
cụ thể Quan điểm về di sản hóa của Hewison được thể hiện qua định nghĩa di sản văn hóa là “cái đã được thế hệ quá khứ gìn giữ, trao cho hiện tại và được một nhóm
cộng đồng quan trọng muốn bàn giao cho tương lai” [197, tr 16] Cũng dựa trên
nghiên cứu đối với di sản mang tính không gian, Walsh (1992) đưa ra khái niệm di sản hóa “là sự thu hẹp không gian thực xuống còn không gian cho khách du lịch,
được xây dựng dựa trên những hình ảnh có chọn lọc những thứ đã diễn ra trong quá khứ để không gây hủy hoại tới không gian thực.” Cùng quan điểm về di sản hóa với
ý nghĩa là lựa chọn quá khứ của Hewison, các tác giả Tunbridge và Ashworth định
nghĩa di sản hóa là quá trình “lựa chọn một di sản của quá khứ để sử dụng trong
hiện tại và quyết định xem cái gì nên được lưu giữ cho tương lai” [185, tr 6] Tuy nhiên, sự khác biệt trong định nghĩa của nhóm tác giả này so với Hewison là sự tiếp cận động cơ, mục đích lựa chọn cũng như đánh giá cao của các thế hệ hiện tại đối với những gì được kế thừa từ thế hệ trước
Ở Việt Nam, di sản hóa vẫn còn là một khái niệm khá mới (Oscar Salemink)
Tác giả đã có nhiều nghiên cứu về các di sản văn hóa ở Việt Nam, đặc biệt là các di sản văn hóa tâm linh, trong đó có trường hợp Đền Hùng và Tín ngưỡng thờ cúng
Hùng Vương Tác giả đã định nghĩa và phân tích khái niệm di sản hoá với sự nhạy
cảm và thẳng thắn về những động thái chính trị xã hội của các BLQ tới di sản trong việc vận hành của các quan hệ quyền lực và mâu thuẫn trong các bối cảnh xã hội
Theo tác giả, di sản hóa “hiểu theo nghĩa đơn giản nhất, cụ thể là gắn cho các di
tích và thực hành văn hóa danh hiệu di sản - là một quá trình diễn ra trên toàn thế giới…” [108, tr 494]
Nhà nghiên cứu Trần Quang Hải (Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc Gia, Pháp) sử dụng khái niệm “sự tuyên dương của UNESCO” như một cách diễn
Trang 32đạt khác về di sản hóa Hàm nghĩa của khái niệm này chỉ sự công nhận, ghi danh
của UNESCO nhằm mục đích bảo vệ, phát huy giá trị di sản Tác giả viết: “Nhân dịp kỷ niệm 10 năm (2003-2013) Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESO, nước Việt nam đã có 7 di sản văn hóa phi vật thể được tuyên dương” [37,
tr 219, 237] Trong khi đó, nhà nghiên cứu Phan Phương Anh cho rằng: khái niệm
di sản hóa có xu thế được dùng để thay thế khái niệm di sản trong giới nhân học phương Tây Theo đó, di sản được cho là chỉ tồn tại “bởi vì nó được gọi như vậy,
bởi một quyền lực quốc gia hoặc quốc tế, hay bởi một hiệp hội công dân hay bởi những người dân thường”; “Di sản chỉ là kết quả của một quá trình tôn vinh một vật thể, một phong cảnh, một tập quán thành di sản Quá trình này phải được thể hiện bằng khái niệm “di sản hóa” được coi là mang tính khoa học hơn” [7, tr 37]
Sử dụng thuật ngữ “vinh danh”, Trần Thị Lan trong bài nghiên cứu “Di sản hóa
và quá trình di sản hóa ở Việt Nam từ sau đổi mới đến nay” đã định nghĩa di sản hóa:
Là quá trình lựa chọn các yếu tố của một nền văn hóa (tòa nhà, di tích, di chỉ, khu vườn, phong cảnh, đối tượng, thực hành, nghi lễ và truyền thống…) để vinh danh trở thành di sản văn hóa Đây là một quá trình với các giai đoạn kế tiếp nhau: giai đoạn lựa chọn các yếu
tố để xây dựng thành di sản văn hóa, mà kết quả của giai đoạn này
là yếu tố văn hóa đó được vinh danh, có được “danh hiệu” bởi các
tổ chức bên ngoài cộng đồng di sản (Nhà nước, quốc tế), di sản văn hóa được bảo vệ bởi luật phát quốc gia và các hiệp định quốc tế, các công ước và điều lệ; Tiếp theo là giai đoạn hậu vinh danh di sản văn hóa, hành trình mới của nó với tư cách là một di sản văn hóa có danh hiệu [65, tr 63]
Qua phần tổng hợp các khái niệm, NCS nhận thấy rằng di sản hoá là một sự
lựa chọn Mỗi di sản sẽ có hành trình di sản hóa khác nhau Với tiếp cận di sản không phải là sản phẩm của quá khứ, di sản hóa chính là diễn đạt mang tính hành động, ứng xử của con người ở hiện tại đối với những sáng tạo văn hóa từ quá khứ
Di sản hóa không chỉ là một hành động “dán nhãn” cho di sản mà còn bao hàm
Trang 33nghĩa rộng hơn là cả quá trình tôn vinh, tái tạo và tiếp tục sáng tạo di sản theo
nguyện vọng, ý chí của các BLQ thông qua các sự kiện di sản hóa nối tiếp nhau
Xem xét các định nghĩa, khái niệm di sản hóa đã được đưa ra và phân tích, luận án sử dụng khái niệm sau: Di sản hóa là quá trình lựa chọn, định danh, định vị
và định dạng một/một số thành tố văn hóa nào đó với tư cách là một di sản Hoạt động này mang tính chủ động, sáng tạo với vai trò tham gia, phối hợp của nhiều bên liên quan và tạo ra nhiều giá trị, chức năng di sản cho các bên Khái niệm này
được sử dụng như công cụ nghiên cứu chính của luận án nhằm hướng tới việc nhìn
nhận quá trình di sản hóa không phải là xu thế tất yếu mà là một lựa chọn mang tính
phổ biến mang lại nhiều lợi ích và giá trị từ di sản trong bối cảnh xã hội đương đại cũng như trong tương lai
Di sản hóa có thể bao gồm một chuỗi các hành động từ việc lựa chọn/định danh/ghi danh/xếp hạng/xác lập vị thế và công bố một sáng tạo văn hóa ở những phạm vi khác nhau Đây là một quá trình vận động trải qua nhiều giai đoạn di sản hóa và sự kiện di sản hóa gắn liền với vai trò của các bên liên quan thông qua lợi ích, trách nhiệm, sự tham gia và những mục đích khác nhau từ mỗi bên nhưng có những mục đích chung Quá trình này dẫn tới sự thay đổi của di sản sau các sự kiện
di sản hóa về tên gọi, diện mạo, đặc điểm cũng như giá trị, chức năng và những mối liên hệ xã hội mới đồng thời đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết trong việc bảo vệ và phát huy di sản Đặc biệt là công tác quản lý di sản đòi hỏi những công cụ, giải pháp
để kiểm soát được quá trình di sản hóa di sản và có những hành xử phù hợp, đáp
ứng những mục tiêu, lợi ích mà tất cả các BLQ mong muốn
Di sản hóa DSVHPVT là một dòng chảy, một quá trình liên tục của sự sáng tạo,
kế thừa, chọn lọc, gìn giữ rồi lại tiếp tục tái tạo, sáng tạo Quá trình đó ở mỗi một di sản
có sự khác nhau do sự khác biệt về giá trị và ý nghĩa đối với các bên liên quan tới chúng
Quan niệm như trên là căn cứ để NCS tiếp cận vấn đề nghiên cứu của luận án ở mấy điểm mấu chốt: (1) Di sản hóa là một quá trình có sự tham gia của các BLQ; (2) Sự phân định quyền lợi và trách nhiệm của các BLQ có ý nghĩa và ảnh hưởng rất lớn đến quá
Trang 34trình di sản hóa; (3) Những tác động của di sản hóa tùy thuộc vào phương cách mà các BLQ giải quyết các mối liên hệ và các vấn đề đặt ra sau di sản hóa
1.2.1.2 Các bên liên quan
Có nhiều định nghĩa về “BLQ” song chủ yếu có hai cách tiếp cận, một là ở góc độ kinh tế (chủ thể là doanh nghiệp), hai là góc độ xã hội nói chung (chủ thể là một tổ chức bất kỳ) Ở góc độ kinh tế, theo Viện Nghiên cứu Stanford (1963),
“BLQ” là những người mà “không có sự hỗ trợ/ủng hộ của họ, tổ chức sẽ không thể tồn tại” Ở góc nhìn xã hội nói chung, theo Eric Rhenman (1964), “BLQ là những người phụ thuộc vào tổ chức để đạt mục tiêu của mình, và tổ chức phụ thuộc vào họ
để tồn tại.” Theo cách định nghĩa của Edward Freeman: “BLQ của một tổ chức là một nhóm người hay cá nhân bất kỳ có thể tác động lên hay bị tác động bởi kết quả
và quá trình đạt mục tiêu của tổ chức đó” [175, tr 25] Khái niệm của Freeman cùng với lý thuyết các BLQ của ông đã mở đầu cho nhiều những nghiên cứu và vận dụng ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực quản lý Luận án sử dụng khái niệm
BLQ của Freeman trên cơ sở vận dụng trong trường hợp nghiên cứu như sau: Bên liên quan là những nhóm người hay cá nhân bất kỳ có thể tác động hoặc chịu tác động bởi quá trình và kết quả hoạt động liên quan đến di sản
Để xác định các BLQ trong trường hợp Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, cần xem xét khái niệm Cộng đồng Khái niệm cộng đồng có rất nhiều cách tiếp cận
và định nghĩa tùy thuộc vào các mục đích và phạm vi nghiên cứu khác nhau Theo quan điểm của UNESCO, cộng đồng là “người mang văn hóa” và “Trong khuôn khổ các hoạt động bảo vệ DSVHPVT, mỗi quốc gia thành viên nỗ lực đảm bảo khả năng tham gia tối đa của cộng đồng, nhóm người và trong một số trường hợp là các
cá nhân đã sáng tạo, duy trì và chuyển giao loại hình di sản này…” (Công ước 2003) Luật Di sản văn hóa của Việt Nam cũng thể hiện quan niệm về cộng đồng tương đồng với UNESCO trong việc giải thích khái niệm “DSVHPVT là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân… thể hiện bản sắc của cộng đồng…”
(Khoản 1, Điều 4) Tuy vậy, các quan niệm này chưa làm rõ được cụ thể đối tượng
và phạm vi của “cộng đồng” trong từng trường hợp DSVHPVT
Trang 35Liên quan đến khái niệm cộng đồng đối với di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, các tác giả Lê Hồng Lý, Nguyễn Thị Hiền, Đào Thế Đức, Hoàng Cầm trong nghiên cứu 4 trường hợp di sản văn hóa phi vật thể: Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (Phú Thọ), Hội Gióng (Hà Nội), tháp Bà Poh Nagar (Khánh Hòa) và văn hóa cồng chiêng của người Lạch (Lâm Đồng) đã định nghĩa: “Cộng đồng là một tập hợp các chủ thể văn hóa, những người cùng cư trú trong một môi trường tự nhiên cụ thể, chia sẻ bối cảnh kinh tế, xã hội chung, cùng thừa nhận những DSVHPVT nhất định là một phần trong bản sắc văn hóa của họ” [81, tr 21]
Tuy nhiên, đối với trường hợp di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, định nghĩa trên chỉ bao hàm được một bộ phận cộng đồng tại điểm có di tích thờ cúng Hùng Vương và những khu vực không gian ban đầu của Di sản Quá trình di sản hóa đã dẫn tới sự vận động và thay đổi khái niệm cộng đồng Bắt đầu từ những sáng tạo văn hóa ở phạm vi làng, cộng đồng chủ thể chỉ là người dân trong làng Khi làng được mở rộng, các sáng tạo văn hóa cũng theo đó lan tỏa, cộng đồng chủ thể và thực hành di sản sẽ bao gồm nhiều làng ở cùng địa vực Và theo chiều diễn tiến đó,
sự mang chở những giá trị chung về ý thức tự tôn dân tộc, lòng yêu nước đã tạo nên khái niệm một cộng đồng quốc gia - dân tộc Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương gắn với tâm thức của các thế hệ người Việt Họ mang theo niềm tin và sự thực hành tín ngưỡng ấy tới bất cứ nơi nào họ cư trú, dù trong nước hay ngoài nước Trong danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã được xác định “Cộng đồng chủ nhân di sản: Người Việt thờ cúng Hùng Vương như là ông tổ khai sinh của dân tộc - đất nước” Trong trường hợp này, khái niệm cộng đồng quốc gia, dân tộc là phù hợp
hơn Bởi vậy, trong luận án, tác giả sử dụng hai khái niệm sau: (1) Cộng đồng tại chỗ: Cộng đồng địa lý/địa vực + Cộng đồng văn hóa (cộng đồng bản sắc): nhóm
người sinh sống trong cùng một vùng địa lý và có chung một bản sắc, đặc trưng văn
hóa; (2) Cộng đồng mở rộng: là Cộng đồng quốc gia - dân tộc, là hình thức cộng
đồng mang tính tích hợp và phức hợp cao của nhiều dạng thức cộng đồng, trong đó
di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương có giá trị là hạt nhân cốt lõi liên kết cộng
Trang 36đồng này bằng những giá trị tinh thần, biểu tượng, giá trị văn hóa tâm linh, tín ngưỡng [153, tr 24-27]
Trong đó, mỗi cộng đồng có vai trò chung và riêng đối với di sản Cùng là chủ thể sở hữu di sản, song cộng đồng tại chỗ có trách nhiệm và vai trò trực tiếp tham gia hoạt động quản lý cơ sở thờ cúng, các sinh hoạt tín ngưỡng tại địa bàn, cộng đồng mở rộng có vai trò gián tiếp tham gia các hoạt động bảo vệ, phát huy giá trị di sản Tuy nhiên, có những nhiệm vụ mà tất cả mọi thành viên trong cộng đồng đều có quyền và trách nhiệm tham gia, đóng góp Việc xác định rõ khái niệm “cộng đồng” là căn cứ quan trọng trong việc đánh giá vấn đề di sản hóa từ góc nhìn các bên liên quan, trọng tâm là việc xác định giá trị, lợi ích của các bên liên quan tác động đến mục đích di sản hóa và xử lý các vấn đề xung quanh việc quản lý, vận hành di sản Trên cơ sở làm rõ khái niệm “cộng đồng”, các “bên liên quan” trong luận án được phân định thành các nhóm như sau (sơ đồ 1.1):
Sơ đồ 1.1 Các bên liên quan tới di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng
Vương (Nguồn: NCS)
Theo đó, trong luận án, NCS xác định các BLQ chính như sau:
(1) Nhà nước: Trung ương (Chính phủ, Bộ VH-TT&DL & các Bộ, Ngành
liên quan); Địa phương: Chính quyền các cấp (tỉnh, huyện, xã), các ban, ngành, đoàn thể, các cơ quan, đơn vị, …
Trang 37(2) Cộng đồng:
+ Cộng đồng tại chỗ (cư dân địa phương) + Cộng đồng mở rộng (người Việt ở trong, ngoài nước) (3) Chuyên gia, nhà nghiên cứu/cơ sở nghiên cứu, đào tạo (trường đại học, trung tâm, viện nghiên cứu)
(4) UNESCO (5) Tổ chức xã hội (6) Doanh nghiệp (7) Truyền thông Cách phân định này chỉ mang tính tương đối và linh hoạt đối với từng hợp phần
cụ thể của di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương Mỗi thành phần có thể có nhiều vai khác nhau với lợi ích, trách nhiệm và sự tham gia khác nhau Theo đó, trong các nội dung phân tích có thể có sự tách, gộp đối tượng tùy trường hợp
1.2.1.3 Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
Ở Việt Nam nhiều nhà nghiên cứu tín ngưỡng và tôn giáo cho rằng thờ cúng
tổ tiên là một loại hình tín ngưỡng dân gian, là yếu tố thuộc đời sống tinh thần, phản ánh niềm tin của con người vào hệ thống thần linh thông qua lễ nghi thờ cúng, phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc [137] [138] Ở góc tiếp cận này, thờ cúng tổ tiên và thờ cúng Hùng Vương được hiểu là loại hình tín ngưỡng dân gian truyền thống lâu đời, quan trọng và phổ biến ở Việt Nam Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được hình thành trên cơ sở của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên với nền tảng là quan niệm coi trọng, biết ơn các bậc tổ tiên từ gia đình đến dòng họ, đất nước Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương bao gồm niềm tin và sự sáng tạo, những thực hành tín ngưỡng dựa trên hệ thống các hợp phần vật thể và phi vật thể liên quan đến thời đại Hùng Vương và các vua Hùng
Ở góc độ di sản, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương thuộc loại hình DSVHPVT có hình thức thể hiện là “tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội”
được ghi vào danh mục DSVHPVT quốc gia và danh mục DSVHPVT đại diện của nhân loại Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương có sự tích hợp, gắn kết bởi nhiều hợp
Trang 38phần/thành tố vật thể và phi vật thể như: các cơ sở thờ cúng (kiến trúc, hiện vật, không gian), các hình thức thực hành tín ngưỡng (nghi lễ, tập quán thờ cúng, lễ hội), các hình thức tư liệu di sản (thần phả/ngọc phả, sắc phong, sắc chỉ, thần tích, văn bia, câu đối, hoành phi, đại tự), các hình thức văn hóa/văn học dân gian (diễn xướng (hát Xoan), truyền thuyết, truyện cổ thời Hùng Vương)… Sự phân tách các hợp phần di sản cũng chỉ là một thao tác giúp cho việc nghiên cứu, sưu tầm, thống
kê cũng như quản lý di sản được thuận tiện hơn Trên thực tế, các mặt vật thể và phi vật thể luôn gắn quyện chặt chẽ với nhau trong mỗi thành tố của di sản với xuất phát từ tâm thức, ý thức và đặc trưng văn hóa thờ cúng tổ tiên của người Việt
1.2.1.4 Quản lý di sản văn hóa và quản lý nhà nước về DSVHPVT Quản lý di sản văn hóa
Tiếp cận vấn đề nghiên cứu dưới góc nhìn quản lý di sản, luận án sử dụng
khái niệm quản lý di sản văn hóa của các giả Lê Hồng Lý, Dương Văn Sáu và Đặng Hoài Thu (2011) trong Giáo trình Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch:
“Quản lý di sản văn hóa là quá trình theo dõi, định hướng và điều tiết quá trình tồn tại và phát triển của các di sản văn hóa trên một địa bàn cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy tốt nhất giá trị của chúng; đem lại lợi ích to lớn, nhiều mặt, lâu dài cho cộng đồng dân cư chủ nhân của các di sản văn hóa đó” Theo đó, hai mục đích cũng là nội dung cơ bản của hoạt động quản lý di sản văn hóa ở Việt Nam là: (1) Bảo tồn sự phát triển bền vững của kho tàng di sản văn hóa dân tộc trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước; (2) Khai thác ngày càng hiệu quả giá trị của di sản văn hóa, nâng di sản văn hóa dân tộc lên những tầm cao mới [79, tr 56] Quản lý di sản văn hóa là một hình thức, một thực hành quản lý các sản phẩm văn hóa, các nguồn lực văn hóa được đúc kết từ thực tiễn bảo vệ, phục hồi, trao truyền
Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể
Quản lý nhà nước về di sản văn hóa là một nội dung, chức năng được quy định trong Chương V, Luật Di sản văn hóa (2001) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa (2009), cụ thể: Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể bao gồm các công tác chỉ đạo, phối hợp và hỗ trợ cộng đồng
Trang 39thực hiện công tác bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể Nhà nước chỉ đạo, định hướng các công tác hoạch định, ban hành chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách bảo
vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa; huy động các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tổ chức khen thưởng; hợp tác quốc tế; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật
Quản lý di sản văn hóa phi vật thể không đơn giản chỉ có công tác quản lý hành chính, hoạch định các chiến lược, chính sách mà còn phải thực thi những chức năng như chỉ đạo, điều hành, phối hợp và hỗ trợ cộng đồng về nguồn lực (tài chính, nhân lực, vật lực), về kiểm tra giám sát Trong đó, cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra những quy định/quy ước bảo vệ di sản phù hợp với truyền thống văn hóa và bảo đảm tính pháp lý của nhà nước để thực thi các biện pháp bảo
vệ di sản trong cộng đồng một cách tự giác và tự chủ [45, tr 8]
Hai khái niệm trên phù hợp với hướng tiếp cận và mục tiêu của luận án nhằm chỉ ra những vấn đề nảy sinh trong quá trình di sản hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương với tư cách là một DSVHPVT, từ đó có những đóng góp cho công tác bảo
vệ, phát huy di sản nói chung và quản lý, vận hành di sản nói riêng
1.2.2 Các quan điểm và lý thuyết nghiên cứu
1.2.2.1 Quan điểm di sản hóa
Nhà nghiên cứu Oscar Salemink đã trình bày quan điểm về di sản hóa qua nhiều nghiên cứu về di sản và di sản hóa ở Việt Nam ([106], [107], [108], [109], [188], [189]) Quan điểm này có sự khác biệt so với các quan điểm của giới nghiên cứu Âu - Mỹ ở chỗ nhấn mạnh vấn đề tính chính trị và sự can thiệp của nhà nước làm biến đổi chủ thể sở hữu di sản từ cộng đồng sang nhà nước, biến cộng đồng thành người đứng ngoài di sản, kèm theo đó là những tác động tiêu cực khác được tác giả phân tích, luận giải và đưa ra những cảnh báo đối với vấn đề di sản hóa
Thông qua các trường hợp DSVHPVT ở Việt Nam như Hội Gióng, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, tác giả phân tích
về bản chất của di sản hóa và nhấn mạnh về tác động của những chính sách di sản
Trang 40khi sự đầu tư hay “cải tạo” di sản mâu thuẫn với vấn đề bảo tồn Điều đó mang lại đặc quyền đặc lợi cho những đơn vị nhất định hay những mối lợi như du lịch, kinh
tế, chính trị Ông cũng cho rằng khi một thực hành văn hóa được “thánh hóa thành
di sản” thì những người dân địa phương không còn toàn quyền kiểm soát thực hành văn hóa mà trong quá khứ họ tự tổ chức và quản lý Thay vào đó, chính quyền địa phương và quốc gia, cán bộ UNESCO, chuyên gia văn hóa, những người phát triển
du lịch và công chúng rộng hơn từ bên ngoài trở thành “bên liên quan” trong quá trình đánh giá, định giá và bình ổn” [108, tr 492]
Cùng chiều với quan điểm này, nhà nghiên cứu Phan Phương Anh đã bàn luận sâu về vấn đề di sản hóa đối với lễ hội truyền thống, cụ thể là sự tác động đến tính thiêng của lễ hội Tác giả đã đưa ra những luận giải về quan điểm của mình như sau:
Những lễ hội được công nhận rõ ràng là những lễ hội mà bản thân
nó đã có một cộng đồng thực hành rộng lớn Trước hết quá trình tôn vinh di sản thông qua việc kiểm kê, tư liệu hóa, phục dựng phần nào lễ hội bởi cơ quan trung ương có tác động thế nào đến lễ hội?
Sau đó là hệ quả của việc tôn vinh di sản Lễ hội, khi trở thành di sản sẽ là tài sản của thế giới, cần phải được bảo tồn bằng những biện pháp hành chính của nhà nước và điều này rõ ràng là có nguy
cơ tác động đến tính nguyên thức của nó Và cuối cùng, điều gì sẽ xảy ra khi nó sẽ phải vận hành hoặc ít nhất là bị uốn nắn để đáp ứng được các tiêu chí của một di sản thế giới có sự kiểm duyệt của UNESCO [7, tr 34]
Quan điểm di sản hóa của Oscar Salemink đã được tác giả Trần Thị Lan sử dụng
trong luận án Di sản hóa ở Việt Nam: Trường hợp đền Hát Môn, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội Nhằm đóng góp các kết luận khoa học cho vấn đề di sản hóa ở Việt Nam
qua một trường hợp nghiên cứu cụ thể là một di tích và lễ hội vùng châu thổ Bắc Bộ, tác giả luận án đã đưa ra một khái niệm về di sản hóa song nhấn mạnh đến hai giai đoạn trước và sau vinh danh di sản Về kết quả nghiên cứu, tác giả thể hiện sự đồng thuận với quan điểm về di sản hóa của Oscar Salemink khi chỉ ra rằng: “Di sản hóa là một xu