Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng tập quán trong QLXH của các chủ thể có thẩm quyền còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, làm giảm đi hiệu quả tác động của tập quán trong điều chỉnh các quan hệ
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG TẬP QUÁN TRONG QUẢN LÝ XÃ HỘI CỦA NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
Khái niệm và sự cần thiết phải áp dụng tập quán trong quản lý xã hội của Nhà nước
Tập quán là quy phạm xã hội hình thành tự phát trong đời sống cộng đồng, phản ánh sáng tạo của các dân tộc trong quá trình phát triển để điều chỉnh các quan hệ xã hội Đây là loại quy phạm đặc thù và lâu đời nhất, từ thời tiền nhà nước đến xã hội có nhà nước, đóng vai trò quan trọng trong điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Trong giai đoạn tiền nhà nước, tập quán cùng các quy phạm như đạo đức và tín điều tôn giáo đã điều chỉnh hoạt động xã hội Hiện nay, pháp luật vẫn thừa nhận tập quán như một nguồn điều chỉnh các quan hệ xã hội quan trọng trong xã hội Việt Nam.
Tập quán là thuật ngữ có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận, nhưng phổ biến nhất là khái niệm về “thói quen lâu đời trong đời sống” và “thói quen đã thành nếp trong xã hội” Trong ngôn ngữ phổ thông, tập quán được xem là những thói quen mà mọi người đã hình thành từ lâu và tuân theo, góp phần xây dựng nền tảng văn hóa và nếp sống cộng đồng Những thói quen này không chỉ xuất hiện trong đời sống hàng ngày mà còn trong sản xuất và các hoạt động xã hội, được cộng đồng công nhận và làm theo để duy trì trật tự xã hội ổn định.
Trong khoa học pháp lý, tập quán được định nghĩa là những quy tắc xử sự hình thành qua thời gian dài do sự tự phát, trở thành thói quen trong đời sống xã hội hoặc trong các giao lưu quốc tế Những quy tắc này vẫn đang tồn tại và được các chủ thể thừa nhận như là các quy tắc xử sự chung Tập quán pháp có nội dung rõ ràng, dựa trên thói quen, và được cộng đồng nơi tồn tại lấy làm chuẩn mực để điều chỉnh, thực hiện và đánh giá hành vi của các thành viên trong cộng đồng đó.
Dưới góc độ pháp lý, tập quán được định nghĩa trong một số văn bản quy phạm pháp luật, trong đó, theo khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, tập quán được hiểu là “thói quen đã thành nếp trong cộng đồng” Việc xác định tập quán góp phần quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp và phát triển pháp luật, đặc biệt trong những lĩnh vực chưa có quy định rõ ràng bằng văn bản.
7 Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1996), Từ điển tiếng Việt thông dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.1014
8 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, Hà Nội, tr.901
9 Bộ Tư Pháp, Viện Khoa học Pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa - Nxb Tư pháp, tr.693
Tập quán được xác định là những quy tắc xử sự tồn tại rõ ràng, hình thành qua quá trình lặp đi lặp lại trong đời sống xã hội, sản xuất và sinh hoạt hàng ngày, được cộng đồng thừa nhận và áp dụng như một quy ước chung Theo khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tập quán là các quy tắc liên quan đến quyền và nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ dân sự cụ thể, phát triển qua thời gian dài và được áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc hoặc lĩnh vực dân sự Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuyết Mai (2014), tập quán có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay, góp phần điều chỉnh các mối quan hệ dân sự phù hợp với đặc điểm và truyền thống cộng đồng.
Tập quán được hiểu là những thói quen hình thành và tồn tại lâu dài trong đời sống xã hội, được các chủ thể thừa nhận và tuân theo Nó luôn gắn liền với cộng đồng và lĩnh vực đời sống nơi nó hình thành Một thói quen của cộng đồng chỉ được coi là tập quán khi đáp ứng các tiêu chuẩn về tính lặp đi lặp lại, tồn tại trong thời gian dài, được thừa nhận rộng rãi và bao gồm nội dung về quyền và nghĩa vụ của các bên trong mối quan hệ xã hội.
Trong nghiên cứu về tập quán, các thuật ngữ như phong tục, luật tục, hương ước và lệ làng thường xuyên xuất hiện, phản ánh những quy tắc hành xử mang tính thói quen do cộng đồng hình thành Đây đều là những tên gọi khác nhau của các quy tắc điều chỉnh hành vi dân gian dựa trên truyền thống và tập quán địa phương Tuy nhiên, mỗi thuật ngữ có thể mang những ý nghĩa và phạm vi áp dụng riêng biệt, không hoàn toàn đồng nhất trong từng trường hợp.
Trong đời sống, cụm từ “phong tục tập quán” thường được dùng để chỉ chung những thói quen xử sự của cộng đồng, nhưng nhiều nhà nghiên cứu phân biệt hai thuật ngữ này Phong tục được hiểu là những thói quen ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời, được phần lớn mọi người thừa nhận và thực hiện, mang ý nghĩa là các thói quen lan rộng trong cộng đồng Sự liên quan giữa phong tục và tập quán nằm ở chỗ cả hai đều là những thói quen có khả năng thay đổi theo thời gian, phản ánh sự phát triển và biến đổi của xã hội.
Tập quán và phong tục đều ảnh hưởng đến văn hóa cộng đồng, nhưng chúng khác nhau về phạm vi tác động và mức độ ảnh hưởng Tập quán thường có phạm vi hẹp hơn, ảnh hưởng trong phạm vi một bản, làng, huyện hoặc tỉnh, trong khi phong tục có phạm vi rộng hơn, lan tỏa trong một vùng miền hoặc quốc gia Ngoài ra, phong tục thường có sức ảnh hưởng lớn hơn đến đời sống cá nhân so với tập quán, khiến cá nhân khó tránh khỏi sự tác động của các tập quán và phong tục xã hội.
11 Trương Nhật Quang (2020), Pháp luật về hợp đồng - Các vấn đề pháp lý cơ bản, Nxb Dân trí, Hà Nội, tr.113
12 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Lí luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.232
Phong tục Việt Nam chủ yếu liên quan đến văn hóa và dân tộc hơn là các tập quán cụ thể, với phạm vi rộng hơn và bao gồm cả lễ nghi, lễ hội và hành vi tâm linh Trong xã hội Việt Nam, người dân thường ít bị chỉ trích khi sống phù hợp với phong tục hơn là khi sống trái với phong tục đó Phong tục có tính bảo lưu cao, mang tính bảo thủ hơn và chậm thay đổi so với các điều kiện xã hội, đặc biệt là các phong tục liên quan đến tâm linh và lễ nghi Đồng thời, một số ý kiến cho rằng phong tục phản ánh những giá trị văn hóa sâu sắc của dân tộc, góp phần duy trì bản sắc văn hóa trong cộng đồng.
Thuật ngữ "tập quán" khi được sử dụng độc lập thường nhấn mạnh vào tính quy phạm của nó, khác với "phong tục tập quán" thường được hiểu là các truyền thống xã hội Nghiên cứu cho thấy, việc tảo mộ vào cuối năm hoặc đầu năm là một phong tục, và nếu không thực hiện sẽ bị dư luận lên án, trong khi đối với tập quán, việc không làm có thể dẫn đến chế tài từ cộng đồng Do đó, phong tục chứa đựng tập quán, và mặc dù có sự giao thoa, chúng là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất nhưng liên quan mật thiết trong các vấn đề xã hội và truyền thống.
Luật tục là những quy tắc xử sự bắt buộc do cộng đồng làng, xã xây dựng và truyền từ đời này sang đời khác, thường bắt nguồn từ tập quán Có ý kiến cho rằng, luật tục là hình thức phát triển cao của phong tục tập quán và được xem như dạng sơ khai của pháp luật Điểm giống nhau lớn nhất giữa luật tục và tập quán là đều có nội dung rõ ràng, xác định quyền và nghĩa vụ của cộng đồng thành viên Tuy nhiên, luật tục khác với tập quán ở chỗ có tính bắt buộc thực hiện cao hơn, gây áp lực cưỡng chế để mọi cá nhân tuân theo Nội dung của luật tục thường quy định rõ những điều được phép, điều bị cấm và hướng xử lý đối với hành vi vi phạm, nhằm duy trì trật tự và kỷ cương trong cộng đồng.
Giống như luật tục, hương ước cũng có nguồn gốc từ tập quán, được hình
14 Xem: Vương Đằng (2014), Phong tục miền Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr.16 - tr.17
Theo nghiên cứu của Nguyễn Mai Trang (2016), các tập quán đã góp phần điều chỉnh các quan hệ dân sự, thương mại, hôn nhân và gia đình trong cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số Tài liệu Tọa đàm về đánh giá pháp luật và các dạng tập quán điển hình phản ánh tầm quan trọng của các tập quán trong đời sống cộng đồng, đồng thời cho thấy sự kết hợp giữa các tập quán truyền thống và pháp luật hiện hành Việc nghiên cứu này giúp làm rõ vai trò của tập quán trong việc duy trì, bảo vệ và phát triển văn hóa, đồng thời đề xuất các hướng hoàn thiện pháp luật nhằm phù hợp hơn với thực tiễn của các cộng đồng dân tộc thiểu số.
16 Nguyễn Thị Tuyết Mai (2014), tlđd, tr.40
17 Bộ Tư Pháp, Viện Khoa học Pháp lý (2006), tlđd, tr.528
Theo nghiên cứu của Trần Hữu Sơn (1999), tập quán và luật tục đóng vai trò quan trọng trong quản lý nông thôn của một số dân tộc ít người tại Lào Cai, thể hiện mối quan hệ复杂 giữa truyền thống và pháp luật hiện hành Những quy định tập quán này góp phần duy trì trật tự xã hội và phù hợp với đặc điểm văn hóa của cộng đồng địa phương Nghiên cứu còn nhấn mạnh rằng, việc hiểu và vận dụng đúng các tập quán này là cần thiết để xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp, góp phần phát triển bền vững cộng đồng dân tộc thiểu số.
19 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), tlđd, tr.235
20 Nguyễn Mai Trang (2016), tlđd, tr.3 của bài viết
21 Bộ Tư Pháp, Viện Khoa học Pháp lý (2006), tlđd, tr.528
Hương ước được hình thành dựa trên tập quán của mỗi làng và có tính bắt buộc thực hiện đối với các thành viên trong làng, do đó được xem là một hình thức của luật tục Tuy nhiên, hương ước có điểm khác biệt rõ rệt so với luật tục khi chứa đựng các quy định do dân làng đặt ra dựa trên điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng làng, thể hiện sự thỏa thuận và cam kết tự nguyện của các thành viên trong cộng đồng Để kiểm soát và hạn chế sự tự trị của các làng, Nhà nước thường quy định quy trình phê duyệt hương ước, đồng thời bổ sung các quy định liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm của Nhà nước trong quá trình này.
Chủ thể, phạm vi, trường hợp và nguyên tắc áp dụng tập quán trong quản lý xã hội của Nhà nước
1.2.1 Chủ thể áp dụng tập quán trong quản lý xã hội của Nhà nước Áp dụng tập quán trong QLXH của Nhà nước là một hình thức QLXH của Nhà nước Cơ sở pháp lý của việc áp dụng tập quán trong QLXH là các quy định thừa nhận tập quán là một loại nguồn của pháp luật và cho phép áp dụng tập quán để điều chỉnh các quan hệ xã hội Ở Việt Nam, việc thừa nhận tập quán là một loại nguồn của pháp luật và cho phép áp dụng tập quán thuộc về chủ thể thực hiện quyền lập pháp Nói cách khác, Quốc hội là chủ thể tạo lập thể chế cho hoạt động QLXH của Nhà nước nói chung và hoạt động áp dụng tập quán trong QLXH của Nhà nước nói riêng Thông qua hoạt động lập pháp, việc thừa nhận tập quán là một loại nguồn của pháp luật và cho phép áp dụng tập quán được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật khác Sự công nhận này tạo ra địa vị pháp lý vững chắc cho tập quán và việc áp dụng tập quán ở cấp độ quốc gia chứ không chỉ là ở địa phương Trên cơ sở các quy định thừa nhận tập quán là một loại nguồn của pháp luật và cho phép áp dụng tập quán, các chủ thể có thẩm quyền sẽ xem xét áp dụng tập quán để giải quyết các vụ việc cụ thể phát sinh trong đời sống Áp dụng tập quán trong QLXH của Nhà nước là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Do vậy, chủ thể áp dụng tập quán trong QLXH của Nhà nước là các chủ thể có thẩm quyền Các chủ thể này khá đa dạng, trong nhiều trường hợp, chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật cũng chính là chủ thể có thẩm quyền áp dụng tập quán Đối với chủ thể là các CQNN, khi giải quyết các vấn đề liên quan đến quản lí hành chính thì sẽ do UBND các cấp thực hiện việc áp dụng tập quán theo thẩm quyền Chẳng hạn, UBND cấp xã dựa trên tập quán để xác định họ, tên, dân tộc cho trẻ em trong trường hợp cha, mẹ của đứa trẻ đó khác nhau về dân tộc và họ không có thỏa thuận về lựa chọn dân tộc cho con Trong trường hợp các vụ việc phát sinh trong đời sống được đưa ra xét xử tại Tòa án thì Tòa án sẽ là chủ thể áp dụng tập quán BLDS năm 2015 quy định: “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng” 93 , trong trường hợp không có quy định cụ thể điều chỉnh mà quan hệ đó mang tính pháp lý, cần có sự can thiệp của Nhà nước thì thẩm phán áp dụng tập quán, áp dụng tương tự pháp luật, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết 94 Có thể nói, Tòa án vừa là chủ thể có thẩm quyền áp dụng tập quán trong hoạt động xét xử, vừa là chủ thể có nghĩa vụ áp dụng tập quán trong hoạt động xét xử nhằm đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của các chủ thể có liên quan
Ngoài các cơ quan nhà nước, chủ thể áp dụng tập quán bao gồm các tổ chức xã hội và các cá nhân được Nhà nước trao quyền Ví dụ, trong quản lý nhà nước tại địa phương, hòa giải viên và tổ hòa giải cơ sở theo Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 cũng có thể là những chủ thể áp dụng tập quán Theo Nghị định 15/2014/NĐ-, các chủ thể này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và áp dụng các tập quán truyền thống trong giải quyết tranh chấp.
Trong quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở, phạm vi hòa giải rất rộng, từ các mâu thuẫn hàng ngày trong cuộc sống của người dân địa phương đến các hành vi vi phạm pháp luật Khoản 3 Điều 21 của Luật năm 2013 nhấn mạnh rằng, hòa giải viên dựa trên vụ việc cụ thể, quy định của pháp luật, đạo đức xã hội, cùng với phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân để áp dụng các biện pháp thích hợp, giúp các bên hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình, từ đó thống nhất tự nguyện giải quyết tranh chấp Như vậy, hòa giải viên có thể vận dụng phong tục tập quán địa phương để hướng dẫn và hỗ trợ các bên đạt được thỏa thuận, đảm bảo sự tự nguyện và thuận lợi trong giải quyết các tranh chấp.
Việc áp dụng tập quán trong quản lý, xử lý các vấn đề xã hội của Nhà nước Việt Nam hiện nay được tiến hành bởi nhiều chủ thể khác nhau, mỗi chủ thể dựa trên chức năng và nhiệm vụ của mình để thực hiện quyền và trách nhiệm trong việc sử dụng tập quán phù hợp Các chủ thể này có thẩm quyền và phương thức riêng biệt nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội, đảm bảo tính hiệu quả và phù hợp với đặc thù cộng đồng.
1.2.2 Phạm vi áp dụng tập quán trong quản lý xã hội của Nhà nước
Trong quá trình xác định phạm vi áp dụng tập quán trong quy phạm pháp luật của Nhà nước, cần làm rõ các vấn đề cơ bản như xác định không gian và lĩnh vực áp dụng tập quán Việc này giúp đảm bảo sự rõ ràng và phù hợp trong việc áp dụng tập quán pháp lý vào các lĩnh vực cụ thể, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.
Về không gian, đối với tập quán trong nước, xuất phát từ đặc điểm của tập
94 Xem: Khoản 2 Điều 14, Điều 5, Điều 6 BLDS năm 2015
Tập quán là hình thành và tồn tại lâu dài, phản ánh đặc trưng của một cộng đồng xã hội nhất định, chỉ áp dụng tại nơi tập quán đó đã hình thành và phát triển Trong phạm vi quốc tế, tập quán chỉ trở thành nguồn luật khi được pháp luật quốc gia thừa nhận, hoặc thông qua điều ước quốc tế, hoặc theo thỏa thuận của các bên liên quan, miễn là không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Khi được công nhận và lựa chọn áp dụng, tập quán quốc tế có thể điều chỉnh các quan hệ xã hội trên phạm vi nhiều quốc gia Tại Việt Nam, tập quán quốc tế chỉ được thừa nhận trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.
Phạm vi không gian áp dụng tập quán được xác định rõ ràng, song thực tế việc áp dụng tập quán gặp phải nhiều khó khăn và vướng mắc Nguyên nhân chính của những vấn đề này là do hiện tượng xung đột pháp luật xảy ra trong quá trình thực thi tập quán.
Thứ nhất, là xung đột giữa tập quán và các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật
Khi Nhà nước thừa nhận áp dụng tập quán, sẽ dẫn đến việc tồn tại song song hai hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, có thể gây ra mâu thuẫn giữa chúng Một hành vi có thể phù hợp với tập quán nhưng lại vi phạm pháp luật hoặc ngược lại, đặt ra câu hỏi về cách giải quyết khi các hệ thống này xung đột Các bên liên quan có quyền lựa chọn hệ thống pháp luật có lợi nhất cho mình và trong một số trường hợp, tập quán có thể ưu tiên hơn quy định pháp luật khi các bên đã thỏa thuận Việc áp dụng tập quán trong giải quyết tranh chấp phải dựa trên thẩm quyền của cơ quan tự quản cộng đồng hoặc cơ quan nhà nước hoặc cả hai Tại Việt Nam, trong một số quan hệ, các bên có thể thỏa thuận chọn tập quán để điều chỉnh quan hệ của mình, và trong những trường hợp này, tập quán có thể được ưu tiên trước pháp luật, nhưng khi xem xét, các cơ quan có thẩm quyền cần đảm bảo tập quán phù hợp, không vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật và chuẩn mực đạo đức.
Theo Khoản 2, Điều 5 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi xem xét tập quán, nếu tập quán đó đáp ứng các nguyên tắc áp dụng, thì chủ thể có thẩm quyền giải quyết vụ việc cần căn cứ vào tập quán để đưa ra quyết định phù hợp.
Trong trường hợp có xung đột giữa tập quán và pháp luật, quy định pháp luật sẽ được ưu tiên áp dụng, và nếu hành vi không trái với tập quán nhưng trái pháp luật thì vẫn có thể bị xử lý theo pháp luật Chủ thể không có quyền lựa chọn hệ thống pháp luật có lợi hơn cho mình khi hành vi vi phạm pháp luật, dù không vi phạm tập quán Ví dụ, tập quán của một số dân tộc ở Lai Châu cho phép gia súc phá hoại vườn nhà, nhưng khi con trâu trị giá trên 2 triệu đồng bị ông A bắn chết, ông này vẫn bị truy tố về tội hủy hoại tài sản theo quy định của Bộ Luật Hình sự, cho thấy tập quán không thể viện dẫn để miễn trách nhiệm hình sự.
Trong nhiều trường hợp, các hành vi không vi phạm pháp luật vẫn có thể bị cộng đồng áp dụng các biện pháp chế tài nếu vi phạm các tập quán truyền thống Ví dụ, người Dao ở Lai Châu có tập quán cấm đi qua bản khi cần làm lễ, và những ai vi phạm quy tắc này sẽ bị bản phạt Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc tuân thủ các tập quán xã hội trong đời sống cộng đồng.
Trong quá trình công tác, cán bộ vô ý đi vào khu vực không phù hợp dẫn đến việc bị yêu cầu phạt lợn và rượu 99 Tuy nhiên, nếu vụ việc được xử lý tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các yêu cầu của các bên không phù hợp hoặc không có trong quy định pháp luật thường sẽ không được chấp nhận.
Một số quốc gia cho phép người dân chọn hệ thống pháp luật phù hợp nhất với lợi ích của mình, như Indonesia, nơi cá nhân có quyền lựa chọn giữa pháp luật nhà nước và phong tục tập quán khi cả hai đều điều chỉnh cùng một quan hệ pháp lý Nghiên cứu chỉ ra rằng, các đàn ông ở một quận của Indonesia đã tận dụng quyền này để chọn hệ thống pháp luật mang lại lợi ích tối đa cho họ.
Một số quốc gia chấp nhận các tập quán truyền thống kể cả khi chúng mâu thuẫn với pháp luật, tùy thuộc vào mức độ tự chủ của địa phương để quyết định áp dụng tập quán hoặc pháp luật của Nhà nước Ví dụ, khu vực Aceh ở Indonesia công nhận tập quán Shari’ad, trái ngược với các khu vực khác trong cùng quần đảo không công nhận tập quán này (Xem: Phan Nhật Thanh, 2013, tr 34).
98 Xem: Bộ Tư pháp, Viện khoa học pháp lý (2018), tlđd, tr.110
Theo Bộ Tư pháp và Viện khoa học pháp lý (2018), luật tục được áp dụng, trong đó quy định phụ nữ không phải là người thừa kế, đặc biệt là các người phụ nữ trẻ đòi quyền thừa kế theo luật tiểu bang Phần lớn các vụ kiện đã được Tòa án tuyên có lợi cho người phụ nữ, tuy nhiên, nhiều trong số họ phải trải qua thời gian dài để theo đuổi vụ án.
Lựa chọn và công nhận tập quán tạo nguồn để áp dụng trong quản lý xã hội của Nhà nước
lý xã hội của Nhà nước
Việc lựa chọn và công nhận tập quán trong quản lý xã hội có thể được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp Trong nghĩa rộng, đây là hoạt động lập pháp nhằm tạo nguồn bổ sung cho hệ thống pháp luật hiện hành Còn theo nghĩa hẹp, quá trình này là bước trong quy trình áp dụng pháp luật, giúp xác định hiệu quả và phù hợp của tập quán trong xử lý các vấn đề pháp lý Trong nội dung này, chúng tôi tập trung vào nghĩa rộng, coi việc lựa chọn và công nhận tập quán như một hoạt động tạo nguồn pháp luật bổ sung, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước.
1.3.1 Lựa chọn tập quán tạo nguồn để áp dụng trong quản lý xã hội của Nhà nước
Việc lựa chọn và xây dựng danh mục tập quán được áp dụng là bước quan trọng để xác định tính hợp pháp và khả thi của các quy tắc tập quán trong thực tiễn Quá trình này giúp Nhà nước sàng lọc các tập quán phù hợp, gắn thuộc tính pháp lý và tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng tập quán khi cần thiết Hiện tại, ở Việt Nam, công tác này vẫn chưa được thực hiện đầy đủ, do thiếu các danh mục tập quán có hệ thống và cơ sở pháp lý rõ ràng Để xây dựng danh mục tập quán phù hợp, cần xác định rõ các vấn đề cơ bản liên quan đến căn cứ pháp lý, tính phù hợp và khả năng áp dụng của các tập quán đó.
Thứ nhất, xác định chủ thể có thẩm quyền lựa chọn và xây dựng danh mục tập quán được áp dụng
Trên thực tế, việc tập hợp, biên soạn các quy tắc tập quán thành các văn bản
119 Như đã trình bày trong mục 1.3.1, tập quán có thể vừa là nguồn nội dung, vừa là nguồn hình thức của pháp luật
Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi chỉ xem xét tập quán với tư cách là nguồn hình thức của pháp luật, nghĩa là Nhà nước thừa nhận và cho phép áp dụng những tập quán tồn tại trong đời sống xã hội Việc lựa chọn và công nhận tập quán để tạo nguồn pháp luật chỉ được thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền, đại diện nhân danh Nhà nước, nhằm đảm bảo tính hợp pháp và hợp lý trong quá trình xây dựng hệ thống pháp luật quốc gia Kết quả nghiên cứu từ các nhà khảo cổ học, nhà văn hóa, dân tộc học và luật học đều có giá trị và ý nghĩa khác nhau, góp phần hình thành danh mục tập quán phù hợp để áp dụng trong hoạt động quản lý nhà nước.
Việc lựa chọn và xây dựng danh mục tập quán chỉ nên được coi như là bước
Trong quy trình xây dựng pháp luật, "xây dựng dự thảo" là bước đầu để danh mục tập quán chính thức có giá trị pháp lý Để dự thảo này được công nhận, cần phải trải qua các bước tiếp theo như rà soát, thẩm định để đánh giá sự phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cũng như các quy định của pháp luật hiện hành Sau đó, danh mục tập quán sẽ được phê duyệt và chính thức công bố để áp dụng rộng rãi.
Việc xác định chủ thể có thẩm quyền để tập hợp, lựa chọn, xây dựng và công bố danh mục tập quán là vấn đề quan trọng trong quá trình áp dụng tập quán vào Quản lý nhà nước, như quy trình xây dựng pháp luật chung Hiện nay, hệ thống pháp luật vẫn thiếu các quy định cụ thể về người hoặc cơ quan chịu trách nhiệm trong việc xây dựng, rà soát, thẩm định, phê duyệt và công bố danh mục tập quán, chỉ có một số quy định hạn chế trong một số lĩnh vực nhất định Ví dụ, khoản 1 Điều 6 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc xây dựng danh mục các tập quán về hôn nhân và gia đình để trình Hội đồng nhân dân cùng cấp phê duyệt trong vòng 3 năm kể từ ngày Nghị định có hiệu lực Việc giao trách nhiệm này cho UBND cấp tỉnh là hợp lý, nhưng thực tế còn tồn tại các tập quán có phạm vi áp dụng vượt ra ngoài phạm vi tỉnh hoặc thậm chí là toàn quốc, đòi hỏi phải có các quy định rõ ràng hơn về chủ thể có chức năng, nhiệm vụ cụ thể trong việc thực hiện các công việc này.
Thứ hai, xác định sự tồn tại và nguồn chứa đựng tập quán
Các quy tắc tập quán tồn tại dưới dạng thành văn và bất thành văn, với nhiều dị bản khác nhau gây khó khăn trong việc xác định nguồn gốc và phạm vi áp dụng Việc nhận diện và xác định các quy tắc tập quán phức tạp hơn so với các quy phạm pháp luật do tính linh hoạt và đa dạng của chúng.
Việc xác định sự tồn tại của tập quán phải dựa trên các yếu tố nội tại của tập quán, bao gồm yếu tố vật chất (thực tại) và yếu tố tinh thần (ý thức hoặc tâm lý) Các nghiên cứu cho thấy rằng, bất kỳ quy tắc tập quán nào cũng đều chứa đựng hai yếu tố cơ bản này để đảm bảo tính bền vững và khả năng duy trì trong xã hội Đồng quan điểm này, một tác giả nhấn mạnh rằng: "Tập quán không thể tồn tại nếu không có sự phối hợp giữa yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần."
Yếu tố vật chất của tập quán gồm hai thành phần quan trọng: một quy tắc xử sự tồn tại và có không gian cùng thời gian xác định, hình thành trong thực tiễn đời sống Quy tắc này xác định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ, từ đó điều chỉnh hành vi thực tế của họ Nó đã tồn tại trong một thời gian dài, được cộng đồng, nghề nghiệp sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần, ảnh hưởng đến tâm lý chung và sự phù hợp trong việc áp dụng vào thực tiễn.
Yếu tố tinh thần của tập quán bao gồm hai hợp phần không thể thiếu là nhận thức và ý chí Sự tồn tại của quy tắc tập quán trong cộng đồng đòi hỏi mọi thành viên phải nhận thức rõ về các quy tắc này, bao gồm quyền và nghĩa vụ của mình trong các quan hệ được điều chỉnh bởi tập quán Đồng thời, các thành viên trong cộng đồng đều tự nguyện, mong muốn tuân thủ và thực hiện các quy tắc đó Điều này đảm bảo người có quyền nhận biết lợi ích của mình và mong muốn được hưởng, trong khi người có nghĩa vụ nhận thức rõ nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ và coi việc đáp ứng quyền của người khác là trách nhiệm không thể chối bỏ.
Tập quán cần được thể hiện hoặc lưu giữ dưới dạng vật chất để chứng minh sự tồn tại của nó Thường xuyên, tập quán tồn tại qua hình thức truyền miệng và thực hành trong đời sống hàng ngày hoặc được ghi chép thành văn bản Việc xác định sự tồn tại của quy tắc tập quán đòi hỏi phải tìm kiếm các nguồn chứa đựng chúng.
Tập quán xuất hiện ở nhiều nguồn khác nhau, do đó, để tổng hợp các quy tắc tập quán, cần tìm kiếm từ nhiều nguồn phù hợp Các tập quán được văn bản hóa giúp việc xác định và tìm kiếm các quy tắc tập quán trở nên dễ dàng hơn Việc nghiên cứu và tổng hợp các tập quán có vai trò quan trọng trong việc hiểu rõ các quy tắc xã hội và pháp luật liên quan.
Lưu ý rằng không phải tất cả các văn bản, tư liệu ghi chép chứa đựng quy tắc tập quán đều là các tài liệu chuyên về quy tắc tập quán Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân biệt các văn bản để hiểu rõ hơn về các quy tắc tập quán trong từng lĩnh vực cụ thể.
Trong nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Thắng (2015), tập quán giải quyết tranh chấp thương mại tại Việt Nam có thể được phản ánh qua các ghi chép trong các văn bản, tư liệu về văn hóa, xã hội và tộc người Việc xác định và tổng hợp các tập quán này đòi hỏi phải triển khai công tác tìm kiếm cẩn thận và kỹ lưỡng, nhằm đảm bảo phản ánh chính xác đặc trưng của các tập quán thương mại Những tập quán này là nguồn tài liệu quan trọng giúp hiểu rõ hơn về cách thức giải quyết tranh chấp trong cộng đồng, góp phần vào việc xây dựng pháp luật phù hợp với thực tiễn địa phương.
Các quy tắc tập quán được xác định từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm cả những quy tắc chưa được văn bản hóa nhưng tồn tại qua truyền miệng Để xác nhận sự tồn tại của các quy tắc này, có thể hỏi các già làng, trưởng bản, người dân địa phương, các chuyên gia nghiên cứu và sưu tầm tập quán Ngoài ra, các quy tắc tập quán còn được thể hiện trong các phán quyết của Tòa án khi giải quyết các tranh chấp liên quan, giúp làm rõ tính hợp pháp và thực tiễn của chúng trong đời sống cộng đồng.
Phán quyết của Tòa án áp dụng quy tắc của tập quán cũng được xem là tư liệu ghi chép tập quán 121
Các bên có quyền viện dẫn tập quán như một nguồn chứng cứ điều chỉnh quan hệ của mình, đồng thời có nghĩa vụ chứng minh sự tồn tại và nội dung của tập quán đó Theo hướng dẫn của TAND tối cao, để tập quán trở thành chứng cứ trong vụ án, thẩm phán yêu cầu đương sự trình bày rõ nguồn gốc và chứng minh tập quán bằng văn bản xác nhận của cộng đồng và cơ quan có thẩm quyền Nếu không thể chứng minh tính quy ước chung của cộng đồng về tập quán, thì tập quán đó không có giá trị chứng cứ Việc xác nhận tồn tại, liên quan của tập quán với vụ việc và nội dung phù hợp để áp dụng phụ thuộc vào thẩm quyền của cơ quan xác lập và áp dụng tập quán Theo khoản 1 Điều 45 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, các đương sự có quyền viện dẫn tập quán để yêu cầu Tòa án xem xét, và Tòa án có trách nhiệm xác định mức độ phù hợp và giá trị pháp lý của tập quán trong giải quyết vụ việc Trong thực tế xét xử, khi các bên viện dẫn tập quán, Tòa án cần thực hiện đánh giá và xác định chứng cứ từ tập quán đó một cách khách quan và chính xác.
121 Nguyễn Mạnh Thắng (2015), tlđd, tr.84
Quy trình áp dụng tập quán trong giải quyết các vụ việc
Kết quả của hoạt động áp dụng pháp luật ảnh hưởng lớn đến các đối tượng liên quan, mang lại quyền lợi đáng kể hoặc có thể dẫn đến mất quyền và tước đoạt lợi ích Do đó, việc thực hiện hoạt động áp dụng pháp luật đúng đắn và thống nhất là điều hết sức cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể liên quan.
128 Phan Nhật Thanh (Chủ biên) (2017), tlđd, tr.73 - tr.74
Customary law plays a vital role in maintaining social order and harmony within communities, as highlighted by P K Bandyopadhyay The consistent application of legal principles is essential to uphold societal stability, requiring a strict and well-defined legal process Ensuring that customary laws are appropriately integrated into the broader legal framework helps strengthen social cohesion and preserves cultural traditions.
Hoạt động áp dụng pháp luật được thực hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau bởi các chủ thể có thẩm quyền phù hợp Quy trình áp dụng pháp luật phải phù hợp với nội dung và tính chất của từng vụ việc cụ thể Chủ thể có thẩm quyền cần xác định rõ nội dung và đặc điểm của vụ việc để lựa chọn quy trình phù hợp nhằm đảm bảo việc áp dụng pháp luật chính xác và hiệu quả.
Hiện nay, trong giáo trình giảng dạy môn Lí luận chung về nhà nước và pháp luật của nhiều trường đại học ở Việt Nam, quan điểm thống nhất cho rằng quy trình áp dụng pháp luật gồm các giai đoạn liên tiếp như phân tích, đánh giá đúng các tình tiết và điều kiện thực tế, lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp, ra quyết định áp dụng pháp luật, và tổ chức thực hiện quyết định đó Tuy nhiên, quy trình này phù hợp với hoạt động áp dụng quy phạm pháp luật, còn đối với áp dụng tập quán – nguồn bổ sung của pháp luật dựa trên quy tắc từ đời sống – thì quy trình không hoàn toàn giống nhau Quy trình áp dụng tập quán trong hoạt động của Nhà nước mang đặc điểm vừa gần giống, vừa riêng biệt, đòi hỏi các giai đoạn cơ bản của quy trình pháp luật nói chung, đồng thời còn có các giai đoạn đặc thù phù hợp với từng đặc điểm của tập quán.
Hiện nay, quy định về việc áp dụng tập quán còn thiếu sự thống nhất và rõ ràng trong pháp luật Tập quán thường được áp dụng trong những trường hợp pháp luật không đề cập đến; theo đó, nó có thứ tự ưu tiên sau quy phạm pháp luật Tuy nhiên, trong một số quan hệ hợp đồng, thỏa thuận của các bên có thể ưu tiên hơn và cho phép các bên chọn lựa tập quán để điều chỉnh mối quan hệ của mình Do đó, tập quán có thể được ưu tiên áp dụng trước quy phạm pháp luật tùy thuộc vào thỏa thuận của các bên và đặc điểm của từng trường hợp cụ thể.
130 Xem chi tiết tại: Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), tlđd, tr.409 - tr.412; Đại học Quốc gia Hà Nội (2005), tlđd, tr.507 - tr.512
131 Xem chi tiết tại: Nguyễn Thị Hồi (Chủ biên), (2009), tlđd, tr.48 - 58; Nguyễn Minh Đoan, Nguyễn Minh Đức
Trong trường hợp pháp luật không quy định về tập quán, quy trình áp dụng tập quán sẽ trải qua các giai đoạn nhất định theo trật tự tuần tự Quá trình này đảm bảo việc áp dụng tập quán phù hợp và hợp lý, nhất là khi tập quán được xem là nguồn luật bổ sung hoặc thay thế trong hệ thống pháp luật Quy trình này giúp xác định rõ ràng các bước cần thiết để xác lập và vận dụng tập quán trong các tranh chấp pháp lý, phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành và đặc thù của từng địa phương hoặc lĩnh vực.
Giai đoạn 1 trong quá trình xử lý vụ việc là phân tích, đánh giá chính xác các tình tiết, hoàn cảnh và điều kiện thực tế xảy ra, đóng vai trò quyết định đối với việc có hay không triển khai các bước tiếp theo Trong giai đoạn này, cần xác định tính chất pháp lý của vụ việc, chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật, nghiên cứu khách quan và đầy đủ các tình tiết liên quan, cũng như tuân thủ các quy định thủ tục phù hợp với từng loại vụ việc.
Sau khi kết thúc giai đoạn này, cần xác định liệu có còn phù hợp để tiếp tục áp dụng pháp luật đối với trường hợp cụ thể hay không Nếu không cần thiết, chủ thể có thẩm quyền sẽ quyết định chấm dứt việc áp dụng pháp luật Ngược lại, nếu thấy cần thiết và có đủ căn cứ, sẽ chuyển sang giai đoạn 2 để tiếp tục áp dụng pháp luật phù hợp.
Trong giai đoạn 2, việc lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp để áp dụng là bước quan trọng Có hai loại quy phạm pháp luật liên quan đến quyết định áp dụng pháp luật gồm quy phạm nội dung và quy phạm hình thức hoặc quy phạm thủ tục Quy phạm nội dung xác định chính xác nội dung cần áp dụng, trong khi quy phạm hình thức quy định trình tự, thủ tục thực hiện quá trình áp dụng pháp luật Khi chọn lựa quy phạm, cần chú ý đến hiệu lực của quy phạm đó, đảm bảo chọn đúng quy phạm còn hiệu lực Trong trường hợp có sự chồng chéo hoặc mâu thuẫn giữa các quy phạm, việc lựa chọn phải theo nguyên tắc thứ tự ưu tiên áp dụng luật để đảm bảo tính hợp pháp và chính xác của quyết định.
Sau khi lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp, cần làm rõ nội dung và ý nghĩa của quy phạm đó để đảm bảo áp dụng đúng đắn pháp luật Quá trình này giúp xác định chính xác cách thực thi quy phạm pháp luật trong thực tiễn, đồng thời chịu ảnh hưởng lớn từ trình độ và khả năng nhận thức của chủ thể có thẩm quyền áp dụng Việc hiểu rõ nội dung quy phạm pháp luật là bước quan trọng để đảm bảo tính hợp lý và chính xác trong quá trình thực thi pháp luật.
Trong giai đoạn 2, chủ thể có thẩm quyền cần lựa chọn đúng quy phạm pháp luật phù hợp, xác định quy phạm đó còn hiệu lực và phù hợp để áp dụng, đồng thời nhận thức rõ nội dung, tư tưởng của quy phạm được lựa chọn Nếu không tìm thấy quy phạm nào điều chỉnh trực tiếp quan hệ cụ thể cần giải quyết, chủ thể phải cân nhắc các phương án phù hợp để đưa ra quyết định đúng đắn.
132 Nguyễn Thị Hồi (Chủ biên), (2009), tlđd, tr.50 thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật chuyển sang giai đoạn tiếp theo nhằm lựa chọn tập quán để áp dụng
Giai đoạn 3: Lựa chọn tập quán áp dụng để giải quyết vụ việc cụ thể
Hiện nay, việc lựa chọn tập quán áp dụng để giải quyết các vụ việc cụ thể của các chủ thể có thẩm quyền đặt ra các trường hợp:
Trong các văn bản quy phạm pháp luật, tập quán đã được viện dẫn rõ ràng, giúp việc lựa chọn tập quán để áp dụng trở nên thuận lợi hơn Trường hợp này, việc áp dụng tập quán không khác nhiều so với việc áp dụng quy phạm pháp luật, đảm bảo tính linh hoạt và phù hợp với thực tiễn pháp lý.
Tập quán chưa được viện dẫn trong luật, và việc áp dụng tập quán dựa trên nguyên tắc chung về thừa nhận tập quán Trong trường hợp này, việc áp dụng tập quán được chia thành hai trường hợp chính, tùy thuộc vào mức độ phù hợp và rõ ràng của tập quán đó trong lĩnh vực pháp luật.
Tập quán đã được các chủ thể có thẩm quyền lựa chọn và đưa vào danh mục tập quán được áp dụng Việc áp dụng tập quán tại đây tương tự như trường hợp một, nhằm đảm bảo tính pháp lý và phù hợp với quy định Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn thiếu các danh mục tập quán được áp dụng, gây khó khăn trong việc thực thi và áp dụng các tập quán này một cách hiệu quả.
Tập quán chưa được đưa vào danh mục tập quán được áp dụng, đây là trường hợp áp dụng phức tạp nhất Trong tình huống này, chủ thể thẩm quyền cần dựa trên các nguyên tắc chung về thừa nhận và áp dụng tập quán Họ phải chủ động xem xét, đánh giá các tập quán do các bên viện dẫn hoặc tự lựa chọn phù hợp làm căn cứ giải quyết vụ việc, đảm bảo quyền lợi và tính khách quan trong quá trình xét xử.
Tóm lại, ở giai đoạn 3, chủ thể có thẩm quyền cần xác định được các vấn đề: (i)
Các yếu tố tác động đến việc áp dụng tập quán trong quản lý xã hội của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay
của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Việc áp dụng tập quán trong QLXH của Nhà nước chịu sự tác động của nhiều yếu tố, mà cơ bản là các yếu tố sau:
1.5.1 Hệ thống chính sách, pháp luật
Hệ thống chính sách và pháp luật đóng vai trò quyết định trong việc áp dụng tập quán trong quản lý, xây dựng pháp luật của Nhà nước Việc áp dụng pháp luật và tập quán trong quản lý xã hội phải dựa trên cơ sở pháp lý rõ ràng Ở Việt Nam, việc thừa nhận tập quán như một nguồn của pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội là một tư tưởng chỉ đạo của Đảng Nhà nước Việt Nam đã thể chế hóa tập quán thành các quy phạm pháp luật, từ đó tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho hoạt động áp dụng tập quán trong quản lý xã hội.
Ngoài hoạt động xây dựng pháp luật, Nhà nước còn triển khai các chính sách nhằm phát huy các tập quán tốt đẹp và bài trừ các tập quán lạc hậu không phù hợp với giai đoạn hiện nay Các chủ thể có thẩm quyền đã tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền pháp luật và vận động người dân từ bỏ các tập quán lạc hậu như tảo hôn, kết hôn cận huyết, di cư tự do và đốt nương làm rẫy Những hoạt động này bằng nhiều hình thức khác nhau đã góp phần thúc đẩy nhận thức của cộng đồng về việc loại bỏ các tập quán lạc hậu, hướng tới xây dựng đời sống văn hóa tiến bộ và lành mạnh.
1.5.2 Điều kiện kinh tế - xã hội Điều kiện kinh tế - xã hội là yếu tố có tác động không nhỏ đến việc áp dụng tập quán trong QLXH của Nhà nước Thực tiễn cho thấy, trong điều kiện của nền nông nghiệp cổ truyền, các quan hệ kinh tế - xã hội còn đơn giản, diễn ra trong không gian hẹp, chủ thể của các mối quan hệ này thường có mối quan hệ huyết thống, thân tộc, láng giềng với nhau thì tập quán thường được coi trọng và được áp dụng thường xuyên trong đời sống hàng ngày Ngược lại, khi điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, các quan hệ xã hội mở rộng, không còn bó hẹp trong lũy tre làng, sự ràng buộc bởi các quan hệ về huyết thống, thân tộc, làng, xóm trở nên lỏng lẻo hơn thì vai trò của tập quán cũng bị giảm đi Nói cách khác, trong cơ cấu xã hội truyền thống thì tập quán thường được áp dụng phổ biến hơn so với xã hội hiện đại ngày nay
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
1.5.3 Truyền thống văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Trong văn hóa pháp lý của người Việt, nét đặc trưng là truyền thống nặng về tình cảm hơn lý trí, với xu hướng giải quyết mâu thuẫn bằng hòa giải dựa trên nguyên tắc "có tình, có lý" Người Việt ưu tiên tập quán và các quy tắc truyền thống trong việc xử lý tranh chấp, thay vì mang chuyện đến cửa công và dựa vào luật pháp chính thức Tâm lý "vô phúc đáo tụng đình" làm cho việc sử dụng các quy định tập quán trong giải quyết tranh chấp trở thành môi trường thuận lợi cho việc áp dụng tập quán trong pháp luật xử lý của Nhà nước Việt Nam ngày nay.
Tín ngưỡng, tôn giáo là những phần không thể thiếu trong văn hóa và đóng vai trò trung tâm trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Các tín ngưỡng và tôn giáo truyền thống phản ánh đời sống tâm linh phong phú, đa dạng, đồng thời thể hiện giá trị khoan dung, nhân ái và tinh thần đoàn kết toàn dân Dù mỗi tín ngưỡng, tôn giáo có nét đặc trưng riêng, chúng đều chịu ảnh hưởng của truyền thống dân tộc, góp phần tạo nên bức tranh văn hóa đa dạng, phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.
Niềm tin về tín ngưỡng, tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong thế giới quan và ý thức hệ của mỗi người, ảnh hưởng sâu sắc đến cách họ nhìn nhận xã hội và đưa ra các quyết định hàng ngày.
Tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ ảnh hưởng đến nội dung của tập quán mà còn tác động đến cách thức thực hiện chúng Người dân thường áp dụng quy tắc tập quán dựa trên thói quen và niềm tin vào tín ngưỡng, tôn giáo, giúp việc thực hiện mang tính tự nguyện Các quy tắc tập quán phù hợp với tín ngưỡng, tôn giáo thường được người dân giữ gìn và tuân thủ một cách tự nhiên, góp phần duy trì giá trị văn hóa truyền thống.
Trong quá trình hội nhập và giao lưu văn hóa, sự biến đổi của tín ngưỡng, tôn giáo đã tác động đáng kể đến phong tục, tập quán truyền thống của các dân tộc thiểu số, ảnh hưởng đến cấu trúc văn hóa và cách sống của họ Tôn giáo như Tin Lành đã thay đổi rõ rệt lề lối sinh hoạt, lối sống và hành xử của đồng bào, khi nhiều người từ niềm tin đa thần chuyển sang niềm tin độc thần, thúc đẩy các thay đổi tích cực như giảm các hủ tục lạc hậu và nâng cao đời sống Tuy nhiên, bên cạnh đó, sự biến đổi tôn giáo cũng gây ra những tác động tiêu cực như làm mất đi các giá trị truyền thống tốt đẹp, làm giảm sự tham gia vào các lễ hội truyền thống đặc sắc của đồng bào như lễ tạ ơn, lễ Nào Cống, Nào Sồng ở người H’ Mông hay các lễ hội truyền thống khác của các dân tộc Tây Nguyên Quá trình này dẫn đến sự đứt gãy văn hóa, mất dần bản sắc truyền thống trong cộng đồng, đặc biệt khi người dân theo đạo mới thường từ bỏ phong tục và vai trò của các trưởng làng, già làng, gây ra sự xa rời các giá trị văn hóa cốt lõi của tộc người Sự phát triển nhanh của các tôn giáo mới tại vùng nông thôn và khu vực dân tộc thiểu số đã khiến cho việc áp dụng phong tục truyền thống ngày càng giảm sút rõ rệt trong cộng đồng.
1.5.4 Ý thức pháp luật và sự am hiểu tập quán của các chủ thể có thẩm quyền và đội ngũ hành nghề luật Ở Việt Nam hiện nay, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã định hướng, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động áp dụng tập quán Nhưng tập quán có được áp dụng để giải quyết các vụ việc phát sinh trên thực tế hay không phụ thuộc rất lớn vào các chủ thể có thẩm quyền áp dụng tập quán Áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng tập quán nói riêng là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền, nhằm cá biệt hóa các quy tắc xử sự chung thành các quy tắc xử sự mang tính cá biệt Do vậy, để áp dụng đúng đắn pháp luật nói chung, tập quán nói riêng đòi hỏi các chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải là người có ý thức pháp luật tốt
Chủ thể có thẩm quyền trong áp dụng tập quán cần phải hiểu biết rõ hệ thống pháp luật, giúp xác định thẩm quyền, trình tự thủ tục và lựa chọn quy tắc phù hợp để áp dụng Ngoài ra, họ còn cần có kiến thức sâu sắc về tập quán của cộng đồng và lĩnh vực nghề nghiệp để có thể viện dẫn và áp dụng tập quán trong giải quyết các vụ việc cụ thể Việc này đòi hỏi bản lĩnh và thái độ tôn trọng tập quán, vì trong nhiều trường hợp, việc áp dụng tập quán gặp nhiều khó khăn và phức tạp hơn so với quy phạm pháp luật, và nếu thiếu hiểu biết hay thiếu sự tôn trọng, chủ thể có thẩm quyền có thể bỏ qua các tập quán đúng ra có thể giúp giải quyết vụ việc hiệu quả.
Thông qua hoạt động áp dụng tập quán, các chủ thể có thẩm quyền không chỉ sử dụng tập quán để giải quyết các vụ việc phát sinh trong đời sống hàng ngày mà còn có thể duy trì, phát huy những tập quán tốt đẹp và loại bỏ các tập quán không phù hợp Điều này góp phần xây dựng cộng đồng văn minh, ổn định và bền vững Việc áp dụng tập quán đúng đắn còn giúp tăng cường hiệu quả trong công tác quản lý và giải quyết các tranh chấp xã hội, phù hợp với các tiêu chuẩn pháp luật và yêu cầu thực tiễn.