VIỆT NAM LÀ MỘT NƯỚC CHỊU TÁC ĐỘNG NẶNG NỀ CỦA BIÊN ĐỔI KHÍ HẬU . EM HÃY TRÌNH BÀY KHÁI NIỆM BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ CÁC TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN NƯỚC TA, ĐỒNG THỜI ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Thời tiết là tập hợp các trạng thái của các yếu tố khí tượng diễn ra trong khí quyển tại một thời điểm hoặc một khoảng thời gian nhất định, như nắng hay mưa, nóng hay lạnh, ẩm ướt hay khô ráo Các yếu tố này gồm nhiệt độ, độ ẩm, gió, lượng mưa và ánh sáng mặt trời, khi giao thoa tạo nên điều kiện khí quyển cụ thể ở một khu vực Hiểu biết về thời tiết giúp người dân lên kế hoạch cho hoạt động ngoài trời, dự báo thời tiết ngắn hạn và đưa ra quyết định an toàn trong sản xuất, du lịch và cuộc sống hàng ngày Thông tin thời tiết được cập nhật liên tục và phổ biến qua các kênh dự báo, giúp mọi người thích nghi với biến đổi của khí quyển.
Khí hậu là trạng thái trung bình của thời tiết tại một khu vực nhất định, từ tỉnh hoặc quốc gia đến châu lục, được xác định dựa trên chuỗi số liệu dài, có thể từ vài tháng đến hàng triệu năm Theo Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), thời kỳ đánh giá khí hậu phổ biến là 30 năm, nhằm nắm bắt các xu hướng và biến đổi theo thời gian mà các chu kỳ ngắn hạn không phản ánh đầy đủ.
3 : Khái niệm về biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của hệ khí hậu, bao gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển và thạch quyển, diễn ra ở hiện tại và tương lai dưới tác động của các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một khung thời gian được xác định, thường tính theo thập kỷ hoặc hàng triệu năm Sự biến đổi có thể thể hiện dưới dạng sự thay đổi mức nhiệt trung bình hoặc sự dịch chuyển phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình, từ đó làm thay đổi các mẫu thời tiết theo khu vực và toàn cầu Biến đổi khí hậu có thể giới hạn trong một vùng nhất định hoặc xuất hiện trên phạm vi toàn cầu, và bị tác động bởi các yếu tố như biến đổi tự nhiên của hệ khí hậu và tác động của con người, đặc biệt là phát thải khí nhà kính và thay đổi sử dụng đất Việc nhận diện và phân tích biến đổi khí hậu giúp dự báo xu hướng thời tiết trong tương lai, đánh giá các rủi ro môi trường và lên kế hoạch thích ứng cho kinh tế, cộng đồng và cơ sở hạ tầng.
Biến đổi khí hậu là kết quả của sự biến động khí hậu theo thời gian, từ hiện tượng ấm lên đến lạnh đi và các chu kỳ dài hạn Biến đổi khí hậu sẽ mang lại tác động rất lớn đối với sự sống và hoạt động của con người, cũng như với các sinh vật trên Trái đất, làm thay đổi môi trường sống và các nguồn lực mà loài người phụ thuộc vào.
3.2 : Bảng tăng nhiệt độ trung bình năm
Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường (TNMT), trong 50 năm qua (1951-2000) nhiệt độ trung bình năm trên phạm vi cả nước đã tăng khoảng 0,5°C; xu thế này dự báo sẽ tiếp tục ở hầu hết các khu vực của Việt Nam trong thế kỷ 21 Kịch bản biến đổi khí hậu do Bộ TNMT đưa ra cho Việt Nam trong thế kỷ 21 cho thấy mức tăng nhiệt độ được thể hiện trong bảng 1.1.
Bảng 1: Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (oC) so với thời
Vùng Các mốc thời gian của thế kỉ 21
Tây Bắc Bộ 0,5 0,7 1,0 1,3 1,6 1,9 2,1 2,4 2,6 Đông Bắc Bộ 0,5 0,7 1,0 1,2 1,6 1,8 2,1 2,3 2,5 Đồng Bằng
(Nguồn : Bộ Tài Nguyên và Môi Trường 2009)
Theo kịch bản phát thải trung bình (B2), đến cuối thế kỷ 21 nhiệt độ trung bình năm có thể tăng lên ở các khu vực của Việt Nam: Tây Bắc 2,60 C, Đông Bắc 2,50 C, Đồng bằng Bắc Bộ 2,40 C, Bắc Trung Bộ 2,80 C, Nam Trung Bộ 1,90 C, Tây Nguyên 1,60 C và Nam 2,00 C; điều này cho thấy sự khác biệt giữa các vùng và tiềm ẩn tác động đến khí hậu, sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân.
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam là một trong năm nước chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu trong thế kỷ 21 El Niño và La Niña ngày càng tác động mạnh tới Việt Nam, làm gia tăng tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan Biến đổi khí hậu đã khiến bão, lũ và hạn hán trở nên gay gắt hơn, đặc biệt tại khu vực miền núi phía Bắc, và nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển bất thường, trái với quy luật của bão và áp thấp nhiệt đới đã xảy ra ở Việt Nam trong những năm gần đây.
• Lượng mưa: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung bình trong
Trong 9 thập kỷ từ 1911 đến 2000, biến động mưa không thể phân chia thành các giai đoạn rõ rệt và lại khác nhau giữa các vùng Số trận mưa lớn gia tăng theo thời gian, nhưng thời gian mưa lại ngắn đi Điều đáng lưu ý là trong một vài năm gần đây mưa lớn có thể xuất hiện ở bất cứ tháng nào trong năm.
Mực nước biển đang tăng lên theo thời gian, dựa trên số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm tại trạm Cửa Ông và Hòn Dấu Mực nước biển trung bình ở hai trạm này đã tăng khoảng 20 cm, cho thấy xu thế tăng lên phù hợp với diễn biến chung của mực nước biển trên toàn cầu.
4 : Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu
4.1: Nguyên nhân do tự nhiên
+ Quỹ đạo Trái đất thay đổi
Sự thay đổi ở tham số quỹ đạo Trái Đất có thể dẫn đến biến đổi khí hậu toàn cầu Tuy nhiên, các biến đổi này diễn ra khá chậm, nên thời gian để tác động được nhận thấy thường kéo dài.
Hình 1 : Hình ảnh thay đổi của quỹ đạo Trái Đất
+ Thay đổi dòng hải lưu ở đại dương
Khi dòng hải lưu ở đại dương có sự thay đổi sẽ dẫn đến biến đổi khí hậu toàn cầu.
Và biểu hiện cụ thể nhất của nó là nước biển dâng cao.
Sự biến đổi về phát xạ của mặt trời và khả năng hấp thụ bức xạ của Trái đất là động lực chính thúc đẩy biến đổi khí hậu toàn cầu Khi phát xạ của mặt trời yếu đi, lượng nhiệt nhận được sẽ giảm và có thể dẫn đến sự hình thành băng hà Ngược lại, khi phát xạ mặt trời tăng lên, bề mặt Trái đất hấp thụ nhiều bức xạ hơn và sẽ nóng lên, từ đó gây ra những biến đổi khí hậu trên toàn cầu.
Qua các thời kỳ kiến tạo, sự phun trào của núi lửa và sự trôi dạt của các lục địa khiến bề mặt Trái đất liên tục biến đổi và hình thành nên những vùng đất cùng cảnh quan mới Hoạt động núi lửa thải khí và tro bụi vào khí quyển, gây ảnh hưởng tiêu cực đến khí hậu trong nhiều năm và có thể dẫn đến sự thay đổi của thời tiết toàn cầu.
Hình 2 : Hình ảnh núi lửa Etana phun trào
Sông băng được xem là một trong những chỉ số nhạy cảm nhất của biến đổi khí hậu Kích thước và trạng thái của sông băng phụ thuộc vào sự cân bằng giữa lượng tuyết tích tụ và lượng tuyết tan chảy Khi nhiệt độ tăng lên, sông băng có xu hướng lùi và thu hẹp trừ khi lượng tuyết rơi nhiều hơn để bù đắp cho tuyết tan Ngược lại, điều kiện lạnh hơn và lượng tuyết tăng có thể giúp sông băng phục hồi hoặc mở rộng Những diễn biến này cho thấy sông băng phản ánh rõ nhạy cảm của biến đổi khí hậu và vai trò của mưa tuyết trong sự tồn tại của chúng.
Hình 3:Sông băng Baltoro ở Bắc Pakistan, một trong những sông băng dài nhất thế giới
Sông băng mở rộng và thu hẹp do sự thay đổi của thiên nhiên và tác động từ bên ngoài, trong đó nhiệt độ, lượng tuyết rơi và lượng nước tích tụ giữa và dưới lớp băng có thể quyết định sự biến đổi của sông băng theo một khoảng thời gian nhất định Do đặc điểm này, một sông băng được hình thành từ nhiều sông băng nhỏ khác nhau thường mất hàng thế kỷ, hoặc thậm chí lâu hơn, để tan ra dưới tác động của các biến động ngắn hạn ở khu vực Vì vậy, lịch sử sông băng chứa đựng những thông tin liên quan đến biến đổi khí hậu và chu kỳ của hệ sinh thái băng hà.
Hình 4 : Biểu đồ sự suy giảm độ dày của sông băng trên thế giới
Việc thu thập tài liệu theo dõi và đánh giá sông băng trên thế giới bắt đầu từ những năm 1970, ban đầu dựa chủ yếu vào ảnh trên không và bản đồ, nhưng ngày nay phần lớn nhờ dữ liệu từ vệ tinh Quá trình đánh giá kết hợp này được thực hiện bằng cách tích hợp nhiều nguồn dữ liệu và công cụ phân tích khác nhau để theo dõi biến động và xu hướng của các sông băng theo thời gian và khu vực.
THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU HIỆN NAY
1: Thực trạng biến đổi khí hậu Toàn Cầu và Việt nam
1.1.Biến đổi khí hậu toàn cầu
Theo các nghiên cứu khoa học, thủ phạm khiến nhiệt độ Trái Đất tăng và gây hiện tượng băng tan chính là khí nhà kính tồn tại lâu trong khí quyển; từ năm 1990, lượng khí này đã làm tăng 41% tổng bức xạ, yếu tố tạo nên quá trình nóng lên toàn cầu, trong khi khí CO2 chiếm tới 82% lượng bức xạ gia tăng trong thập niên vừa qua Lượng phát thải CO2 đã đạt đến các kỷ lục vào năm 2017 và 2018; riêng năm 2017, nồng độ CO2 trong khí quyển ở mức trung bình toàn cầu 405,5 phần triệu (ppm), cao hơn gần 50% so với mức thời kỳ trước cuộc cách mạng công nghiệp và vẫn tiếp tục tăng Sự gia tăng đột biến nồng độ CO2 khiến Trái Đất không thể hấp thu hết lượng khí thải độc hại này và các khí gây hiệu ứng nhà kính dư thừa, làm nhiệt độ Trái Đất tăng lên và dẫn đến biến đổi khí hậu.
Thực tế cho thấy các hoạt động sống và sản xuất không kiểm soát của con người hiện nay là nguồn phát thải chính các khí gây hiệu ứng nhà kính Các nghiên cứu cho thấy nếu con người tiếp tục khai thác và sử dụng nhiên liệu hóa thạch để phục vụ các lĩnh vực như giao thông, năng lượng và công nghiệp với tốc độ hiện tại, đến năm 2250 nồng độ CO2 trong không khí sẽ tăng lên mức cao chưa từng thấy trong lịch sử.
200 triệu năm qua kể từ kỷ Trias - thời kỳ nóng nhất trong lịch sử Trái Đất với hai cực địa cầu không hề có băng tuyết.
Trong những năm gần đây, nhiều đợt nắng nóng đã lên tới gần 50°C ở Australia và Ấn Độ, trong khi ở các khu vực lạnh như châu Âu, Canada và Mỹ nhiệt độ cũng có thể lên tới khoảng 41°C, khiến nhiều người tử vong Mặc dù Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu năm 2015 kêu gọi giữ mức tăng nhiệt độ Trái Đất dưới ngưỡng 2°C, hiện nay hành tinh đang trên đà nóng lên gấp đôi con số này Các tổ chức khí tượng và môi trường của Liên Hợp Quốc dự báo nhiệt độ toàn cầu có thể tăng thêm từ 3–5°C trong thế kỷ 21, vượt xa mục tiêu hạn chế ở mức 1,5–2°C theo Hiệp định Paris.
Biến đổi khí hậu đang kéo theo rủi ro ngày càng gia tăng đối với sức khỏe, sinh kế, an ninh lương thực, cấp nước, an ninh con người và tăng trưởng kinh tế Nóng lên toàn cầu không chỉ gây nắng nóng đỉnh điểm mà còn đi kèm với cháy rừng, siêu bão và sự tàn phá ở nhiều khu vực như Philippines, Indonesia, Mỹ, Hy Lạp, Thụy Điển và Italy, cùng các đợt phun núi lửa, động đất và sóng thần ở nhiều nước châu Á Năm 2018, khối băng vĩnh cửu ở Bắc Greenland bắt đầu rạn nứt, cho thấy bằng chứng rõ ràng về tác động của biến đổi khí hậu Dự báo đến năm 2100, siêu bão tương tự như Sandy có thể xuất hiện với tần suất cao hơn, đòi hỏi sự chuẩn bị và thích nghi của cộng đồng và các quốc gia.
Biến đổi khí hậu gây ra các điều kiện thời tiết cực đoan đang cản trở nỗ lực xóa đói giảm nghèo và làm suy yếu tiến trình đạt được các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc (LHQ) Các chuyên gia đồng thuận rằng tình trạng này sẽ ngày càng gây ra những tác động phá hoại không thể đảo ngược đối với sự sống và hệ sinh thái trên Trái Đất Để duy trì thành tựu phát triển và bảo đảm an sinh cho cộng đồng, cần tăng cường thích ứng với biến đổi khí hậu và đẩy mạnh giảm phát thải cùng đầu tư cho các giải pháp bền vững.
1.2.Biến đổi khí hậu tại Viêt nam
Việt Nam được xem là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất trước biến đổi khí hậu, nên AFD (Agence Française de Développement) đang triển khai dự án nghiên cứu GEMMES Việt Nam nhằm đánh giá tác động kinh tế - xã hội của biến đổi khí hậu đối với quốc gia và đề xuất các chiến lược thích ứng để đối phó với những thách thức này Dự án GEMMES Việt Nam cung cấp phân tích sâu về hệ quả đối với tăng trưởng kinh tế, việc làm, an sinh xã hội và khả năng phục hồi của các ngành, đồng thời định hình khuôn khổ chính sách và hành động thực thi nhằm tăng cường sự chống chịu của Việt Nam trước biến đổi khí hậu.
Theo đánh giá của GEMMES Việt Nam, nếu mực nước biển dâng thêm 1m, Việt Nam có thể mất tới 5% diện tích đất liền, đặc biệt ở đồng bằng sông Cửu Long, đe dọa an ninh lương thực và tăng trưởng kinh tế; tình trạng nhiệt độ tăng kéo theo hạn hán kéo dài, bão ngày càng mạnh và các hiện tượng xói lở ven sông ven biển, làm phức tạp rủi ro Để ứng phó, Chính phủ Việt Nam đã đưa thích ứng với biến đổi khí hậu vào trọng tâm chiến lược quốc gia, ưu tiên đồng bằng sông Cửu Long và tích hợp vào kế hoạch thích ứng quốc gia, kế hoạch đầu tư năm năm và mười năm cũng như báo cáo đóng góp quốc gia (NDC) TS Etienne Espagne, chuyên gia kinh tế của AFD Paris và trưởng dự án GEMMES Việt Nam, cho biết báo cáo trình lộ trình khí hậu đến năm 2050–2100, với sự ảnh hưởng trên các lĩnh vực nông nghiệp, năng lượng, y tế, năng suất lao động và đổi mới doanh nghiệp, đồng thời cung cấp dữ liệu cho mô hình vĩ mô do GEMMES phát triển để đo lường tác động kinh tế vĩ mô của biến đổi khí hậu với Việt Nam Dựa trên các kịch bản khác nhau, Việt Nam được dự báo thiệt hại GDP ở mức 4,5% khi nhiệt độ tăng 1,5°C và 7% khi tăng 2°C so với thời kỳ tiền công nghiệp, với các giá trị trung vị và xu hướng tác động kinh tế vĩ mô tăng lên gần 30% các tác động trực tiếp lên nhiều lĩnh vực.
2 : Thực trạng biến đổi khí hậu tại tp.Hồ Chí Minh
Nhiệt độ trung bình tại Tp Hồ Chí Minh dao động quanh 26–27°C, với chênh lệch giữa tháng nóng nhất và lạnh nhất chỉ khoảng 4–5°C Trong những năm gần đây, nhiệt độ trung bình hàng năm tăng lên với tốc độ gần gấp đôi so với Đồng bằng sông Cửu Long Sự tăng nhiệt ở Tp Hồ Chí Minh kể từ những năm 1990 trùng với nhịp độ đô thị hóa tăng nhanh của thành phố.
Hiện tượng nóng lên đã diễn ra đáng kể ở TP.Hồ Chí Minh trong 50 năm qua; nhiệt độ trung bình năm trong mùa mưa đã tăng 2°C Dưới tác động của biến đổi khí hậu, nhiệt độ trung bình năm dự kiến sẽ tăng khoảng 1,4°C so với mức nền Dự báo này chưa tính tới các ảnh hưởng địa phương như Hiệu ứng Đảo nhiệt đô thị, vốn có thể đóng góp đáng kể vào mức tăng thực tế và có thể tăng thêm khi quá trình đô thị hóa tiếp tục diễn ra.
TP Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi khoảng 10% tổng số cơn bão đổ bộ vào Việt Nam, và trong những thời điểm bão đi qua, nước dâng cao gây ngập lụt đáng kể cho thành phố; trong 10 năm qua, thiệt hại từ các thảm họa thiên nhiên được ước tính khoảng 202 tỷ đồng.
Ở TP Hồ Chí Minh, bão nhiệt đới hiếm gặp cho tới gần đây, nhưng trong vòng 60 năm qua đã có 12 trận bão nhiệt đới ảnh hưởng nghiêm trọng đến thành phố, trong đó nổi bật là Vae (2006), Linda (1997) và Durian (2006) Những cơn bão này mang theo lượng mưa lớn, làm tăng ngập cục bộ và gây nước dâng dọc theo bờ biển TP Hồ Chí Minh, dẫn đến ngập nghiêm trọng.
TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI VIỆT NAM
VÀ CON NGƯỜI VIỆT NAM
1: Tác động của biến đổi khí hậu đối với kinh tế -xã hội
1.1 Tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp
- Ảnh hưởng nghiêm trọng đến đất sử dụng cho nông nghiệp.
+ Mất diện tích do nước biển dâng
+ Bị tổn thất do các tác động trực tiếp và gián tiếp khác của BĐKH: hạn hán, lũ lụt, sạt lở, hoang mạc hóa…
- BĐKH làm thay đổi tính thích hợp của nền sản xuất nông nghiệp với cơ cấu khí hậu
Việc giảm cường độ lạnh trong mùa đông và kéo dài thời gian nắng nóng làm suy yếu tính phù hợp giữa các tập đoàn cây và làm mất ổn định của cộng đồng thực vật ở các vùng sinh thái khác nhau Sự biến đổi này gây mất cân bằng cạnh tranh nguồn lực, làm cho cấu trúc tầng cây trở nên bất ổn và làm giảm khả năng thích nghi của hệ sinh thái trước biến đổi khí hậu Hậu quả là sự phân bố loài và khả năng phục hồi của rừng bị ảnh hưởng, làm giảm đa dạng sinh học cũng như các chức năng sinh thái thiết yếu như chu trình dưỡng chất, lưu giữ nước và khả năng chống chịu trước thiên tai Vì vậy, nhận diện và quản lý sự mất đồng bộ giữa các tầng thực vật là yếu tố quan trọng để bảo vệ vùng sinh thái và tăng cường tính chịu đựng của hệ sinh thái trước biến đổi môi trường.
Biến đổi khí hậu đang làm chậm quá trình phát triển nền nông nghiệp hiện đại, tập trung vào sản xuất hàng hóa và đa dạng hóa, đồng thời làm biến dạng nền nông nghiệp cổ truyền Ở mức độ nhất định, biến đổi khí hậu làm mất đi một số đặc điểm quan trọng của các vùng nông nghiệp ở phía Bắc.
- Do tác động của BĐKH, thiên tai ngày càng ảnh hưởng nhiều hơn đến sản xuất nông nghiệp
+ Thiên tai chủ yếu đối với sản xuất nông nghiệp ngày càng gia tăng trong bối cảnh BĐKH.
+ Hạn hán song hành với xâm nhập mặn trên các sông lớn và vừa.
- BĐKH gây nhiều khó khăn cho công tác thủy lợi
Khả năng tiêu thoát nước ra biển giảm rõ rệt, mực nước sông dâng cao và đỉnh lũ tăng lên, đe dọa các tuyến đê sông ở các tỉnh phía Bắc cũng như đê bao, bờ bao ở các tỉnh phía Nam.
+ Diện tích ngập úng mở rộng, thời gian ngập úng kéo dài.
Nhu cầu tiêu nước và cấp nước ngày càng tăng ở Việt Nam do biến đổi khí hậu, làm giảm khả năng đáp ứng của nhiều hệ thống thủy lợi và đặt áp lực lên an toàn nguồn nước và công tác quản lý nước Đồng thời, dòng chảy lũ gia tăng có thể vượt quá các thông số thiết kế của hồ, đập, tác động đến an toàn hồ đập và quản lý tài nguyên nước.
1.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến lâm nghiệp
- Biến đổi khí hậu làm suy giảm quỹ đất rừng và diện tích rừng Diện tích rừng ngập mặn ven biển chịu tổn thất to lớn do nước biển dâng; Nguy cơ chuyển dịch diện tích đất lâm nghiệp sang đất dành cho các lĩnh vực kinh tế
- xã hội khác là tác động gián tiếp song có thể coi là tác động lớn nhất đối với sản xuất lâm nghiệp.
- BĐKH làm thay đổi cơ cấu tổ chức rừng Nâng cao nền nhiệt độ, lượng mưa, lượng bốc hơi, gia tăng bão, các cực trị nhiệt độ, cường độ mưa và suy giảm chỉ số ẩm ướt … làm ranh giới giữa khí hậu nhiệt đới và ranh giới nhiệt đới với nền nhiệt độ á nhiệt đới, ôn đới đều dịch chuyển lên cao, tức là về phía đỉnh núi Rừng cây họ dầu mở rộng lên phía Bắc và các đai cao hơn, rừng rụng lá với nhiều cây chịu hạn phát triển mạnh…
Biến đổi khí hậu làm suy giảm chất lượng rừng và làm gia tăng sự xuất hiện của nhiều sâu bệnh mới, thậm chí là các loài ngoại lai gây hại cho hệ sinh thái Quá trình hoang mạc hóa làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng đất và chỉ số ẩm, khiến sinh khối của hầu hết các loại rừng giảm, đặc biệt là rừng sản xuất Số lượng quần thể của các loài động vật rừng và thực vật quý hiếm giảm sút đến mức nguy cơ tuyệt chủng Ở Việt Nam, biến đổi khí hậu và các tác động liên quan làm gia tăng nguy cơ cháy rừng.
Nhiệt độ tăng cao dẫn tới lượng bốc hơi lớn hơn và khô hạn kéo dài với cường độ cao; đồng thời, hoạt động phá rừng làm tăng diện tích dễ cháy, khiến nguy cơ cháy rừng trở nên thường xuyên hơn.
Biến đổi khí hậu gây khó khăn cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học rừng khi các biến động khí hậu và các điều kiện tự nhiên thay đổi liên tục, dẫn đến suy thoái nghiêm trọng hệ sinh thái rừng Điều này làm tăng nguy cơ tuyệt chủng của một số loài và làm mất đi nhiều gen quý hiếm, ảnh hưởng tới khả năng phục hồi và thích nghi của rừng trước các thách thức của môi trường trong tương lai.
1.3 Tác động của biến đổi khí hậu đến thủy sản
Biến đổi khí hậu ảnh hưởng sâu rộng đến môi trường thủy sinh trên biển Nhiệt độ nước biển tăng làm tăng khó khăn cho nơi cư trú của nhiều loài thủy sản, đồng thời đẩy nhanh quá trình khoáng hóa và phân hủy, làm thay đổi nguồn thức ăn và khiến sinh vật tiêu thụ oxy nhiều hơn cho các hoạt động hô hấp và sinh lý khác, từ đó ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng thương phẩm Sự thay đổi của hệ sinh thái biển còn thúc đẩy suy thoái san hô hoặc làm thay đổi quá trình sinh lý, sinh hóa trong mối quan hệ cộng sinh giữa san hô và tảo Biến đổi này còn làm thay đổi vị trí và cường độ dòng triều, các vùng nước trồi, gia tăng tần số và cường độ bão cũng như các yếu tố động lực và các xoáy nước nhỏ Cơn bão mạnh hơn đi kèm mưa lớn khiến nồng độ muối giảm, ảnh hưởng đến sinh thái của một số loài nhuyễn thể.
Biến đổi khí hậu đang làm giảm nhanh lượng oxi hòa tan trong nước nuôi trồng thủy sản, khiến tốc độ sinh trưởng của thủy sinh bị chậm lại và tạo điều kiện bất lợi cho nhiều loài Ở Việt Nam, các biến đổi thủy lý và thủy hoá có thể thay đổi điều kiện sống, ảnh hưởng đến chất lượng sống và nhịp phát triển của thủy sản cũng như nguồn thức ăn tự nhiên của chúng Biến đổi môi trường cũng có thể làm mất nơi sống thích hợp của một số loài thủy sản nước ngọt trong các rừng ngập mặn, và ao hồ nuôi trồng có thể cạn kiệt trước thời kỳ thu hoạch, dẫn đến sản lượng nuôi trồng giảm rõ rệt.
Biến đổi khí hậu tác động đến kinh tế thủy sản bằng cách làm suy giảm sản lượng và chất lượng thủy sản biển cũng như thủy sản nước ngọt, đồng thời ảnh hưởng đến diện tích nuôi trồng và thời gian đánh bắt, làm giảm năng suất khai thác trên biển Chi phí sửa chữa, bảo dưỡng và xây dựng mới bến bãi, cảng cá, ngư cụ và tàu thuyền cũng gia tăng đáng kể để thích ứng với các tác động này.
Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến cơ cấu ngành công nghiệp và đòi hỏi sự chuyển dịch kịp thời phù hợp với mọi biến động tự nhiên cũng như biến động kinh tế - xã hội trong nước và trên thế giới Để đáp ứng, cần cải cách cơ cấu công nghệ theo hướng thay đổi hoặc bổ sung công nghệ nhằm nâng cao hiệu suất năng lượng và giảm tổng lượng phát thải khí nhà kính Đồng thời thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo, tổ chức sản xuất năng lượng từ rác thải, sản xuất năng lượng sinh học và thu hồi nhiệt dư trong các nhà máy như xi măng và nhà máy thủy điện.
1.4 Tác động của biến đổi khí hậu đến công nghiệp
Biến đổi khí hậu ảnh hưởng nghiêm trọng đến cơ cấu công nghiệp theo lãnh thổ khi hầu hết khu công nghiệp tập trung ở đồng bằng thấp trũng dễ bị tổn thương trước nguy cơ nước biển dâng; vùng nguyên liệu công nghiệp cũng sẽ có thay đổi về quy mô sản xuất và lượng sản phẩm Vì vậy, cần thiết phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu theo lãnh thổ trong quy hoạch lâu dài của các ngành công nghiệp để tăng tính thích ứng và bền vững cho sự phát triển kinh tế tương lai.
Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng đến một số ngành công nghiệp trọng điểm của nền kinh tế Việc khai thác than antraxit ở Quảng Ninh và triển vọng khai thác than nâu ở đồng bằng sông Hồng ngày càng đối mặt với nhiều khó khăn hơn Khai thác dầu khí tại các bể trầm tích chứa dầu ngoài thềm lục địa và hoạt động lọc hóa dầu sẽ phải đối mặt với chi phí tăng lên do vận hành, bảo dưỡng và duy tu máy móc, phương tiện Ngành chế biến lương thực, thực phẩm cũng gặp nhiều thách thức trong quá trình chế biến sản phẩm nông sản, chăn nuôi và hải sản.
2 : Tác động của biến đổi khí hậu đối với kinh tế - xã hội ở TP.Hồ Chí Minh
GIẢI PHÁP VÀ NÂNG CAO
Mục tiêu nghiên cứu
Biến đổi khí hậu trên toàn quốc, đặc biệt tại TP.Hồ Chí Minh, đang cho thấy những tác hại nghiêm trọng của ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng sâu rộng đến sức khỏe, đời sống, hạ tầng và nền kinh tế địa phương Bài viết phân tích thực trạng và những hiện tượng tiêu biểu như ngập lụt gia tăng, nhiệt độ tăng và chất lượng không khí xuống cấp, qua đó làm rõ tác động của biến đổi khí hậu lên đô thị và sinh hoạt hàng ngày Đồng thời, nội dung đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục ô nhiễm môi trường và tăng cường khả năng thích ứng, bao gồm giảm phát thải, quản lý chất thải, cải thiện hệ thống thoát nước và mở rộng cây xanh đô thị, đẩy mạnh chuyển đổi sang năng lượng sạch Bài viết nhấn mạnh sự phối hợp giữa nhà nước, doanh nghiệp và người dân để triển khai các chiến lược phát triển bền vững và bảo đảm an ninh môi trường cho TP.Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung Các từ khóa SEO được tích hợp như Biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, TP.Hồ Chí Minh, giải pháp thích ứng, giảm phát thải và phát triển bền vững nhằm tăng khả năng tìm thấy và tiếp cận thông tin của người đọc.
Biến Đổi Khí Hậu tại TP.Hồ Chí Minh,Cả nước,Một số nước trên Thế Giới chịu ảnh hưởng của Biến Đổi Khí Hậu.
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Thời tiết là tập hợp các trạng thái của các yếu tố khí tượng diễn ra trong khí quyển tại một thời điểm hoặc một khoảng thời gian nhất định Nó được thể hiện qua các hiện tượng như nắng hoặc mưa, nóng hoặc lạnh, ẩm thấp hoặc khô ráo và chịu tác động của nhiệt độ, độ ẩm và gió Thời tiết ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của con người, từ đời sống hàng ngày đến các hoạt động ngoài trời và sản xuất, và có thể thay đổi nhanh chóng theo thời gian.
Khí hậu là trạng thái trung bình của thời tiết tại một khu vực nhất định — như một tỉnh, một quốc gia hoặc một châu lục — được xác định dựa trên chuỗi số liệu dài hạn và thường tính trên chu kỳ 30 năm theo chuẩn của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) Khái niệm này cho thấy xu hướng và biến đổi dài hạn của các yếu tố thời tiết như nhiệt độ, lượng mưa, gió và độ ẩm ở khu vực đó, khác với biến đổi ngắn hạn của thời tiết hàng ngày hoặc hàng tháng.
3 : Khái niệm về biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển và thạch quyển (hiện tại và tương lai) do các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo gây ra trong một giai đoạn được tính bằng thập kỷ hoặc hàng triệu năm Sự biến đổi có thể thể hiện ở việc thay đổi mức trung bình của thời tiết hoặc sự phân bố của các sự kiện thời tiết quanh mức trung bình Biến đổi khí hậu có thể giới hạn ở một vùng nhất định hoặc diễn ra trên phạm vi toàn cầu.
Ví dụ cho thấy sự ấm lên, lạnh đi và các biến động khí hậu dài hạn có thể dẫn đến biến đổi khí hậu (BĐKH) BĐKH sẽ có tác động rất lớn đến sự sống và hoạt động của con người nói riêng, cũng như tới mọi sinh vật trên Trái đất nói chung.
3.2 : Bảng tăng nhiệt độ trung bình năm
Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường (TNMT), trong 50 năm qua (1951-2000) nhiệt độ trung bình năm trên phạm vi cả nước Việt Nam đã tăng khoảng 0,5°C, và xu thế tăng nhiệt được dự báo tiếp tục ở hầu hết các khu vực trong thế kỷ 21 Kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ TNMT cho thấy mức tăng nhiệt độ tại Việt Nam trong thế kỷ 21 như sau (bảng 1.1). -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.
Bảng 1: Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (oC) so với thời
Vùng Các mốc thời gian của thế kỉ 21
Tây Bắc Bộ 0,5 0,7 1,0 1,3 1,6 1,9 2,1 2,4 2,6 Đông Bắc Bộ 0,5 0,7 1,0 1,2 1,6 1,8 2,1 2,3 2,5 Đồng Bằng
(Nguồn : Bộ Tài Nguyên và Môi Trường 2009)
Theo kịch bản phát thải trung bình (B2), vào cuối thế kỷ 21 nhiệt độ trung bình năm có thể tăng ở các vùng: Tây Bắc 2,60°C, Đông Bắc 2,50°C, Đồng bằng Bắc Bộ 2,40°C, Bắc Trung Bộ 2,80°C, Nam Trung Bộ 1,90°C, Tây Nguyên 1,60°C và Nam Bộ 2,00°C.
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam là một trong năm nước chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu trong thế kỷ 21 Các hiện tượng El Niño và La Niña ngày càng tác động mạnh mẽ đến Việt Nam, khiến bão, lũ và hạn hán diễn ra gay gắt hơn, đặc biệt tại khu vực miền núi phía Bắc và các vùng chịu ảnh hưởng nặng nề Biến đổi khí hậu đã và đang làm tăng tần suất và cường độ của thiên tai, đồng thời xuất hiện nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển bất thường và sự hình thành của áp thấp nhiệt đới, khiến tình hình thiên tai ở Việt Nam ngày càng phức tạp và khó lường trong những năm gần đây.
• Lượng mưa: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung bình trong
9 thập kỷ vừa qua (1911–2000) không theo một khuynh hướng nhất quán giữa các thời kỳ và vùng miền; có giai đoạn tăng lên nhưng cũng có giai đoạn giảm xuống, số trận mưa lớn diễn ra ngày càng nhiều nhưng thời gian mưa lại ngắn đi Đáng chú ý là trong một vài năm gần đây mưa lớn có thể xuất hiện ở bất cứ tháng nào trong năm.
Mực nước biển tăng trung bình khoảng 20 cm trong vòng 50 năm quan trắc tại hai trạm Cửa Ông và Hòn Dấu, phù hợp với xu thế chung của toàn cầu.
4 : Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu
4.1: Nguyên nhân do tự nhiên
+ Quỹ đạo Trái đất thay đổi
Việc thay đổi tham số quỹ đạo của Trái Đất có thể dẫn đến biến đổi khí hậu toàn cầu, vì những biến động này ảnh hưởng đến lượng bức xạ mặt trời nhận được và sự phân bố nhiệt trên hành tinh Tuy nhiên, sự thay đổi chuyển động của Trái Đất diễn ra khá chậm, do đó thời gian tác động ít hơn.
Hình 1 : Hình ảnh thay đổi của quỹ đạo Trái Đất
+ Thay đổi dòng hải lưu ở đại dương
Khi dòng hải lưu ở đại dương có sự thay đổi sẽ dẫn đến biến đổi khí hậu toàn cầu.
Và biểu hiện cụ thể nhất của nó là nước biển dâng cao.
Biến đổi khí hậu toàn cầu bắt nguồn từ sự thay đổi về phát xạ của mặt trời và khả năng hấp thụ bức xạ của Trái Đất Khi phát xạ từ mặt trời yếu đi, lượng năng lượng mặt trời đến Trái Đất giảm và bề mặt cùng lớp băng bị lạnh đi, dẫn đến sự hình thành và mở rộng băng hà Ngược lại, khi phát xạ mặt trời tăng lên, lượng bức xạ nhận được tại bề mặt Trái Đất tăng và nhiệt độ bề mặt tăng, gây ra sự biến đổi khí hậu ở quy mô toàn cầu và ảnh hưởng đến thời tiết, nguồn nước, mực nước biển và hệ sinh thái.
Qua các thời kỳ kiến tạo, hoạt động phun trào núi lửa và sự trôi dạt của các lục địa khiến bề mặt Trái Đất biến đổi không ngừng Những hiện tượng này vừa thay đổi địa hình vừa sinh ra khí và tro từ núi lửa, gây ảnh hưởng tiêu cực đến khí hậu trong nhiều năm.
Hình 2 : Hình ảnh núi lửa Etana phun trào
Biến đổi khí hậu khiến sông băng được xem là một trong những đối tượng dự báo nhạy cảm nhất Kích thước của sông băng phụ thuộc vào sự cân bằng giữa lượng tuyết bổ sung từ tuyết rơi và lượng tuyết tan ra do nhiệt độ tăng Khi nhiệt độ ấm lên, chiều dài và thể tích của sông băng có xu hướng lùi dần, trừ khi lượng tuyết rơi nhiều hơn để bù đắp cho lượng băng bị tan chảy; ngược lại, khi nhiệt độ giảm hoặc tuyết tích tụ nhiều hơn, sông băng có thể duy trì hoặc mở rộng.
Hình 3:Sông băng Baltoro ở Bắc Pakistan, một trong những sông băng dài nhất thế giới
Sông băng mở rộng và thu hẹp do sự thay đổi của tự nhiên lẫn tác động từ bên ngoài Sự biến đổi về nhiệt độ, lượng tuyết rơi và lượng nước nằm giữa và dưới lớp băng có thể quyết định quá trình biến đổi của sông băng trong một khoảng thời gian nhất định Vì sông băng hình thành từ nhiều sông băng nhỏ, quá trình tan chảy sẽ diễn ra từ từ và có thể mất trung bình hàng thế kỉ hoặc lâu hơn dưới tác động của biến đổi ngắn hạn ở vùng Do đó, lịch sử sông băng chứa đựng những thông tin liên quan đến biến đổi khí hậu.
Hình 4 : Biểu đồ sự suy giảm độ dày của sông băng trên thế giới
Biểu hiện của Biến đổi khí hậu
+ Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng cao
Biểu hiện nổi bật của biến đổi khí hậu trên toàn cầu là nhiệt độ trung bình tăng lên, kéo theo sự nóng lên của Trái đất Theo nghiên cứu của các chuyên gia, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng khoảng 1.2–1.3 độ C so với mức tại thời kỳ tiền công nghiệp, cho thấy xu hướng nóng lên toàn cầu đang diễn ra và ảnh hưởng đến khí hậu ở nhiều khu vực.
+ Hạn hán xuất hiện nhiều nơi trên Trái Đất
Hạn hán đang gia tăng ở nhiều vùng trên thế giới, đe dọa sự sống của con người và hệ sinh thái Biểu hiện rõ nhất của hiện tượng này tập trung ở Tây Úc, Hoa Kỳ và các khu vực tại châu Âu, cho thấy tác động của biến đổi khí hậu và khan hiếm nước đang ngày càng nghiêm trọng.
Hình 6 :Hạn hán nghiêm trọng đối với người dân AutraliA
+ Lượng mưa tăng giảm thất thường
Biến đổi khí hậu toàn cầu thể hiện qua sự biến động thất thường của lượng mưa, khiến mưa không còn theo quy luật mùa màng mà xuất hiện ở thời điểm trái vụ Mưa trái mùa ngày càng phổ biến, làm gia tăng rủi ro ngập lụt và gây thiệt hại cho đời sống, sản xuất và sinh kế của người dân Các hiện tượng mưa bất thường và lũ lụt kéo theo yêu cầu cấp bách về ứng phó và thích ứng thông qua quản lý nước hiệu quả, quy hoạch đô thị an toàn, cũng như các giải pháp bền vững để bảo vệ cộng đồng trước biến đổi khí hậu.
+ Mực nước biển dâng cao, axit hóa đại dương
Khi Trái đất tiếp tục ấm lên do biến đổi khí hậu, lượng băng ở hai cực đang dần tan chảy, đẩy mực nước biển dâng cao và có thể gây ngập úng cho các khu vực ven biển và đô thị thấp Đồng thời, sự gia tăng khí CO2 từ các hoạt động của con người làm nồng độ axit trong đại dương tăng lên, dẫn tới hiện tượng axit hóa đại dương và ảnh hưởng đến hệ sinh thái biển Hai hiện tượng này tương tác với nhau, đặt ra thách thức lớn cho an ninh lương thực, nguồn hải sản và sự cân bằng của đại dương, đồng thời nhấn mạnh nhu cầu giảm phát thải và thích nghi với biến đổi khí hậu.
+ Liên tục xuất hiện các hiện tượng thời tiết cực đoan
Các hiện tượng thời tiết cực đoan như lốc xoáy, bão lớn và mưa đá đang gia tăng theo từng năm, là bằng chứng cho biến đổi khí hậu đang diễn ra trên toàn cầu Sự gia tăng này ảnh hưởng đến an toàn của cộng đồng, kinh tế và môi trường ở khắp nơi trên thế giới và nhấn mạnh sự cấp thiết của việc ứng phó, thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu.
6 : Một số công ước và nghị định về Biến Đổi khí hậu toàn cầu
1) Công văn số 1357/CP-QHQT ngày 13 tháng 11 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ giao Tổng cục KTTV (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) làm cơ quan đầu mối của Chính phủ Việt Nam tham gia và thực hiện Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu và Nghị định thư Kyoto
2) Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu đã được Chính phủ Việt Nam phê chuẩn ngày 16 tháng 11 năm 1994; Nghị định thư Kyoto được phê chuẩn ngày 25 tháng 9 năm 2002 Từ tháng 2 năm 1995, Việt Nam chính thức trở thành một Bên không thuộc Phụ lục I của Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu;
3) Luật bảo vệ Môi trường năm 2005 nêu rõ: Chính phủ Việt Nam sẵn sàng thực hiện các cam kết và nghĩa vụ quốc tế về bảo vệ môi trường mà Việt Nam đã ký;
4) Chỉ thị số 35/2005/CT-TTg ngày 17/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực hiện Nghị định thư Kyoto thuộc Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu tại Việt Nam;
5) Quyết định số 47/2007/QĐ-TTg ngày 06 tháng 4 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường và các bộ, ngành, địa phương có liên quan thực hiện Nghị định thư Kyoto và Cơ chế phát triển sạch;
6) Nghị quyết số 60/2007/NQ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ giao
Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU HIỆN NAY
Thực trạng biến đổi khí hậu Toàn Cầu và Việt nam
1.1.Biến đổi khí hậu toàn cầu
Theo các nghiên cứu khoa học, khí nhà kính tồn tại lâu dài trong khí quyển là nguyên nhân làm tăng nhiệt trên Trái Đất, gây băng tan và làm nóng các đại dương Từ năm 1990, lượng khí nhà kính đã làm gia tăng 41% tổng bức xạ tới Trái Đất, yếu tố chủ đạo cho quá trình nóng lên toàn cầu Trong đó, khí CO2 chiếm 82% lượng bức xạ gia tăng trong thập kỷ vừa qua Lưu lượng phát thải CO2 đạt kỷ lục vào năm 2017 và 2018 Riêng năm 2017, nồng độ CO2 trong khí quyển ở mức trung bình toàn cầu là 405,5 ppm, cao hơn gần 50% so với mức trước khi diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp và vẫn tiếp tục tăng Sự gia tăng đột biến nồng độ CO2 khiến Trái Đất không thể hấp thụ hết lượng khí thải này, các khí gây hiệu ứng nhà kính khác tồn dư trong khí quyển đã đẩy nhiệt độ toàn cầu lên và dẫn tới biến đổi khí hậu.
Thực tế cho thấy, các hoạt động sinh sống và sản xuất không kiểm soát của con người hiện nay là nguồn phát thải chính các khí gây hiệu ứng nhà kính Các nghiên cứu cho thấy nếu con người tiếp tục khai thác và sử dụng nhiên liệu hóa thạch cho các lĩnh vực như giao thông, năng lượng và công nghiệp với tốc độ hiện tại, nồng độ CO2 trong không khí sẽ tăng lên ở mức cao chưa từng thấy vào năm 2250.
200 triệu năm qua kể từ kỷ Trias - thời kỳ nóng nhất trong lịch sử Trái Đất với hai cực địa cầu không hề có băng tuyết.
Trong những năm gần đây, con người đã chứng kiến các đợt nắng nóng đỉnh điểm đến gần 50 độ C ở Australia, Ấn Độ hay lên tới 41 độ C ở những xứ lạnh như châu Âu, Canada và Mỹ làm nhiều người tử vong Mặc dù hiệp định Paris về biến đổi khí hậu năm 2015 kêu gọi giữ mức tăng nhiệt độ Trái Đất dưới ngưỡng 2 độ C, nhưng hành tinh của chúng ta hiện đang trên đà nóng lên gấp đôi con số này Các tổ chức khí tượng và môi trường của LHQ dự báo nhiệt độ toàn cầu có thể tăng thêm từ 3-5 độ C trong thế kỷ XXI, vượt xa so với mục tiêu hạn chế ở mức 1,5 - 2 độ C theo Hiệp định Paris.
Sự nóng lên toàn cầu cũng kéo theo rủi ro ngày càng gia tăng liên quan đến khí hậu đối với sức khỏe, sinh kế, an ninh lương thực, cấp nước, an ninh con người và tăng trưởng kinh tế Không chỉ đối mặt với các đợt nắng nóng đỉnh điểm gây thiệt hại về người, thế giới cũng xảy ra các vụ cháy rừng gây thiệt hại nặng nề, hay những trận siêu bão có sức tàn phá lớn biến mọi thứ trở thành hoang tàn ở Philippines, Indonesia hoặc những đợt cháy rừng khủng khiếp tàn phá Mỹ, Hy Lạp, Thụy Điển, Italy…, và cả những đợt núi lửa phun trào, động đất, sóng thần ở nhiều nước châu Á… Năm 2018, lần đầu tiên khối băng dày vĩnh cửu tại miền Bắc Greenland bắt đầu rạn nứt Dự báo đến năm 2100, những trận siêu bão như Sandy ở Mỹ sẽ lặp lại với tần suất thường xuyên hơn, có thể tới
Các hiện tượng thời tiết cực đoan do biến đổi khí hậu gây ra đang cản trở nỗ lực xóa đói giảm nghèo và làm xói mòn thành tựu đạt được trên lộ trình thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc Đáng lo ngại hơn, các chuyên gia đồng ý rằng biến đổi khí hậu sẽ ngày càng gây ra những tác động phá hủy không thể đảo ngược đối với sự sống trên Trái Đất.
1.2.Biến đổi khí hậu tại Viêt nam
Việt Nam được xem là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất trước biến đổi khí hậu, và AFD (Cơ quan Phát triển Pháp) đang triển khai dự án GEMMES Việt Nam để đánh giá tác động kinh tế xã hội của biến đổi khí hậu và đề xuất các chiến lược thích ứng hiệu quả Dự án nhằm cung cấp bằng chứng chặt chẽ và khuyến nghị cụ thể để Việt Nam có thể đối mặt với các tác động của biến đổi khí hậu một cách bền vững, giảm thiểu rủi ro và bảo đảm tăng trưởng kinh tế xã hội Thông qua GEMMES Việt Nam, Việt Nam có thêm công cụ để lập kế hoạch thích ứng và tăng cường khả năng chuẩn bị đối phó với các biến động khí hậu trong tương lai.
GEMMES Việt Nam cho biết theo kịch bản nước biển dâng thêm 1m, Việt Nam có thể mất khoảng 5% diện tích đất liền, đặc biệt ở đồng bằng sông Cửu Long, đe dọa an ninh lương thực và kinh tế; tình trạng nhiệt độ tăng làm gia tăng hạn hán, bão và các hiện tượng xói lở ven sông, ven biển ngày càng phức tạp như sụt lún, và đây là vấn đề lo ngại lớn Do vậy, Chính phủ Việt Nam đã đưa thích ứng với biến đổi khí hậu vào trọng tâm chiến lược quốc gia, tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long và trong kế hoạch thích ứng quốc gia, kế hoạch đầu tư mang tính chiến lược 5 và 10 năm, cùng khuôn khổ báo cáo đóng góp quốc gia (NDC) TS Etienne Espagne, chuyên gia kinh tế của AFD Paris, Trưởng dự án GEMMES Việt Nam, cho biết báo cáo trình bày lộ trình khí hậu với tầm nhìn đến 2050 và 2100, phù hợp với nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, năng lượng, y tế, năng suất lao động và đổi mới doanh nghiệp, đồng thời cung cấp dữ liệu cho mô hình vĩ mô của GEMMES để đo lường các tác động kinh tế vĩ mô cho quốc gia Đối với Việt Nam, báo cáo dự báo khi nhiệt độ tăng lên 1,5°C so với thời kỳ tiền công nghiệp GDP có thể thiệt hại 4,5%, và ở mức tăng 2°C, thiệt hại là 7%; đây là các giá trị trung vị dựa trên các kịch bản khí hậu có độ biến động lớn, và các tác động kinh tế vĩ mô cũng có xu hướng làm tăng gần 30% tác động trực tiếp lên các lĩnh vực khác nhau.
2 : Thực trạng biến đổi khí hậu tại tp.Hồ Chí Minh
Nhiệt độ trung bình TP Hồ Chí Minh dao động quanh 26–27°C, với sự chênh lệch giữa tháng nóng nhất và lạnh nhất chỉ khoảng 4–5°C Trong vài năm gần đây, nhiệt độ trung bình hàng năm ở TP Hồ Chí Minh đã tăng lên với tốc độ gần gấp đôi so với Đồng bằng sông Cửu Long Sự tăng nhiệt ở TP Hồ Chí Minh bắt nguồn từ những năm 1990 và trùng với quá trình đô thị hóa tăng tốc tại thành phố Những diễn biến này cho thấy tác động của biến đổi khí hậu và đô thị hóa đến điều kiện nhiệt độ và chất lượng sống của người dân TP Hồ Chí Minh.
Ở TP Hồ Chí Minh, sự nóng lên đáng kể đã diễn ra khi nhiệt độ trung bình năm của mùa mưa tăng khoảng 2°C trong vòng 50 năm qua Với biến đổi khí hậu toàn cầu, nhiệt độ trung bình năm được dự báo sẽ tăng khoảng 1.4°C so với mức nền, nhưng dự báo này chưa tính đến các tác động địa phương như Hiệu ứng Đảo nhiệt đô thị, có thể đóng góp đáng kể cho mức nhiệt cao hơn thực tế và có thể tăng thêm khi quá trình đô thị hóa tiếp tục diễn ra.
TP Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng của khoảng 10% số cơn bão đổ bộ vào Việt Nam trong các đợt bão có nước dâng cao, khiến ngập lụt đáng kể tại nhiều khu vực Nước dâng từ bão gây ra ngập lụt nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân và hạ tầng của thành phố Trong 10 năm qua, thiệt hại từ các thảm họa tự nhiên ước tính khoảng 202 tỷ đồng.
Các cơn bão nhiệt đới từng hiếm gặp ở TP Hồ Chí Minh cho đến gần đây, nhưng trong vòng 60 năm qua đã ghi nhận 12 trận bão ảnh hưởng nghiêm trọng đến khu vực, bao gồm Vae (2006), Linda (1997) và Durian (2006) Những cơn bão này mang lượng mưa lớn, làm tăng ngập cục bộ và nước dâng ven biển, gây ngập lụt nghiêm trọng cho TP Hồ Chí Minh.
CHƯƠNG 3 : TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN MÔI TRƯỜNG
VÀ CON NGƯỜI VIỆT NAM
Tác động của biến đổi khí hậu đối với kinh tế -xã hội
1.1 Tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp
- Ảnh hưởng nghiêm trọng đến đất sử dụng cho nông nghiệp.
+ Mất diện tích do nước biển dâng
+ Bị tổn thất do các tác động trực tiếp và gián tiếp khác của BĐKH: hạn hán, lũ lụt, sạt lở, hoang mạc hóa…
- BĐKH làm thay đổi tính thích hợp của nền sản xuất nông nghiệp với cơ cấu khí hậu
Việc giảm dần cường độ lạnh trong mùa đông và tăng thời gian nắng nóng đang làm suy yếu tính phù hợp giữa các tập đoàn cây và các loài trên các vùng sinh thái khác nhau Sự thay đổi này dẫn đến mất dần hoặc triệt tiêu sự liên kết sinh thái giữa các thành phần thực vật và động vật, làm phá vỡ cấu trúc cộng đồng và chức năng sinh học của hệ sinh thái Khi điều kiện khí hậu khắc nghiệt bắt đầu lệch hướng ấm lên kéo dài, cạnh tranh giữa các loài diễn ra gay gắt hơn, ảnh hưởng tới phân bố và đa dạng loài Do đó, biến đổi kiểu thời tiết mùa đông – mùa hè có thể làm giảm tính ổn định của hệ sinh thái và đòi hỏi các biện pháp quản lý bảo tồn thích ứng.
Biến đổi khí hậu đang làm chậm quá trình phát triển của nền nông nghiệp hiện đại sản xuất hàng hóa và gây khó khăn cho việc đa dạng hóa sản phẩm, từ đó làm biến dạng nền nông nghiệp cổ truyền Ở mức độ nhất định, tác động này làm mất đi một số đặc điểm quan trọng của các vùng nông nghiệp ở phía Bắc, đặt thách thức lên tính cạnh tranh và sự bền vững của hệ thống sản xuất nông nghiệp truyền thống.
- Do tác động của BĐKH, thiên tai ngày càng ảnh hưởng nhiều hơn đến sản xuất nông nghiệp
+ Thiên tai chủ yếu đối với sản xuất nông nghiệp ngày càng gia tăng trong bối cảnh BĐKH.
+ Hạn hán song hành với xâm nhập mặn trên các sông lớn và vừa.
- BĐKH gây nhiều khó khăn cho công tác thủy lợi
Khả năng thoát nước ra biển suy giảm rõ rệt khiến mực nước trên các sông dâng lên và đỉnh lũ tăng cao, uy hiếp các tuyến đê sông ở các tỉnh phía Bắc cũng như hệ thống đê bao và bờ bao ở các tỉnh phía Nam.
+ Diện tích ngập úng mở rộng, thời gian ngập úng kéo dài.
Ở Việt Nam, nhu cầu tiêu nước và cấp nước đang gia tăng vượt khả năng đáp ứng do biến đổi khí hậu và các tác động lên nhiều hệ thống thủy lợi Dòng chảy lũ gia tăng có khả năng vượt quá các tham số thiết kế hồ, đập, đặt ra rủi ro ảnh hưởng đến an toàn hồ đập và quản lý tài nguyên nước Để thích nghi, cần nâng cao dự báo khí tượng thủy văn, cải thiện vận hành và nâng cấp các công trình thủy lợi, đồng thời tối ưu hóa thiết kế và quản lý hồ chứa nhằm bảo đảm an toàn, ứng phó biến động và duy trì hiệu quả cấp nước và tiêu nước trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở Việt Nam.
1.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến lâm nghiệp
Biến đổi khí hậu đang khiến quỹ đất rừng và diện tích rừng suy giảm, đe dọa hệ sinh thái và nguồn lực của các khu rừng trên toàn cầu Đáng chú ý, diện tích rừng ngập mặn ven biển chịu tổn thất to lớn do nước biển dâng, làm giảm khả năng phòng hộ bờ biển và đa dạng sinh học khu vực Song song đó, nguy cơ chuyển dịch diện tích đất lâm nghiệp sang đất dành cho các lĩnh vực kinh tế đang gia tăng, khiến rừng bị thu hẹp và giảm vai trò che chắn, bảo tồn tài nguyên và sinh kế cho cộng đồng.
- xã hội khác là tác động gián tiếp song có thể coi là tác động lớn nhất đối với sản xuất lâm nghiệp.
Biến đổi khí hậu làm thay đổi cơ cấu tổ chức của rừng bằng cách nâng cao nền nhiệt độ, tăng lượng mưa và lượng bốc hơi, gia tăng bão và các cực trị nhiệt độ, đồng thời làm suy giảm chỉ số ẩm ướt; các biến động này đẩy ranh giới giữa khí hậu nhiệt đới và ôn đới lên cao, tức là về phía đỉnh núi Nền nhiệt độ tăng và mưa tăng khiến rừng nhiệt đới và rừng ôn đới đều dịch chuyển lên cao; rừng cây họ dầu mở rộng về phía Bắc và lên các đai cao hơn, trong khi rừng rụng lá có nhiều loài cây chịu hạn phát triển mạnh, cho thấy sự thích nghi của hệ sinh thái rừng trước sự biến đổi khí hậu.
Biến đổi khí hậu tác động mạnh tới chất lượng và sức khỏe của rừng ở Việt Nam Nhiệt độ tăng và các hiện tượng thời tiết cực đoan làm gia tăng sâu bệnh mới, cả bản địa và ngoại lai, gây hại nghiêm trọng và làm suy giảm sự phát triển của nhiều loài trong rừng Quá trình hoang mạc hóa làm suy giảm chất lượng đất và độ ẩm, dẫn tới giảm sinh khối ở hầu hết các loại rừng, đặc biệt rừng sản xuất Số lượng quần thể của các loài động vật hoang dã và thực vật quý hiếm giảm sút đến mức nguy cơ tuyệt chủng Những tác động này làm tăng nguy cơ cháy rừng ở Việt Nam, ảnh hưởng tới an ninh lâm nghiệp và sinh kế người dân Đòi hỏi quản lý rừng bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học và tăng cường công tác phòng cháy chữa cháy để ứng phó với biến đổi khí hậu.
Nhiệt độ tăng cao dẫn tới lượng bốc hơi nhiều hơn và khô hạn kéo dài, làm gia tăng nguy cơ cháy rừng Việc phá rừng và khai thác rừng ngày càng nhiều làm giảm độ ẩm và khả năng chống cháy của khu vực, khiến các vụ cháy rừng trở nên thường xuyên hơn.
Biến đổi khí hậu gây khó khăn cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học rừng Các biến động khí hậu và điều kiện tự nhiên ngày càng khắc nghiệt dẫn tới suy thoái nghiêm trọng hệ sinh thái rừng, làm tăng nguy cơ tuyệt chủng của một số loài và làm mất đi nhiều gen quý hiếm.
1.3 Tác động của biến đổi khí hậu đến thủy sản
Biến đổi khí hậu ảnh hưởng sâu rộng đến môi trường thủy sinh trên biển Nhiệt độ nước biển tăng làm thay đổi nơi cư trú của một số thủy sản, đồng thời đẩy nhanh quá trình khoáng hóa và phân hủy, ảnh hưởng đến nguồn thức ăn và buộc sinh vật tiêu tốn nhiều năng lượng cho hô hấp và các hoạt động khác, từ đó làm giảm năng suất và chất lượng thương phẩm của thủy sản Đồng thời, quá trình này thúc đẩy sự suy thoái của san hô hoặc làm thay đổi quá trình sinh lý và sinh hóa trong quan hệ cộng sinh giữa san hô và tảo Biến đổi khí hậu cũng gây ra sự dịch chuyển vị trí và thay đổi cường độ dòng triều, vùng nước trồi và tăng tần suất, cường độ bão cũng như các xoáy nước nhỏ; cường độ bão tăng kết hợp với mưa bão khiến nồng độ muối giảm, ảnh hưởng đến sinh thái của một số loài nhuyễn thể.
Biến đổi khí hậu tác động mạnh tới môi trường nuôi trồng thủy sản khi hàm lượng oxy hòa tan trong nước giảm nhanh, làm chậm tốc độ sinh trưởng và tạo điều kiện bất lợi cho sinh vật thủy sản Các điều kiện thủy lý và thủy hóa thay đổi ảnh hưởng đến chất lượng sống và sự phát triển của thủy sinh, khiến một số loài nước ngọt mất nơi sống ở rừng ngập mặn và nguồn thức ăn trở nên ít đi Việt Nam đã thích nghi với môi trường thủy sản từ trước đến nay, nhưng hiện tượng này đe dọa hệ sinh thái và sản lượng nuôi trồng, dẫn tới ao hồ cạn kiệt trước thời kỳ thu hoạch và giảm rõ rệt sản lượng nuôi trồng.
Biến đổi khí hậu đang tác động mạnh mẽ đến kinh tế thủy sản bằng cách làm suy giảm sản lượng và chất lượng của thủy sản biển lẫn thủy sản nước ngọt, đồng thời ảnh hưởng đáng kể đến diện tích nuôi trồng thủy sản, thời gian đánh bắt và năng suất khai thác trên biển Bên cạnh đó, chi phí tu sửa, bảo dưỡng và xây dựng mới bến bãi, cảng cá, ngư cụ và tàu thuyền đều tăng lên đáng kể, đặt áp lực lên toàn chuỗi giá trị thủy sản từ sản xuất đến thị trường.
Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến cơ cấu công nghiệp theo ngành và đòi hỏi một sự chuyển dịch kịp thời phù hợp với mọi biến động về tự nhiên cũng như kinh tế - xã hội trong nước và ngoài nước Để thích ứng, cần hoàn thiện cơ cấu công nghệ bằng cách thay đổi hoặc bổ sung công nghệ nhằm nâng cao hiệu suất năng lượng và giảm tổng lượng phát thải khí nhà kính Đồng thời, cần đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo, tổ chức sản xuất năng lượng từ rác thải, sản xuất năng lượng sinh học và thu hồi nhiệt dư trong các nhà máy như xi măng và thủy điện.
1.4 Tác động của biến đổi khí hậu đến công nghiệp
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang ảnh hưởng đến cơ cấu công nghiệp theo lãnh thổ Phần lớn các khu công nghiệp đều tập trung ở đồng bằng thấp trũng, dễ bị tổn thương trước nguy cơ BĐKH, đặc biệt là nước biển dâng Đồng thời vùng nguyên liệu công nghiệp dự báo sẽ có những thay đổi về quy mô sản xuất và khối lượng sản phẩm Vì thế, cần thiết tiến hành chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo lãnh thổ trong quy hoạch lâu dài của các ngành công nghiệp để tăng tính bền vững và đảm bảo nguồn cung nguyên liệu.
Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng đến một số ngành công nghiệp trọng điểm Ở Quảng Ninh, khai thác than antraxit và triển vọng khai thác than nâu ở đồng bằng sông Hồng đang chịu nhiều thách thức hơn Khai thác dầu khí tại các bể trầm tích chứa dầu ngoài thềm lục địa và hoạt động lọc hóa dầu sẽ phải đối mặt với chi phí vận hành, bảo dưỡng và duy tu máy móc, phương tiện tăng lên Ngành chế biến lương thực thực phẩm cũng gặp nhiều trở ngại đối với quá trình chế biến các sản phẩm trồng trọt, sản phẩm chăn nuôi và thủy sản, hải sản do biến đổi khí hậu tác động tới chu kỳ sản xuất và nguồn cung.
2 : Tác động của biến đổi khí hậu đối với kinh tế - xã hội ở TP.Hồ Chí Minh