Đề tài: Những tư tưởng cơ bản của C.Mác và Ph. Ăngghen về Đảng cộng sản và công tác xây dựng Đảng qua tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” và tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gôta”. Mở đầu Đảng Cộng sản Việt nam – chính Đảng cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, Đảng đại biều trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc. Sự ra đời của Đảng ta, mặc dù có những yếu tố đặc thù riêng nhưng vẫn đảm bảo các yếu tố cho sự ra đời của một chính Đảng cách mạng của giai cấp công nhân đó là sự kết hợp giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa C.MácLênin luôn giữ vị trí nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa C.Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.” Chủ nghĩa C.Mác ra đời vào những năm giữa thế kỷ XIX. Đó là thời kỳ chủ nghĩa tư bản hình thành ở một số nươc Châu Âu và ở Mỹ. Mặc dù quá trình hình thành chủ nghĩa tư bản chưa kết thúc nhưng những mâu thuẫn cơ bản của nó đã bộc lộ sâu sắc. Những mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản đã diễn ra ngày càng quyết liệt. Điều đó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản đã trở thành một lực lượng chính trị độc lập. Sự phát triển của phong trào công nhân một mặt đòi hỏi phải có lý luận cách mạng khoa học dẫn đường. Mặc khác, phong trào công nhân cũng đã tạo ra những điều kiện cho sự ra đời một lí luận khoa học . Đó chính là những tiền đề kinh tế xã hội có ý nghĩa hàng đầu trong sự ra đời của chủ nghĩa C.Mác. Trước khi chủ nghĩa C.Mác ra đời, những thành tựu khoa học xã hội mà loài người đã đạt được vào thế kỷ XIX như các trào lưu tư tưởng: Triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học Anh, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp cũng đã trở thành những tiền đề tư tưởng và lí luận để C.Mác và Ph. Ăngghen kế thừa, phát triển sáng tạo ra học thuyết của mình. Cùng với những tiền đề đó khoa học tự nhiên cũng có những bước phát triển quan trọng, những thành tựu to lớn như: Lí thuết về tế bào, qui luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng học thuyết tiến hóa của Đácuyn đã cung cấp những luận cứ khoa học cho C.Mác và Ph. Ăngghen hình thành và bảo vệ thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng duy vật của mình. Những tiền đề khách quan nêu trên cùng với khả năng thiên tài, nhạy cảm chính trị của C.Mác và Ph. Ăngghen đã dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa C.Mác học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp vô sản. Trong học thuyết của mình C.Mác và Ph. Ăngghen đã phát hiện ra: Sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp vô sản và vai trò của đảng cộng sản trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản.
Trang 1Đề tài:
Những tư tưởng cơ bản của C.Mác và Ph Ăngghen về Đảng cộng sản vàcông tác xây dựng Đảng qua tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” và tácphẩm “Phê phán cương lĩnh Gô-ta”
Mở đầu
Đảng Cộng sản Việt nam – chính Đảng cách mạng của giai cấp côngnhân và nhân dân lao động Việt Nam, Đảng đại biều trung thành cho lợi ích củagiai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc Sự ra đời của Đảng ta, mặc
dù có những yếu tố đặc thù riêng nhưng vẫn đảm bảo các yếu tố cho sự ra đờicủa một chính Đảng cách mạng của giai cấp công nhân đó là sự kết hợp giữa chủnghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân Trong suốt quá trình lãnh đạocách mạng Việt Nam, chủ nghĩa C.Mác-Lênin luôn giữ vị trí nền tảng tư tưởng
và kim chỉ nam cho hành động của Đảng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ Xcủa Đảng đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa C.Mác - Lênin và tư tưởng HồChí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.”
Chủ nghĩa C.Mác ra đời vào những năm giữa thế kỷ XIX Đó là thời kỳchủ nghĩa tư bản hình thành ở một số nươc Châu Âu và ở Mỹ Mặc dù quá trìnhhình thành chủ nghĩa tư bản chưa kết thúc nhưng những mâu thuẫn cơ bản của
nó đã bộc lộ sâu sắc Những mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp vô sản và giaicấp tư sản đã diễn ra ngày càng quyết liệt Điều đó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản
đã trở thành một lực lượng chính trị độc lập Sự phát triển của phong trào côngnhân một mặt đòi hỏi phải có lý luận cách mạng khoa học dẫn đường Mặc khác,phong trào công nhân cũng đã tạo ra những điều kiện cho sự ra đời một lí luậnkhoa học Đó chính là những tiền đề kinh tế xã hội có ý nghĩa hàng đầu trong sự
ra đời của chủ nghĩa C.Mác
Trang 2Trước khi chủ nghĩa C.Mác ra đời, những thành tựu khoa học xã hội màloài người đã đạt được vào thế kỷ XIX như các trào lưu tư tưởng: Triết học cổđiển Đức, kinh tế chính trị học Anh, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp cũng đãtrở thành những tiền đề tư tưởng và lí luận để C.Mác và Ph Ăngghen kế thừa,phát triển sáng tạo ra học thuyết của mình.
Cùng với những tiền đề đó khoa học tự nhiên cũng có những bước pháttriển quan trọng, những thành tựu to lớn như: Lí thuết về tế bào, qui luật bảo toàn
và chuyển hóa năng lượng học thuyết tiến hóa của Đác-uyn đã cung cấp nhữngluận cứ khoa học cho C.Mác và Ph Ăngghen hình thành và bảo vệ thế giới quanduy vật và phương pháp luận biện chứng duy vật của mình
Những tiền đề khách quan nêu trên cùng với khả năng thiên tài, nhạycảm chính trị của C.Mác và Ph Ăngghen đã dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩaC.Mác học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp vô sản Trong học thuyếtcủa mình C.Mác và Ph Ăngghen đã phát hiện ra: Sứ mệnh lịch sử thế giới củagiai cấp vô sản và vai trò của đảng cộng sản trong sự nghiệp cách mạng của giaicấp vô sản
Học thuyết C.Mác về chính đảng cách mạng của giai cấp vô sản là một
bộ phận cấu thành của chủ nghĩa xã hội khoa học Học thuyết đó đã chỉ ra quiluật về sự ra đời của đảng những nguyên tắc xây dựng tổ chức và hoạt động củađảng nhằm cài tạo xã hội cũ, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và đi lên chủnghĩa cộng sản Học thuyết đó gắn liền với tên tuổi của C.Mác và Ph Ăngghen
và Lênin
Học thuyết C.Mác – Lênin đã trãi qua một quá trình phát triển lâu dài,nhưng từ giữa những năm 80 của thế kỉ XX đến nay, lợi dụng những sai lầm
Trang 3trong cải tổ, cải cách ở một số nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô, cácthế lực thù địch đã tập chung mũi nhọn đã tấn công vào vai trò lãnh đạo của cácđảng cộng sản cầm quyền Chúng tập chung tấn công vào nền tảng tư tưởng,xuyên tạc và hạ thấp giá trị của chủ nghĩa C.Mác – Lênin Chúng cho rằng: chủnghĩa C.Mác là giáo điều, ảo tưởng, “ tuyên ngôn của đảng cộng sản đã phá sản;chủ nghĩa xã hội là một sai lầm của lịch sử, chủ nghĩa C.Mác – Lênin đã kếtthúc Trước tình hình đó đảng ta, khẳng định: Để xây dựng thành công xã hộichủ nghĩa thì trong quá trình đổi mới phải kiên trì vận dụng sáng tạo của chủnghĩa C.Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không ngừng đổi mới chỉnh đốnđảng, năng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng, coi xây dựng chỉnhđốn đảng là nhiệm vụ then chốt Phải thật sự coi đó là nền tảng tư tưởng, là kimchỉ nam trong hành động của đảng Do đó, việc nghiên cứu để năm vững tưtửong C.Mác, Ph Ăngghen, Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề hết sứccần thiết.
C.Mác bắt đầu tham gia hoạt động chính trị xã hội từ năm 1842 Lúc đầuÔng làm cộng tác viên cho tờ báo Rênami Hoạt động báo chí giúp C.Mác cóđiều kiện để tiếp súc với đời sống chính trị, kinh tế và cuộc đấu tranh của quầnchúng lao động Thực tế đó đã có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển thế giớiquan của C.Mác Bài báo “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của hê-ghen” (1843-1844) là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự chuyển biến tư tưởng củaC.Mác từ lập trường duy tâm, dân chủ cách mạng sang lập trường duy vật, cộngsản chủ nghĩa
Cũng khoảng trong thời gian đó, (qua những quan sát của bản thân và
những tài liệu đáng tin cậy)Ph.Ăngghen đã viết tác phẩm “Tình cảnh của giai
cấp lao động ở Anh” (1844-1845); “Những người cộng sản và Karl Heinzen” và
“Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản” (cuối 1847).
Trang 4Từ sự thống nhất về quan điểm chính trị, C.Mác và Ph.Ăngghen đã thiếtlập sự cộng tác chặt chẽ với nhau Giữa họ nảy nở một tình bạn lớn, cao thượng,thủy chung son sắt; một tình đồng chí thân ái, tôn trọng cảm, phục lẫn nhau Họ
đã cùng nhau viết chung nhiều tác phẩm
Cuối năm 1847, được sự ủy nhiệm của tổ chức “Liên đoàn những người
cộng sản” C.Mác và Ph Ăngghen cùng soạn thảo tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” Tháng Hai 1848 “Tuyên ngôn của đảng cộng sản” được thông
qua và được xuất bản tại Luận Đôn Tuyên ngôn là sự nối tiếp và hoàn chỉnh
những tư tưởng trong tác phẩm “Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản” Tuy
chỉ là một cuốc sách nhỏ nhưng nội dung của nó rất phong phú Tác phẩm đã thểhiện rỏ những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa C.Mác, thế giới quan khoa học
của giai cấp vô sản Nói về tác phẩm, Lênin đánh giá: “Cuốn sách nhỏ ấy có giá
trọ bằng hàng bộ sách - tinh thần của nó đến bây giờ vẫn cổ vũ và thúc đẩy toàn thể giai cáp vô sản có tổ chức và đang chiến đấu của thế giới văn minh”.
Tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản là tác phẩm lý luận hoàn
chỉnh bao gồm cả ba bộ phận hợp thành của chủ nghĩa C.Mác, đồngg thời đâycũng là bản cương lĩnh chính trị đầu tiên của giai cấp vô sản
Còn tác phẩm “Phê phán Cương lĩnh Gô-ta” được C.Mác viết năm
1875 Đây là một trong những văn kiện kinh điển quan trọng về chủ nghĩa cộng
sản khoa học mà những nguyên lý cơ bản đã được trình bày trong “Tuyên ngôn
của Đảng cộng sản”.
Nhưng văn kiện ấy và cả bức thư của C.Mác viết ngày 5 tháng Năm năm
1875 gửi từ Luân Đôn cho Vin hem Bơ Rắc Cơ một trong những người lãnh đạoĐảng công nhân Đức lúc bấy giở đều bị giấu kín suốt 15 năm Phải đến năm
Trang 51890 sau khi C.mác đã qua đời và trước khi Đại hội Ec phuốc tơ của Đảng côngnhân Đức được triệu tập vào năm 1891, nhò có tinh thần đấu tranh quyết liệt củaPh.Ăngghen chống lại những người cơ hội trong Đảng công nhân Đức lúc bấygiờ thì Văn kiện quan trọng ấy của C.Mác mới được công bố với tên gọi là “Phêphán Cương lĩnh Gô-ta”.
1 Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngnghen về sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân.
1.1 Tư tưởng về đấu tranh giai cấp
Ngay từ những dòng đầu của tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng
sản” C.Mác và Ph.Ăngnghen đã trình bày rõ mục đích của “Tuyên ngôn” là:
“Hiện nay, đã đến lúc những người cộng sản phải công khai trình bày trước toàn
thế giới những quan điểm, mục đích, ý đồ của mình; và phải có một Tuyên ngôn của Đảng của mình để đập lại những câu chuyện hoang đường về bóng ma cộng sản” (Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngnghen tuyển tập, tập 1,
NXB Sự thật, HN 1980, trang 539)
Với việc công khai mục đích của mình “Tuyên ngôn” đã không giấu
giếm mục đích của những ngừoi vô sản nói chung và những người cộng sản nói
riêng mà công khai cho toàn thế giới biết rằng” giai cấp vô sản đã trở thành
“một thế lực” đấu tranh chống giai cấp tư sản và khẳng định sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là lật đổ dự thống trị của giai cấp tư sản, xây dựng một xã hội mới – xã hội cộng sản.
Trong Tuyên ngôn C.Mác và Ph.Ăngnghen đã chứng minh rằng lịch sử
phát triển của xã hội loài người từ khi chế độ cộng sản nguyên thủy tan rã cho tớinay là lịch sử đấu tranh giai cấp, là lịch sử của các cuộc đấu tranh giữa các giai
Trang 6cấp bị áp bức, bóc lột với các giai cấp áp bức, bóc lột: “Lịch sử tất cả các xã hội
cho đến ngàn nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp” (Sđđ, trang 540).
Khi C.Mác và Ph.Ăngnghen đưa ra quan điểm này (1947) thì hầu như
người ta chưa biết đến chế dộ công hữu ruộng đất nguyên thủy Do đó, trong lời
tựa viết cho bản tiếng Đức xuất bản năm 1883, Ph Ăngnghen viết thêm: “Do đó
(từ khi chế độ công hữu ruộng đất nguyên thủy tan rã), toàn bộ lịch sử là lịch sử các cuộc đấu tranh giai cấp” Theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngnghen lịch
sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử đấu tranh giai cấp Sự phát triển của
xã hội loài người từ xã hội này lên xã hội khác cao hơn là kết quả của các cuộc
đấu tranh giai cấp C.Mác và Ph.Angnghenđã chứng minh rằng: Trong các xã
hội, chiếm hữu nô lệ đến xã hội phong kiến và xã hội tư bản hiện đại đều có sự phân chia thành giai cấp Trong xã hội chiếm hữu nô lệ có chủ nô và nô lệ; trong
xã hội phong kiến có vua, quan, địa chủ phong kiến và nông dân; trong xã hội tư
bản có giai cấp tư sản và giai cấp vô sản C.Mác và Ph.Ăngnghen viết: “Trong
những thời đại lịch sử đầu tiên, hầu khắp mọi nơi, chúng ta đều thấy xã hội hoàn toàn chia thành những đẳng cấp khác nhau, một cái thang chia thành từng nấc địa vị xã hội ở Rô – ma thời cổ, chúng ta thấy có quý tộc, hiệp sĩ, bình dân, nô lệ; thời trung cổ thì có lãnh chúa, phong kiến, chư hầu, hợ cả, thợ bạn, nông nô
và hơn nữa, hầu như trong mỗi giai cấp ấy, lại có những thứ bậc đặc biệt nữa.” (Sđđ Trang 541).
Theo C.Mác và Ph.Ăngnghen lực lượng sản xuất phát triển không chỉlàm cơ sở cho sự hình thành giai cấp mà nó còn tác động đến các quan hệ giữangười với người trong quá trình sản xuất - C.Mác và Ph.Ăngnghen gọi đó là
“những quan hệ sản xuất” (Sđd, trang 548) mà đặc biệt là chế độ sở hữa C.Mác
và Ph.Ăngnghen đã chỉ ra rằng lực lựong sản xuất phát triển đến một trình độnhất định thì các quan hệ sản xuất tương ứng sẽ không còn phù họp với trình độ
Trang 7của lực lượng sản xuất Khi đó, quan hệ sản xuất trở thành những rào cản, những
“xiềng xích” cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi đó giai cấp thống
trị (giai cấp tư sản) phải tìm ra những biện pháp làm cho các quan hệ sản xuấtthích ứng hợn với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Bằng cách, phải hủy
bỏ một phần sản phẩm đã được tạo ra và một phần những lực lượng sản xuất đã
có hoặc bằng cách mở rộng những thị trường mới (xâm chiếm) hay bóc lột triệt
để hơn những thị trường cũ Xong những biện pháp đó ngày càng kém hiệu quả
mà lực lượng sản xuất lại không ngừng phát triển liên tục Sự phát triển của khoahọc và việc sử dụng những máy móc ngày càng hiện đại làm cho lực lượng sảnxuất phát triển ngày càng mau chóng hơn, với tính chất xã hội hóa ngày càng cao
hơn, nhưng quan hệ sản xuất lại dường như “đứng im” Lúc đó, sự phù hợp giữa
quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ dẫn đến việc xãhội phải xóa bỏ bằng cách này hay cách khác quan hệ sản xuất cũ và thay thế nóbằng một kiểu quan hệ sản xuất mới, phù hợp với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất đã thay đổi, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển Với việcchỉ ra quy luật sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất C.Mác và Ph.Ăngnghen kết luận rằng: “Từ hàng chục năm nay, lịch sử
công nghiệp và thương nghiệp không phải là cái gì khác hơn là lịch sử các cuộc nổi dậy của lực lượng sản xuất hiện đại chống lại những quan hệ sản xuất hiện tại, chống lại chế độ sở hữu đang quyết định sự tồn tại và thống trị của giai cấp
tư sản” (Sđd, trang 548) và “Những vũ khí mà giai cấp tư sản đã dùng để đánh
đổ chế độ phong kiến thì ngày nay quay lại đập vào chính ngay giai cấp tư sản”
(Sđd, trang 53-549) Cái lực lượng sản xuất mà giai cấp tư sản dùng để chiếnthắng giai cấp địa chỉ phong kiến cũng sẽ chính là thứ vũ khí mà giai cấp tư sảntạo ra để giết mình
Trang 8C.Mác và Ph.Ăngnghen cũng đã chỉ ra rằng: Trong xã hội có sự phân
chia thành giai cáp thì luôn có kẻ áp bức và những người bị áp bức Giữa những
kẻ áp bức và những người bị áp bức luôn có những mâu thuẫn đối kháng với
nhau về lợi ích: “Lịch sử của toàn bộ xã hội, từ trước đến nay đều diễn ra trong
những đối kháng giai cấp, những đối kháng mang hình thức khác nhau tùy từng thời đại” (Sđd, trang 567) Và do đó, các giai cấp có lợi ích đối kháng cũng luôn
tiến hành đấu tranh với nhau Đó là những cuộc đấu tranh liên tục, không ngừng,lúc công khai, lúc ngấm ngầm Các cuộc đấu tranh đó bao giờ cũng kết thúc bằngmột cuộc cải tạo cách mạng toàn xã hội hoặc bằng sự diệt vong của cả hai giaicấp đấu trannh với nhau (chủ nô và nô lệ) hoặc bằng sự thay thế địa vị của cácgiai cấp, làm nảy sinh ra các giai cấp mới và giai cấp đại biểu cho phương thứcsản xuất tiên sẽ giữ địa vị thống trị xã hội Đó chính là quy luật đấu tranh giaicấp trong các xã hội có sự phân chia thành giai cấp
1.2 Tư tưởng về vai trò lịch sử của giai cấp tư sản
Trong Tuyên ngôn C.Mác và Ph.Ăngnghen cũang đã phân tívj vai trò lịch
sử của giai cấp tư sản
Theo C.Mác và Ph.Ăngnghen: Sự phát triển của lực lượng sản xuất đã
tạo ra cơ sở để giai cấp tư sản ra đời ngay trong lòng xã hội phong kiến: “Những
tư liệu sản xuất và trao đổi ấy phát triển tới một trình độ nào đó thì những điều kiện trong đó, xã hội phong kiến và trao đổi, sự tổ chức nông nghiệp và công nghiệp theo lối phong kiến, không còn phù hợp với những lực lượng sản xuất đã phát triển Những cái đó đã cản trở sản xuất chứ không làm cho sản xuất phát triển lên Bao nhiêu những cái đó đều biến thành bấy nhiêu xiềng xích Phải đập tan những xiềng xích ấy Và người ta đã đập tan được.” (Sđd, trang 547) Cùng
Trang 9với việc đập tan những xiềng xích trói buộc sự phát triển của lực lượng sản xuấtcủa xã hội phong kiến, giai cấp tư sản ra đời.
Khi mới ra đời, giai cấp tư sản là một lực lượng cách mạng có vai trò tolớn trong lịch sử Giai cấp tư sản đại diện cho sự phát triển của lực lượng sảnxuất tiên tiến trong xã hội, đại diện cho phương thức sản xuất mới, phương thứcsản xuất tư bản chủ nghĩa Ngay sau khi lật đổ giai cấp địa chủ phong kiến giànhđược quyền thống trị, giai cấp tư sản đã từng bước xóa bỏ những quan hệ sảnxuất phong kiến, thiết lập sự thống trị của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, mởđường cho lực lượng sản xuất phát triển cực kỳ nhanh chóng C.Mác vàPh.Angnghenđã mô tả sự phát triển kỳ diệu của lực lượng sản xuất trong thời kỷ
chủ nghĩa tư bản như sau: “ Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp
chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại Sự chinh phục những lực lượng thiên nhiên, sự sản xuất bằng máy móc, việc áp dụng khoa ọc vào công nghiệp và nông nghiệp, việc dùng tàu thủy chạy bằng hơn nước, đường sắt, máy điện báo, việc khai phá toàn bộ từng lục địa, việc điều hòa dòng sông, hàng đám dân cư tựa hồ từ dưới đất trồi lên, có thế kỷ nào trước đây lại ngờ được rằng có những lực lượng sản xuất như thế vẫn tiềm tàng trong lao động xã hội?” (Sđd, trang 547).
C.Mác và Ph.Angnghen cũng đã chỉ ra rằng: giai cấp tư sản đã đóng mộtvai trò hết sức cách mạng trong lịch sử, chính giai cấp tư sản và giai cấp đầu tiênchì cho chúng ta thấy rõ loài người có khả năng làm việc gì Giai cấp tư sản đãtạo điều kiện cho sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhưng đồng thời nó cũngxóa bỏ tất cả những cái gì không phù hợp vơi lợi ích của chính nó
Trang 10Giai cấp tư sản đã phá bỏ những quan hệ của chế độ phong kiến và xáclập những quan hệ tư bản giữa người với người theo mối quan hệ ngoài mối lợilạnh lùng và lối “trả tiền ngay” không tình không nghĩa Giai cấp tư sản đã dìmnhững xúc động thiêng liêng của lòng sùng đạo, của nhiệt tình hiệp sĩ, của cảmtình tiều tư sản xuống dòng nước giá lạnh của sự tính toán ích kỷ (Sđd, trang544) một cách lạnh lùng Giai cấp tư sản cũng xóa bỏ quan hệ bóc lột phong kiến(địa tô…) để thay bằng quan hệ bóc lột tư bản “Tóm lại giai cấp tư sản đã đemlại sự bóc lột công nhiên, vô xỉ, trực tiếp, tàn nhẫn thay cho sự bóc lột được cheđậy bằng những ảo tưởng tôn giáo chính trị” (Sđd, trang 544) Trong tuyên ngônC.Mác và Ph.Angnghen cũng đã chỉ ra những thủ đoạn bóc lột, tùy tiện, bỉ ổi, vô
xỉ, tàn nhẫn đáng căm ghét của giai cấp tư sản Do sự phát triển của việc dùngmáy móc và sự phân công lao động người công nhân trở thành một vật phụ thuộcđơn giản của máy móc Do đó, chi phí cho một công nhân hầu như chỉ còn làmột số liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì đời sống của anh ta để anh ta khỏi mấtgiống Thế nhưng, đề nhận được được đồng lương ít ỏi đó, người công nhân lại
bị đặt dưới sự giám sát của cả một hệ thống áp bức của nhà nước tư sản, củangười đốc công, của chính người tư sản chủ công xưởng, hơn thế nữa họ còn là
nô lệ của máy móc Ngoài ra họ còn chịu sự phân biệt về lứa tuổi, về giới tínhtrong công việc Và còn trở thành miếng mồi cho những phần tử khác trong giaicấp tư sản như: chủ nhà cho thuê chủ hiệu bán lẻ, chủ hiệu cầm đồ… và họ trởthành món đồ trong tay giai cấp tư sản C.Mác và Ph.Ăngnghen viết rằng: “Những công nhân ấy, buộc phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là mộthàng hóa, tức là một món hàng đem bán như bất cứ món hàng nào khác; vì thế,
họ phải chịu mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường”(Sđd, trang 549)
Trang 11Giai cấp tư sản cũng đã xóa bỏ tình trạng cát cứ phong kiến để thống thịtrường “Giai cấp tư sản ngày càng xóa bỏ tình trạng phân tán của tư liệu sảnxuất, của tài sản và của dân cư Nó tụ tập dân cư, tập trung tư liệu sản xuất, vàtích tụ tài sản vào trong tay một số người – kết quả tất nhiên của những thay đổi
ấy là sự tập trung về chính trị Những địa phương độc lập liên hệ với nhau hầunhư chỉ bởi những quan hệ liên minh và có những lợi ích luật lệ, chính phủ, thuếquan khác nhau, thì được tập hợp lại thành một dân tộc thống nhất, có một chínhphủ thống nhất, một lợi ích dân tộc thống nhất, có tính chất giai cấp và một thuếquan thống nhất” (Sđd tr 546 – 547)
Giai cấp tư sản còn xóa bỏ sự cô lập giữa nông thôn và thành thị, bắtnông thôn phải phục tùng thành thị Và do đó, nó kéo một bộ phận lớn dân cưthoát khỏi vòng ngu muội của dời sống thôn dã Giai cấp tư sản cũng đã xé toangquan hệ tình cảm gia đình của xã hội phong kiến Thay thế kiểu gia đình truyềnthống bằng kiểu gia đình hạt nhân Đặc biệt giai cấp tư sản đã xóa bỏ sự cô lập
về văn hóa giữa các dân tộc tạo điều kiện làm nảy nở ra một ra một nền văn hóatoàn thế giới: “Thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương và dântộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộcphổ biến giữa các dân tộc Mà sản xuất vật chất đã như thế thì sản xuất tinh thầncủa một dân tộc không kém như thế Những thành quả của hoạt động tinh thầncủa một dân tộc trở thành tài sản chung của tất cả các dân tộc Tính chất hẹp hòi
và phiến diện dân tộc ngày càng không thể tồn tại được nữa; và từ những nềnvăn học dân tộc và địa phương, muôn hình vẻ, đang nảy nở ra một nền văn họctoàn thế giới” (sđd tr545 – 546)
Tuy có những đóng góp tiến bộ đối với tiến trình lịch sử, nhưng với bảnchất bốc lột dựa trên sự phát triển của lực lượng sản xuất và chế độ sở hữu tư
Trang 12nhân về tư liệu sản xuất thì sự phát triển của giai cấp tư sản đồng nghĩa với sựbần cùng của giai cấp vô sản.
1.3 Tư tưởng về sự ra đời của giai cấp vô sản
Từ việc chỉ ra qui luật đấu tranh giai cấp (Học thuyết về giai cấp và đấutranh giai cấp không phải do C Mác sáng tạo ra Điều đó đã được C Mác khẳngđịnh trong bức thư Người gửi cho Vai – đê – mai – ơ ngày 5/ 3/ 1852 Trong thư
C Mác viết: “Về phần tôi, tôi không hề có công phát hị6n ra các giai cấp trong
xã hội giện đại, cũng không có công phát hiện ra cuộc đấu tranh giữa các giaicấp ấy với nhau Trước tôi từ lâu, các nhà sử học tư sản đã trình bày sự phát triểncủa cuộc đấu tranh giai cấp ấy, và các nhà kinh tế học tư sản đã phân tích cơ cấukinh tế của các giai cấp Điều cống hiến mới của tôi là chứng minh rằng: 1) sựtồn tại của các giai cấp chỉ gắn liền với những giai đọan lịch sử nhất đụnh trong
sự phát triển của sản xuất (historische Entwicklungsphasen der Produktion), 2)đấu tranh giai cấp tất nhiên đưa đến chuyên chính vô sản, 3) chuyên chính đó,chính nó cũng chỉ là bước quá độ tiến lên thủ tiêu mọi giai cấp và tiến lên xã hộikhông có giai cấp”) trong các xã hội có giai cấp, C Mác và Ph Angghen đã phântích quá trình hình thành, phát triển của chủ nghĩa tư bản và phương thức sảnxuất tư bản, hai Ông đã chỉ ra qúa trình hình thành và phát triển của giai cấp vôsản Theo C.Mác và Ph.Angghen: “Xã hội tư sản hiện đại, sinh ra từ trong lònglòng xã hội phong kiến đã bị diệt vong, không xóa bỏ được những đối kháng giaicấp Nó chỉ đem những giai cấp mới, những điều kiện áp bức mới, những hìnhthức đấu tranh mới thay thế cho những giai cấp, những điều kiện áp bức, nhữnghình thức đấu tranh cũ mà thôi” (Sđd.tr541) C.Mác và Ph Angghen cũng chỉ ranguyên nhân của sự thay thế đó là do sự phát triển của lực lượng sản xuất Từviệc mở rộng thị trường trong xã hội phong kiến đã làm tăng thêm nhu cầu traođổi hàng hóa Nhu cầu tra đổi hàng hóa lại thúc đẩy giai thông và thương nghiệp
Trang 13phát triển Sự phát triển của thương nghiệp và giao thông lại tác động đến việc(đòi hỏi) mở rộng sản xuất Nhu cầu mở rộng sản xuất cùng với sự phát triển củakhoa học kỹ thuật đã tạo tiền đề cho sự xuất hiện của máy hơi nước máy mócxuất hiện đã tạo ra một cuộc cách mạng mới trong sản xuất công nghiệp Đạicông nghiệp với những nhà máy lớn và máy móc hiện đại đã thay thế dần chocác công trường thủ công tạo nên sự thay đổi trong phân công lao động ngaytrong các xưởng thợ Tầng lớp kinh doanh công nghiệp bậc trung và các chủcông trường thủ công nhường chỗ cho bọn công nghiệp triệu phú, cho bọn chỉhuy những đạo quân công nghiệp thực sự, cho bọn tư sản hiện đại Cứ như vậy,công nghiệp thương nghiệp, đường sắt… càng phát triển thì giai cấp tư sản cànglớn mạnh, tư bản của họ càng ngày càng tăng lên gắp bội Cùng với quá trìnhtích tụ, tập trung tư bản vào trong tay các nhà tư sản, các giai tầng khác trong xãhội ngày càng lùi dần về phía sau, ngày càng bi bần cùng hóa, càng tiến dần đến
vô sản và gia nhập vào hàng ngũ những người vô sản “ Những nhà tiểu côngnghiệp, tiểu thương nghiệp và người thực lợi nhỏ, thợ thủ công và nông dân, tất
cả tầng lớp dưới của giai cấp trung đẳng xưa kia, đều bị rơi xuống hàng ngũ giaicấp vô sản, một phần vì số vốn ít ỏi của họ không cho phép họ dùng nhữngphương pháp của đại công nghiệp, nên họ bị sự cạnh tranh của bọn tư bản lớnđánh bại, một phần vì sự khéo léo nhà nghề của họ bị những phương pháp sảnxuất mới làm giảm giá trị đi Thành thử giai cấp vô sản được tuyển mộ trong tất
cả các giai cấp của dân cư” (Sđd tr550 – 551) Ph.Angghen viết: “Giai cấp vôsản là do cuộc cách mạng công nghiệp sản sinh ra” (Những nguyên lý của chủnghĩa cộng sản, C.Mác – Ph.Angghen tuyển tập, tập 1, Nxb Sự Thật, HN, 1980.tr441) Và do vậy, chủ nghĩa tư bản càng phát triển, giai cấp tư sản càng giàu lênthì giai cấp vô sản cũng ngày càng lớn mạnh, mâu thuẫn giữa hai giai cấp vô sảnvới giai cấp tư sản ngày càng trở nên sâu sắc và không thể điều hòa được C.Mác
và Ph.Angghen viết: “Xã hội ngày càng chia thành hai phe lớn thù địch với nhau,
Trang 14hai giai cấp lớn hoàn toàn đối lập với nhau: giai cấp vô sản và giai cấp tư sản”(Sđd.tr541) và “giai cấp tư sản, tức là tư bản mà lớn lên thì giai cấp vô sản giaicấp công nhân hiện đại – tức giai cấp chỉ có thể sống với điều kiệnmlà kiếmđược việc làm, và chỉ kiếm được việc làm, nếu lao động của họ làm tăng thêm tưbản – cũng phát triển theo” (Sđd tr549)
Như vậy, cùng với sự ra đời và phát triển của giai cấp tư sản, giai cấp vôsản cũng hình thành và phát triển C.Mác và Ph.Ang ghen viết: “Nhưng giai cấp
tư sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình; nó còn tạo ra những người
sử dụng vũ khí ấy, - những công nhân hiện đại, những người vô sản” (Sđd.tr549) Bởi vì: “Trong hết thảy những cuộc đấu tranh ấy, giai cấp tư sản tự thấymình buộc phải kêu gọi giai cấp vô sản, yêu cầu họ giúp sức, và do đó, lôi cuốn
họ vào phong trào chính trị Thành thử giai cấp tư sản đã cung cấp cho nhữngngười vô sản một phần những tri thức của bản thân nó, nghĩa là những vũ khíchống lại bản thân nó” (Sđd tr553)
1.4 Tư tưởng về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Thông qua hoạt động thực tiễn, tổng kết những phong trào của giai cấpcông nhân của nhiều nước, C.mác và Ph.Angghen đã nhận thấy vai trò to lớn củagiai cấp công nhân Hai ông đã xâm nhập vào cuộc sống lao động của nhữngngười công nhân ở nhiều nước Châu Âu, ở đâu người công nhân cũng là ngườitạo ra của cải vật chất cho xã hội đồng thời ở đâu họ cũng là những người phảisống cuộc sống cực khổ Kết quả là họ đứng lên đấu tranh Qua các phong tràođấu tranh như: Cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt ở thành phố Li – ông (Pháp)năm 1831, của công nhân dệt ở thành phố Xi – lê – di (Đức) năm 1844, đặc biệt
là phong trào hiến chương ở Anh kéo dài suốt 10 năm (1838 – 1848), hai Ôngnhận thấy bước phát triển tiến bộ của cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân
Trang 15Qua phân tích, đánh giá, tổng kết C.Mác và Ph.Angghen đã phát hiện ra sứ mệnhlịch sử của thế gới của giai cấp công nhân là lật đổ giai cấp tư sản xây dựng xãhội mới xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là do định vị kinh tế, chính trị –
xã hội khách quan của giai cấp công nhân qui định Ngay từ khi giai cấp côngnhân mới hình thành và phát triển trong lòng chủ nghĩa tư bản, giai cấp công
nhân đã mang trong mình sứ mệnh lịch sử là người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư
bản Sứ mệnh đó không hề xuất phát từ mong muốn chủ quan của giai cấp công
nhân và Đảng của nó, cũng không hề do tài trí của bất kỳ cá nhân nào sáng tạo
ra Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân mang tính khách quan trong sự pháttriển tất yếu của nhân loại Như C.Mác – Ph.Angghen đã luận chứng một cách
khoa học rằng: Xuất phát từ thực tiễn đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên
chính vô sản, và sự sup6 đổ của giai cấp tư sản cũng như thắng lợi của giai cấp
vô sản đều tất yếu như nhau Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân theo quan
điểm của C.Mác – Angghen là do: “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập
với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại dông nghiệp; giai cấp vô sản, trái lại, là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”
(Sđd tr554) Điều đó còn có nghĩa là giai cấp vô sản có thể hoàn thành được sứmệnh lịch sử thế giới của mình vì: Giai cấp vô sản là giai cấp tiên tiến, gắn liềnvới nền đại công nghiệp; Là sản phẩm đặc biệt của nền đại công nghiệp, đại biểucho xu hướng tiến lên của nền đại công nghiệp
Giai cấp vô sản còn là giai cấp thực sư cách mạng Trong tất cả các giaicấp đối lập với giai cấp tư sản, chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự càchmạng còn các giai cấp trung gian mang tính bảo thủ, thậm chí còn có tính chấtphản động vì họ muốn quay ngược bánh xe lịch sử Nếu có thái độ cách mạng thì
Trang 16cũang là vì họ có nguy cơ sắp rơi xuống thành người vô sản C.Mác –Ph.Angghen cho rằng lúc đó họ bảo vệ lợi ích tương lai chứ không bảo vệ lợi íchhiện tại của mình Dưới chủ nghĩa tư bản, những người vô sản bị tước hết mọi tưliệu sản xuất nên họ chẳng có thứ gì là của riêng mình để bảo vệ cả Muốn giảiphóng họ phải phá hủy hết thảy những cái gì từ trước đến nay vẫn bảo đảm và
bảo vệ chế độ tư hữu: “Công nhân không có Tổ quốc Người ta không thể cướp
đi của họ cái mà họ không có Vì giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự xây thành dựng thành một giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc tuy hoàn toàn không phải theo cái nghĩa như giai cấp tư sản hiểu.” (Sđd tr565)
Trong tác phẩm phê phán cương lĩnh Gô – ta C.Mác cho rằng: lao động
cần được gắn liền với những điều kiện vật chất để lao động Cho nên rất dễ hiểu
là nếu công nhân có sức lao động mà không có những điều kiện vật chất để laođộng thì nhất định sẽ phải làm nô lệ cho những kẻ nắm trong tay những điều kiệnvất chất ấy Trong trường hợp như thế, công nhân chỉ có thể lao động cũng nhưchỉ có thể sống nếu như họ được những kẻ chiếm hữu những điều kiện vật chấtcho phép Theo C.Mác, chính vì công nhân không phải là người làm chủ các tư
liệu sản xuất, cho nên “Lao động càng phát triển lên thành lao động xã hội và
do đó trở thành nguồn của cải và của văn hóa thì sự nghèo khổ và cảnh sống vất vưởng lại càng phát triển ở phái người lao động, còn của cải và văn hóa lại càng phát triển ở phía kẻ không lao động” (Phê phán cương lĩnh Gô – ta, C.Mác
– Ph.Angghen tuyển tập, tập 1, Nxb Sự Thật, HN, 1983, tr 473) Do đó, muốnthay đổi một cách căn bản tình trạng ấy, không có con đường nào khác là giaicấp vô sản phải xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản và thay thế nó bằng chế độ cônghữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất
Trang 17Hơn nữa khi đấu tranh chống chế độ phong kiến, giai cấp tư sản buộcphải kêu gọi sự giúp sức của giai cấp vô sản và do đó đã lôi giai cấp vô sản vàocuộc vận động chính trị, nghĩa là đã cung cấp cho giai cấp vô sản những yếu tốtri thức chính trị phổ thông những vũ khí mà sau này giai cấp vô sản sẽ sử dụng
để chống lại giai cấp tư sản: “Trong hết thảynhững cuộc đấu tranh ấy, giai cấp
tư sản tự thấy mình buộc phải kêu gọi giai cấp vô sản, yêu cầu họ giúp sức, và
do đó, lôi cuốn họ vào phong trào chính trị Thành thử giai cấp tư sản đã cung cấp cho những vô sản một phần những tri thức của bản thân nó, nghĩa là những
vũ khí chống lại bản thân nó” (Sđd tr553)
Theo C.Mác và Ph Angghen: “Điều kiện căn bản của sự tồn tại và của
sự thống trị của giai cấp tư sản là sự tích lũy của cải vào tay những tư nhân, là
sự hình thành và tăng thêm tư bản; điều kiện tồn tại của tư bản là chế độ làm thuê Chế độ làm thuê hoàn toàn dựa vào sự cạnh tranh giữa công nhân với nhau Nhưng sự tiến bộ của công nghiệp, mà giai cấp tư sản là kẻ thúc đẩy không tự giác và bắt buộc, đem sự đoàn kết cách mạng của công nhân do liên hợp lại mà có, hay do sự cô lập của công nhân do cạnh tranh của họ gây nên Như vậy là sự phát triển của đại công nghiệp đã phá sạch dưới chân của giai cấp tư sản, chính ngay cái nền tảng trên đó giai cấp tư sản đã xây dựng lên chế
độ sản xuất và chiếm hữu nó Trước hết, giai cấp tư sản tạo ra những người đào huyệt chôn chính nó Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau” (Sđd tr556 – 557)
Như vậy, theo C.Mác và Ph.Angghen giai cấp vô sản có sứ mệnh lịch sửthế giới là người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản
2 Tư tưởng của C.Mác và Ph.Angghen về Đảng của giai cấp công nhân
Trang 182.1 Tính tất yếu ra đời của Đảng Cộng sản
C.Mác và Ph.Angghen đã chứng minh rằng toàn bộ lịch sử xã hội loàingười từ khi chế độ công xã nguyên thủy tan rã đến nay là lịch sử đấu tranh giaicấp Cũng như vậy, giai cấp công nhân đấu tranh với giai cấp tư sản ngay từ lúc
họ mới ra đời Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản phát
triển dần dần từ tự phát lên tự giác “Thoạt đầu cuộc đấu tranh được tiến hành
bởi những công nhân riêng lẻ; kế đến, là bởi những công nhân cùng một công xưởng; và sau đó, là bởi những công nhân cùng một ngành công nghiệp, cùng một địa phương, chống lại người tư sản trực tiếp bóc lột họ.” (Sđd.tr551) Các
cuộc đấu tranh của những người công nhân bị áp bức, bóc lột quá mức lúc nàyhết sức bộc phát, tự nhiên vì khi đó họ chưa thấy được vì đâu mà họ phải sống
cuộc sống cực khổ “Họ không phải chỉ đả kích vào quan hệ sản xuất tư sản và
còn đả kích vào ngay cả những công cụ sản xuất nữa; họ phá hủy hàng ngoại hóa cạnh tranh của họ, đập phá máy móc, đốt các công xưởng và ra sức dành lại địa vị đã mất của người thợ thủ công thời trung thổ” (Sđd.tr551) Qua đấu
tranh dần dần người công nhân có nhận thức đúng đắn hơn về kẻ thù của mình,làm cho tính chất của cuộc đấu tranh chuyển từ đấu tranh vì mục tiêu kinh tếsang mục tiêu chính trị, những người vô sản ngày càng thấy được vai trò củaviệc tập hợp lực lượng, đoàn kết giai cấp Chính sự phát triển của công nghiệp đã
tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc tập hợp công nhân ở các nước: “Kết quả
thực sự của những cuộc đấu tranh của họ là sự đoàn kết ngày càng rộng của những người lao động, hơn ,là sự thành công tức thời Việc tăng thêm phương tiện giao thông do đại công nghiệp tạo ra, giúp cho công nhân các địa phương tiếp xúc với nhau, đã làm cho sự đoàn kết ấy được dễ dàng Mà chỉ tiếp xúc như vậy cũng đủ để tập trung nhiều cuộc đấu tranh địa phương, đâu đâu cũng mang tính chất giống nhau, thành một cuộc đấu tranh toàn quốc, thành một cuộc đấu
Trang 19tranh giai cấp Nhưng bất cứ cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng là một cuộc đấu tranh chính trị…” (Sđd.tr 552) Từ thực tiễn các cuộc đấu tranh đó giai cấp công
nhân ngày càng giác ngộ hơn và thấy rõ lực lượng của mình hơn Họ xích lại gầnnhau hơn và bắt đầu tiến hành tổ chức nhau lại Lúc đầu là những liên minh đấu
tranh đòi quyền lợi hàng ngày, dần dần tiến tới thành lập Đảng của mình: “Công
nhân bắt đầu thành lập những liên minh chống lại bọn tư sản để bảo vệ tiền công của mình.Thậmchí họ đi tới chỗ lập thành những đoàn thể thường trực để sẵn sàng đối phó, khi những cuộc xung đột bất thần xảy ra Đây đó, đấu tranh thở thành bạo động … Sự tổ chức như vậy của người vô sàn thành giai cấp và
do đó thành chính đảng…” (Sđd Tr 552-553).
Như vậy, theo C.Mác và Ph.Angghen phong trào đấu tranh của giai cấpcông nhân là tiền đề vật chất cho sự ra đời của Đảng Cuộc đấu tranh giai cấpcủa giai cấp công nhân ban đầu chỉ là những cuộc đấu tranh của giai cấp côngnhân đòi hỏi phải có sự dẫn đường của lý luận tiên tiến, khoa học và cách mạng
Sự kết hợp giữa phong trào công nhân với lý luận cách mạng (chủ nghĩa xã hộikhoa học) sẽ dẫn tới việc thành lập ảang
2.2 Bản chất giai cấp và mối quan hệ giữa Đảng với các giai cấp
Chính đảng là một đội ngũ có tổ chức của những người ưu tú nhất, giácngộ nhất, tích cực nhất của một giai cấp, một tầng lớp trong xã hội, là tổ chứccủa những người có cùng chung một mục tiêu lý tưởng, một mục đích, một lợiích thống nhất Chính đảng là một tổ chức chính trị, là sản phẩm lịch sử kháchquan của cuộc đấu tranh chính trị của một giai cấp trong một giai đoạn lịch sửnhất định Chính đảng là tổ chức chính trị đại biểu cho quyền lợi của một giaicấp cho nên đảng lả đảng của một giai cấp, không có một chính đảng của nhiều