MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Giám sát là chức năng lãnh đạo của Đảng một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng. Đảng lãnh đạo không chỉ là việc xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết, hay tổ chức thực hiện đường lối, sắp xếp, bố trí cán bộ… mà lãnh đạo còn là giám sát việc thực hiện cương lĩnh chính trị, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Đó là vấn đề có tính nguyên tắc vừa là chức năng lãnh đạo, vừa là trách nhiệm, nội dung, phương pháp, quy trình lãnh đạo của Đảng. Cách mạng Việt Nam gần 80 năm qua, với những thắng lợi luôn gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng, chất lượng công tác giám sát đã góp phần quan trọng vào việc bảo về đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết, quan điểm, các nguyên tắc của Đảng, thúc đẩy việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, góp phần tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Bước vào thời kỳ đổi mới, phạm vi lãnh đạo của Đảng ta ngày càng rộng và đa dạng, có nhiều phức tạp hơn các thời kỳ cách mạng trước đây. Trong Đảng đã bộc lộ một số yếu kém, chưa ngăn chặn và đẩy lùi được Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức diễn ra nghiêm trọng. Nhiều tổ chức cơ sở Đảng thiếu tính chiến đấu và không đủ năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh…do chất lượng và hiệu quả giám sát chưa cao 20, tr.65. Để khắc phục những yếu kém trên đây, đồng thời để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng ta nhấn mạnh phải tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ, tăng cường chất lượng công tác kiểm tra, giám sát với nhận thức và yêu cầu mới: Công tác kiểm tra, giám sát phải phối hợp phát hiện và khắc phục được những khuyết điểm, thiếu sót khi mới manh nha, bên cạnh việc tiếp tục thực hiện kiểm tra tổ chức và cá nhân có dấu hiệu vi phạm phải tăng cường chủ động giám sát, kiểm tra về phẩm chất đạo đức và kết quả thực hiện nhiệm vụ của tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên, về nhận thức và chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và việc chấp hành Điều lệ Đảng 20, tr.302. Từ những bất cập, yếu kém nói trên cùng với những nhiệm vụ mà tình hình mới đặt ra, đòi hỏi chất lượng giám sát của Uỷ ban Kiểm tra các cấp phải được tăng cường và nâng cao hơn. Địa bàn tỉnh Cà Mau giữ vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng ở vùng cực Nam tổ quốc, với thế mạnh ngư, nông, lâm nghiệp có tốc độ tăng trưởng kinh tế xã hội nhanh, do thu hút được các dự án đầu tư. Cấp tỉnh là nơi trực tiếp chỉ đạo cấp huyện, thành phố quản lý, giáo dục đội ngũ đảng viên, nhất là đảng viên hoạt động trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Cà Mau là địa bàn khá rộng, dân cư đông, trong điều kiện kinh tế thị trường, rất dễ xảy ra các hiện tượng cán bộ, đảng viên tiêu cực, thoái hoá, biến chất trên các lĩnh vực quản lý đất đai, xây dựng kết cấu hạ tầng, thu chi ngân sách, quản lý xã hội, những suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống, lề lối, phong cách làm việc,..v..v.. Công tác giám sát của Uỷ ban Kiểm tra tỉnh nếu không coi trọng, nâng cao chất lượng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến uy tín và sức mạnh của Đảng và các cấp ủy, tổ chức đảng không thể hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị. Việc nghiên cứu tìm giải pháp nâng cao chất lượng công tác giám sát của Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy đang thực sự là vấn đề cần thiết và rất cấp bách. Vì vậy, tôi chọn và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ: “Công tác giám sát của Uỷ ban Kiểm tra tỉnh ủy Cà Mau trong giai đoạn hiện nay”.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giám sát là chức năng lãnh đạo của Đảng - một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng Đảng lãnh đạo không chỉ là việc xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết, hay tổ chức thực hiện đường lối, sắp xếp, bố trí cán bộ… mà lãnh đạo còn là giám sát việc thực hiện cương lĩnh chính trị, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Đó là vấn
đề có tính nguyên tắc - vừa là chức năng lãnh đạo, vừa là trách nhiệm, nội dung, phương pháp, quy trình lãnh đạo của Đảng Cách mạng Việt Nam gần
80 năm qua, với những thắng lợi luôn gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng, chất lượng công tác giám sát đã góp phần quan trọng vào việc bảo về đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết, quan điểm, các nguyên tắc của Đảng, thúc đẩy việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, góp phần tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng
Bước vào thời kỳ đổi mới, phạm vi lãnh đạo của Đảng ta ngày càng rộng và đa dạng, có nhiều phức tạp hơn các thời kỳ cách mạng trước đây Trong Đảng đã bộc lộ một số yếu kém, chưa ngăn chặn và đẩy lùi được
Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức diễn ra nghiêm trọng Nhiều tổ chức cơ sở Đảng thiếu tính chiến đấu và không đủ năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh…do chất lượng
và hiệu quả giám sát chưa cao [20, tr.65]
Để khắc phục những yếu kém trên đây, đồng thời để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng ta nhấn mạnh phải tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu của Đảng Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ, tăng cường chất lượng công tác kiểm tra, giám sát với nhận thức và yêu cầu mới:
Trang 2Công tác kiểm tra, giám sát phải phối hợp phát hiện và khắc phục được những khuyết điểm, thiếu sót khi mới manh nha, bên cạnh việc tiếp tục thực hiện kiểm tra tổ chức và cá nhân có dấu hiệu
vi phạm phải tăng cường chủ động giám sát, kiểm tra về phẩm chất đạo đức và kết quả thực hiện nhiệm vụ của tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên, về nhận thức và chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và việc chấp hành Điều
lệ Đảng [20, tr.302]
Từ những bất cập, yếu kém nói trên cùng với những nhiệm vụ mà tình hình mới đặt ra, đòi hỏi chất lượng giám sát của Uỷ ban Kiểm tra các cấp phải được tăng cường và nâng cao hơn
Địa bàn tỉnh Cà Mau giữ vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế- xã hội, an ninh quốc phòng ở vùng cực Nam tổ quốc, với thế mạnh ngư, nông, lâm nghiệp có tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội nhanh, do thu hút được các dự án đầu tư Cấp tỉnh là nơi trực tiếp chỉ đạo cấp huyện, thành phố quản lý, giáo dục đội ngũ đảng viên, nhất là đảng viên hoạt động trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Cà Mau là địa bàn khá rộng, dân cư đông, trong điều kiện kinh tế thị trường, rất dễ xảy ra các hiện tượng cán
bộ, đảng viên tiêu cực, thoái hoá, biến chất trên các lĩnh vực quản lý đất đai, xây dựng kết cấu hạ tầng, thu chi ngân sách, quản lý xã hội, những suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống, lề lối, phong cách làm việc, v v Công tác giám sát của Uỷ ban Kiểm tra tỉnh nếu không coi trọng, nâng cao chất lượng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến uy tín và sức mạnh của Đảng và các cấp ủy, tổ chức đảng không thể hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị
Việc nghiên cứu tìm giải pháp nâng cao chất lượng công tác giám sát của Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy đang thực sự là vấn đề cần thiết và rất cấp bách
Vì vậy, tôi chọn và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ: “Công tác giám sát của
Uỷ ban Kiểm tra tỉnh ủy Cà Mau trong giai đoạn hiện nay”
Trang 32 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm qua, vấn đề nâng cao chất lượng công tác giám sát nói chung, giám sát các tổ chức Đảng trực thuộc tỉnh, giám sát cán bộ, đảng viên diện Tỉnh ủy quản lý nói riêng đã được các cấp ủy, Uỷ ban Kiểm tra các cấp và nhiều nhà nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn quan tâm Những quan điểm, chủ trương lớn và biện pháp chủ yếu nâng cao chất lượng công tác giám sát của Uỷ ban Kiểm tra các cấp được thể hiện khá rõ trong các Văn kiện Đại hội Đảng, đặc biệt là Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng Văn kiện Đại hội X của Đảng đã bổ sung chức năng giám sát, tăng thẩm quyền và trách nhiệm xem xét kỷ luật của cấp ủy và Ủy ban Kiểm tra các cấp Đây là vấn đề cấp thiết và mới, cần nghiên cứu thấu đáo hơn
Vấn đề công tác giám sát của Đảng những năm gần đây đã được các cơ quan chức năng, các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau Các công trình nghiên cứu này đã được xuất bản thành sách, hoặc đăng tải trên các báo, tạp chí… trong nước, đã nêu lên những
cơ sở khoa học nền tảng về lý luận và thực tiễn có giá trị cao Có thể điểm qua các công trình dưới đây:
- Các luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ và các đề tài khoa học:
+ Lê Minh Sơn: Công tác giám sát của Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy tỉnh Bình Định giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ Xây dựng Đảng, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2007
+ Lê Thị Ngân: Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Uỷ ban Kiểm tra các Huyện, Thị ủy ở tỉnh Công Tum giai đoạn hiện nay, Luận văn
thạc sĩ Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2006
+ Dương Thị Mai: Công tác giám sát của Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh, Huỵên, Thành, Thị ủy ở tỉnh Nghệ An giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ
Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2007
- Các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí:
+ Nguyễn Thị Doan: Tăng cường công tác giám sát trong Đảng, Tạp
chí Cộng sản, số 11/2004
Trang 4+ Nguyễn Thị Doan: Gắn chặt công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy đối với tiến trình cổ phẩn hóa doanh nghiệp nhà nước, Tạp chí Cộng sản, số 3/2006
+ Hà Quốc Trị: Về thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát trong Đảng, Tạp chí Kiểm tra, số 3/2006
+ Nguyễn Phi Long: Quản lý, giám sát cán bộ - nhiệm vụ cần được chú trọng thực hịên từ cơ sở, Tạp chí Kiểm tra, số 3/2007
+ Vũ Ngọc Lân: Kết hợp giám sát trong Đảng với giám sát của nhân dân, Tạp chí Kiểm tra, số 3/2007
+ Trương Tấn Sang: Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, Tạp chí Kiểm tra, số 4/2007
+ Nguyễn Thị Doan: Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng phục vụ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII, Tạp chí Kiểm tra số 4/2007
+ Thu Hà: Trao đổi về nguyên tắc giám sát trong Đảng, Tạp chí Kiểm
+ Đỗ Thế Tùng (chủ biên): V.I.Lênin: Bàn về kiểm kê, kiểm soát, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998
Trang 5+ Uỷ ban Kiểm tra Trung ương: Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác kiểm tra và kỷ luật của Đảng, Hà Nội, 2004
+ Nguyễn Thị Doan (chủ biên), Đổi mới công tác kiểm tra, kỷ luật nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006
+ Ủy ban Kiểm tra Trung ương: Công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội, 2007
+ Uỷ ban Kiểm tra Trung ương: Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng, Nxb Lao động - xã
hội, Hà Nội, 2007
+ Đặng Đình Phú - Trần Duy Hưng: Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu
đề tài cấp bộ năm 2007 về công tác giám sát trong Đảng giai đoạn hiện nay
Những công trình khoa học nêu trên đã luận giải những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác giám sát Có một số đề tài khoa học có nội dung phong phú, phản ánh các mặt của công tác giám sát mang tính hệ thống, hàm chứa những kiến thức cơ bản, tính lý luận và tính tổng kết thực tiễn sâu sắc, gián tiếp và liên quan chặt chẽ, định hướng cho việc thực hiện đề tài mà luận văn đề cập
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có tác giả hoặc công trình nào nghiên cứu
về chất lượng công tác giám sát của Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy Cà Mau trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Trên cơ sở làm rõ hơn một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn chất lượng công tác giám sát của Uỷ ban Kiểm tra tỉnh ủy Cà Mau trong điều kịên hiện nay, và qua điều tra, khảo sát thực trạng công tác giám sát của Uỷ ban Kiểm tra tỉnh, luận văn đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng công tác giám sát của Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy Cà Mau trong những năm tới
Để đạt được mục đích trên luận văn có các nhiệm vụ sau:
Trang 6- Làm rõ những khái niệm, quan niệm và những vấn đề lý luận chủ yếu liên quan đến chất lượng công tác giám sát của Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy Cà Mau
- Khảo sát, đánh giá thực trạng chất lượng công tác giám sát của Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy Cà Mau, chỉ ra ưu, khuyết điểm, nguyên nhân và những kinh nghiệm
- Đề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng công tác giám sát của Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy Cà Mau đến năm 2010 và những năm tiếp theo
4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và giới hạn của luận văn
- Cơ sở lý luận:
+ Cơ sở lý luận của luận văn là dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng và công tác giám sát của Đảng
+ Các công trình khoa học của các nhà khoa học, các nhà lý luận, các tác giả hoạt động thực tiễn đã được công bố liên quan đến đề tài
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó bao gồm phương pháp lịch sử - logic, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp quy nạp và diễn dịch
+ Sử dụng phương pháp nghiên cứu thực tiễn trên cơ sở thực trạng, kết quả, số liệu, trực tiếp trao đổi
- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn:
+ Đối tượng: Công tác giám sát của Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy Cà Mau giai đoạn 2006 – 2008 và việc nâng cao chất lượng công tác giám sát của Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy Cà Mau
+ Phạm vi nghiên cứu, khảo sát thực tế ở tỉnh Cà Mau, trong khoảng thời gian từ Đại hội X (2006) đến nay
5 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Đưa ra quan niệm bước đầu về giám sát và chất lượng giám sát của
Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy Cà Mau
Trang 7- Các giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng công tác giám sát của Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy Cà Mau đến 2010 và những năm tiếp theo
6 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu quá trình thực hiện công tác giám sát của Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh
ủy Cà Mau
- Kết quả nghiên cứu đề tài là tài liệu tham khảo phục vụ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng của Đảng bộ tỉnh hiện nay, cũng như làm tài liệu phục
vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm tra của tỉnh Cà Mau
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
kết cấu gồm 2 chương, 4 tiết
Trang 8Ở thời kỳ C.Mác, Ph Ăngghen và V.I.Lênin, các Ông chưa sử dụng khái niệm giám sát mà thường dùng khái niệm kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát Tuy nhiên khi nói đến kiểm kê, kiểm tra, kiểm sóat là đã bao hàm cả nội dung giám sát
Trong các tác phẩm của mình, do điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, C.Mác chưa đề cập đến công tác giám sát của một đảng cầm quyền, nhưng trong đó
đã thể hiện rõ quan điểm về kiểm tra, giám sát trong quản lý kinh tế - xã hội Theo C.Mác, để đạt được mục tiêu, kế họach đã đề ra thì phải tiến hành kiểm tra, giám sát Kiểm tra, giám sát là phương thức hành động quan trọng để thực hiện mục tiêu, kế hoạch
Việc kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát là một trong những vấn đề được Lênin rất quan tâm Trước khi Cách mạng Tháng Mười năm 1917 nổ ra và trong những năm đầu của Nhà nước Xô - viết, Người đã có rất nhiều bài viết, bài phát biểu trong các hội nghị và có những bức thư gửi cho các đồng chí lãnh đạo Đảng và chính quyền được đề cập đến vấn đề kiểm kê, kiểm tra, kiểm sóat; việc xây dựng, cải tổ bộ máy làm công tác kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát; việc tổ chức
và phương pháp thực hiện kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát Lênin luôn coi công tác kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát là một công cụ hữu hiệu, đồng thời là một trong
Trang 9những nội dung lãnh đạo quan trọng đối với các tổ chức đảng, các cơ quan nhà nước Lênin khẳng định: Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị đã đề ra thì những người cộng sản phải nắm chắc công cụ kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát được coi là: “những nhiệm vụ đã trở thành tự nhiên đối với những người xã hội chủ nghĩa sau khi đã giành được chính quyền” [38, tr.298]
Ngay sau khi Cách mạng tháng Mười năm 1917 thành công, giai cấp công nhân Nga đã giành được chính quyền và thực hiện “việc tước đoạt kẻ đi tước đoạt” Trọng tâm của cuộc đấu tranh lúc bấy giờ đã chuyển sang lĩnh vực quản
lý đất nước, mà nội dung chủ yếu là quản lý kinh tế, trong đó bao hàm hai nhiệm
vụ rất quan trọng là: Tổ chức kiểm kê, kiểm sóat việc sản xuất, phân phối sản phẩm và nâng cao năng suất, chất lượng lao động Lênin viết: “Trọng tâm của cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản đang chuyển sang công tác tổ chức việc kiểm kê, kiểm soát” [38, tr 221] Và vì vậy, "kiểm kê và kiểm soát phải được đặt thành vấn đề nổi bật trong toàn bộ việc quản lý nhà nước” [38, tr.166]
Bằng kinh nghiệm thực tế lãnh đạo Đảng Bônsêvích Nga và chính quyền Xô viết trong những năm đầu tiên, Lênin đã rút ra tính tất yếu của Đảng và Nhà nước phải nắm chắc công tác kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát Lênin nói: nếu buông lỏng kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát thì những người vô sản sẽ lại trở thành người nô lệ Lênin viết: “… nếu Nhà nước không tiến hành kiểm kê và kiểm soát toàn diện đối với việc sản xuất và phân phối các sản phẩm, thì chính quyền của những người lao động, nền tự do của họ sẽ không thể nào duy trì được và nhất định họ sẽ phải sống trở lại dưới ách của chủ nghĩa tư bản [38, tr.224]
Lênin khẳng định: Việc tổ chức kiểm kê, kiểm soát toàn dân để “ điều tiết đời sống kinh tế”, là nhiệm vụ trọng tâm mà tất cả các nước đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đều phải thực hiện, Lênin viết: “Thống kê
và kiểm soát, đó là điều chủ yếu cần thiết cho cả việc “tổ chức”,lẫn hoạt động đều đặn của xã hội cộng sản chủ nghĩa, trong giai đoạn đầu của nó” [36, 124]
Theo Lênin: khi trọng tâm của cuộc cách mạng đã chuyển sang lĩnh vực quản lý đất nước, muốn thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị đã đề ra thì
Trang 10những người cộng sản phải nắm chắc công cụ kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát Phải xem công tác kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát là một công cụ hữu hiệu và là một trong những nội dung lãnh đạo quan trọng đối với tổ chức Việc thực hiện công tác tổ chức kiểm kê và kiểm soát toàn dân để quản lý và điều hành các hoạt động của xã hội là nhiệm vụ trọng tâm mà tất cả các nước đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đều phải thực hiện
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt cuộc đời hoạt động của mình, người luôn vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là lý luận của Lênin về xây dựng Đảng vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam, nhất là trong điều kiện Đảng Cộng sản cầm quyền Trong đó công tác giám sát của Đảng và Nhà nước, phải bao gồm cả giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên, giám sát của các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức, viên chức Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nói về công tác giám sát một cách linh hoạt, bằng những ngôn ngữ giản dị dễ hiểu, đó là bao hàm cả giám sát trong Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, giám sát cán bộ, đảng viên, công chức Qua nghiên cứu cho thấy, trong suốt cuộc đời hoạt động và lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh ít dùng khái niệm giám sát Trong các bài nói, bài viết của mình, Người thường dùng các khái niệm “kiểm soát”, “kiểm tra”, “xem xét”,
“điều tra”, “nắm tình hình”, "nghe báo cáo”,…là chủ yếu để thay thế cho khái niệm “giám sát” Thực tế trong tư tưởng của Người khái niệm “giám sát” đã bao hàm cả “kiểm soát”, “kiểm tra”, “điều tra”,…rồi Người dùng như vậy là vừa chính xác, vừa phù hợp với thực tế điều kiện, hoàn cảnh cụ thể lúc bấy giờ
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi đã có đường lối, chủ trương, chính sách đúng, thì việc thành công hay thất bại của đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong thực tế còn do cách tổ chức công việc, do lựa chọn cán
bộ và do kiểm tra, kiểm soát- tức là phải giám sát xem việc thực hiện có đến nơi đến chốn hay chưa Người viết: “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hay thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và nơi kiểm tra Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích” [46, tr.520]
Trang 11Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ ra rằng, mục đích, ý nghĩa, tác dụng của công tác giám sát là giúp cho Đảng và Nhà nước nắm chắc được tình hình
để lãnh đạo, thực hiện các chủ trương, chính sách đi vào thực tế cuộc sống nhân dân, thấy được tổ chức cá nhân nào chấp hành tốt, hoặc tổ chức, cá nhân nào chấp hành không tốt, có gì đúng đắn, có gì không phù hợp cần phải uốn nắn, bổ khuyết Đồng thời Người yêu cầu phải luôn luôn chú trọng và thường xuyên tiến hành công tác giám sát trong Đảng, Nhà nước đối với cán bộ, đảng viên Tác dụng của công tác giám sát, kiểm tra là: “Vì kiểm tra, giám sát có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm tròn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân Do đó mà góp phần vào việc cũng cố Đảng về tư tưởng, về tổ chức” [46, tr.300]
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng; là một khâu quan trọng trong sự lãnh đạo của Đảng; là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng Công tác giám sát giúp Đảng và Nhà nước nắm chắc được tình hình lãnh đạo, thực hiện các chủ trương, chính sách trong thực tế cuộc sống, thấy được tổ chức cá nhân nào chấp hành tốt, tổ chức, cá nhân nào chấp hành chưa tốt, có gì đúng, có gì sai,
có gì chưa phù hợp cần phải uốn nắn, bổ khuyết; công tác giám sát giúp cho Đảng và Nhà nước quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức tu dưỡng, trau dồi đạo đức cách mạng, tính tiền phong, gương mẫu của người cộng sản; công tác giám sát còn giúp cho Đảng chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những sai phạm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; phòng chống bệnh “quan liêu, bệnh bàn giấy, chỉ lo khai hội và thảo nghị quyết, đánh điện và gửi chỉ thị”, “có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững,…”
Vì vậy, kiểm tra, giám sát là việc phải làm thường xuyên đối với mọi tổ chức và đảng viên cũng như đối với mọi hoạt động của con người trong xã hội, đặc biệt là đối với chính đảng của giai cấp vô sản và những người cộng
Trang 12sản Đảng cộng sản Việt Nam, chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng Việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác giám sát, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của dân tộc Việt Nam, Đảng ta luôn coi trọng và tiến hành công tác giám sát Đảng ta luôn luôn nhận thức đúng đắn và cho rằng, giám sát là công việc không thể thiếu trong quá trình hoạt động lãnh đạo và quản lý, diễn ra trong tất cả các khâu của quy trình lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước Do đó, Đảng ta rất quan tâm đến việc giám sát hoạt động của tổ chức Đảng, đảng viên và các tổ chức trong hệ thống chính trị
Trong Điều lệ Đảng được thông qua tháng 10 năm 1930 đã quy định: trách nhiệm của đảng viên và cán bộ là giữ gìn kỷ luật Đảng một cách nghiêm khắc Tất cả đảng viên đều phải chấp hành các nghị quyết của Quốc tế Cộng sản, của Đại hội Đảng, của Trung ương và của thượng cấp cơ quan…Đối với vấn đề phạm kỷ luật thì do toàn bộ chi bộ hoặc cấp đảng bộ tra xét Các cấp
ủy viên có thể đặt ra Đặc biệt ủy viên để tra xét những vấn đề vi phạm kỷ luật đảng Nghị quyết Đại hội lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương- Đại hội họp từ ngày 27 đến ngày 31 tháng 03 năm 1935 đã khẳng định: “Cần giữ kỷ luật sắt cho Đảng, những phần tử đi trái đường lối chính trị của Đảng, của Quốc tế Cộng sản mà không chịu sửa lỗi, những kẻ không phục tùng nghị quyết, Điều lệ, phá hoại kỷ luật của Đảng thì nhất thiết phải khai trừ ” [16, tr.31]
Ngày 16 tháng 10 năm 1948, Ban kiểm tra Trung ương được thành lập, đây là sự kiện vô cùng quan trọng đánh dấu sự ra đời của cơ quan chuyên trách của Đảng và sự phát triển của ngành kiểm tra Đảng, đồng thời cũng thể hiện quan điểm của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức bộ máy kiểm tra Đảng
Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng (từ ngày 11 đến ngày 19 tháng 02 năm 1951), Đảng ta đã khẳng định: “Đảng Lao động Việt Nam phải có kỷ luật sắt” [17, tr.159]
Trang 13Báo cáo về việc sửa đổi Điều lệ Đảng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ở Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng năm 1960 đã yêu cầu: “Phải tăng cường công tác kiểm tra và giám sát của Đảng đối với cán bộ và cơ quan Nhà nước, giữ gìn kỷ luật nghiêm minh, xử
lý thích đáng đối với những phần tử quan liêu gây tác hại nghiêm trọng cho Đảng và Nhà nước” [19, tr.703] Đồng thời nhấn mạnh: “Lãnh đạo mà không
có kiểm tra thì lãnh đạo sẽ trở thành quan liêu” [19, tr.744]
Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam được thông qua tại Đại hội lần thứ VIII và lần thứ IX của Đảng đã ghi: “Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ và chịu sư giám sát của nhân dân…” [21, tr.4] Vì vậy, Đảng cần phải có “ sự giám sát nội bộ Đảng” và chịu “sự giám sát của nhân dân” điều đó sẽ giúp cho việc tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên, phòng ngừa, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, cơ hội thực dụng, cá nhân chủ nghĩa, tham nhũng,…của một bộ phận cán bộ, đảng viên; sự tê liệt của một số tổ chức đảng, ngăn ngừa các nguy cơ của một đảng cầm quyền, nhất là nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nguy cơ tham nhũng, Theo quy định của Điều lệ Đảng, trước đây các cấp ủy, tổ chức đảng, Uỷ ban Kiểm tra các cấp, chi bộ chủ yếu là thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm tra, còn chức năng, nhiệm vụ giám sát trong Điều lệ Đảng chỉ quy định: “Đảng chịu sự giám sát của nhân dân”, chưa quy định cụ thể việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng, Uỷ ban Kiểm tra các cấp, chi bộ và đảng viên Nhưng trong thực tế các cấp ủy (kể cả Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư), tổ chức đảng, Uỷ ban Kiểm tra, chi bộ và đảng viên đã và đang thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát với nội dung, phạm vi, đối tượng còn hạn hẹp Thực tế nhiệm vụ này chưa được xác định cụ thể, rõ ràng và cũng chưa được thực hiện theo chương trình, kế hoạch, quy trình, biện pháp cụ thể và việc bố trí lực lượng tiến hành thường xuyên
Trang 14Việc giám sát họat động của tổ chức đảng và đảng viên là công việc rất cần thiết và vô cùng cấp thiết, vì nó xuất phát từ đòi hỏi khách quan của công tác xây dựng Đảng và yêu cầu của giai đoạn cách mạng hiện nay, bảo đảm cho Đảng ta trước hết là các cơ quan lãnh đạo và những người đứng đầu các
cơ quan của Đảng và Nhà nước, phải luôn kiên định về tư tưởng, chính trị, vững vàng về đường lối, không được để chệch hướng xã hội chủ nghĩa; có phẩm chất cách mạng tốt, có khả năng phòng ngừa và ngăn chặn sự suy thoái
về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên Trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo cả hệ thống chính trị, nếu không
có sự giám sát chặt chẽ thì dễ dẫn đến tình trạng lộng quyền, lạm quyền, cửa quyền, sẽ dẫn đến quan liêu, tiêu cực, tham nhũng, tất yếu sẽ mất uy tín và làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân Chính những vấn đề trên là nguy
cơ làm suy yếu, thậm chí tan rã Đảng từ trong lòng của mình Do đó, trong giai đoạn cách mạng hiện nay, Đảng ta cần phải tăng cường thực hiện thường xuyên công tác giám sát trong Đảng nhằm để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tổ chức Đảng và đảng viên vi phạm Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm
vụ công tác giám sát của toàn Đảng có hiệu quả, đòi hỏi Đảng phải thật sự quan tâm đúng mức công tác này, trong đó Uỷ ban Kiểm tra các cấp phải thể hiện rõ chức năng, nhiệm vụ, vai trò là cơ quan chuyên trách của mình tích cực tham mưu giúp cấp ủy thực hiện tốt công tác giám sát trong Đảng
Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ phải tăng cường công tác giám sát của Đảng Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X
đã quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ giám sát cho các cấp ủy, tổ chức đảng, Uỷ ban Kiểm tra các cấp và chi bộ Đại hội nhấn mạnh coi việc kiểm tra, giám sát trước hết là nhiệm vụ của cấp ủy đảng, phải gắn công tác kiểm tra với công tác giám sát, có giám sát mới phát hiện được các vấn đề, mới khắc phục được các thiếu sót, khuyết điểm ngay từ lúc còn manh nha
Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ giám sát trong Đảng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới hiện nay, đòi hỏi Đảng phải nghiên cứu vận
Trang 15dụng sáng tạo các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác giám sát, kiểm tra, kiểm soát Trên cơ sở đó xác định rõ nội dung, đối tượng giám sát phù hợp; đề ra những phương pháp, hình thức và thẩm quyền giám sát thích hợp với từng cấp ủy, tổ chức đảng, Uỷ ban Kiểm tra và chi bộ Công tác giám sát phải thực hiện một cách toàn diện; giám sát việc chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách quy định, quyết định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; giám sát việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chấp hành các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, giữ gìn kỷ luật, kỷ cương trong Đảng Thực hiện sự giám sát của tổ chức Đảng đối với tổ chức; của tổ chức đối với cá nhân; kể cả đối với những người giữ chức vụ lãnh đạo chủ chốt ở tất cả các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị theo đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước Đối với những tổ chức càng cao, càng cần phải được giám sát chặt chẽ Những người giữ quyền hành càng lớn cần phải được giám sát nghiêm ngặt Theo kinh nghiệm ở một số nước, cũng như ở một số nơi trong đất nước ta cho thấy: có khi chỉ là sai lầm của một số người có quyền lực có thể dẫn đến làm suy yếu hoặc thậm chí tan
rã cả một tổ chức Do đó, Đảng phải tăng cường sự giám sát trong nội bộ Đảng và chịu sự giám sát của nhân dân
C.Mác, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta đã chỉ
rõ những mặt mạnh, đồng thời cũng nhấn mạnh những nguy cơ của một Đảng cầm quyền có thể xảy ra, nếu như không có những giải pháp ngăn ngừa hữu hiệu tư tưởng quan liêu, xa rời thực tế và sai lầm về đường lối Để ngăn chặn những nguy cơ của Đảng cầm quyền, một trong những công cụ quan trọng là phải kiểm tra, giám sát thường xuyên Chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn coi trọng công tác giám sát, coi giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng, là nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của mọi tổ chức và đảng viên, nhất là ở tại các chi bộ Công tác giám sát giúp cho Đảng và Nhà nước nắm chắc được tình hình để lãnh đạo, thực hiện các chủ
Trang 16trương, chính sách trong thực tế cuộc sống; xem xét, đánh giá đường lối, chính sách có gì phù hợp, có gì không phù hợp để uốn nắn lệch lạc, bổ sung, hoàn thiện đường lối, quan điểm, nguyên tắc và đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng Bảo đảm cho đường lối, chủ trương, chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, các quy định, quy chế của tổ chức đảng được chấp hành nghiêm chỉnh, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị; công tác giám sát góp phần phục vụ công tác xây dựng Đảng, xây dựng tổ chức đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức; giúp cho việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên, bảo đảm cho sự đoàn kết thống nhất trong Đảng Công tác giám sát giúp cho Đảng và Nhà nước quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; giúp cho họ tự tu dưỡng, trau dồi đạo đức cách mạng, tính tiền phong, gương mẫu của người cộng sản; đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, cơ hội thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, phòng chống bệnh quan liêu, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi, nhũng nhiễu, trù dập, ức hiếp quần chúng, nhân dân,…của một
bộ phận cán bộ, đảng viên, sự yếu kém, sự trì trệ, tê liệt kém hiệu quả của một số
tổ chức đảng, ngăn ngừa các nguy cơ của một Đảng cầm quyền, nhất là nguy cơ chệch hướng, nguy cơ tham nhũng, nguy cơ tụt hậu,…Qua thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát, tạo điều kiện thuận lợi cho Uỷ ban Kiểm tra trong việc tăng cường khả năng, điều kiện chủ động nắm bắt tình hình, phát hiện kịp thời dấu hiệu vi phạm để kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đúng trọng tâm, trọng điểm, đạt chất lượng, hiệu quả cao hơn; khắc phục được những khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra của Đảng
1.1.1.2 Chức năng
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đúng nghĩa là: “phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng…phải tổ chức sự thi hành cho đúng…phải tổ chức sự kiểm soát….” [46, tr.285]
Trang 17Tại Điều 32, Điểm 3 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định Uỷ ban Kiểm tra các cấp: “Giám sát cấp ủy viên cùng cấp, cán bộ thuộc diện cấp
ủy cùng cấp quản lý và tổ chức đảng cấp dưới về việc thực hiện chủ trương, đường lối, nghị quyết của cấp ủy và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương” [21, tr.50-51]
Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa X
(kèm theo Quyết định số 25-QĐ/TW, ngày 24-11-2006 của Bộ Chính trị) quy định
cụ thể rõ hơn: “kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng Lãnh đạo mà không kiểm tra, giám sát thì coi như không có lãnh đạo” [83, tr.118]
Căn cứ những quan điểm của Đại hội lần thứ X của Đảng và những quy định của Điều lệ Đảng, các hướng dẫn thực hiện công tác giám sát của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương về công tác giám sát thì công tác giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo của Tỉnh uỷ Cà Mau, là trách nhiệm của cấp uỷ các cấp, các tổ chức đảng, của các Ban Đảng, của Uỷ ban Kiểm tra các cấp, của tất cả các chi bộ trong tỉnh Tỉnh ủy phải lãnh đạo và tổ chức thực hiện công tác giám sát đối với các tổ chức đảng và đảng viên trong toàn tỉnh Cà Mau trong việc thực hiện Cương lĩnh Chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng; các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, việc rèn luyện đạo đức, lối sống của đảng viên; giám sát việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận của Trung ương, của Tỉnh ủy; Ban hành các văn bản theo thẩm quyền để lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn các tổ chức đảng thực hiện nhiệm vụ giám sát, để các đoàn thể chính trị-xã hội và nhân dân tham gia giám sát tổ chức Đảng và đảng viên Phân công cho các Ban Đảng của Tỉnh ủy giám sát lĩnh vực công tác của ban mình phụ trách và giám sát các tổ chức đảng trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước thuộc lĩnh vực công tác của mình phụ trách Xây dựng và chỉ đạo thực hiện các quy định
về sự phối hợp giữa các tổ chức đảng thực hiện công tác giám sát
Trang 18Như vậy, công tác giám sát của Đảng bộ tỉnh Cà Mau là trách nhiệm của toàn Đảng bộ: Ban thường vụ Tỉnh ủy, Ban chấp hành Tỉnh ủy (Tỉnh ủy),
Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy, các Ban Đảng trực thuộc Tỉnh ủy, các Huyện ủy, Thành ủy, Đảng ủy các khối, các đảng đoàn, Ban cán sự đảng trực thuộc Tỉnh
ủy, các tổ chức cơ sở đảng và chi bộ trực thuộc
Thực hiện chức năng tham mưu cho cấp ủy thực hiện nhiệm vụ giám sát quy định tại Điều 30 - Điều lệ Đảng và thực hiện nhiệm vụ cấp ủy giao
“Tham mưu giúp cấp ủy cùng cấp” thực hiện nhiệm vụ của cấp ủy về
công tác giám sát theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cụ thể: Phối hợp với Văn phòng và các ban của cấp ủy tổ chức quán triệt trong Đảng
bộ về thực hiện nhiệm vụ giám sát của cấp ủy và của các tổ chức đảng; chủ động giúp cấp ủy xây dựng phương hướng, chương trình, kế hoạch giám sát của cấp ủy và ban thường vụ cấp ủy trong từng thời gian; xây dựng quy chế phối hợp thực hiện nhiệm vụ công tác giám sát Chủ động tham mưu giúp cấp
ủy xây dựng chương trình, kế hoạch, nội dung, đối tượng, phương pháp, địa bàn giám sát; tham mưu cho cấp ủy phân công nhiệm vụ giám sát cho các ban của cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn để giúp cấp ủy thực hiện nhiệm vụ đã được Điều lệ Đảng quy định Hướng dẫn tổ chức đảng cấp dưới, các ban của cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn trực thuộc và chỉ đạo, hướng dẫn Uỷ ban Kiểm tra cấp dưới về nghiệp vụ giám sát Chủ trì, phối hợp với ban tổ chức, văn phòng cấp ủy và các cơ quan liên quan giúp cấp ủy theo dõi, sơ kết, tổng kết, việc thực hiện quy chế làm việc của cấp ủy cùng cấp và quy chế làm việc của Uỷ ban Kiểm tra cấp mình
Chức năng giám sát của Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ Cà Mau:
Cơ quan Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy Cà Mau là cơ quan kiểm tra, giám sát chuyên trách của Tỉnh ủy Cà Mau; thực hiện chức năng giám sát theo điều
30 và 32 của Điều lệ Đảng, cụ thể là: giám sát đối với tổ chức đảng cấp dưới (trước hết là các Huyện ủy, Thành ủy, Đảng ủy các khối trực thuộc Tỉnh ủy, Đảng đoàn Hội đồng nhân dân, Ban cán sự Đảng Uỷ ban nhân dân, Ban cán
Trang 19sự Đảng các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh) và tất cả đảng viên thuộc quyền quản lý của Tỉnh ủy (trước hết là các đồng chí trong Ban chấp hành Tỉnh ủy- kể cả đồng chí bí thư, phó bí thư, ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, các đồng chí là đảng viên thuộc diện Tỉnh ủy quản lý) trong việc chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng và đạo đức, lối sống của người đảng viên; giám sát việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; thực hiện chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định, quy chế làm việc, kết luận của Tỉnh ủy; tham mưu, giúp Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát
và thi hành kỷ luật trong Đảng
1.1.1.3 Nhiệm vụ
- Điều 32, điểm 3 Điều lệ Đảng do Đại Đảng toàn quốc lần thứ X của Đảng thông qua đã quy định Uỷ ban Kiểm tra các cấp có nhiệm vụ: “Giám sát cấp ủy viên cùng cấp và tổ chức đảng cấp dưới thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nghị quyết của cấp ủy và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương” [21, tr.50-51]
- Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa X (kèm theo Quyết định số 25-QĐ/TW, ngày 24-11-2006 của Bộ Chính trị) quy định rõ hơn về nhiệm vụ của Uỷ ban Kiểm tra các cấp: “Uỷ Ban Kiểm Tra giúp cấp ủy hoặc Ban Thường vụ cấp ủy tiến hành công tác kiểm tra, giám sát theo Điều 30 Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành
kỷ luật” [83, tr.139]
Nhiệm vụ giám sát của Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy Cà Mau:
- Quyết định phương hướng, nhiệm vụ, chương trình công tác giám sát của nhiệm kỳ, hàng năm, sáu tháng, hàng tháng của Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy;
sơ kết, tổng kết công tác giám sát; quyết định triệu tập và chỉ đạo hội nghị cán
bộ kiểm tra toàn tỉnh
Trang 20- Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy có nhiệm vụ trực tiếp tổ chức thực hiện: Giám sát đối với Ban Chấp hành, Ban thường vụ các Đảng bộ huyện, thành phố, Đảng bộ các khối: Đảng bộ Dân chính Đảng, Đảng bộ Công an tỉnh, Đảng bộ Bộ đôi Biên phòng tỉnh, Đảng bộ Quân sự tỉnh
Giám sát các Ban Đảng của Tỉnh ủy (Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Ban Dân vận Tỉnh ủy) và Văn phòng Tỉnh ủy; Ban cán sự Đảng
Uỷ ban nhân dân Tỉnh, Ban cán sự Đảng Tòa án nhân dân Tỉnh, Ban cán sự Đảng Viện Kiểm sát nhân dân Tỉnh; Đảng đoàn Hội đồng Nhân dân Tỉnh, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Đảng đoàn Liên đoàn Lao động tỉnh, Đảng đoàn Hội cựu chiến binh tỉnh, Đảng đoàn Hội Nông dân tỉnh
Giám sát đối với tất cả đảng viên trong Đảng bộ, trước hết là các đồng chí Tỉnh ủy viên, kể cả bí thư, phó bí thư Tỉnh ủy, ủy viên Ban thường vụ tỉnh
ủy, đảng viên là cán bộ thuộc diện Tỉnh ủy quản lý
Trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ giám sát theo quy định của Điều
lệ Đảng: Giám sát cấp ủy viên cùng cấp, cán bộ thuộc diện Tỉnh ủy quản lý và
tổ chức Đảng cấp dưới về việc thực hiện Cương lĩnh Chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng; các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng; đạo đức, lối sống của người đảng viên
Trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ giám sát do Tỉnh ủy, Ban thường vụ Tỉnh ủy giao: Giám sát việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; thực hiện các chủ trương, nghị quyết, quyết định, quy định, quy chế làm việc, kết luận của Tỉnh ủy; tham mưu giúp Tỉnh ủy, Ban Thường
vụ Tỉnh ủy thực hiện nhiệm vụ giám sát trong Đảng Phối hợp với các ban của Tỉnh ủy và Ban Thường vụ Tỉnh ủy xây dựng phương hướng, nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch giám sát và tổ chức lực lượng để tiến hành giám sát các tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều
lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng nhằm phát huy ưu điểm; giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng Tham mưu cho Tỉnh ủy và Ban Thường vụ Tỉnh ủy trong việc xác định những chủ trương, biện pháp nhằm nâng cao chất
Trang 21lượng công tác giám sát Hướng dẫn theo dõi, đôn đốc các tổ chức đảng và đảng viên thực hiện công tác giám sát Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy phối hợp với Văn phòng Tỉnh ủy và các ban Đảng của Tỉnh ủy giúp Tỉnh ủy theo dõi, giám sát việc thực hiện quy chế làm việc của Tỉnh ủy và quy chế làm việc của Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy
1.1.1.4 Đặc điểm
- Đặc điểm của tỉnh Cà Mau:
Cà Mau nằm ở cực Nam của Tổ quốc, thuộc bán đảo Cà Mau Toàn tỉnh Cà Mau có 8 huyện và 1 thành phố với 97 xã, phường, thị trấn; về địa hình
có ba mặt tiếp giáp với biển Đông, Đông Nam và Tây, nên Cà Mau có vị trí rất quan trọng về an ninh và quốc phòng của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long cả trên đất liền và trên biển, cũng như về chính trị và kinh tế trong khu vực
Dân số Cà Mau đến cuối năm 2007 là 1.235.163 người (có 20 dân tộc) Trong đó có ba dân tộ chủ yếu là Kinh, Hoa, Khmer Người Kinh đông nhất là 1.200.080, chiếm 97,16 %; người Khmer là 49.406, chiếm gần 2%; người Hoa là 11.734, chiếm 0,95%, thuộc hệ ngôn ngữ Việt, đồng bào người Hoa và Khmer
đa phần nói được tiếng Việt Tuy mỗi dân tộc đều giữ được phong tục, tập quán, văn hóa truyền thống nhưng cũng giao thoa cộng cảm để hình thành nên tính cách, bản lĩnh con người Cà Mau: phóng khóang, chân thật và quả cảm
Tỉnh Cà Mau có diện tích tự nhiên trên đất liền là 532.916,42 km2, phần lớn là diện tích đất nông nghiệp (Đất nuôi trồng thủy sản, đất trồng lúa), đất rừng, đất ven biển; có 3 cụm đảo là cụm đảo Hòn Khoai (diện tích 577ha), cụm đảo Hòn Chuối (diện tích 14,5 ha), và cụm đảo Hòn Đá Bạc (diện tích 6,3 ha); xa hơn là vùng lãnh hải, lãnh thổ rộng lớn bao quanh, chiếm ¾ diện tích của tỉnh Cà Mau với ngư trường rộng hơn 100.000 km2 và tiếp giáp với hải phận quốc tế Thành phố Cà Mau là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị,
xã hội,… đồng thời còn là nơi hội tụ của bốn con sông và trở thành một thành phố - chợ nổi sông nước nhộn nhịp, mang đặc thù của vùng Nam bộ Trong mối quan hệ của khu vực với dự án tiểu vùng Mê Kông mở rộng và quy hoạch
Trang 22kinh tế vùng Vịnh Thái Lan, thì tỉnh Cà Mau được xác định nằm trong hành lang phát triển phía Nam (Bang Kok – Phnômpênh - Hà Tiên - Cà Mau), đồng thời Năm Căn được xác định điểm đến của tuyến hành lang kinh tế này theo quy hoạch phát triển chung của quốc gia, cũng như là tuyến đường Hồ Chí Minh giai đoạn II được nối dài đến Đất Mũi Cà Mau
Về vị trí địa lý: Phía Bắc tỉnh Cà Mau tiếp giáp với tỉnh Kiên Giang và tỉnh Bạc Liêu; phía Đông và phía Nam tiếp giáp với Biển Đông; phía Tây giáp với Biển Tây (Vịnh Thái Lan) Bờ biển có chiều dài 253 km, bằng 33% chiều dài bờ biển vùng Tây Nam Bộ và bằng 7,8% bờ biển của cả nước Là vùng biển đa dạng hệ sinh thái Là một trong bốn ngư trường lớn của cả nước,
có lượng thủy hải sản khá lớn Tỉnh có nhiều cửa sông lớn thông ra biển, bên trong đất liền có các con sông lớn, nhỏ nối chằng chịt với nhau, với chiều dài hơn 7.000 km, giao thông đường thủy đến mọi nơi trong tỉnh Các con sông lớn ở Cà Mau có điều kiện cho tàu vận tải biển và tàu đánh cá có thể vào sâu trong nội địa, từ đó tạo cho tỉnh Cà Mau trở thành một vùng sông nước kỳ diệu, bởi các hoạt động giao thông đi lại chủ yếu là bằng đường thủy, chiếm gần 90% giao thông chung của tỉnh
Với lợi thế biển bao quanh, Cà Mau có nhiều cửa sông lớn ăn ra biển, nên thuận lợi cho việc mở các bến cảng biển để giao thương hàng hóa với các nước trong khu vực cũng như hướng ra thế giới Bên trong nội địa có nhiều con sông lớn, nhỏ rất thuận lợi cho việc vận tải, vận chuyển hàng hóa, giao lưu, đi lại giữa các vùng trong tỉnh và với các tỉnh lân cận
Tự nhiên đã ban cho Cà Mau hai vùng hệ sinh thái mặn và ngọt, mà đặc trưng cho hệ sinh thái này chính là rừng đước (Năm Căn)- hệ sinh thái mặn và rừng tràm (U Minh Hạ) - hệ sinh thái ngọt Địa hình Cà Mau thấp và bằng phẳng, hình thành 3 vùng có đặc điểm về địa lý, tiềm năng kinh tế và cảnh quan khá đặc trưng:
Vùng trũng phèn Tây Bắc có điều kiện phát triển nông – lâm - ngư nghiệp, trồng cây công nghiệp (khóm, mía, chuối,…) Ở đây có rừng tràm U
Trang 23Minh Hạ nổi tiếng; hoa tràm nở hầu như quanh năm nên có sản vật mật ong rừng, một nguồn dược liệu quý và giàu chất dinh dưỡng Trong rừng còn giữ được một số loài thú quý hiếm như: Nai, heo rừng, chồn,… và các loài bò sát đặc trưng: Trăng, rắn, rùa, kỳ đà, trúc (tê tê), cùng các loại cá như cá lốc, cá trê, cá rô, cá bổi… Đặc biệt Cà Mau có nhiều sân chim do thiên nhiên ban tặng Theo kết quả điều tra thực địa về tiềm năng sinh học đất ngập nước ở Đồng bằng Sông Cửu Long của tổ chức Birje (Hà Lan) năm 1999 cho thấy, vùng rừng U Minh Hạ - Cà Mau có mức đa dạng rất cao Riêng loài chim, tổ chức này đã ghi nhận được 82 loài Đặc biệt có các loài quý hiếm như: Giang sen, già đẫy, hạc cổ trắng, ó biển,… Rừng tràm U Minh hiện còn hàng ngàn
ha rừng nguyên sinh (rừng đặc dụng Vồ Dơi) rất có giá trị về kinh tế - môi trường và nghiên cứu khoa học
Vùng Nam và vùng Đông Nam là vùng đất thấp, nhiễm mặn và chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều, rất thích hợp cho việc nuôi trồng thủy sản Ở đây có những cánh rừng ngập mặn nổi tiếng như rừng đước Năm Căn, có nhiều đầm, hồ còn mang nét hoang sơ kỳ thú Rừng đước cùng rừng tràm đã trở thành cánh rừng lớn nổi tiếng trong nước và trên thế giới, được xếp vào hàng thứ nhì trên thế giới về tầm quan trọng và diện tích, chỉ đứng sau rừng sát bên bờ sông Amazon Ven biển ở đây có đầm phá và cửa sông lớn rất kỳ
vĩ như: Ông Trang, Bảy Háp, Bồ Đề, Sông Đốc,…
Vùng trung tâm bao gồm: Thành phố Cà Mau và các vùng tiếp cận thuộc các huyện Cái Nước, U Minh, Thới Bình, Trần văn Thời Vùng này có
độ mặn ít, thích hợp cho lúa cao sản kết hợp với nuôi cá đồng (cá nước ngọt)
và là vùng trọng điểm phát triển kinh tế tổng hợp
Đất đai ở Cà Mau với đặc thù là vùng đồng bằng, bao gồm 2 vùng với 2
hệ sinh thái rõ rệt (mặn và ngọt).Vùng ngặp mặn từ cửa sông Gành Hào- giáp tỉnh Bạc Liêu vây quanh Mũi Cà Mau chạy theo ven biển đến cửa sông Đốc, huyện Trần Văn Thời để tiếp nối với rừng tràm thành một vành đai xanh từ Đông sang Tây, chạy dọc theo ven biển cho đến tiếp giáp với tỉnh Kiên
Trang 24Giang Là hệ sinh thái rừng có tính đa dạng sinh học, có ý nghĩa to lớn về môi trường, phòng hộ, nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái, lấy gỗ, chất đốt Vùng đất này chứa đựng nhiều phù sa màu mỡ chủ yếu từ chín nhánh Sông Cửu Long bồi đắp Ở đây chính là nơi trú ngụ của hàng vạn loài cá, tôm,… Vì vậy, nơi này rất phù hợp cho nuôi trồng thủy hải sản Việc nuôi trồng thủy hải sản bước đầu phát triển theo hướng bền vững, năng xuất, chất lượng từng bước được nâng lên, hàng năm người dân Cà Mau thu được với sản lượng khá lớn Năm 2006, thu được 277.595 tấn các loại, trong đó có 100.250 tấn tôm; năm 2007, tổng sản lượng thủy sản thu đạt 300.000 tấn, bằng 100% chỉ tiêu, tăng 8% so với năm 2006, trong đó sản lượng tôm đạt 106.200 tấn, vượt chỉ tiêu 5,46% Là tỉnh có nguồn sản lượng thủy hải sản lớn đứng vào hàng thứ nhất của cả nước, chiếm 13,4% sản lượng thủy sản toàn vùng và chiếm 7,4% sản lượng thủy sản cả nước Rừng đước Cà Mau cũng sinh sôi nẩy nở và gắn
bó với vùng đất này từ rất lâu đời Chính sự bồi đắp của nguồn phù sa trù phú như trên, nên hàng năm Mũi đất Cà Mau đã được nối dài ra thêm từ 80m đến 100m Còn vùng ngọt hóa, nằm bên trong, chủ yếu ở các huyện Trần Văn Thời, U Minh, Thới Bình – giáp với tỉnh Kiên Giang và Thành phố Cà Mau – giáp với tỉnh Bạc Liêu Vùng đất này rất phù hợp cho sự tồn tại và phát triển của cây lúa nước và cây tràm, đó chính là rừng tràm U Minh Hạ, dưới lòng đất có nguồn than bùn (trữ lượng 14,1triệu tấn) sử dụng làm chất đốt; cùng
150 loài động vật và 201 loài thực vật hệ sinh thái nước ngọt rất phong phú, cây lúa nước cũng là đặc trưng, trước đây hàng năm đã cung cấp cho nhân dân
Cà Mau 1.200.000 tấn lương thực, nhưng từ khi tỉnh có chủ trương chuyển đổi kinh tế, chuyển một phần đất trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản, nên hiện nay diện tích đất trồng lúa chỉ còn 110.000 ha và năng suất lúa thu được còn gần 500.000 tấn mỗi năm, đủ cung cấp cho nhân dân Cà Mau sử dụng
Cà Mau là mảnh đất giàu truyền thống cách mạng Ngay từ năm 1930, chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên được thành lập ở thị trấn Cà Mau do đồng chí Lâm Thành Mậu làm bí thư Trong khởi nghĩa Nam Kỳ, người cộng sản anh
Trang 25hùng Phan Ngọc Hiển đã trực tiếp chỉ huy cuộc khởi nghĩa nổ ra ở Hòn Khoai, giành thắng lợi và ngày 13/12/1940 đã trở thành ngày truyền thống của Đảng bộ, các lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Cà Mau Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, lòng dân đất Cà Mau là căn cứ vững chắc bảo vệ an toàn cho các cơ quan Trung ương cục, Khu ủy, Tỉnh ủy và các đồng chí lãnh đạo các cấp của Đảng, như các đồng chí: Lê Duẩn, Võ Văn Kiệt, Lê Đức Anh, Phạm Hùng, Vũ Đình Liệu,…Nơi đây từng chịu đựng nhiều bom đạn với các cuộc càn quét” nhổ cỏ U Minh”, thảm sát bằng máy bay B52, bom napan, chất độc hóa học Giồng Bớm, Hàng Gòn, địa ngục trần gian Đặc khu Hải Yến- Bình Hưng còn ghi tội ác tày trời của quân thù Nhưng Đảng bộ
và quân dân Cà Mau anh dũng kiên cường lập nên bao chiến công oai hùng với những trận đánh, những địa danh đã đi vào lịch sử: Nhật Nguyệt, Mương Điều, Mặt trận Tân Hưng trong thời chống Pháp; Huyện Sử, Năm Căn, U Minh, chiến thắng chi khu Cái Nước, Đầm Dơi, Chà Là, Bến Vàm Lũng huyền thoại,… trong thời kỳ chống Mỹ
Đất lâm nghiệp hiện có diện tích 97.000 ha, trong đó có 67.000 ha rừng đước, hơn 30.000 ha rừng tràm, hàng năm cho sản lượng gỗ và than rất lớn
Thềm lục địa vùng biển Tây Cà Mau, còn có nguồn tài nguyên dầu khí với tiềm năng lớn (trữ lượng 172 tỷ m3, có thể khai thác 8,25 triệu m3/năm, đây là nguồn năng lượng lớn, có giá trị kinh tế cao, đang phục vụ cho hai nhà máy điện Cà Mau I và Cà Mau II, với sản lượng điện năng được khai thác 1.500mw/h Hiện tại 2 nhà máy này đang nằm trong khu công nghiệp: Khí - điện - đạm Cà Mau
Về khí hậu, Cà Mau mang đặt trưng của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, được phân thành 2 hai mùa: Mùa mưa và mùa khô, lượng mưa cao 2.360mm, có nền nhiệt cao và ổn định Về thủy văn: chịu sự tác động của chế
độ thủy triều Biển Đông và Vịnh Thái Lan, có chế độ truyền triều phức tạp
Về địa hình: tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình từ 0,5- 1m; bị chia cắt nhiều bởi hệ thống sông rạch chằng chịt, phần lớn diện tích ven biển bị ngập
Trang 26nước, nên đất yếu Mùa mưa hàng năm thường bắt đầu từ tháng 4, có năm đến sớm hơn bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 10, mùa nắng từ tháng 11 đến cuối tháng 3 năm sau Khí hậu tỉnh Cà Mau là vùng nhiệt đới, vào đầu mùa mưa,
từ tháng 4 đến tháng 9, chịu sự ảnh hưởng của gió Tây Nam, từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau chịu sự ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió từ Biển Đông thổi vào
Cà Mau với vị trí là mảnh đất cuối cùng - cực Nam của tổ quốc có địa hình rộng và phức tạp do vùng biển tiếp giáp với nhiều quốc gia trong khu vực, song lại giàu tiềm năng về kinh tế, đặc biệt là kinh tế biển Đồng thời Cà Mau là địa bàn có vị thế chiến lược quan trọng về an ninh và quốc phòng vùng biên giới biển, hải đảo, cũng là vùng có đồng bào dân tộc Khmer, Hoa, các tôn giáo và đạo, có thể nằm trong âm mưu của các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” Về kinh tế là nơi có trục đường giao thông hàng hải rất quan trọng của quốc tế đi qua lại giữa các châu lục với nhau, đồng thời cũng chính là đường giao thương, giao lưu, vận tải đường biển rất quan trọng của Việt Nam và Cà Mau với các nước trong khu vực và trên thế giới Cà Mau còn có sân bay nội hạt, đang khai thác mỗi ngày một chuyến bay từ Cà Mau đi thành phố Hồ Chí Minh
Những vấn đề đã được đặt ra như trên, trong quá trình phát triển đi lên của Cà Mau chắc chắn không thể tránh khỏi được những tiêu cực, có ảnh hưởng đến việc phát triển đi lên của Cà Mau Do đó vấn đề được đặt ra là Đảng bộ Tỉnh Cà Mau nói chung và Uỷ ban Kiểm tra các cấp trong Tỉnh Cà Mau nói riêng phải tăng cường hơn nữa việc thực hiện công tác giám sát đối với các hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên trong toàn Đảng bộ
-Đặc điểm của Đảng bộ tỉnh Cà Mau:
Đảng bộ tỉnh có 13 đảng bộ trực thuộc, trong đó có 8 đảng bộ huyện, 1 đảng bộ thành phố và 4 đảng bộ ngành đó là: Đảng bộ TP Cà Mau, Đảng bộ huyện Thới Bình, Đảng bộ huyện Năm Căn, Đảng bộ huyện Phú Tân, Đảng
bộ huyện Cái Nước, Đảng bộ huyện Trần Văn Thời, Đảng bộ huyện Ngọc
Trang 27Hiển, Đảng bộ huyện Đầm Dơi, Đảng bộ Dân chính Đảng, Đảng bộ Quân sự, Đảng bộ Bộ đội Biên phòng và Đảng bộ Công an tỉnh
Theo số liệu thống kê, hiện nay toàn Đảng bộ tỉnh có 629 tổ chức cơ sở đảng (trong đó có 178 đảng bộ cơ sở, 451 chi bộ cơ sở), 1.660 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở Tổng số đảng viên của toàn đảng bộ là: 24.649 đảng viên Theo kết quả phân loại năm 2006 (có 611/617 tổ chức cơ sở đảng tiến hành phân loại, còn lại 6 tổ chức cơ sở đảng do mới thành lập nên chưa đủ điều kiện để tiến hành phân loại), trong đó tổ chức cơ sở đảng đạt loại trong sạch, vững mạnh là 449 tổ chức, chiếm 73,48%; có 150 tổ chức cơ sở đảng hoàn thành nhiệm vụ, chiếm 24,55% và 12 tổ chức cơ sở đảng yếu kém, chiếm 1,96% Chi bộ trực thuộc có 1.656/1669 chi bộ được phân loại, trong
đó có 1.327 chi bộ đạt danh hiệu chi bộ trong sạch, vững mạnh, chiếm 80,13%; có 311 chi bộ hoàn thành nhiệm vụ, chiếm 18,79% và có 8 chi bộ yếu kém, chiếm 1,08%
Năm 2007 (có 623/627 tổ chức cơ sở đảng tiến hành phân loại, còn lại 4
tổ chức cơ sở đảng mới thành lập nên chưa đủ điều kiện để tiến hành phân loại), trong đó có 483 tổ chức cơ sở đảng đạt loại trong sạch, vững mạnh, chiếm 77,52%; có 126 tổ chức cơ sở đảng hoàn thành nhiệm vụ, chiếm 20,23% và 14
tổ chức cơ sở đảng yếu kém, chiếm 2,25% Chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở có
1797 chi bộ, có 1.780 chi bộ được đánh giá chất lượng, trong đó có 1446 chi bộ đạt trong sạch, vững mạnh, chiếm 81,24%; có 327 chi bộ hoàn thành nhiệm vụ, chiếm 18,37% và có 7 chi bộ yếu kém, chiếm 0,39%
Ngoài ra tỉnh còn có các Đảng đoàn và Ban cán sự đảng cấp tỉnh là: Đảng đoàn Hội đồng nhân dân tỉnh, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Đảng đoàn Liên đoàn Lao động tỉnh, Đảng đoàn Hội cựu chiến binh tỉnh, Đảng đoàn Hội nông dân tỉnh, Đảng đoàn các hội khoa học kỹ thuật tỉnh và Đảng đoàn Hội văn học nghệ thuật tỉnh; Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban cán sự đảng Toà án nhân dân tỉnh, Ban cán sự đảng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh (xem phụ lục 1, 2, 3, 4, 5)
Trang 28- Đặc điểm của Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy Cà Mau:
Nằm trong hệ thống tổ chức của Đảng, Uỷ ban Kiểm tra tỉnh ủy Cà Mau có đủ các đặc điểm cơ bản, quan trọng, đó là: Uỷ ban Kiểm tra tỉnh là một cơ quan chuyên trách về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng; thực hiện nhiệm vụ do Điều lệ Đảng quy định; đồng thời thực hiện các nhiệm vụ do cấp ủy giao và làm tham mưu cho cấp ủy về công tác kiểm tra, giám sát Chủ nhiệm và các thành viên Uỷ ban Kiểm tra tỉnh đều phải qua chế độ bầu cử, do đại hội toàn thể Ban chấp hành Tỉnh ủy bầu; các Phó Chủ nhiệm do Ủy ban Kiểm tra tỉnh bầu trong số ủy viên Uỷ ban Kiểm tra tỉnh Các thành viên Uỷ ban Kiểm tra và Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra phải được Bộ Chính trị chuẩn y Nhiệm kỳ 2006-2010 là 11 uỷ viên (9 chuyên trách, 2 kiêm chức), trong đó, có 4 đồng chí uỷ viên UBKT là uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (có 2 là uỷ viên thường vụ) Chủ nhiệm UBKT, là uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Uỷ ban Kiểm tra bầu ra các phó chủ nhiệm, trong đó đồng chí phó chủ nhiệm thường trực là uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, đồng chí uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng ban Tổ chức và đồng chí tỉnh uỷ viên, chánh thanh tra tỉnh làm uỷ viên kiêm chức
Bộ máy tổ chức của cơ quan Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy tỉnh Cà Mau như sau:
Tổng số biên chế là 23 đồng chí (theo biên chế đã được phê duyệt, hiện tại cơ quan Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy còn thiếu 01 đồng chí) (xem phụ lục 6)
Chủ nhiệm
Các Phó chủ nhiệm
Phòng KT, Giám sát
tố cáo
Trang 29Chủ nhiệm: 01 đồng chí, Thường vụ Tỉnh ủy
Các Phó chủ nhiệm: 03 đồng chí – trong đó có 01 đồng chí là Tỉnh ủy viên, Phó chủ nhiệm thường trực Các phó chủ nhiệm được phân công theo từng mảng nhiệm vụ gắn với phụ trách địa bàn từng huyện thành phố hoặc các đảng ủy trực thuôc tỉnh như(Đảng ủy Dân chính Đảng, Đảng ủy Quân sự, Đảng ủy Công an, Đảng ủy Bộ đôi Biên phòng)
Biên chế và địa bàn phụ trách của các phòng:
Văn phòng Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy: 06 đồng chí - đảm nhiệm công tác văn phòng của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Đồng chí chánh văn phòng kiêm thêm phụ trách địa bàn huyện Phú Tân
Phòng Kiểm tra, giám sát: 03 đồng chí – ngoài nhiệm vụ chuyên môn của ngành thực hiện công tác kiểm tra, giám sát còn phải phụ trách địa bàn các huyện Cái Nước; huyên Đầm Dơi và thành phố Cà Mau
Phòng giải quyết đơn, thư tố cáo: 03 đồng chí - vừa thực hiện nhiệm vụ giải quyết đơn thư tố cáo, còn phụ trách địa bàn huyện huyện Trần vân Thời
Phòng xét Kỷ luật- giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng: 03 đồng chí- vừa thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, vừa phụ trách địa bàn các huyện U Minh, Thới Bình, Năm Căn
Phòng KT Tài chính: 03 đồng chí vừa thực hiện nhiệm vụ kiểm tra tài chính của Đảng vừa phụ trách địa bàn huyện Ngọc Hiển
Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy; sự chỉ đạo của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số Tổ chức cơ quan Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy do Tỉnh ủy quyết định bầu ra và cơ quan giúp việc cho Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy do Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy quyết định thành lập theo quyết định của Tỉnh ủy.Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh và cơ quan giúp việc Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh là những tổ chức của Đảng, đồng thời căn cứ vào tình hình và yêu cầu của công tác xây dựng Đảng từng thời kỳ và thực tiễn hoạt động của công tác giám sát, kiểm tra để tổ chức cho phù hợp với tình hình thực tế
Trang 301.1.2 Quan niệm về công tác giám sát
- Quan niệm về giám sát:
Theo “Đại từ điển tiếng Việt” do Nguyễn Như Ý(chủ biên), giám sát (đgt): Là theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ [84, tr.937]
Còn theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam” do Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, giám sát: là một hình thức hoạt động của cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội nhằm bảo đảm pháp chế hoặc sự chấp hành những qui tắc chung nào đó [28, tr.112]
Trong “Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính” [33, tr.261] của Mai Hữu Khuê và Bùi Văn Nhơn và “Từ điển Luật học” [80, tr.174] của Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa-Hà Nội, giám sát còn được hiểu: là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh
Dù cho cách diễn đạt có sự khác nhau, nhưng các quan niệm trên đều
có nội hàm chung: là sự theo dõi, quan sát, xem xét hoạt động.Có thể đưa ra quan niệm sau: Giám sát là sự theo dõi, quan sát, xem xét hoạt động của các
tổ chức có thẩm quyền mang tính chủ động, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để bắt buộc và hướng hoạt động của các tổ chức
và cá nhân chịu sự giám sát thực hiện đúng những điều đã quy định
Như vậy, đã giám sát là phải theo dõi, kiểm tra, xem xét đối tượng giám sát có thực hiện đúng các quy định mà đối tượng đó phải thực hiện hay không để trước hết nhằm nhắc nhở, đôn đốc thực hiện và là cơ sở để quyết định có tiến hành kiểm tra hay không Do đó, muốn thực hiện tốt vịêc kiểm tra thì phải thường xuyên thực hiện giám sát Giám sát nhằm đạt được mục đích nắm vững
và đánh giá đúng tình hình, từ đó điều chỉnh, uốn nắn mọi hành vi liên quan của đối tượng được giám sát Nhưng giám sát được tiến hành thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình hoạt động và phát triển của tổ chức và cá nhân, nên có nội dung rất rộng, rất bao hàm như: giám sát các hoạt động về tư tưởng, chính trị;
Trang 31giám sát về các mối quan hệ; giám sát về sinh hoạt, đạo đức, lối sống; giám sát
về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, việc thực hiện các quy định, quy chế,….nên giám sát mang tính chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra vi phạm nhiều hơn so với kiểm tra Qua hoạt động giám sát có thể kịp thời cảnh báo, nhắc nhở các cá nhân và tổ chức có biểu hiện, hành động không đúng trong quá trình triển khai thực hiện các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị và quyết định hoặc có biểu hiện không đúng về đạo đức, lối sống và sinh hoạt,…
Xét về nội hàm, “giám sát” rộng hơn “kiểm tra”, “kiểm soát” Trong hoạt động giám sát đã bao hàm hoạt động kiểm tra và kiểm soát
Tất cả các hoạt động giám sát đều thể hiện những đặc điểm chung như: Giám sát là biểu hiện của mối quan hệ giữa một chủ thể giám sát nhất định với các đối tượng cụ thể chịu sự giám sát về những nội dung xác định Giám sát là sự theo dõi, kiểm tra, xem xét đối tượng làm đúng hay làm sai những điều đã quy định Cho nên hoạt động giám sát là hoạt động có chủ đích của chủ thể giám sát, nhằm hướng đối tượng chịu sự giám sát phải làm đúng những điều đã quy định thông qua những giải pháp nào đó của chủ thể giám sát Để thực hiện sự giám sát, các chủ thể giám sát bao giờ cũng phải có những quyền hạn nhất định (được “luật hóa” thành Điều lệ, quy định hay được luật pháp quy định) đối với đối tượng chịu sự giám sát
- Quan niệm về giám sát của Đảng:
Giám sát của Đảng là công việc của các cấp ủy, tổ chức đảng theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương
Tổ chức Đảng cấp trên được giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên; đảng viên được tham gia giám sát theo sự phân công của tổ chức đảng
có thẩm quyền
Vì vậy, về nguyên tắc giám sát, cần chú ý là chỉ có tổ chức đảng cấp trên được quyền giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên; đảng viên
Trang 32không được tự ý giám sát, chỉ được tham gia giám sát khi được phân công của
tổ chức đảng có thẩm quyền Tổ chức đảng cấp dưới không được giám sát tổ chức đảng cấp trên
Chủ thể giám sát:
Là tổ chức đảng gồm có: chi bộ (chi bộ cơ sở, chi bộ trong Đảng bộ cơ
sở, chi bộ trong Đảng bộ bộ phận), Đảng ủy bộ phận, Đảng ủy cơ sở; cấp ủy, Ban thường vụ cấp ủy, Uỷ ban Kiểm tra, các Ban Đảng, Văn phòng cấp ủy, Đảng đoàn, Ban cán sự đảng các cấp
Đối tượng giám sát:
Các tổ chức đảng là đối tượng giám sát gồm có: Chi bộ (chi bộ cơ sở, chi bộ trong Đảng bộ cơ sở, chi bộ trong Đảng bộ bộ phận), Đảng ủy bộ phận, Đảng ủy cơ sở, cấp ủy, Ban thường vụ cấp ủy, thường trực cấp ủy, Uỷ ban Kiểm tra, các Ban Đảng, Văn phòng cấp ủy, Ban cán sự đảng, Đảng đoàn; các tiểu ban, hội đồng, tổ công tác do cấp ủy các cấp lập ra
Đối tượng giám sát là đảng viên gồm có: Cấp ủy viên cùng cấp (kể cả
bí thư, phó bí thư, ủy viên ban thường vụ) Tất cả mọi đảng viên (kể cả đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp ủy cùng cấp quản lý)
Sự giống và khác nhau giữa giám sát với kiểm tra:
Đối tượng giám sát, kiểm tra: đều là tổ chức đảng và đảng viên
Mục đích giám sát và kiểm tra: Đều nhằm nắm vững và đánh giá đúng thực chất tình hình, có biện pháp để ngăn ngừa, ngăn chặn, điều chỉnh, uốn nắn mọi hành vi vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên có liên quan; nhằm phục vụ thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng
Trang 33Đều phải báo cáo với cấp ủy theo quy định về thực hiện giám sát, kiểm tra
Khác nhau:
Về mục đích: Giám sát là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra vi phạm từ lúc manh nha Giám sát giúp đối tượng được giám sát thực hiện đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế; phát hiện, góp ý, phê phán, để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm là chính Qua giám sát, nếu phát hiện có vi phạm thì mới tiến hành kiểm tra
Còn mục đích kiểm tra để làm rõ đúng, sai Sau kiểm tra phải kết luận
và xử lý (nếu có vi phạm đến mức phải xử lý) Đối với công tác kiểm tra có thể có vi phạm rồi mới kiểm tra, có vụ việc vi phạm đã qua nhiều năm mới kiểm tra để làm rõ nội dung, tính chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân vi phạm để xử lý (nếu có)
Về đối tượng: Đối với giám sát, đảng viên chỉ là đối tượng giám sát và chỉ trở thành chủ thể giám sát khi được tổ chức đảng có thẩm quyền phân công Đối tượng giám sát rộng hơn đối tượng kiểm tra, vì đối tượng giám sát bao gồm cả thường trực cấp ủy các cấp; các tiểu ban, hội đồng, tổ công tác do cấp ủy các cấp lập ra
Còn đối với kiểm tra, đảng viên vừa là đối tượng kiểm tra vừa là chủ thể kiểm tra
Về phương pháp và hình thức: Giám sát không nhất thiết phải tổ chức thành cuộc (hoặc đoàn), không cần thẩm tra, xác minh, không xem xét thi hành kỷ luật như một cuộc kiểm tra, mà chỉ thông qua quan sát, theo dõi để phát hiện vấn đề, phản ánh với tổ chức đảng và cá nhân có trách nhiệm, nhằm kịp thời chấn chỉnh, sửa chữa khuyết điểm, tránh để xảy ra vi phạm; không có chủ thể tự giám sát
Còn phương pháp kiểm tra là phải tiến hành theo quy trình; thành lập tổ(hoặc đoàn) kiểm tra; coi trọng kiểm tra, xác minh Sau kiểm tra có kết luận cuộc kiểm tra, có đánh giá, nhận xét ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm (nếu có)
và xử lý kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên (đến mức phải xử lý) Công tác kiểm tra có chủ thể là đảng viên vừa có nhiệm vụ tiến hành kiểm tra và tự kiểm tra, vừa là đối tượng kiểm tra
Trang 34Giám sát và kiểm tra có mối quan hệ lẫn nhau, đan xen vào nhau, bổ sung cho nhau: Giám sát là phải có quan sát, theo dõi, xem xét tình hình thực
tế của đối tượng được giám sát Do đó, trong hoạt động giám sát đã mang tính kiểm tra để xem đối tượng thực hiện như thế nào Trong quá trình giám sát, nếu phát hiện đối tượng bị giám sát có những hoạt động chưa đúng với các quy định của Đảng, Nhà nước, có thiếu sót, khuyết điểm thì chủ thể giám sát kịp thời nhắc nhở, cảnh báo, đề nghị thực hiện đúng các quy định; nếu thấy có những việc làm trái với quy định của Đảng thì kiến nghị với cấp có thẩm quyền để có biện pháp chấn chỉnh, kiểm tra, xử lý Nếu phát hiện có dấu hiệu
vi phạm thì phải tổ chức để kiểm tra, xem xét, đánh giá, kết luận và xử lý(nếu
có vi phạm đến mức phải xử lý) Do đó, muốn thực hiện tốt việc kiểm tra thì phải thường xuyên thực hiện việc giám sát Ngược lại, kiểm tra là xem xét, đánh giá, phân tích, kết luận xem đối tượng thực hiện đúng hay sai và cũng là
để kết luận những phát hiện qua giám sát là chính xác hay không chính xác Qua kiểm tra có thể đánh giá được chất lượng, hiệu quả của công tác giám sát, nắm chắc được thực chất của tình hình và có cơ sở khi phải xem xét, xử lý tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, nhất là tinh thần tự giác khắc phục, sữa chữa sai lầm, khuyết điểm đã được nhắc nhở, cảnh báo ngay từ khi giám sát
Vì vậy, muốn thực hiện tốt giám sát thì phải có quan sát, theo dõi, xem xét, kiểm tra tình hình thực tế của đối tượng được giám sát Ngược lai, muốn thực hiện tốt việc kiểm tra thì phải thường xuyên giám sát để lựa chọn có nên đưa ra quyết định có kiểm tra hay không Làm tốt công tác giám sát sẽ giúp cho công tác kiểm tra đi đúng trọng tâm, trọng điểm, chủ động kịp thời, có chất lượng, hiệu quả cao Trong thực tế kiểm tra, giám sát được sử dụng như một cụm từ gắn liền với nhau để làm rõ hơn chức năng và bản chất của công tác giám sát, kiểm tra của Đảng Giám sát, kiểm tra là những điều kiện cần và
đủ để cho việc ra chủ trương, nghị quyết và tổ chức thực hiện chủ trương, nghị quyết được đúng đắn, đưa chủ trương, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống một cách nhất quán, toàn diện và hiệu quả, thông qua nhận thức và hành
Trang 35động của mỗi tổ chức đảng, của Uỷ ban Kiểm tra các cấp và mỗi đảng viên Việc giống và khác nhau giữa công tác giám sát và công tác kiểm tra chỉ là tương đối (thường là dùng trong công tác nghiên cứu) Trong thực tế hoạt động của Uỷ ban Kiểm tra khó có thể phân định rạch ròi, rõ ràng, rành mạch đâu là công tác giám sát, đâu là công tác kiểm tra
- Công tác giám sát của Uỷ ban Kiểm tra các cấp
Theo Hướng dẫn số 04-HD/KTTW, ngày 25 tháng 07 năm 2007 của
Uỷ ban Kiểm tra Trung ương về thống nhất thực hiện công tác giám sát của
Uỷ ban Kiểm tra các cấp có đối tượng, nội dung, cách tiến hành, trách nhiệm
và quyền giám sát như sau:
* Đối tượng giám sát
- Đối với tổ chức đảng
Cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy cấp dưới, truớc hết là cấp dưới trực tiếp; các ban của cấp ủy cấp mình, các ban cán sự đảng, đảng đoàn thuộc cấp ủy cấp mình quản lý; các tiểu ban, hội đồng, tổ công tác do cấp ủy cấp mình lập
ra (nếu được cấp ủy giao); trong quá trình thực hiện nhiêm vụ giám sát tổ chức đảng cấp dưới trực thuộc, Uỷ ban Kiểm tra có thể giám sát cả tổ chức đảng cấp dưới cách nhiều cấp
- Đối với đảng viên
Cấp ủy viên cùng cấp, kể cả bí thư, phó bí thư, ủy viên ban thường vụ; đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp ủy cùng cấp quản lý
Uỷ ban Kiểm tra các cấp được giám sát đối với mọi đảng viên trong Đảng bộ Tùy yêu cầu của nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ trong từng thời gian mà chọn đối tượng giám sát cho phù hợp Đặc biệt tập trung giám sát cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, người đứng đầu , cán bộ lãnh đạo chủ chốt
* Nội dung giám sát
- Giám sát đối với tổ chức đảng
+ Giám sát đối với tổ chức đảng cấp dưới trong việc lãnh đạo, chỉ đạo,
tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng; nghị quyết, chỉ
Trang 36thị, quy định, quyết định, kết luận của cấp ủy cấp trên và của cấp ủy cấp mình; việc thực hiện nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; thực hiện quy chế làm việc; thực hiện chương trình, kế hoạch công tác toàn khóa, hằng năm của cấp ủy, tổ chức đảng trên các lĩnh vực và công tác cán bộ; việc thực hiện quy chế làm việc của cấp ủy cấp mình; những nội dung khác do cấp ủy giao (nếu có)
- Giám sát đối với đảng viên
Việc chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; việc thực hiện tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên; thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống; việc giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú; thực hiện những điều cán bộ, đảng viên và công chức không được làm; thực hiện chế độ kê khai và công khai tài sản của cán bộ, đảng viên theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; việc chấp hành quy chế làm việc của cấp ủy (đối với cấp ủy viên cùng cấp); những nội dung khác do cấp ủy cấp mình giao (nếu có)
Tùy vào yêu cầu của việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ trong từng thời gian, nội dung giám sát của Uỷ ban Kiểm tra các cấp đối với tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên cần phải có trọng tâm, trọng điểm
* Cách tiến hành giám sát
Giám sát của Uỷ ban Kiểm tra các cấp đối với tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được tiến hành theo hai cách: Giám sát thường xuyên và giám sát theo chuyên đề; giám sát thường xuyên có giám sát trực tiếp và giám sát gián tiếp Giám sát thường xuyên không lập tổ giám sát; giám sát theo chuyên đề
có lập tổ giám sát
- Giám sát thường xuyên
Uỷ ban Kiểm tra thông báo thành viên ủy ban, cán bộ, chuyên viên theo dõi lĩnh vực, địa bàn (gọi chung là người giám sát) cho tổ chức đảng cấp dưới biết
Trang 37+ Giám sát trực tiếp:
Giám sát thông qua thành viên Uỷ ban Kiểm tra dự các cuộc họp của cấp ủy cùng cấp; nghiên cứu báo cáo, đề án, phương án, dự án; nghị quyết, chỉ thị,…(gọi chung là báo cáo) để phục vụ việc giám sát; tại cuộc họp của ban chấp hành: tham gia thảo luận về báo cáo và các vấn đề liên quan đến nội dung cuộc họp; theo dõi việc thảo luận, kết luận; theo dõi việc chấp hành quy chế làm việc tại cuộc họp của ban chấp hành, của các cấp ủy viên; phát hiện các vấn đề qua nghiên cứu báo cáo và thảo luận tại cuộc họp của ban chấp hành; báo cáo với Uỷ ban Kiểm tra kết quả giám sát bằng văn bản; Uỷ ban Kiểm tra xem các ý kiến của các thành viên Uỷ ban Kiểm tra; báo cáo với cấp
ủy những vấn đề cần thiết; lập và lưu trữ hồ sơ giám sát
Giám sát thông qua các cuộc họp, hội nghị của tổ chức đảng cấp dưới:
Người giám sát theo dõi lĩnh vực, địa bàn dự các cuộc họp, hội nghị thường
kỳ, đột xuất của cấp ủy, ban thường vụ, tổ chức đảng cấp dưới(gọi chung là tổ chức đảng cấp dưới) theo trình tự như: Nghiên cứu báo cáo, tài liệu có liên quan phục vụ giám sát; chuẩn bị ý kiến phát biểu; tại cuộc họp, theo dõi việc thảo luận, kết luận; trao đổi để nắm vững hơn, rõ hơn những vấn đề liên quan đến nội dung giám sát và phát biểu ý kiến (nếu thấy cần thiết); phát hiện những vấn đề qua nghiên cứu báo cáo và thảo luận tại cuộc họp Trường hợp cần thiết, đề nghị tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được giám cung cấp thêm tài liệu phục vụ việc giám sát; góp ý kiến với tổ chức đảng cấp đưới và đảng viên được giám sát bằng hình thức thích hợp; báo cáo với Uỷ ban Kiểm tra (qua thường trực Uỷ ban Kiểm tra) bằng văn bản (trường hợp khẩn cấp có thể báo cáo qua điện thoại, fax,…) để thường trực ủy ban xem xét, yêu cầu tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được giám sát về những vấn đề cần thiết; người giám sát theo dõi tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được giám sát thực hiện yêu cầu của Uỷ ban Kiểm tra; lập và lưu trữ hồ sơ giám sát
Giám sát thông qua trực tiếp, thường xuyên bám sát địa bàn, lĩnh vực:
Người giám sát trực tiếp, thường xuyên bám sát địa bàn, lĩnh vực được phân công theo dõi để tiếp cận thực tế công việc, nắm tình hình về tổ chức
Trang 38đảng và đảng viên được giám sát; thu thập các văn bản, tài liệu, thông tin để nghiên cứu, xem xét, phát hiện vấn đề; trường hợp cần thiết, có thể đề nghị tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên có liên quan cung cấp văn bản, tài liệu phục
vụ việc giám sát; định kỳ (hằng tháng, quý, 6 tháng, 1 năm) hoặc đột xuất, báo cáo thường trực ủy ban bằng văn bản về tình hình tổ chức đảng và đảng viên thuộc địa bàn, lĩnh vực được phân công theo dõi; nếu phát hiện tổ chức đảng cấp dưới hoặc đảng viên có dấu hiệu vi phạm thì báo cáo thường trực ủy ban xem xét, quyết định; lập và lưu trữ hồ sơ giám sát
Giám sát thông qua tham gia các đoàn công tác của cấp ủy cấp mình:
Người giám sát khi được Uỷ ban Kiểm tra cử tham gia các đoàn công tác của cấp ủy cấp mình phải thực hiện các công việc như: Chủ động nắm tình hình liên quan đến nội dung, đối tượng nơi đoàn công tác của cấp ủy đến làm việc; nghiên cứu các báo cáo, tài liệu liên quan đến nội dung, đối tượng đến làm việc phục vụ công việc của đoàn công tác của cấp ủy và việc giám sát; kết hợp việc nghiên cứu báo cáo, tài liệu phục vụ đoàn công tác của cấp ủy với nắm tình hình thực tế từ các kênh thông tin về tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên nơi đoàn công tác đến làm việc(qua báo chí; qua tổ chức và cá nhân; qua đơn thư khiếu nại, tố cáo; qua công tác thẩm tra, xác minh, thanh tra, kiểm toán,…) để phát hiện vấn đề phục vụ công tác của cấp ủy và phục vụ việc giám sát; báo cáo kết quả tham gia đoàn công tác của cấp ủy, nắm tình hình với thường trực Uỷ ban Kiểm tra; giao người giám sát theo dõi tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên nơi đoàn công tác của cấp ủy đến làm việc chấp hành thông báo kết quả làm việc của cấp ủy (nếu được cấp ủy giao); lập và lưu trữ hồ sơ giám sát
+ Giám sát gián tiếp
Việc giám sát gián tiếp của Uỷ ban Kiểm tra (trực tiếp là người giám sát) đối với tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên, như sau: Nghiên cứu, nắm tình hình qua báo cáo, thông báo kết quả các cuộc kiểm tra của cấp ủy, tổ chức đảng, Uỷ ban Kiểm tra các cấp; nghiên cứu báo cáo kết quả tự phê bình
Trang 39của tổ chức đảng cấp dưới gửi Uỷ ban Kiểm tra cấp trên để phát hiện vấn đề;
tổ chức lấy ý kiến về tổ chức đảng và đảng viên bằng hình thức thích hợp (điều tra xã hội học, tọa đàm, tiếp xúc,…) để nghiên cứu, phân tích vụ việc; trao đổi, nắm tình hình từ các tổ chức đảng trong các cơ quan bảo vệ pháp luật, các đoàn thể chính trị- xã hội; qua phản ánh của quần chúng, các phương tiện thông tin đại chúng và đơn thư tố cáo, khiếu nại kỷ luật đảng để nắm tình hình về tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên; thông qua nghiên cứu các văn bản, báo cáo của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới gửi Uỷ ban Kiểm tra, các văn bản, tài liệu của tổ chức đảng, đảng viên được giám sát gửi đến theo yêu cầu
để nghiên cứu, phát hiện vấn đề phục vụ việc giám sát; khi cần thiết, người giám sát có thể trao đổi với tổ chức đảng cấp dưới hoặc đảng viên có liên quan qua điện thoại, bằng văn bản hoặc có thể gặp trực tiếp để làm rõ những vấn đề liên quan đến nội dung giám sát; qua giám sát, nếu thấy cần thiết, người giám sát góp ý kiến với tổ chức đảng hoặc đảng viên được giám sát bằng hình thức thích hợp
Trường hợp vượt quá thẩm quyền, người giám sát báo cáo để thường trực Uỷ ban Kiểm tra xem xét, nhắc nhở, yêu cầu tổ chức đảng cấp dưới hoặc đảng viên được giám sát khắc phục, sửa chữa thiếu sót, khuyết điểm (nếu có); người giám sát theo dõi tổ chức đảng cấp dưới hoặc đảng viên được giám sát thực hiện yêu cầu của Uỷ ban Kiểm tra; lập và lưu trữ hồ sơ giám sát
- Giám sát theo chuyên đề
Hằng năm, qua nắm tình hình, nghiên cứu báo cáo, tài liệu có liên quan,
Uỷ ban Kiểm tra xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát đối với tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên; thông báo cho đối tượng giám sát biết ngay từ đầu năm về nội dung, đối tượng, mốc thời gian giám sát, thời gian giám sát; lập kế hoặch giám sát cụ thể theo chuyên đề đối với từng tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên; quyết định thành lập tổ giám sát; phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong tổ giám sát Có văn bản của Uỷ ban Kiểm tra đề nghị tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được giám sát chuẩn bị, gửi báo cáo
Trang 40và tài liệu phục vụ việc giám sát; yêu cầu tổ chức đảng cấp dưới tổ chức cuộc họp để tổ giám sát nghe báo cáo giải trình; các thành viên dự họp trao đổi, thảo luận nội dung báo cáo; tổ giám sát trao đổi, đề xuất, yêu cầu đối với tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được giám sát về những vấn đề cần thiết; tổ giám sát báo cáo bằng văn bản với Uỷ ban Kiểm tra (qua thường trực Uỷ ban Kiểm tra) kết quả giám sát đối với tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên; Uỷ ban Kiểm tra hoặc thường trực Uỷ ban Kiểm tra (nếu được Uỷ ban Kiểm tra
ủy nhiệm) xem xét, đánh giá; thông báo bằng văn bản kết quả giám sát cho tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được giám sát về ưu điểm, thiếu sót, khuyết điểm (nếu có) và những yêu cầu cần thiết; người giám sát theo dõi tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được giám sát thực hiện thông báo kế quả giám sát của
Uỷ ban Kiểm tra hoặc thường trực Uỷ ban Kiểm tra; báo cáo kết quả thực hiện giám sát với thường trực Uỷ ban Kiểm tra; lập và lưu trữ hồ sơ giám sát
* Trách nhiệm và quyền của Uỷ ban Kiểm tra các cấp, tổ giám sát và người giám sát
Trách nhiệm và quyền của Uỷ ban Kiểm tra, tổ giám sát Uỷ ban Kiểm tra được dự các cuộc họp của cấp ủy cùng cấp Đại diện Uỷ ban kiểm tra được dự các cuộc họp của ban thường vụ (khi được mời); Uỷ ban Kiểm tra cử thành viên
Uỷ ban Kiểm tra, người giám sát dự các cuộc họp của tổ chức đảng cấp dưới
Khi thực hiện giám sát, Uỷ ban Kiểm tra được chất vấn, yêu cầu tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên về những vấn đề liên quan đến việc giám sát trực tiếp tại cuộc họp của tổ chức đảng cấp dưới hoặc bằng văn bản yêu cầu cấp dưới trả lời; xem xét, đánh giá về nội dung giám sát đối với đối tượng giám sát Tổ giám sát được chất vấn, đề nghị tổ chức đảng và đảng viên được giám sát cung cấp văn bản giám sát Qua giám sát, Uỷ ban Kiểm tra kiến nghị cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới kịp thời phát huy ưu điểm, khắc phục, sửa chữa khuyết điểm Nếu phát hiện cấp dưới ban hành các quyết định không đúng với chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước thì Uỷ ban Kiểm tra yêu cầu cấp ủy cấp dưới sửa chữa, nếu không sửa chữa thì báo cáo cấp ủy