Vẻ đẹp nhân cách Tú Xương qua bài thơ Thương vợ là tài liệu văn mẫu lớp được Thư viện điên tử sưu tầm và đăng tải. Hi vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn nắm được các nội dung trọng tâm khi viết văn, tránh đi lạc đề. Chúc các em học sinh đạt được kết quả cao trong học tập.
Trang 1Vẻ đẹp nhân cách Tú Xương trong bài thơ Thương vợ Ngữ văn 11
Dàn ý chi tiết
I Mở bài
- Trình bày những nét khái quát về tác giả Trần Tế Xương: một ánh sao lạ vụtsáng trên bầu trời văn chương nước Việt với những bài thơ mang tư tưởng li tâmNho giáo
- Thương vợ là một bài thơ tiêu biểu của Trần Tế Xương Không chỉ thể hiệnthành công hình tượng trung tâm là bà Tú mà bài thơ cũng đặc biệt thành cônghình ảnh ông Tú với những phẩm chất đáng quý
II Thân bài
1 Ông Tú là người có tấm lòng thương vợ sâu sắc
• Ông Tú cảm thương cho sự vất vả, lam lũ của bà Tú
- Ông thương bà Tú vì phải mang gánh nặng gia đình, quanh năm lặn lội “momsông”:
+ Thời gian “quanh năm”: làm việc liên tục, không trừ ngày nào
+ Địa điểm “mom sông”:phần đất nhô ra phía lòng sông không ổn định
⇒ Ông Tú thương hoàn cảnh làm ăn vất vả, ngược xuôi, không vững vàng, ổnđịnh, bà không những phỉ nuôi còn mà phải nuôi chồng
- Ông thương vợ khi phải lặn lội bươn chải khi làm việc:
+ “Lặn lội”: Sự lam lũ, cực nhọc, nỗi gian truân, lo lắng
+ Hình ảnh “thân cò”: gợi nỗi vất vả, đơn chiếc khi làm ăn + khi quãng vắng:thời gian, không gian heo hút rợn ngợp, chứa đầy những nguy hiểm lo âu
+ “Eo sèo… buổi đò đông”: gợi cảnh chen lấn, xô đẩy, giành giật ẩn chứa sự bấttrắc + Buổi đò đông: Sự chen lấn, xô đẩy trong hoàn cảnh đông đúc cũng chứađầy những sự nguy hiểm, lo âu
⇒ Tấm lòng thương xót da diết của ông Tú trước thực cảnh mưu sinh của bà Tú
Trang 2• Ông phát hiện và trân trọng, ngợi ca những đức tính tốt đẹp của vợ
- Ông cảm phục bởi tuy vất vả nhưng bà Tú vẫn chu đáo với chồng con :
+ “nuôi”: chăm sóc hoàn toàn
+ “đủ năm con với một chồng”: một mình bà Tú phải nuôi cả gia đình, khôngthiếu
- Ông Tú trân trọng sự chăm chỉ, tần tảo đảm đang của vợ:
+ “Một duyên hai nợ âu đành phận”: chấp nhận, không than vãn
+ “dám quản công”: Đức hy sinh thầm lặng cao quý vì chồng con, sự tần tảo,đảm đang, nhẫn nại
⇒ Trần Tế Xương đã trân trọng đề cao phẩm chất cao đẹp của bà Tú: đức tínhchịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con của bà Tú
2 Ông ý thức được bản thân là gánh nặng của vợ và căm phẫn trước xã hội đẩyngười phụ nữ vào bất công
• Người đàn ông trong xã hội phong kiến đáng lẽ ra phải có sự nghiệp hiển hách
để lo cho vợ con, nhưng ở đây, ông Tú ý thức được bản thân là gánh nặng củavợ
+ “Nuôi đủ năm con với một chồng” : Tú Xương ý thức được hoàn ảnh củamình, nhận mình có khiếm khuyết, phải ăn bám vợ, để vợ phải nuôi con vàchồng coi mình là một đứa con đặc biệt
+ “Một duyên hai nợ”: Tú Xương cũng tự ý thức được mình là “nợ” mà bà Túphải gánh chịu
+ “Có chồng hờ hững cũng như không”: Tú Xương ý thức sự hờ hững của mìnhcũng là một biểu hiện của thói đời
+ Từ tấm lòng thương vợ, Tú Xương cũng chửi cả thói đời đen bạc đẩy ngườiphụ nữ vào bất công
+ “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc”: tố cáo hiện thực, xã hội quá bất công với ngườiphụ nữ, quá bó buộc họ để những người phụ nữ phải chịu nhiều cay đắng vất vả
Trang 3⇒ Bất mãn trước hiện thực, Tú Xương đã vì vợ mà lên tiếng chửi, ông căm phẫn
xã hội đẩy người phụ nữ vào ngang trái bất công
III Kết bài
- Khẳng định lại những nét nghệ thuật tiêu biểu góp phần thể hiện thành cônghình ảnh ông Tú
- Trình bày suy nghĩ bản thân
Bài tham khảo 1
Thơ xưa viết về người vợ đã ít mà viết về vợ khi đang còn sống lại cànghiếm hoi hơn Các thi nhân chỉ làm thơ khi người bạn trăm năm đã qua đời, kểcũng là điều nghiệt ngã, khi người vợ đi vào thiên thư mới được đi vào địa hạtthi ca Bà Tú có thể đã chịu nghiệt ngã của cuộc đời nhưng lại có được niềmhạnh phúc mà bao kiếp người vợ xưa không có được Ngay lúc còn sống, bà đã
đi vào thơ ông với tất cả niềm yêu thương, trân trọng của chồng Ông Tú phảithương vợ lắm thì mới hiểu và viết được như thế Trong thơ ông ta bắt gặp hìnhảnh bà Tú hiện lên phía trước, ông Tú khuất lấp theo sau
Trong bài thơ, hình ảnh bà Tú hiện lên rõ nét qua những nét hoạ của TúXương, nhưng để làm được điều đó hẳn ông phải là một người chồng yêuthương và hiểu vợ rất nhiều Ông luôn giõi theo những bước đi đầy gian truâncủa bà Tú, thương nhưng chẳng biết lằm gì, chỉ biết thể hiện nó qua thơ ca.Bằng những lời thơ chân chất, mộc mạc chân thành, tú Xương đã khắc học rõnét hình ảnh bà Tú với lòng yêu thương da diết Mỗi chữ trong thơ Tú Xươngđều chất chứa bao tình ý, yêu thương và lòng cảm phục sâu sắc:
Nuôi đủ năm con với một chồng
Từ đủ trong nuôi đủ vừa nói rõ số lượng, vừa nới chất lượng bà Tú nuôi cảcon, cả chồng, nuôi đảm bảo đến mức: “Cơm hai bữa cá kho rau muống Quàmột chiều: khoai lang, lúa ngô Tuy chỉ ẩn hiện đằng sau hình ảnh bà Tú, khóthấy, nhưng khi đã thấy rồi thì ấn tượng thật sâu đậm, ở đây cũng vậy, ông Túkhông xuất hiện trực tiếp nhưng vẫn hiển hiện qua từng câu thơ Đằng sau cốtcách khôi hài, trào phúng là một tấm lòng không chỉ thương mà còn là tri ân vợ
Trang 4Có người cho rằng, trong câu thơ trên, ông Tú tự coi mình là một đứa con đặcbiệt để bà Tú phải nuôi Tú Xương đã không gộp mình với con để nới mà táchriêng rặch ròi là để ông tự riêng tri ân vợ Nhà thơ không chỉ cảm phục biết ơn
sự hi sinh rất mực của vợ mà ông còn tự trách mình, tự lên án bản thân ôngkhông dựa vào duyên số để trút bỏ trách nhiệm Bà Tú laays ông là do duyên,nhưng duyên một mà nợ hai Tú Xương tự coi mình là cái nợ mà bà Tú phảigánh chịu Nợ gấp đôi duyên, duyên ít, nợ nhiều Ông chủi thói đời bạc bẽo, vìthói đời là một nguyên nhân sau xa khiến bà Tú phải khổ, sự hờ hững của ongvới vợ con cũng là một biểu hiện của thói đời bạc bẽo
Ở cái xã hội đã có luật bất thành văn đối với người phục nữ: Xuất giá tòngphu, đối với quan hệ vợ chồng thì phu xướng, phụ tuỳ thế mà có một nhà thơdám sòng phẳng với bản thân, với cuộc đời, dám tự thừa nhận mình là quân ănbám vợ, không những đã biết nhận ra thiếu sót, mà còn giám tự nhận khuyếtđiểm Một con người như thế chẳng đẹp lắm sao Nhan đề Thương vợ chưa nớihết sự sâu sắc trong tình cảm của Tú Xương đối với vợ cũng như chưa thể hiệnđầy đủ vẻ đẹp nhân bản của tâm hồn Tú Xương Ở bài thơ này, tác giả không chỉbiết thương vợ mà còn biết ơn vợ không chỉ đẻ lên án thói đời mà còn là đểtrách bản thân Nhà thơ dám tự nhận khuyết điểm, càng thấy mình khiếmkhuyết, càng thương yêu, quya trọng vợ hơn
Tình yêu thương, quý trọng vợ là cảm xúc có phần mới mẻ so với nhữngcảm xúc quen thuộc trong văn học trung đại Cảm xú mới mẻ đó lại được diễn tảbằng hình ảnh và ngôn ngữ quen thuộc của văn học dân gian, chứng tỏ hồn thơ
Tú Xương vừa mới lạ, độc đáo vẫn rất gần gũi với mọi người, vẫn có gốc rễ sâu
xa trong tâm thức dân tộc
Bài tham khảo 2
Tú Xương có nhiều vần thơ, phú nói về vợ Bà Tú vốn là “con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ” một người con dâu giỏi làm ăn buôn bán, hiền lành được bà con xa gần mến trọng
Nhờ thế mà ông Tú mới được sống cuộc đời phong lưu: “Tiền bạc phó cho con mụ kiếm - Ngựa xe chẳng lúc nào ngơi”
Trang 5“Thương vợ” là bài thơ cảm động nhất trong những bài thơ trữ tình của Tú Xương Nó là bài thơ tâm sự, đồng thời cũng là bài thơ thế sự Bài thơ chứa chan tình thương yêu nồng hậu của ông Tú đối với người vợ hiền thảo của mình.Sáu câu thơ đầu nói lên hình ảnh của bà Tú trong gia đình và ngoài cuộc đời - hình ảnh chân thực về một người vợ tần tảo, một người mẹ đôn hậu, giàu đức hi sinh.
Hai câu thơ trong phần đề giớí thiệu bà Tú là một người vợ rất đảm đang, chịu thương chịu khó Nếu như bà vợ của Nguyễn Khuyến là một phụ nữ “hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng, chân nam đá chân chiêu, vì tớđần trong mọi việc” (câu đối của Nguyễn Khuyến thì bà Tú là một người đàn bà
“Quanh năm buôn bán” là cảnh làm ăn đầu tắt mặt tối, từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác… không được một ngày nghỉ ngơi Bà
Tú “Buôn bán ở mom sông”, nơi cái mảnh đất nhô ra, ba bề bao bọc sông nước; nơi làm ăn là cái thế đất chênh vênh Hai chữ “mom sông” gợi tả một cuộc đời nhiều mưa nắng, một cảnh đời cơ cực, phải vật lộn kiếm sống, mới “Nuôi đủ năm con với một chồng” Một gánh nặng gia đình đè nặng lên đôi vai người mẹ,người vợ Thông thường người ta chỉ đếm mớ rau, con cá, đếm tiền bạc… chứ ai
“đếm” con, “đếm” chồng(!) Câu thơ tự trào ẩn chứa nỗi niềm chua chát về một gia đình gặp nhiều khó khăn: đông con, người chồng đang phải “ăn lương vợ”
Có thể nói, hai câu đầu, Tú Xương ghi lại một cách chân thực người vợ tần tảo, đảm đang của mình
Phần thực tô đậm thêm chân dung bà Tú, mỗi sáng mỗi tối đi đi về về “lặn lội” làm ăn như “thân cò” nơi “quãng vắng” Ngôn ngữ thơ tăng cấp tô đậm thêm nỗi cực nhọc của người vợ Câu chữ như những nét vẽ, gam màu nối tiếp nhau, bổ trợ và gia tăng: đã “lặn lội” lại “thân cò”, rồi còn “khi quãng vắng” Nỗi cực nhọc kiếm sống ở “mom sông” tưởng như không thể nào nói hết được! Hình ảnh “con cò”, “cái cò” trong ca dao cổ: “Con cò lặn lội bờ sông…”, “con
cò đi đón cơn mưa…”, “Cái cò, cái vạc, cái nông…” được tái hiện trong thơ Tú Xương qua hình ảnh “thân cò” lầm lũi đã đem đến cho người đọc bao liên tưởngcảm động về bà Tú, cũng như thân phận vất vả, cực khổ… của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ
Trang 6“Eo sèo” từ láy tượng thanh chỉ sự làm rầy rà bằng lời đòi, gọi liên tiếp dai dẳng; gợi tả cảnh tranh mua tranh bán, cảnh cãi vã nơi “mặt nước” lúc “đò đông” Một cuộc đời “lặn lội”, một cảnh sống làm ăn “eo sèo” Nghệ thuật đối đặc sắc đã làm nổi bật cảnh kiếm ăn nhiều cơ cực Bát cơm, manh áo mà bà Tú kiếm được “nuôi đủ năm con với một chồng” phải “lặn lội”trong mưa nắng, phảigiành giật “eo sèo”, phải trả giá bao mồ hôi, nước mắt giữa thời buổi khó khăn!
“Duyên” là duyên số, duyên phận, “nợ” là cái “nợ” đời mà bà Tú phải cam phận, chịu đựng “Nắng”, “mưa” tượng trưng cho mọi vất vả và khổ cực Các số
từ trong câu thơ tăng dần lên: “một … hai… năm… mười…” làm nổi rõ đức hy sinh thầm lặng của bà Tú, một người phụ nữ chịu thương chịu khó vì sự ấm no hạnh phúc của chồng con và gia đình “Âu đành phận” dám quản công”… giọng thơ nhiều xót xa thương cảm
Tóm lại, sáu câu thơ đầu, bằng tấm lòng biết ơn và cảm phục, Tú Xương đã phác hoạ một vài nét rất chân thực và cảm động về hình ảnh bà Tú, người vợ hiền thảo của mình với bao đức tính đáng quý: đảm dang, tần tảo, chịu thương, chịu khó, thầm lặng hi sinh cho hạnh phúc gia đình Tú Xương thể hiện bút phápđiêu luyện trong sử dụng ngôn ngữ và sáng tạo hình ảnh Các từ láy, các số từ, phép đối, đảo ngữ, sử dụng sáng tạo thành ngữ và hình ảnh “thân cò”… đã tạo nên ấn tượng và sức hấp dẫn của văn chương
Hai câu kết, Tú Xương sử dụng từ ngữ thông tục, lấy tiếng chửi nơi “mom sông”, lúc “buổi đò đông” đưa vào thơ rất tự nhiên, bình dị Ông tự trách mình
“ăn lương vợ” mà “ăn ở bạc” Vai trò người chồng, người cha chẳng giúp ích được gì, vô tích sự, thậm chí còn “hờ hững” với vợ con Lời tự trách sao mà chua xót thế!
Bài tham khảo 3
Nguyễn Khuyến khi viết về Tú Xương đã dùng những vần thơ đầy cảm xúc:
“Kìa ai chín suối xương không nát
Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn”
Trang 7Đó là sự còn lại của một tài năng nghệ thuật, một tâm hồn, một nhân cách lớntrong nền văn học trung đại nói riêng cũng như văn học Việt Nam nói chung: Trần
Tế Xương
Tú Xương sống trong thời kỳ mà bức tranh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX làmột bức tranh xám xịt, nham nhở Đời sống thành thị bị tha hoá trong thứ xã hộinửa tây, nửa ta nhốn nháo, hỗn tạp Ở những vùng kẻ chợ như Hà Nội, Nam Định(quê Tú Xương) thì phơi bày cảnh đồi bại, lố lăng Tú Xương là con người đầy đủbản lĩnh và lương tri của một tri thức Việt Nam phong kiến chân chính Ông nhậnthức được tất cả những gì đang diễn ra nhưng không thể làm gì để thay đổi nênđành bất lực Với tài thơ văn xuất chúng, có cái tâm của một nhà nhân đạo chủnghĩa, yêu nước, thương xót giống nòi của mình; có cái trí của một kẻ sĩ, của mộtngười đủ tinh tế để nhận biết tất cả những gì đang diễn ra, để biết mình có thể chấpnhận, phủ nhận gì Thơ văn ông thể hiện nỗi lòng đau đáu về một xã hội cũ đangtan rã và một xã hội mới đang hình thành “với những vai tuồng mới, lố bịch, bấttài, vô hạnh và vong quốc” (Đỗ Đức Hiểu) Có thể nói tâm sự của Tú Xương chính
là tâm sự chung của những người bị xã hội đen bạc gạt ra ngoài cuộc sống mà bảnthân họ cũng không thể chấp nhận Càng chứng kiến xã hội bất công, càng hiểu vềnỗi niềm của ông, ta càng thêm cảm phục cho một tâm hồn, một nhân cách Ngườiđọc biết đến Tú Xương ở hai mảng thơ trào phúng và trữ tình và hai mảng thơ này
đã góp phần hoàn thiện nên bức chân dung tinh thần của ông Thơ trào phúng làtiếng nói của một con người biết hết lề thói của cõi đời đen bạc, hiểu nên đứngtrên nó một cách ngông nghênh, ngạo nghễ Thơ trữ tình lại là những phút giâyông sống trong nỗi niềm băn khoăn, day dứt của một nhà thơ yêu nước trước vậnmệnh của quê hương, đất nước, trước sự tha hoá, biến chất của con người trong xãhội Tây tàu lẫn lộn, cũng như những nỗi niềm của yêu thương dành cho người dân,đành cho những người thân yêu của ông, đặc biệt là bà Tú
Trong các tác phẩm của mình Tú Xương đã không ngần ngại vạch trần bộ mặt của
xã hội thời ông khi mà quan lại thực chất chỉ là những tên tay sai hèn hạ, chỉ biếttham nhũng và hối lộ “Quan thấy tiền như kiến thấy mỡ” “Tiền vào nhà quan nhưthan vào lò” Lại là những kẻ dốt nát chỉ biết ăn chơi, cờ bạc Ông đã không dừnglại ở những nét cá tính bên ngoài mà dường như qua đó còn muốn khái quát lênthành nét chung của cả thời đại Bên cạnh quan lại, một tầng lớp cũng đặc biệtđược ông chú ý chĩa ngòi bút chính là những “ông cử”, “ông tú”, những kẻ tri thức
“biết” vứt bỏ nhân cách của mình để chạy theo thời thế nhưng rút cuộc cũng chỉ làmột lũ tay sai nhố nhăng, vô tích sự và mất hết liêm xỉ Thế nên mới có cái cuộc
“Xướng danh khoa thi Ất Dậu” nhục nhã nhường này:
“Một đàn thằng hỏng đứng mà trông
Nó đỗ phen này có sướng không
Trang 8Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng’’.
Cái đầu rồng của ông cử có vinh quang, có đẹp đẽ đến đâu thì cũng chỉ được đốivới “cái đít vịt” của bà đầm, thậm chí còn được đổi ở trong một tư thế ngưỡngvọng từ dưới lên Danh giá, lòng tự trọng, nhân phẩm của những kẻ chạy theo thờithế ấy thì cũng chỉ được đến thế mà thôi Kéo theo sau đó còn là một thế hệ những
kẻ công chức sản phẩm đồng thời là tay sai của chế độ thuộc địa, sống không lýtưởng, vô tích sự, “sang vác ô đi tối vác về” Phụ nữ thì sống lẳng lơ, buông thả:
“Em giận thân em chẳng có chồng Ngày năm bảy mối tối nằm không’’
Bọn phụ nữ trung lưu, những bà đầm, bà me ra vẻ ta đây đài các thì lại là những kẻ
đĩ thoã, tà dâm Ông thẳng tay châm biếm:
“Thôi đừng điếu tráp nghênh ngang nữa Thằng tiểu Phù Long nó chửi mày”
Có thể nói, trong cái nhìn của Tú Xương, trong xã hội ấy nhân cách con người trởnên méo mó một cách thảm hại Nó khiến cho lối sống của con người cũng bị thahoá theo, thuần phong mĩ tục, truyền thống đạo đức tốt đẹp vốn có của người ViệtNam bị phá vỡ mà điển hình nhất chính là ở nơi mảnh đất Vị Hoàng quê hương tácgiả
“Nhà kia lỗi phép con khinh bố
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng”
để rồi ông phải thốt lên đau đớn: “Có đất nào như đất ấy không?” Còn lại một cáigật mình thảng thót:
“Vẳng nghe tiếng ếch bên tai Giật mình cứ ngỡ tiếng ai gọi đò"
Miêu tả hiện thực bằng một giọng trào phúng sâu cay, Tú Xương đã mang đến chocác tác phẩm của mình “Tiếng cười thuần tuý Việt Nam, khi thì nhẹ nhàng dí dỏm,khi thì mỉa mai chua chát, cay độc, đã văng vào mặt ai thì để lại dấu vết gột khôngphai, mài không nhẵn, với những tiếng cười gằn, cười ra nước mắt, có khi là
Trang 9những tiếng khóc, khóc ra tiếng cười” (Tú Mỡ) Cũng giống như những nhà viếthài kịch xưa nay, Tú Xương cũng đã dùng tiếng cười của mình những mong tốngtiễn những cái kệch cỡm trong xã hội đương thời nhưng ông đành bất lực Đằngsau tiếng cười, tiếng chửi đời, chửi người một cách gay gắt, chua ngoa ấy, người tanhận ra một nhân cách lớn, người có lòng yêu nước mà không thể cam chịu, nénlòng trước cảnh đất nước quê hương mình đang đứng trên bờ vực của sự tha hoá,suy thoái Đó là thái độ trào phúng của một tầng lớp tri thức cữ tuyệt vọng, bấtmãn với hiện thực nhưng đành bất lực Đằng sau tiếng cười ấy, người ta cảm nhậnđược những giọt nước mắt đau đớn, xót xa.
Bên cạnh thơ trào phúng, các sáng tác thơ trữ tình của Tú Xương thể hiện một góckhác trong con người ông: một Tú Xương tuy vẫn không mất đi vẻ sắc nhọnnhưng cũng đầy suy tư, trầm tĩnh Trong các tác phẩm này, chất trào phúng đã nhưmột đặc trưng của Tú Xương vẫn xuất hiện nhưng cái khiến cho người ta quan tâmnhiều hơn cả vẫn là những nỗi niềm tâm sự của ông, tình cảm yêu thương mà ôngdành cho những người xung quanh mình, đặc biệt là bà Tú vợ ông Hãy nghenhững lời trong bài thơ mà ông viết cho bà Tú:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ trăm con với một chồng Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông Một duyên hai nợ âu đành phận Năm nắng mười mưa dám quản công Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững củng như không”.
Trong những bài thơ viết về vợ của Tú Xương, bao giờ ta cũng bắt gặp hình ảnhhai người: bà Tú hiện ra ở phía trước, ông Tú khuất lấp phía sau Ở bài “Thươngvợ” ông Tú tuy không xuất hiện trực tiếp nhưng hình ảnh ông hiển hiện trong từngcâu chữ Đằng sau cốt cách khôi hài, trào phúng là cả một tấm lòng không chỉthương vợ mà còn tri ân vợ Ông nhận thấy và cảm kích cho những vất vả củacuộc đời bà Tú, cho đức hi sinh cao cả:
“Một duyên hai nợ âu đành phận
Trang 10Năm nắng mười mưa dám quản công”.
để sao cho “Nuôi đủ năm con với một chồng” bởi nói như Xuân Diệu: “Thì rachồng cũng là một thứ con còn dại” mà bà Tú phải nặng vai gánh vác Con người
ấy đã thể hiện nhân cách của mình qua lời tự trách, ông không dựa vào duyên số
mà trút bỏ trách nhiệm Ông tự coi mình là một cái nợ đời mà bà Tú phải gánhchịu Mà nợ thì gấp đôi duyên, duyên ít, nợ nhiều, ông tự chửi mình nhưng cũng làchửi thói đời đen bạc:
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Nghe lời chửi thay cho bà Tú của ông, ta lại nhớ đến những vất vả lận đận trongcuộc đời Tú Xương Số phận của bản thân ông phản ánh số phận của dân tộc ôngthời ấy Đó là bi kịch của một con người "tiến thoái lường nan", ông không thểcam tâm "vứt bút lông đi giắt bút chì" để trở thành "Chẳng kí, không thông cũngcậu bồi" như những kẻ vô liêm sỉ khác Ông cũng không phải hạng hủ nho vùi đầuvào kinh sử, quanh năm "đẽo gọt con sâu" Chính vì vậy mà ông đến nỗi "támkhoa chưa khỏi phạm trường qui" Nói gì thì nói, đối với một người theo nghềkhoa cử, đó cũng vẫn là một nỗi buồn không thể nào khoả lấp được Tú Xương đãkhông có được sự dứt khoát như Nguyễn Khuyến (“Đèn sách ích gì cho buổi ấy”),ông tự dằn vặt mình:
“Đau quá đòn thù, rát hơn lửa bỏng Tủi bút, tủi nghiên, hổ lều, hổ chõng Nghĩ đến câu: “Nam nhi đắc chí” thêm nỗi thẹn thùng Ngâm đến chữ: “Quản thổ trùng lai”, nói ra ngập ngọng”.
Bi kịch chính là ở chỗ, con người trí thức nho sĩ trong ông lên tiếng đòi phải khẳngđịnh mình với đời nhưng trong thời buổi nhố nhăng đó, làm điều ấy cũng đồngnghĩa với việc biến mình thành những kẻ tay sai của thực dân đế quốc, điều mà
Trang 11cặp mắt đã và đang chứng kiến biết bao những nhiễu nhương kia của ông khôngbao giờ cho phép Tú Xương đã không tìm được hướng đi dứt khoát cho mình.Tuy vậy, bi kịch ấy cũng làm nên một nhân cách Tú Xương đáng trân trọng.
Nguyễn Tuân đã dùng những lời sau để bình về bức tượng tạc hình Tú Xương:
“Một ngôi tượng dong dỏng, một dáng người áo chùng khăn chít thơ thẩn bêndòng nước mà chờ một chuyến đò thời đại Dưới chân tượng, trước bệ tượng,phẳng tắp một con sông thời gian” Đó cũng sẽ là những hình ảnh còn đọng lại mãitrong lòng người về Tú Xương
Bài tham khảo 4
Trần Tế Xương hay còn có bút danh là Tú Xương, ông là một tác giả nổi tiếng vớinhiều tác phẩm mang chất trào phúng và trữ tình Ông chỉ sống 37 tuổi và học vị
tú tài, nhưng sự nghiệp thơ ca của ông đã trở thành bất tử Ông để lại khoảng 100tác phẩm gồm: thơ, văn tế, phú, câu đối,…Một trong những tác phẩm tiêu biểu củaông là bài thơ “Thương vợ” Một bài thơ tô đọng trong đó là những phẩm chất tốtđẹp của người vợ, người phụ nữ đảm đang, chịu thương, chịu khó vì hạnh phúccủa chồng con Bài thơ được Tú Xương viết như sau:
“Quanh năm buôn bán ở non sôngNuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo xèo mặt nước buổi đò đông
Một duyên hai nợ, âu đành phậnNăm nắng mười mưa, dám quản côngCha mẹ thói đời ăn ở bạc!
Có chồng hờ hững cũng như không!”
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú đường luật với bố cục được chialàm bốn phần: đề, thực, luận, kết Mỗi phần hai câu nhằm khắc họa một cách sắcnét hình ảnh bà Tú- vợ Tú Xương, cũng như đang nói lên một phần nào đó hìnhảnh người phụ nữ ở xã hội xưa
Trong hai cầu đề Tú Xương đã giới thiệu một cách khái quát về công việc của bà
Tú Đó là sự tần tảo “quanh năm” buôn bán ở mom sông, việc mua bán này không
Trang 12hề có cửa tiệm hay vốn liếng nhiều Đây là một công việc vất vả, cực nhọc, thunhập bất ổn song bà Tú vẫn đang “nuôi đủ” năm con với một chồng mà không mộtlời oán trách.Trong câu này, tác giả tách mình một bên, con một bên nhằm nhấnmạnh việc, mặc dù ông đỗ tú tài nhưng không được làm quan, phải đặt gánh nặnglên đôi vai của người vợ, người mà ông yêu thương Câu thơ như là lời trách nặng
nề của tác giả đối với chính bản thân mình, Nhưng qua câu thơ ta cũng thấy đượccái tình cảm yêu thương mà Tú Xương dành tặng cho vợ mình
Để diễn tả một cách cụ thể hơn sự vất vả trong công việc của bà Tú, trong hai câuthực tác giả đã mượn hình ảnh con cò trong ca dao Việt Nam để biến thành “thâncò” nhằm thể hiện sự lặn lộn vất vả của bà Tú trong công việc mưu sinh hàng ngàytại nơi “quang vắng” Bên cạnh đó, Tú Xương còn khai quát một cách sinh độngcảnh bán buôn ở mom sông của bà Tú qua câu “Eo xèo mặt nước buổi đò đông”
Đó là hình ảnh nhốn nháo, tranh chấp mua bán của nhiều con người có công việcnhư bà Tú Nhìn chung, cuộc đời bà Tú không ít khó khăn gian khổ
Sự khó nhọc, vất vả của bà Tú không được dừng lại ở hai phần đề và thực mà nócòn tăng lên ở phần luận Bằng việc sử dụng hai câu thuật ngữ “một duyên, hainợ” và “năm nắng mười mưa” tác giả đã toát lên sự hi sinh cao cả của bà Tú, đó làviệc chấp nhận số phận chăm lo cho chồng con và dù nắng hay mưa cũng không
bỏ việc Ở đây, Tú Xương đã nêu lên đức tính tốt đẹp của bà Tú nói riêng và ngườiphụ nữ nói chung, đó là sự tần tảo, đảm đang, nhẫn nại, sẵn sàng hi sinh vì giađình Đồng thời qua đây tác giả cũng bộc lộ nổi niềm biết ơn và quý trọng đối với
bà Tú
Cùng với quý trọng và biết ơn bà Tú ở hai câu luận, thì hai câu kết là một cách nóingao ngán về nổi niềm tâm sự của tác giả- Tú Xương Một lời thở dài về “cái thóiđời” ông nhắc đến chính là cái xã hội lúc bấy giờ- một xã hội mang tính nửa tâynửa ta, nửa phong kiến, nửa thực dân với những tư tưởng và đạo lí bị suy thoái.Bên cạnh ông tự trách bản thân sao mà “ăn ở bạc” thi cử hoài mà không đỗ đạt,chẳng thể làm quan, không giúp được gì cho vợ con, đẩy vợ con phải chịu khổ vìmình Cuối cùng mọi thứ đúc kết trong lời than đầy xót xa của Tú Xương “Cóchồng hờ hững cũng như không”
Tóm lại “Thương vợ” là một bài thơ hay mang đậm giá trị cảm xúc của Tú Xương
Nó hay trong cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh trong ca dao, thành ngữ của TúXương Bài thơ lại mang đậm cảm xúc chân thành, lời thơ giản dị mà sâu sắc, nóilên tình cảm yêu thương,sự quý trọng mà Tú Xương dành cho vợ.Bên cạnh đó, bàithơ còn thể hiện đức tính đẹp của người phụ nữ Việt Nam xã hội xưa nói chung và
bà Tú nói riêng
Bài tham khảo 5