1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHÂN TÍCH, SO SÁNH CÁC HÌNH TƯỢNG TRONG NHỮNG TÁC PHẨM VĂN HỌC LUYỆN THI ĐẠI HỌC

14 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích, So Sánh Các Hình Tượng Trong Những Tác Phẩm Văn Học Luyện Thi Đại Học
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 446,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SO SÁNH HÌNH ẢNH BÁT CHÁO HÀNH VÀ BÁT CHÁO CÁM HÌNH ẢNH THỊ VÀ NGƯỜI ĐÀN BÀ HÀNG CHÀITHỊ NỞ (CHÍ PHÈO) VÀ NGƯỜI ĐÀN BÀ HÀNG CHÀI (CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA)NGHỆ SĨ PHÙNG (CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA) VÀ VŨ NHƯ TÔ (VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI)

Trang 1

BÁT CHÁO HÀNH VÀ BÁT CHÁO CÁM

1 Hình ảnh bát cháo hành:

* Sự xuất hiện: Hình ảnh này xuất hiện ở phần giữa truyện Chí Phèo say rượu, gặp Thị Nở ở

vườn chuối Khung cảnh hữu tình của đêm trăng đã đưa đến mối tình Thị Nở – Chí Phèo Sau hôm đó, Chí Phèo bị cảm Thị Nở thương tình đã về nhà nấu cháo hành mang sang cho hắn

* Ý nghĩa:

– Về nội dung:

+ Thể hiện tình yêu thương của Thị Nở dành cho Chí phèo

+ Là hương vị của hạnh phúc, tình yêu muộn màng mà Chí Phèo được hưởng

+ Là liều thuốc giải cảm và giải độc tâm hồn Chí : gây ngạc nhiên, xúc động mạnh, khiến nhân vật ăn năn, suy nghĩ về tình trạng thê thảm hiện tại của mình Nó khơi dậy niềm khao khát được làm hoà với mọi người, hi vọng vào một cơ hội được trở về với cuộc sống lương thiện Như vậy, bát cháo hành đã đánh thức nhân tính bị vùi lấp lâu nay ở Chí Phèo

– Về nghệ thuật:

+ Là chi tiết rất quan trọng thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện, khắc họa sâu sắc nét tính cách, tâm lí và bi kịch của nhân vật

+ Góp phần thể hiện sinh động tư tưởng Nam Cao: tin tưởng vào sức mạnh cảm hoá của tình người

2 Hình ảnh nồi cháo cám:

* Sự xuất hiện: Hình ảnh này xuất hiện ở cuối truyện, trong bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới của gia đình bà cụ Tứ

* Ý nghĩa:

– Về nội dung:

+ Đối với gia đình Tràng, nồi cháo cám là món ăn xua tan cơn đói, là món ăn duy nhất của bữa tiệc cưới đón nàng dâu mới về Qua đó, tác giả đã khắc sâu sự nghèo đói, cực khổ và rẻ mạt của người nông dân trong nạn đói 1945

+ Qua chi tiết nồi cháo cám, tính cách của nhân vật được bộc lộ:

Bà cụ Tứ gọi cháo cám là ” chè khoán”, bà vui vẻ, niềm nở, chuyện trò với các con ->> là người mẹ nhân hậu, thương con, và có tinh thần lạc quan Nồi cháo cám là nồi cháo của tình thân, tình người, niềm tin và hy vọng Trong hoàn cảnh đói kém, mẹ con Tràng dám cưu mang, đùm bọc thị, chia sẻ sự sống cho thị Bà cụ Tứ nói toàn chuyện vui, đem nồi cháo cám

ra đãi nàng dâu vốn để làm không khí vui vẻ hơn

Vợ Tràng đã có sự thay đổi về tính cách Hết sức ngạc nhiên trước nồi cháo cám nhưng người con dâu mới vẫn điềm nhiên và vào miệng để làm vui lòng mẹ chồng Chứng tỏ, Thị không còn nét cách chỏng lỏn như xưa nữa mà đã chấp nhận hoàn cảnh, đã thực sự sẵn sàng cùng gia đình vượt qua những tháng ngày khó khăn sắp tới

– Về nghệ thuật: Chi tiết góp phần bộc lộ tính cách các nhân vật, thể hiện tài năng của tác giả

Kim Lân trong việc lựa chọn chi tiết trong truyện ngắn

3 So sánh:

– Giống nhau:

+ Cả 2 hình ảnh đều là biểu tượng của tình người ấm áp

Trang 2

+ Đều thể hiện bi kịch của nhân vật và hiện thực xã hội: Ở “Chí Phèo” là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người [bát cháo hành rất bình di, thậm chí là nhỏ bé, tầm thường nhưng đó là lần đầu tiên Chí được cho mà không phải đi cướp giật] Ở “Vợ nhặt”, số phận con người cũng trở nên rẻ mạt

+ Đều thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc, cái nhìn tin tưởng vào sức mạnh của tình yêu thương con người của các nhà văn

– Khác nhau:

+ Bát cháo hành: biểu tượng của tình thương mà thị Nở dành cho Chí Phèo nhưng xã hội đương thời đã cự tuyệt Chí, đẩy Chí vào bước đường cùng Qua đó, chúng ta thấy bộ mặt tàn bạo, vô nhân tính của XH thực dân nửa phong kiến cũng như cái nhìn bi quan, bế tắc của nhà văn Nam Cao

+ Nồi cháo cám: biểu tượng tình thân, tình người, niềm tin và hy vọng vào phẩm chất tốt đẹp của người dân lao động trong nạn đói Sau bát cháo cám, mọi người nói chuyện về Việt Minh Qua đó, thức tỉnh ở Tràng khả năng cách mạng Như vậy ở Kim Lân có cái nhìn lạc quan, đầy tin tưởng vào sự đổi đời của nhân vật, dưới sự lãnh đạo của Đảng

4 Lí giải sự giống và khác nhau đó:

+ Do hai nhà văn đều viết về người nông dân trong nạn đói 1945

+ Có sự khác nhau đó là do ảnh hưởng của lí tưởng Cách mạng với mỗi nhà văn Nam Cao có cái nhìn bi quan, bế tắc về số phận của người nông dân Kim Lân có cái nhìn lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng

THỊ VÀ NGƯỜI ĐÀN BÀ HÀNG CHÀI

1 Làm rõ đối tượng thứ nhất : Nhân vật người vợ nhặt

– Giới thiệu chung : Tuy không miêu tả thật nhiều nhưng nhân vật người vợ nhặt vẫn là một trong ba nhân vật quan trọng của tác phẩm Nhân vật này được khắc họa sống động, theo lối đối lập giữa bề ngoài và bên trong, ban đầu và về sau

– Một số vẻ đẹp khuất lấp tiêu biểu :

+ Phía sau tình cảnh trôi dạt, vất vưởng là một lòng ham sống mãnh liệt (dẫn chứng)

+ Phía sau vẻ nhếch nhác, dơ dáng, lại là một người hiểu biết, ý tứ.(dẫn chứng)

+ Bên trong vẻ chao chát, cong cớn, chỏng lỏn lại là một người phụ nữ hiều hậu, đúng mực, biết lo toan (dẫn chứng)

2 Làm rõ đối tượng thứ hai : Nhân vật người đàn bà hàng chài

– Giới thiệu chung : Là nhân vật chính, có vai trò quan trọng với việc thể hiện tư tưởng của tác phẩm Nhân vật này được khắc họa sắc nét, theo lối tương phản giữa bên ngoài và bên trong, giữa thân phận và phẩm chất

– Một số vẻ đẹp khuất lấp tiêu biểu

+ Bên trong ngoại hình xấu xí, thô kệch là một tấm lòng nhân hậu, vị tha, độ lượng, giàu đức

hi sinh (dẫn chứng)

+ Phía sau vẻ cam chịu, nhẫn nhục vẫn là một người có khát vọng hạnh phúc, can đảm, cứng cỏi (dẫn chứng)

+ Phía sau vẻ quê mùa, thất học lại là một người phụ nữ thấu hiểu, sâu sắc lẽ đời (dẫn chứng)

Trang 3

3 So sánh : Nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả hai bình diện nội dung và

hình thức nghệ thuật :

– Tương đồng : Cả hai nhân vật đều là những thân phận bé nhỏ, nạn nhân của hoàn cảnh

Những vẻ đẹp đáng trân trọng của họ đều bị đời sống cơ cực lam lũ làm khất lấp Cả hai đều khắc họa bằng những chi tiết chân thực…

– Khác biệt : Vẻ đẹp được thể hiện ở nhân vật người vợ nhặt chủ yếu là phẩm chất của một

nàng dâu mới, hiện lên qua các chi tiết đầy dư vị hóm hỉnh, trong nạn đói thê thảm Vẻ đẹp được khắc sâu ở nhân vật người đàn bà hàng chài là những phẩm chất của một người mẹ nặng gánh mưu sinh, hiện lên qua các chi tiết đầy kịch tính, trong tình trạng bạo lực gia đình

4 Lí giải sự khác biệt :

+ Vẻ đẹp khuất lấp của người vợ nhặt được đặt trong quá trình phát triển, biến đổi từ thấp đến cao (cảm hứng lãng mạn), trong khi đó người đàn bà hàng chài lại tĩnh tại, bất biến như một hiện thực nhức nhối đang tồn tại (cảm hứng thế sự – đời tư trong khuynh hướng nhận thức lại) + Sự khác biệt giữa con người giai cấp (Vợ nhặt) với quan niệm con người đa dạng phức tạp (Chiếc thuyền ngoài xa) đã tạo ra sự khác biệt này

THỊ NỞ (CHÍ PHÈO) VÀ NGƯỜI ĐÀN BÀ HÀNG CHÀI

(CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA) 1.Giống nhau: Đều là những con người có vẻ ngoài xấu xí, có một số phận bất hạnh nhưng lại

luôn luôn ngời sáng phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam

2 Khác nhau:

- Thị Nở được miêu tả chủ yếu qua những hành động, suy nghĩ của một người phụ nữ chứa đựng tình yêu thương đối với đồng loại của mình trước sự khó khăn cô độc Còn người đàn bà hàng chài lại được miêu tả chủ yếu qua hành động suy nghĩ của một người mẹ từng trải và hết lòng yêu thương con

- Nếu Thị Nở là nạn nhân của giai cấp thống trị, của những hủ tục trong xã hội thực dân nửa phong kiến, bị mọi người xa lánh, khinh rẻ, bị cô độc ngay giữa đồng loại của mình thì người đàn bà hàng chài cuộc đời đau khổ lại đến từ bạo lực gia đình, đến từ đói nghèo, lạc hậu

- Nếu Thị Nở trước sức ép của giai cấp thống trị của định kiến xã hội đã đầu hàng, bỏ mặc cái hạnh phúc, cái tình người nhỏ bé trong mình thì người đàn bà hàng chài lại khác, chị đang chống lại tất cả để bảo toàn hạnh phúc gia đình mình trước sóng gió của cuộc đời

- Nếu Thị Nở chỉ có tình yêu thương thì người đàn bà hàng chài còn có sự từng trải, thấu hiểu

lẽ đời qua câu chuyện ở tòa án

3 Lý giải sự khác nhau

- Phong cách nghệ thuật: Nam Cao là bậc thầy của phong cách hiện thực phê phán thì Nguyễn Minh Châu lại là nhà văn của những chiết lý, suy tưởng về cuộc sống con người

- Sự ảnh hưởng của Đảng cộng sản tới văn học: Trong Chí Phèo của Nam Cao cuộc sống người dân vô cùng khổ cực bởi chưa có ánh sáng của Đảng còn trong “Chiếc thuyền ngoài xa”

đã có sự lãnh đạo của Đảng nhưng tuy nhiên lúc này Đảng, cách mạng còn non trẻ nên chưa hiểu hết cuộc sống của người dân

Trang 4

NGHỆ SĨ PHÙNG (CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA) VÀ

VŨ NHƯ TÔ (VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI)

Nghệ thuật luôn đi lên từ cái nhìn chân chính Đúng như thế, nói đến nghệ thuật ta không thể không nhắc đến cuộc sống vì hai thứ ấy luôn gắn liền với nhau Hai nhà văn Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Minh Châu tuy viết hai tác phẩm ở hai giai đoạn khác nhau nhưng họ cùng hướng đến quan niệm về nghệ thuật Quan niệm đó được thể hiện qua hình tượng hai nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa và Vũ Như Tô trong Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài Hai nhà văn đã xây dựng lên hai nhân vật có nhiều nét tương đồng một cách trùng hợp và tài tình Cũng nhờ như thế mà hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người đều được họ tìm thấy

và nâng tầm giá trị

Cả hai tác phẩm này đều xây dựng lên một nhân vật hết lòng đam mê nghệ thuật nhưng chỉ

vì chưa thấy rõ sự đối lập mà dẫn đến những kết cục đáng buồn Tuy được viết vào hai bối cảnh xã hội khác nhau, văn hóa mà đối tượng tồn tại khác nhau và phong cách của hai nhà văn cũng hoàn toàn khác nhau, nhưng họ đều đã bóc trần được cái nhìn về nghệ thuật Nghệ thuật

là cái đẹp của cuộc sống nhưng không phải lúc nào nó cũng đẹp Ngoài ra, nghệ thuật chân chính là nghệ thuật vì cuộc sống, phục vụ cho cuộc sống, nghệ thuật xa rời cuộc sống , đòi hỏi người nghệ sĩ phải biết tìm tòi, khám phá cuộc sống, hiểu nó trên nhiều phương diện Nếu nghệ thuật xa rời cuộc sống, xa rời quần chúng thì chỉ đem lại bi kịch thảm khốc như của Vũ Như Tô hay cái nhìn phiến diện về cuộc sống của nghệ sĩ Phùng Nghệ sĩ chân chính cũng giống như nghệ thuật chân chính và nghệ thuật luôn phải vì nhân sinh không chỉ bó hẹp nghệ thuật vì nghệ thuật

Như Tố Hữu đã từng tâm sự:

Nhân dân là bể Văn nghệ là thuyền Thuyền xô sóng dậy Sóng đẩy thuyền lên

Cả hai nhà văn đã cho ta nhận thức được cái đẹp của nghệ thuật như thế nào, con đường tìm kiếm, đi đến và chinh phục nghệ thuật sẽ ra sao Ngôn ngữ điêu luyện, có tính tổng hợp cao, dùng ngôn từ và hành động của nhân vật để khắc họa tính cách, đó chính là cái tài mà không dễ ai có được

NHÂN VẬT TNÚ ( RỪNG XÀ NU -NGUYỄN TRUNG THÀNH) VÀ NHÂN VẬT VIỆT

(NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH - NGUYỄN THI) Nét tương đồng :

• Là con người của thời đại, gánh chịu bao đau thương mất mát trong chiến tranh (Tnú mất

vợ con, bị đốt 10 đầu ngón tay, Việt mất ba má)

• Hừng hực lòng căm thù giặc sâu sắc và tình yêu gia đình, tình yêu làng xóm, tình yêu nước

• Anh dũng kiên cường, sẵn sàng chiến đấu hy sinh trong cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc

Trang 5

• Là những mắt xích quan trọng trong sự tiếp nối các thế hệ, tiếp nối truyền thống của dân tộc

Nét khác biệt

Ở nhân vật Tnú trong tác phẩm Rừng Xà Nu:

- Tnú được khắc họa trong sự gắn bó với buôn làng

- Nhân vật mang đậm dấu ấn hình tượng người anh hùng trong các tác phẩm sử thi, huyền thoại của đồng bào dân tộc miền núi (Tnú hiện lên trong lối kể trường ca, kể khan của đồng bào Tây Nguyên; Cuộc sống gắn bó với buôn làng: ngôn ngữ, hành động);

- Nhân vật Tnú được khắc họa trong sự soi chiếu với hình tượng Rừng xà nu ở lớp cây trưởng thành Qua đó tác giả gửi gắm tư tưởng chủ đề tác phẩm: "Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo"

Ở nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình:

- Việt được khắc họa trong mối quan hệ gia đình

- Nhân vật này gần gũi với cuộc sống đời thường, mang các đặc điểm, phẩm chất của một cậu con trai mới lớn (tinh nghịch, hồn nhiên có khi vô tâm) Song bản lĩnh của nhân vật này lại được thể hiện ở cảnh tranh nhau ghi tên đi đánh giặc, trả thù cho ba má và ở tinh thần đấu tranh kiên cường lúc bị thương phải nằm lại chiến trường

- Nhân vật Việt góp phần thể hiện tư tưởng của Nguyễn Thi trong ngợi ca phẩm chất anh dũng, kiên trung của những người con trong một gia đình, của đồng bào Nam Bộ nói riêng và nhân tộc Việt Nam nói chunG

Lý giải sự khác biệt :

- Có khác biệt ấy là bởi mục đích sáng tác và tư tưởng chủ đề khác nhau: Rừng xà nu được sáng tác để cỗ vũ chiến đấu, trở thành Hịch tướng sĩ thời chống Mĩ, còn Những đứa con trong

gia đình chủ yếu để ngợi ca tình cảm gia đình và truyền thống đấu tranh của dân tộc

- Sự khác biệt trong văn hóa vùng miền (Tây Nguyên và Nam Bộ), trong lối suy nghĩ, lối viết của các nhà văn

TNÚ (RỪNG XÀ NU – NGUYỄN TRUNG THÀNH) VÀ

A PHỦ (VỢ CHỒNG A PHỦ - TÔ HOÀI)

Nguyễn Trung Thành và Tô Hoài là hai nhà văn gắn bó mật thiết với cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta Điểm chung của hai nhà văn là đều có những tác phẩm ngợi

ca truyền thống yêu nước, căm thù giặc và khao khát chiến đấu, son sắt với cách mạng của nhân dân ta Tuy cả hai tác giả đều nói về người dân trong cuộc kháng chiến nhưng mỗi nhà văn lại xây dựng nhân vật với những đặc điểm riêng Tnú trong “Rừng xà nu” và A Phủ trong

“Vợ chồng A Phủ” là hai nhân vật tiêu biểu Tuy nhiên có ý kiến cho rằng:Ở Tnú không có vấn đề tìm đường, nhận đường như nhân vật A Phủ, câu chuyện về Tnú được mở ra từ chính chỗ A Phủ dần khép lại

1 Giải thích:

– Tìm đường, nhận đường là vấn đề nhận thức về lý tưởng – mục đích cao nhất của cuộc sống – Nhân vật A Phủ của Tô Hoài được coi là nhân vật đang trên đường đi tìm lý tưởng và nhận thức lý tưởng Nhân vật Tnú đã có lý tưởng ngày khi anh còn nhỏ

Trang 6

→ Ở Tnú không có vấn đề tìm đường, nhận đường như nhân vật A Phủ, câu chuyện về Tnú được mở ra từ chính chỗ A Phủ dần khép lại Có nghĩa Tnú là hệ nối tiếp, đi sau sẽ có những bước phát triển và phẩm chất mới mẻ hơn so với nhân vật đàn anh A Phủ

2 So sánh :

a Nét tương đồng

* Đều sinh ra từ những vùng cao xa xôi, hẻo lánh:

– A Phủ sinh ra tại vùng núi Tây Bắc

– Tnú sinh tại vùng đất Tây Nguyên đầy nắng và gió

* Đều mồ côi:

– Cha mẹ A Phủ mất trong dịch đậu mùa khi đó cậu chừng 10 tuổi Lần lần đi làm thuê cho nhà người

– Tnú cũng mồ côi từ nhỏ được dân làng STrá nuôi dưỡng

* Lớn lên đều là những chàng trai khỏe mạnh, cường tráng:

+ A Phủ được ví như con trâu tốt trong làng

+ Tnú được ví như cây xà nu cường tráng bất chấp đạn bom

* Cả hai đều có phẩm chất dũng mãnh, căm thù cái ác, sự bất công và đi theo cách mạng:

– A Phủ

+ Chống lại A Sử – con quan khi hắn phá cuộc chơi → không sợ cường quyền

+ Sau khi được Mị cắt dây cởi trói, chạy đến vùng Phiềng Sa, được người cán bộ A Châu giác ngộ, anh đã là du kích hoạt động rất tích cực

– Tnú:

+ Gan góc quả cảm ngay từ nhỏ (Chi tiết: Nuôi giấu cán bộ, nuốt thư khi bị bắt)

+ Chỉ huy dân làng mài vũ khí, chuẩn bị lực lượng chiến đấu

+ Mặc dù chịu nhiều đau thương: vợ con mất, bàn tay bị đốt nhưng anh vẫn đi lực lượng cầm

vũ khí chiến đấu

b Sự khác biệt :

A Phủ

* Cảnh ngộ của A Phủ rất đáng thương

– A Phủ mồ côi cha mẹ từ khi còn nhỏ

– Nạn nhân của những tập tục phong kiến lạc hậu

– Kiếp sống nô lệ ngựa trâu cho nhà thống lí

* Tính cách của A Phủ rất đặc biệt:

– Gan góc, có ý thức phản kháng mỗi khi không chịu nổi điều gì (chi tiết: đánh A Sử; để hổ bắt mất một con bò, anh không van xin, không cầu cứu, đêm cúi xuống nhay đứt hai vòng dây trói; khi được Mị cứu, anh quật sức chạy thoát)

– Tuy nhiên do bị đọa đày triền miên khiến trong anh còn rơi vào tình trạng chấp nhận, cam chịu(chi tiết: tập tễnh đi giết lợn phục dịch những kẻ vừa hành hạ mình; một mình rong ruổi ngoài rừng mà không chạy trốn; nghe lời thống lí tự đi lấy cọc, đóng cọc, lấy dây để hắn trói mình) → thói quen cam chịu, cam phận của người nông dân trên các vùng núi cao, khi ánh

Trang 7

sáng của Đảng chưa vươn tới Họ sống như trong đêm tối không biết đường ra, không ai chỉ đường vạch lối Đến khi cái chết cận kề, họ mới biết dựa vào nhau để giành giật lấy sự sống

→ Tô Hoài rất biện chứng trong hai mặt đối lập của nhân vật và chỉ ra cho người đọc thấy đó làbước tìm đường, nhận đường của A Phủ để sau này sang Phiềng Sa gặp A Châu (cán bộ Đảng), anh được giác ngộ và sẵn sàng cầm súng trở thành du kích quay về giải phóng quê hương

Tnú

– Khác với A Phủ, câu chuyện về cuộc đời của Tnú được mở ra từ chính câu chuyện về A Phủ được khép lại

+ Tnú mồ côi nhưng được sống trong vòng tay yêu thương đùm bọc của dân làng Xô Man + Được gần cán bộ cách mạng là anh Quyết, được dạy chữ để sau này tiếp nối làm cán bộ, lãnh đạo phong trào cách mạng ở quê hương

→ Tnú có những điều kiện mà các nhân vật anh hùng miền sơn cước trước đó chưa có, hay chỉ

có khi đã trải qua vô vàn đau khổ, gian truân

Vì thế, ở Tnú không còn là nhân vật tìm đường nữa, anh đã có những điều kiện thuận lợi và phẩm chất mới mẻ, vượt xa với A Phủ

– Tnú có một bi kịch đau đớn nhưng vượt lên hoàn cảnh đau thương, anh lên đường vào lực lượng vũ trang tiếp tục chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước

3 Đánh giá chung

– Tnú – người anh hùng mà cụ Mết kể trong cái đêm dài ấy có những phẩm chất thật đáng quý Anh may mắn hơn so với thế hệ đàn anh của mình như anh hùng Núp và A Phủ:

+ Không phải sống kiếp tội đòi cam phận, cam chịu

+ Được thừa hưởng phong trào cách mạng từ cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc

+ Được giác ngộ lí tưởng cách mạng ngay từ tuổi nhỏ

– Nhưng “Lớp cha trước, lớp con sau / Đã thành đồng chí chung câu quân hành” tất cả các anh đều là những người con ưu tú của núi rừng Tây Bắc, Tây Nguyên trong các cuộc chiến tranh vệ quốc, mang trong mình chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc Việt Nam, mãi mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ tiếp nối

NGƯỜI LÁI ĐÒ (NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ) VÀ HUẤN CAO (CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ)

BÚT PHÁP CỦA NGUYỄN TUÂN TRƯỚC VÀ SAU CMT8 Ông lái đò:

• Ông là người anh hùng sông nước

• Ông lái đò là nghệ sĩ tài hoa

Huấn Cao

• Là một con người tài hoa, khí phách hiên ngang bất khuất, “thiên lương” trong sáng

• Vẻ đẹp của hình tượng Huấn Cao là vẻ đẹp lãng mạn, có sức chinh phục, cảm hóa mãnh liệt đối với những con người có tấm lòng “biệt nhỡn liên tài”

Nét chung:

• Nguyễn Tuân tiếp cận con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ

Trang 8

• Vẫn là ngòi bút tài hoa, uyên bác, lịch lãm, vận dụng tri thức tổng hợp của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật khác nhau trong miêu tả và biểu hiện

• Vẫn sử dụng vốn ngôn từ hết sức tinh lọc, phong phú, độc đáo Khả năng tổ chức câu văn đầy giá trị tạo hình, có nhạc điệu trầm bổng, biết co duỗi nhịp nhàng Các phép tu từ được nhà văn phối hợp vô cùng điêu luyện

Khác biệt:

• Trước Cách mạng tháng Tám, con người Nguyễn Tuân hướng tới và ca ngợi là những

“con người đặc tuyển, những tính cách phi thường” Sau Cách mạng tháng Tám, những nhân vật tài hoa nghệ sĩ được Nguyễn Tuân miêu tả có thế tìm thấy ngay trong cuộc chiến đấu, lao động hàng ngày của nhân dân

• Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân là một người tài tử, ham mê thanh sắc, thích chiêm ngưỡng, chắt chiu cái đẹp và nhấm nháp những cảm giác mới lạ Sau Cách mạng tháng Tám, nhà văn nhạy cảm với con người mới, cuộc sống mới từ góc độ thẩm mĩ của nó Nhưng không còn là một Nguyễn Tuân “nghệ thuật vị nghệ thuật” nữa Ồng đã nhìn cái đẹp của con người là cái đẹp gắn với nhân dân lao động, với cuộc sống đang nảy nở sinh sôi đồng thời lên án, tố cáo chế độ cũ, khẳng định bản chất nhân văn của chế độ mới

• Khi xây dựng nhân vật Huấn Cao, nhà văn hướng đến vẻ đẹp vang bóng một thời Huấn Cao được xây dựng từ nguyên mẫu lí tưởng nổi bật trong hoàn cảnh Tâm hồn của HC là người nghệ sĩ thư pháp tài hoa có tâm lương thiện trong hoàn cảnh suy tàn Nhà văn trân trọng nét chữ của con người, của văn hóa trong thời tàn

• Đến ông lái đò, nhà văn xây dựng về người vô danh hòa lẫn trong đám đông, rất bình dị thầm lặng Cái đẹp bắt nguồn từ trong lao động và phục vụ cho cuộc đời Ông lái đò là sự kết hợp giữa công dân và chiến sĩ

TÍNH SỬ THI TRONG RỪNG XÀ NU

Nguyễn Trung Thành

Tác phẩm này có nhiều điểm đặc biệt so với các truyện ngắn cùng thời Khi nói đến khái niệm sử thi trong văn học hiện đại, người ta hiểu thuật ngữ này theo nghĩa rộng, tức là “tính chất sử thi” Rừng xà nu không chỉ mang đặc điểm của sử thi hiện đại mà còn có dáng dấp của

“thể loại” sử thi cổ điển Câu chuyên đã gợi cho người đọc nghĩ về một thế giới xa xưa với phương thức sản xuất cổ truyền, với một bộ lạc sống trong núi rừng và đứng đầu là một vị thủ lĩnh đức cao vọng trọng Nhưng đề tài nổi bật nhất của các sử thi hiện đại vẫn là chiến tranh Hêghen cho rằng: “Tình huống phù hợp nhất với sử thi là các xung đột của trạng thái chiến tranh Thực vậy, trong chiến tranh, chính toàn bộ dân tộc đang vận động” (Mĩ học) Truyện Rừng xà nu lại ra đời vào một thời điểm quan trọng: năm 1965, Mĩ đổ quân vào Việt Nam Bởi vậy, có thể nói, truyện ngắn này đã phản ánh một xung đột mang “tầm cỡ sử thi”

Biểu hiện của tính sử thi trong truyện Rừng Xà nu

• Bối cảnh câu chuyện là thời điểm mang tính bước ngoặt trong việc lựa chọn giữa hai

con đường “chết vinh hay sống nhục” Dân làng Xô Man ủng hộ cách mạng Giặc tàn sát dã man, treo cổ anh Xút, chặt đầu bà Nhan, dùng “trận mưa cây sắt” để giết Mai và đứa trẻ sơ sinh, đốt mười ngón tay Tnú… ‘Tức nước” ắt phải “vỡ bờ”, dưới sự lãnh đạo cùa “tù trưởng”, các dũng sĩ của dân tộc Strá cầm giáo mác lao vào chém giặc Thông qua nỗi đau ghê gớm của

Trang 9

Tnú và dân làng xỏ Man, tác giả muốn khẳng định con đường tất yếu của họ là đến với cách mạng Ngoài ra, cũng giống như chủ đề của nhiều sử thi khác, tác phẩm này có mục đích ôn lại truyền thống hào hùng, khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp và lòng dũng cảm của những anh hùng đại diện cho lợi ích dân tộc và kêu gọi nhân dân sẵn sàng vùng lên đánh đuổi giặc thù (cụ Mết

kể lại cho mọi người, nhất là lũ trẻ nghe “kì tích” về anh hùng Tnú cũng là nhằm mục đích đó)

• Chất sử thi được thể hiện qua bức tranh thiên nhiên hùng vĩ , tráng lệ vừa đậm chất thơ của núi rừng Tây Nguyên

Thiên nhiên trong Rừng xà nu thấm đẫm một cảm hứng sử thi và chất thơ hào hùng thể hiện qua từng trang sách miêu tả về rừng xà nu Mở đầu tác phẩm là hình ảnh “cả rừng xà nu hàng vạn cây”, thì kết túc tác phẩm vẫn là rừng xà nu “nối tiếp nhau chạy đến chân trời” Đó chính là bức tranh thiên nhiên toàn cảnh về cuộc chiến tranh nhân dân rộng lớn và hào hùng của dân tộc ta

Bằng nhiều thủ pháp nghệ thuật như: nhân cách hóa, ẩn dụ, tượng trương, so sánh, bi tráng hóa… nhà văn đã dựng nên bức tranh rừng xà nu ở nhiều góc độ:

Rừng xà nu chịu nhiều đau thương mất mát do bom đạn của kẻ thù gây ra

Sức sống mãnh liệt của cây xà nu không bom đạn nào có thể khuất phục được (So sánh với sức sống của con người Xô Man)

Cây xà nu ham ánh sáng, yêu tự do, luôn vươn lên đón ánh nắng

Cây xà nu vững chãi với thế đứng “ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho cả dân làng”

“Một cây ngã cả rừng cây lại mọc Người tiếp người đã mấy vạn mùa xuân”

• Nhân vật chính của sử thi là những anh hùng có phẩm chất cao cả hiện thân cho lợi

ích cộng đồng Tnú là người có đầy đủ những phẩm chất đẹp đẽ của dân làng và cách mạng Đức tính nổi bật nhất của anh là lòng dũng cảm Tham gia cách mạng từ nhỏ, bị bắt, vượt ngục, anh lại đến với cách mạng Nhờ sự mưu trí và gan dạ mà anh hoàn thành tốt mọi nhiệm

vụ được giao Ngọn lửa bốc cháy trên mười đầu ngón tay Tnú là một bằng chứng thiết thực nhất về lòng trung kiên với cách mạng Anh còn có tình yêu thương sâu sắc Vì thương vợ con

mà liều mình cứu vợ con, vì thương dân làng mà phải đi đánh giặc để dân làng được bình yên

Đi chiến đấu, “nỗi nhớ day dứt lòng anh” là “tiếng chày chuyên cần, rộn rã” của dân làng Có

thể nói, Tnú là người anh hùng thuộc về quần chúng Nói như Biêlin xki: “Nhân vật của anh

hùng ca phải là người đại diện xứng đáng của tinh thần dân tộc”

• Văn học cách mạng rất chú trọng đến vai trò của tập thể quần chúng

Trong Rừng xà nu, nói đến sự thành công của cách mạng là phải kể đến vai trò của dân làng, mà đứng đầu là cụ Mết Tất cả họ đều “muôn người như một” chung một lí tưởng, cùng

tự hào về truyền thống vẻ vang của buôn làng Cụ Mết là hiện thân cho truyền thống bất khuất

đó Qua các hoạt động và lời ăn tiếng nói của họ, ta thấy phảng phất hình ảnh của thời Đam San, Xinh Nhã Khi cộng đồng đã quyết làm chuyện gì thì không ai đứng ngoài Ngay cả lối tư duy cũng giống nhau Một thằng Dục chết rồi, cả dân làng còn cố gắng giết nhiều thằng Dục hơn nữa Vì họ tin rằng “chúng nó đứa nào cũng là thằng Dục” Khi bắt được một thằng lính khác, Tnú hỏi: “Dục, mày có nhớ tau không?” Nguyễn Trung Thành đã rất tài tình khi thể

Trang 10

hiện được bản sắc riêng độc đáo của đồng bào dân tộc miển núi Tây Nguyên Ông không chỉ chú ý đến cái chung mà còn khắc hoạ được cả nét riêng sinh động của một cộng đồng hoặc một cá nhân Cụ Mết có những nét khác người: Thân hình quắc thước, râu dài tới ngực, mắt sáng xếch ngược, vết sẹo trên má láng bóng, bàn tay nặng trịch như cái kìm sắt! Giọng nói “ồ ổ”, “vang vang”, và chỉ nói “được” những lúc cho là tốt nhất Tnú có một số phận cũng chẳng giống ai trong buôn làng: mồ côi cha mẹ từ nhỏ, vợ con chết, bị cụt mười đầu ngón tay Tác giả còn miêu tả cả nhược điểm của anh là học chữ thua kém Mai ,đã nổi nóng đập bể bảng nứa rồi “cầm một hòn đá, tự đập vào đầu, chảy máu ròng ròng” Đưa ra chi tiết gân guốc này, tác giả muốn cho nhân vật có sức thuyết phục bạn đọc Cũng như chúng ta nhớ đến Asin là nhớ đến cơn giận dữ điên cuồng của chàng, nhưng như Hêghen bênh vực: “Chúng ta không cần tha lỗi cho chàng về chỗ đã nổi giận, bởi vì chàng có nhiều ưu điểm khác” (Mĩ học)

“Nước Việt Nam từ trong biển máu Người vươn lên như những thiên thần”

(Tố Hữu)

• Nghệ thuật cũng mang đậm tính sử thi

Kết cấu truyện theo lối vòng tròn hay còn gọi là đầu cuối tương ứng Chính kết cấu đó tạo nên dư âm hùng tráng Lối kết cấu này như cái khung bền vững để nhà văn khai triển câu truyện Đây là lối kết cấu vừa đóng vừa mở Câu chuyện đóng lại để mở một câu truyện khác Điều này làm chúng ta tưởng tượng đây chỉ là một chương trong lịch sử ngàn đời của người

Xô man, chỉ là một chương trong bản anh hùng ca vô tận của Tây Nguyên

Biện pháp nhân cách hóa, miêu tả cây xà nu như con người Xô Man Vì vậy cây xà nu hiện

ra như một nhân vật của câu truyện Nguyễn Trung Thành đã biến rừng xà nu thành cả một hệ thống hình ảnh được miêu tả song song với hệ thống hình tượng nhân vật

Giọng điệu ngợi ca, thành kính trước vẻ đẹp của những anh hùng (Tnú, cụ Mết…) Tác giả dùng những lời trang trọng nhất để nói về họ Cũng giống như sử thi Ôđixê, phần lớn câu chuyện được thể hiện thông qua lời kể của nghệ nhân sử thi (cụ Mết) Với mục đích kêu gọi chiến đấu, ngôn ngữ của người kể chuyện mang âm hưởng sôi nổi hào hùng: “Thế là bắt đầu rồi Đốt lửa lên! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người phải tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây vụ, một cây rựa Ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông Đốt lửa lên!” Lời kêu gọi của cụ Mết thể hiện rất rõ lối điệp từ ngữ quen thuộc thể hiện rất rõ âm hưởng trùng điệp, hùng tráng của sử thi Tác giả lặp lại ít nhất 20 lần hình tượng cây xà nu dưới nhiều góc độ khác nhau: đường nét, màu sắc, mùi vị,công dụng… Mở đầu tác phẩm là rừng xà nu bạt ngàn, kết thúc cũng là rừng xà nu chạy đên chân trời Điều đó cho thấy tác giả đặt niềm tin vào sự lớn mạnh, đông đảo của cách mạng Mỗi chiến sĩ là một cây xà nu trong khu rừng bạt ngàn đó Cụ Mết được ví như một cây xà nu lớn Nếu như thơ xưa lấy cây thông tượng trưng cho người quân tử thì Nguyễn Trung Thành lấy cây xà nu tượng trưng cho sức sống bền bỉ quật khởi của dân làng Xô Man Cây xà nu cũng như con người, biết thể hiện khí thế tiến công ngay từ lúc còn nhỏ: Có những “cây con mọc lên ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời” Cây cũng biết bảo vệ con người: “Rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng” và chấp nhận “bị thương” “thành từng cục máu lớn” Tác giả đã sử dụng hàng loạt các biện pháp tu từ như tượng trưng, nhân hoá, so sánh… để tô điểm chất thơ cho khung cảnh và tạo không khí huyền thoại cho câu chuyện

Ngày đăng: 19/12/2022, 09:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w