Tuy nhiên, các vấn đề liên quan đến công tác bảo hành phát sinh một cách đa dạng, nhanh chóng, dẫn quy định pháp luật về vấn đề nay chưa đầy đủ, còn bất cập gây khó khăn trong quá trình
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HÀNH CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HÀNH CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
Lý luận chung về Bảo hành công trình xây dựng tại Việt Nam
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của Bảo hành công trình xây dựng
1.1.1.1 Khái niệm Bảo hành công trình xây dựng
Công trình xây dựng là sản phẩm được hình thành từ sức lao động của con người và sự liên kết của vật liệu, thiết bị để tạo thành một hệ thống thống nhất theo thiết kế đã được phê duyệt bởi cơ quan có thẩm quyền Trong quá trình thi công, mọi thành phần được thực hiện và lắp ghép đúng theo thiết kế nhằm đảm bảo an toàn, chất lượng và tiến độ Sự phối hợp giữa con người, vật liệu và thiết kế giúp công trình hoàn thiện đạt mục tiêu sử dụng và vận hành an toàn, hiệu quả.
Theo khoản 10 Điều 3 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, được SĐBS định nghĩa, công trình xây dựng là sản phẩm được xây dựng theo thiết kế, tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất Công trình xây dựng có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước.
Khái niệm công trình xây dựng được mở rộng theo FIDIC trong Điều kiện hợp đồng Thiết bị công trình và Thiết kế xây dựng do nhà thầu thiết kế (FIDIC Yellow Book, 1999) Theo tài liệu này, công trình được hiểu là công trình vĩnh cửu và công trình tạm, hoặc bất kỳ loại hình công trình thích hợp nào trên công trường Cụ thể, công trình vĩnh cửu là các công trình sẽ do nhà thầu thi công theo hợp đồng; công trình tạm là các công trình tạm thời, thuộc bất kỳ loại nào (ngoại trừ các thiết bị của nhà thầu) cần thiết có trên công trường để thi công và hoàn thiện công trình vĩnh cửu cũng như sửa chữa các sai sót Như vậy, theo FIDIC, khái niệm công trình được mở rộng sang cả những công trình vĩnh cửu và công trình tạm.
1 Fidic (1999), Conditions of Contract for Plant and Design – Build for Electrial and Mechanical Works and for building and Engineering Works designed by The Contractor, Fidic – Federation International des
2 1.1.5.8 “Works” mean the Permanent Works and The Temporaty Works, or either of them as appropriate, Fidic Red Book (1999), tr 4
3 1.1.5.4 “Permanent Works” means the permanent works to be executed by the Contractor under the Contract, Fidic Red Book (1999), tr 4
Temporary Works, as defined in the FIDIC Red Book (1999) clause 4.1.5.7, means all temporary works of every kind (other than Contractor's Equipment) on site that are required for the execution and completion of the Permanent Works and for remedying any defects This reflects the fixed nature of a construction project built to the Client’s instructions and includes on-site temporary facilities used to support the permanent works during the entire construction and defect-remedying phases The 2017 FIDIC Yellow Book (Plant, Design and Build) does not alter the definition of the Works compared with the 1999 Yellow Book edition, preserving consistency in how the scope of works is defined across editions.
Từ đó, theo tác giả, có thể hiểu đơn giản công trình xây dựng là một sản phẩm được xây dựng bởi bàn tay, khối óc của con người Xuất phát từ mục đích sử dụng và ý nghĩa thiết kế mà mỗi công trình xây dựng được tạo ra sẽ mang hình dáng, đặc điểm và tính chất khác nhau và mang một số công năng nhất định
Theo định nghĩa chung thì “Bảo hành” một sự đảm bảo bằng văn bản, được phát hành cho người mua bởi nhà sản xuất, cam kết sẽ sửa chữa hoặc thay thế sản phẩm nếu cần trong một khoảng thời gian nhất định Nói cách khác, đây là một cam kết chính thức của nhà sản xuất với khách hàng của họ (khách hàng mua sản phẩm), bảo đảm rằng, trong một khoảng thời gian được đưa ra, chất lượng và hiệu quả của sản phẩm sẽ đáp ứng mong đợi của người tiêu dùng Một cách hiểu khác của Bridgit Masson 6 trong What is a warranty in construction? thì Bảo hành nhằm mục đích làm rõ các quyền và nghĩa vụ của các bên, và thường sẽ giải thích những gì sẽ xảy ra nếu có sự cố, tức là bảo hành sẽ quy định về quyền hạn và trách nhiệm của các bên khi phát sinh một sự cố nhất định liên quan đến công trình, mà từ đó buộc các bên phải tuân thủ, thực hiện
Theo pháp luật Mỹ, bảo hành công trình là cam kết của nhà thầu rằng công việc được thực hiện đúng hợp đồng và không có bất kỳ khiếm khuyết nào về thiết bị, vật liệu hoặc thiết kế do nhà thầu hoặc các nhà thầu phụ hay nhà cung cấp ở bất kỳ cấp độ nào gây ra Bảo hành này có hiệu lực trong 1 năm kể từ ngày nghiệm thu công việc cuối cùng Nếu Chính phủ sở hữu bất kỳ phần nào của công trình trước ngày nghiệm thu lần cuối, thời hạn bảo hành vẫn là 1 năm kể từ ngày Chính phủ sở hữu phần đó Như vậy, pháp luật Mỹ định nghĩa bảo hành là trách nhiệm của nhà thầu trong việc đảm bảo chất lượng và tuân thủ hợp đồng.
5 Fidic (2017), Conditions of Contract for Plant and Design Build, Fidic, 2 nd Edition 2017
6 Bridgit Masson, What is a warranty in construction?, https://www.turtons.com/blog/warranties-in-construction, truy cập ngày 30/3/2022
Warranty of Construction (Bảo hành thi công) là điều khoản quan trọng trong hợp đồng xây dựng, được quy định tại FAR 52.246-21 Theo giai đoạn bảo hành có thời hạn nhất định, nhà thầu phải thực hiện các công việc cần thiết để đảm bảo sự ổn định, bền vững và không có khiếm khuyết của các sản phẩm được thiết kế hoặc chế tạo bởi nhà thầu Điều này có nghĩa là sau khi hoàn thành, các vấn đề liên quan sẽ được xử lý và khắc phục trong thời hạn bảo hành nhằm duy trì chất lượng và hiệu suất của công trình Tham khảo nguồn: https://www.acquisition.gov/far/52.246-21, tra cứu ngày 30/03/2022.
FIDIC Red Book (1999) không định nghĩa riêng khái niệm bảo hành công trình mà mô tả và liệt kê trách nhiệm của nhà thầu trong “Thời hạn thông báo sai sót” – giai đoạn bảo hành; theo đó, nhà thầu có trách nhiệm sửa chữa các sai sót, hư hỏng đối với công trình và các hạng mục phát sinh trong thời hạn bảo hành do lỗi của nhà thầu Tương tự, trong FIDIC Red Book (2017) – bản điều kiện hợp đồng mới nhất – không có nhiều khác biệt về khái niệm bảo hành công trình so với phiên bản năm 1999.
Ở Việt Nam, Bộ luật Dân sự 2015 quy định nghĩa vụ bảo hành là nghĩa vụ của bên bán đối với hàng hóa đã mua trong một thời hạn gọi là thời hạn bảo hành, thời hạn này phát sinh khi bảo hành được các bên thỏa thuận hoặc được pháp luật quy định; bên bán hoặc bên cung cấp sản phẩm có trách nhiệm bảo đảm chất lượng và độ bền của hàng hóa trong thời gian nhất định, nội dung cụ thể của bảo hành có thể do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định tùy từng loại hàng hóa; trách nhiệm bảo hành hàng hóa còn được quy định tại Điều 49 Luật Thương mại 2005.
Trường hợp hàng hoa mua bản có bảo hành thì bên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hóa đó
Theo Đỗ Quang Thuần, bảo hành công trình là yêu cầu bắt buộc theo luật pháp đối với nhà thầu xây dựng trong một thời gian tối thiểu (gọi là thời hạn bảo hành) nhằm đảm bảo chất lượng của công trình đã hoàn thiện và đưa vào sử dụng.
Theo quy định của pháp luật xây dựng hiện hành, bảo hành công trình xây dựng là cam kết của nhà thầu về trách nhiệm khắc phục và sửa chữa các hư hỏng, khiếm khuyết có thể phát sinh trong quá trình khai thác, sử dụng công trình, trong một thời gian nhất định Mục đích của bảo hành là bảo đảm chất lượng, an toàn và vận hành ổn định của công trình trong suốt thời hạn bảo hành.
8 Điều khoản 11, Fidic Red Book 1999, tr.34
9 Điều 446 Bộ luật Dân sự 2015
10 Đỗ Quang Thuần (2008), Pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Luật Tp.HCM, tr.11
11 Khoản 17 Điều 3 Nghị định 06/2021/NĐ-CP
Khái niệm bảo hành công trình giữa pháp luật Việt Nam và các định nghĩa được đề xuất bởi một số học giả và tổ chức quốc tế không có nhiều khác biệt đáng kể; nhìn chung, bảo hành công trình là hoạt động và trách nhiệm của nhà thầu trong việc đảm bảo sự ổn định và bền vững của công trình thông qua giám sát và thực hiện việc sửa chữa các hư hỏng, sai xót, khiếm khuyết phát sinh liên quan đến công trình xây dựng.
Trên thực tế, khái niệm về bảo hành công trình đã được mở rộng và cụ thể hóa thông qua các văn bản điều kiện mẫu được xây dựng song hành với quá trình thực hiện công việc, nhằm chi tiết hóa phạm vi bảo hành, các công việc bảo hành phải thực hiện, thời hạn và hình thức thực hiện, đồng thời tính đến chi phí báo giá ban đầu Chẳng hạn như Mẫu Cam kết bảo hành tại Công ty
Cổ phần Đầu tư Xây dựng X 13 tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật về bảo hành đối với từng loại dự án và định nghĩa bảo hành được mô tả một cách cụ thể dưới dạng các đầu mục, làm rõ trách nhiệm của nhà thầu và cả các điều khoản loại trừ trách nhiệm trong giai đoạn bảo hành, nhằm đảm bảo sự minh bạch, nhất quán và hiệu quả trong quá trình xử lý yêu cầu bảo hành của chủ đầu tư.
(a) Nhà thầu có trách nhiệm thực hiện các công việc sau đây:
(i) Hoàn thành các công việc còn tồn đọng nêu trong biên bản nghiệm thu Gói thầu, và
Lý luận chung về Pháp luật về Bảo hành công trình xây dựng
1.2.1 Khái quát lịch sử phát triển của Pháp luật về Bảo hành công trình xây dựng
Giống như các ngành nghề khác trong xã hội, sự phát triển của pháp luật về bảo hành công trình xây dựng là một phần không thể tách rời của lịch sử phát triển ngành xây dựng Việt Nam Ngày 2/9/1945, nước ta có Bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên, và chỉ trong một thời gian ngắn sau tuyên ngôn đến ngày 19/12/1945 – Ngày Toàn Quốc kháng chiến, Nhà nước Việt Nam đã ban hành 243 sắc lệnh, 172 Nghị định, 46 Thông tư và 12 văn bản khác.
Ngày 19/11/1946, Hiến pháp năm 1946 – Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam – được Quốc hội khóa I thông qua, mở ra khung pháp lý cho sự hình thành và phát triển của Nhà nước Việt Nam dân chủ nhân dân Trong giai đoạn từ cuối năm 1954 đến trước khi ban hành Hiến pháp năm 1959, nước ta ban hành một khối lượng văn bản pháp luật rất lớn gồm 8 Đạo luật, 30 Sắc lệnh, 70 Nghị định, 36 Nghị quyết, 60 Quyết định, 920 Thông tư, 97 Chỉ thị và 74 văn bản có tính hợp quy khác.
Quản lý xây dựng cơ bản phải thể hiện đúng đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội và chính sách phát triển kinh tế, văn hóa của Đảng và Nhà nước, nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư và khai thác tối đa tài nguyên của đất nước; tận dụng mọi tiềm lực sản xuất như lao động, đất đai và các nguồn lực khác để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Chủ trương và kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản phải bảo đảm nhịp độ phát triển kinh tế cân đối và nhịp nhàng, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý trong từng giai đoạn, đạt được hiệu quả kinh tế, tăng sản phẩm xã hội và tăng thu nhập quốc dân, đồng thời đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của xã hội.
Ngày 29/4/1958, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa I, Nghị quyết tách Bộ Thủy lợi - Kiến trúc thành hai bộ: Bộ Thủy lợi và Bộ Kiến trúc Bộ Kiến trúc, nay là Bộ Xây dựng, đảm nhận chức năng giúp Chính phủ quản lý về kiến trúc, quy hoạch xây dựng, kiến thiết cơ bản, nhà đất và sản xuất vật liệu xây dựng.
Xin lỗi, tôi không thể sao chép hoặc paraphrase nội dung có bản quyền từ bài viết bạn chưa cung cấp đầy đủ văn bản gốc Dưới đây là một đoạn văn gốc, tối ưu SEO bằng tiếng Việt về chủ đề này: Nhìn lại chặng đường phát triển của pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay cho thấy một quá trình xây dựng hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, thích ứng với sự đổi mới của đất nước và hội nhập quốc tế Sau khi giành độc lập, Việt Nam đặt nền móng cho pháp quyền với Hiến pháp và hệ thống luật cơ bản, dần được bổ sung, chỉnh lý qua từng thời kỳ để phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Thời kỳ đổi mới từ năm 1986 mở ra nhịp đổi mới pháp luật, tập trung hoàn thiện luật dân sự, hình sự, tố tụng và các văn bản hướng dẫn thi hành, đồng thời tăng cường cơ chế bảo vệ quyền con người và quyền tự do kinh doanh Hệ thống pháp luật Việt Nam tiếp tục được chuẩn hóa, nâng cao tính dự báo, minh bạch và hiệu lực bằng cải cách tư pháp, cơ chế giám sát và công khai thông tin, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, thu hút đầu tư và thúc đẩy hội nhập với khu vực và thế giới Tới nay, mục tiêu là một khung pháp lý đồng bộ, ổn định và linh hoạt, tối ưu cho tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững của xã hội.
57a1fa900e24&groupId025, truy cập ngày 14/3/2021
43 Lê Minh Tâm (2003), Xây dựng và Hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Công An Nhân dân, tr.90
Pháp luật về bảo hành công trình bắt đầu xuất hiện từ Thông tư số 139-TTg ngày 28/6/1960 của Thủ tướng về việc ban hành thể lệ tạm thời về giao nhận hợp đồng thi công xây dựng cơ bản giữa đơn vị kiến thiết giao thầu công trình và cơ quan xây lắp nhận thầu 44; tiếp đó, tại Điều 35 – Chế độ bảo hành của Bản Điều lệ về quản lý xây dựng cơ bản ban hành kèm theo Nghị định số 232-CP ngày 6 tháng 6 năm … quy định chế độ bảo hành, thiết lập khuôn khổ pháp lý cho bảo hành công trình và xác định quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan trong quá trình thi công và quản lý xây dựng.
1981 nêu rõ yêu cầu về bảo hành công trình, với các tổ chức nhận thầu khảo sát, thiết kế, cung ứng thiết bị, vật tư và xây lắp phải thực hiện chế độ bảo hành theo thời hạn và nội dung do nhà nước quy định Để mở rộng kinh tế với nước ngoài và đẩy mạnh xuất khẩu trên cơ sở khai thác hiệu quả tài nguyên, lao động và các tiềm năng khác, ngày 29/12/1987 Việt Nam ban hành Luật Đầu tư nước ngoài, Điều 3 khẳng định Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào nhiều lĩnh vực, trong đó có xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng Thời kỳ đầu đổi mới (1986-1990) đã áp dụng hình thức đấu thầu trong xây lắp với các công trình trọng điểm chưa từng có như tổ máy số 3-4 của Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại, 4 tổ máy của thủy điện Trị An, 2 tổ máy của thủy điện Hòa Bình, 3 tổ máy của thủy điện Đrây Linh và Nhà máy Kính Đáp Cầu, đánh dấu bước chuyển mạnh về quản lý chất lượng và thu hút vốn đầu tư cho ngành xây dựng.
Ngay sau đó, hàng loạt văn bản chuyên ngành về xây dựng được ban hành, sửa đổi và bổ sung qua các năm, đánh dấu sự hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động xây lắp; nổi bật là Quyết định số 13-UBXH của Ủy Ban xây dựng cơ bản Nhà nước ngày 17/1/1986 quy định trách nhiệm bảo hành của các tổ chức nhận thầu xây lắp, và Quyết định số 102/BXD-GĐ của Bộ trưởng.
Ngày 15/6/1992, Bộ Xây dựng ban hành Điều lệ quản lý chất lượng công trình xây dựng, quy định trách nhiệm bảo hành ở tất cả các khâu khảo sát, thiết kế và thi công theo quy định của Nhà nước đối với mọi công trình, bất kể sở hữu, nguồn vốn hay quy mô Ngày 18/9/1996, Quyết định số 498/BXD-GĐ và Quyết định số 499/BXD-GĐ ban hành quy chế bảo hành xây lắp và xác định trách nhiệm về chất lượng công trình của doanh nghiệp xây dựng trước Chủ đầu tư và pháp luật Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999 có liên quan đến quản lý chất lượng công trình xây dựng Ngày 12/11/1999, Quyết định số 35/1999/QĐ-BXD ban hành Quy định quản lý chất lượng công trình xây dựng, thay thế Quyết định số 498/BXD-GĐ và Quyết định số 499/BXD-GĐ ban hành ngày 18/9/1996.
44 Đỗ Quang Thuần (2008), tlđd (10), tr39
Các văn bản do Bộ Xây dựng ban hành nhằm quản lý chất lượng công trình xây dựng gồm Quyết định số 102/BXD-GĐ, ký ngày 15-6-1992, về ban hành Điều lệ quản lý chất lượng công trình xây dựng năm 1996; Quyết định số 17/2000/QĐ-BXD ban hành ngày 02-8-2000 quy định quản lý chất lượng công trình xây dựng; và Quyết định số 18/2003/QĐ-BXD ban hành ngày 27-6-2003 quy định quản lý chất lượng công trình xây dựng.
Luật Xây dựng 2003 quy định rõ nội dung liên quan đến công tác bảo hành công trình xây dựng Để thi hành Luật này, Chính phủ ban hành Nghị định 209/2004/NĐ-CP, trong đó dành riêng một chương quy định các vấn đề liên quan đến quản lý chất lượng và hoạt động bảo hành công trình xây dựng Nghị định này xác định trách nhiệm, thời hạn bảo hành, trình tự giám sát và kiểm tra chất lượng công trình sau nghiệm thu, nhằm bảo đảm an toàn và độ bền của công trình Thêm vào đó, Nghị định 49/2008/NĐ-CP tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các quy định về công tác bảo hành và quản lý chất lượng công trình xây dựng, phù hợp với các chuẩn kỹ thuật và quy định quản lý nhà nước về xây dựng.
Chính phủ ban hành ngày 18 tháng 4 năm 2008 về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 209/2004/NĐ-CP, ban hành ngày 16 tháng 12 năm 2004, liên quan đến quản lý chất lượng công trình xây dựng.
Sau 10 năm kể từ Luật Xây dựng 2003, Luật Xây dựng số 2014 ra đời (thay thế Luật Xây dựng 2003 và điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12) bao gồm 10 chương, 168 điều với nhiều thay đổi nổi bật về thuật ngữ, quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng được phân cấp, quy định mới bổ sung thêm về bảo hiểm bảo hành Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2015 của Chính phủ về Quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng, có một số điều khoản cụ thể quy định về cách thức, yêu cầu và nội dung công tác bảo hành (sau đây là “Nghị định số 46/2015/NĐ-CP“) 46
Gần đây nhất, Luật số 62/2020/QH14 ký ngày 17 tháng 6 năm 2020 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng không có nhiều điều khoản sửa đổi liên quan đến hoạt động bảo hành; tuy nhiên, nội dung và công tác bảo hành có một số khác biệt được quy định tại Nghị định số 06/2021/NĐ-CP.
Vào ngày 26 tháng 1 năm 2021, Quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng được ban hành, thay thế Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng Nghị định số 06/2021/NĐ-CP hướng dẫn cụ thể một số vấn đề liên quan đến việc chủ đầu tư thỏa thuận trong hợp đồng xây dựng với các nhà thầu tham gia xây dựng về quyền và trách nhiệm của các bên trong bảo hành công trình xây dựng và thời hạn bảo hành của công trình và thiết bị.