Sự nghiệp sáng tác của Nam Cao không dài, chỉ gói gọn trọng 15 năm, gia tài văn chương mà ông để lại cho hậu thế không mấy đồ sộ nhưng chúng lại trở thành“mẫu số vĩnh hằng” trong nền văn học dân tộc. Nam Cao có được sự thành công ấy bởi “Ông là một trong số những nhà văn hiện thực phê phán có ý thức nhất về quan điểm nghệ thuật của mình”. Ban đầu những sáng tác của Nam Cao cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều từ văn học chủ nghĩa lãng mạn đã khiến ông có xu hướng hướng tới“ nghệ thuật vị nghệ thuật” đi theo thế giới mộng tưởng, thoát li đời thực. Nhưng ông không dừng lại ở đó lâu, vì ông nhận ra thứ văn chương đó xa lạ với cuộc sống lầm than của quần chúng nhân dân. Ông đã quyết định đoạn tuyệt với nó để tìm đến con đường nghệ thuật cho mình đó là “vị nhân sinh”. Chính vì vậy quá trình chuyển biến của Nam Cao từ xu hướng nghệ thuật lãng mạn đến chủ nghĩa hiện thực là một quá trình phấn đấu gian khổ nhưng dứt khoát. Để xác định cho mình một quan điểm sống viết đúng đắn Nam Cao đã phải trải qua không ít những dằn vặt, băn khoăn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
Đề bài : Phân tích quan điểm nghệ thuật của Nam Cao trước cách mạng tháng 8
Học phần: Văn học Việt Nam từ 1900 đến 1945 Giảng viên: PGS.TS Phạm Xuân Thạch
PGS.TS Hà Văn Đức Ths Nguyễn Hương Ngọc Sinh viên thực hiện: Trần Thị Dung Ngày sinh: 20/03/2001
Mã sinh viên: 19032398 Lớp: K64 Văn Học
Trang 2I Mở đầu
Mỗi nhà văn lớn luôn mang trong mình những tư tưởng lớn và Nam Cao là một trong số những nhà văn đấy Nhìn bề ngoài, Nam Cao có phần vụng về, ít nói, lạnh lùng, nhưng nội tâm lại luôn sôi sục Ông là một trong số những nhà văn hiện thực phê phán lớn nhất của nền văn học Việt Nam, là cây bút hiếm hoi của nền văn xuôi hiện đại
có tư tưởng, phong cách nghệ thuật và thi pháp sáng tạo độc đáo, có những cách tân lớn góp phần vào quá trình hiện đại hóa văn hóa dân tộc Nhưng để có được chỗ đứng như hiện nay cuộc đời ông đã phải trải qua những nỗi khổ đau
Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri (1917 – 1951) sinh trưởng trong một gia đình nghèo, đời sống khá chật vật, trong các anh chị em chỉ có mình Nam Cao được đi học Đói nghèo, bệnh tật đã giày vò ông từ lúc còn nhỏ Sau khi trưởng thành ông học rất giỏi nhưng ông lại không gặp được may mắn trong sự nghiệp Ông viết văn từ năm
1936 với đủ các thể loại truyện ngắn, làm thơ, viết kịch… nhưng con đường đến với văn chương của ông khá là chật vật, hầu hết các sáng tác đầu của ông đều không có chỗ đứng trong nền văn học lúc bấy giờ Tên tuổi của ông hết sức mờ nhạt không gây được tiếng vang trên các diễn đàn văn học trong khi các nhà văn khác đã khẳng định được vị trí của mình khi còn rất trẻ Cho nên đã có lúc Nam Cao cảm thấy thất vọng và nghi ngờ khả năng văn chương của mình
Mãi đến khi nhà văn Lê Văn Chương phát hiện bản thảo“Cái lò gạch cũ” bị vứt đi,
thì ông đã nhận đảm bảo để in nó Đây sự đánh dấu quan trọng trong sự nghiệp của Nam Cao
Sự nghiệp sáng tác của Nam Cao không dài, chỉ gói gọn trọng 15 năm, gia tài văn
chương mà ông để lại cho hậu thế không mấy đồ sộ nhưng chúng lại trở thành“mẫu số
vĩnh hằng” trong nền văn học dân tộc Nam Cao có được sự thành công ấy bởi “Ông là một trong số những nhà văn hiện thực phê phán có ý thức nhất về quan điểm nghệ thuật của mình”.
Từ đó phân tích quan điểm nghệ thuật của Nam Cao trước cách mạng Tháng
Tám thông qua các tác phẩm văn học của ông để làm rõ tuyên ngôn về nghệ thuật của
Nam Cao
II Nội Dung
Quan điểm nghệ thuật của nhà văn Nam Cao
Trang 3Ban đầu những sáng tác của Nam Cao cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều từ văn học chủ
nghĩa lãng mạn đã khiến ông có xu hướng hướng tới“ nghệ thuật vị nghệ thuật” đi theo
thế giới mộng tưởng, thoát li đời thực Nhưng ông không dừng lại ở đó lâu, vì ông nhận
ra thứ văn chương đó xa lạ với cuộc sống lầm than của quần chúng nhân dân Ông đã
quyết định đoạn tuyệt với nó để tìm đến con đường nghệ thuật cho mình đó là “vị
nhân sinh” Chính vì vậy quá trình chuyển biến của Nam Cao từ xu hướng nghệ thuật
lãng mạn đến chủ nghĩa hiện thực là một quá trình phấn đấu gian khổ nhưng dứt khoát
Để xác định cho mình một quan điểm sống viết đúng đắn Nam Cao đã phải trải qua không ít những dằn vặt, băn khoăn Nam Cao đã mạnh mẽ tìm cho mình một lối đi riêng và tuyên bố quan niệm nghệ thuật của mình qua các truyện ngắn đặc sắc trước cách mạng Tháng Tám, Nam Cao đã dựng lên một bức tranh tuy không rộng lớn và đồ
sộ, nhưng rất mực chân thực về cuộc sống trong xã hội thực dân phong kiến, thể hiện sinh động thân phận khổ đau, bế tắc của lớp tiểu tư sản và những người nông dân
nghèo Tác phẩm đánh dấu quá trình chuyển biến của Nam Cao đó là “Chí Phèo” Với
tác phẩm này nghĩa hiện thực được khẳng định của Nam Cao và sự nghiệp văn học của ông cũng bắt đầu từ chuyện ngắn này
Tác phẩm “Giăng Sáng” xuất bản năm 1943 được đánh giá như một tuyên ngôn
nghệ thuật của Nam Cao trước cách mạng Tháng Tám
Nam Cao luôn trăn trở, suy tư về bản thân, cuộc sống và nghệ thuật Vì thế từ những chuyện nhỏ nhặt thường ngày, Nam Cao nêu lên được những vấn đề xã hội lớn lao, nhiều bài học triết lí sâu sắc Với mình thì khiêm nhường, với người thì trân trọng Trong các nhà văn học hiện thực trước cách mạng Nam Cao là một trong những người
có ý thức nhất và có phát biểu một hệ thống tuyên ngôn nghệ thuật thông qua các tác
phẩm có màu sắc luận đề như “Trăng Sáng” “Đời Thừa”, “Tư Cách Mõm”, “Sống
Mòn”…Ông không có một bài viết, hay tiểu luận nào bộc lộ rõ quan điểm sáng tác của
mình Chính vì vậy quan điểm nghệ thuật của nhà văn Nam Cao được thể hiện thông qua truyện ngắn có tính luận đề Trong đó nhân vật là người phát ngôn cho quan điểm nghệ thuật của ông
1 Quan điểm giữa nghệ thuật và cuộc sống
Đây là một trong những quan điểm tiến bộ và rất tích cực của nhà văn Nam Cao
Ông quan điểm rằng“cần phải đặt cuộc sống cao hơn nghệ thuật”, nghệ thuật xuất phát
Trang 4từ hiện thực cuộc sống, chứ không phải là những thứ xa vời với thực tế Vì cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học Theo Nam Cao người cầm bút không được trốn tránh sự thật, mà hãy đứng vào trong lao khổ, mà hãy mở hồn ra đón tất cả vang
động của đời Từ đó tuyên ngôn nghệ thuật “vị nhân sinh” được ông khẳng định qua tác phẩm Giăng Sáng :“Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh
trăng lừa dối Nghệ thuật chỉ có thể là nỗi đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than” Đây là câu nói trở thành “bản tuyên ngôn nghệ thuật” của chính nhà văn, đã
đánh dấu bước ngoặc trong sự nghiệp cầm bút của mình Quan điểm này của Nam Cao cũng giống với quan điểm của các nhà văn hiện thực phê phán Vũ Trọng Phụng trong
cuộc tranh luận với các nhà văn Tự Lực Văn Đoàn “Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu
thuyết, còn với tôi tiểu thuyết là sự thật ở đời” Tóm lại là nghệ thuật phải bắt nguồn từ
cuộc sống hiện thực, phải phục vụ cho đời sống của con người
Một tác phẩm nghệ thuật chân chính bao giờ cũng phải gắn bó với đời sống, phải nhìn thẳng vào sự thật tàn nhẫn, thống khổ của nhân dân và phải lên tiếng vì họ Ông đã xác định điều này từ rất sớm, khi nhìn vào cuộc sống và tình hình đất nước Trong thời
kỳ đất nước khó khăn, đời sống nhân dân lầm than Chế độ thực dân nửa phong kiến thối nát Với thực tế đó, đòi hỏi người cầm bút – những người được gọi là tầng lớp tri thức phải tham gia vào đấu tranh Đó là lên án những bất công trong xã hội, phản ánh hiện thực đau khổ của người dân để đồng cảm, xót thương cho số phận của họ Họ bị
cả xã hội rẻ rúng, bị đẩy vào bước đường cùng nên trở nên lưu manh, tha hóa Bi kịch của họ chính là do chế độ thối nát phong kiến, họ đã bị đàn áp bóc lột dã man
Như “Chí Phèo” là nhân vật điển hình cho tấn bi kịch không lối thoát Ông đã tìm
ra được nguyên nhân dẫn tới bi kịch của Chí là do xã hội thực dân Chính cảnh tù đầy
đã thay đổi về cả ngoại hình và nhân tính khiến Chí trở thành tay sai, công cụ gián tiếp cho bọn thực dân gây ra biết bao nhiêu cảnh đổ máu, tội ác không thể dung thứ Hoặc
đổ máu chính mình là rạch mặt, ăn vạ hoặc đổ máu người khác bằng gây gổ, đâm thuê, chém mướn Ngày nào Chí cũng trượt dài trên các cơn say triền miên, không lúc nào tỉnh Tất cả những hành động ngỗ ngược ấy là biểu hiện phản ứng gay gắt của một con người đã đi đến bước đường cùng để liễu lĩnh tồn tại Để rồi đến khi chết Chí vẫn khao
khát có được một cuộc sống bình thường“Ai cho tao lương thiện” Câu nói của nhân
vật cũng chính là suy nghĩ của nhà văn, ông đề cao quyền sống của con người Đồng
Trang 5thời Nam Cao cũng không ngần ngại vạch trần bộ mặt tàn ác, xấu xa của bọn thống trị như Bá Kiến đã khiến cho cuộc sống của con người trở nên bị thảm, khốn cùng Từ đó nhà văn khẳng định nỗi khổ lớn nhất của con người không phải là sự thiếu thốn về vật chất mà là nỗi khổ về tinh thần khi bị đồng loại ruồng bỏ
Bên cạnh lên tiếng vạch trần tội ác của bọn thực dân phong kiến, Nam Cao cũng đã tái hiện rất chân thực đời sống cơ cực của Lão Hạc – người nông dân hiền lạnh, giàu tình thương con nhưng phải chết trong vật vã và tuyệt vọng
Nam Cao đã đưa tất cả sự thật đời sống đó vào văn chương Ông đi sâu vào khám phá hiện thực bằng con mắt lạnh lùng và tỉnh táo, nhà văn không né tránh bất kì mặt xấu nào của hiện thực mà vạch trần, phơi bày tất cả Như giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh
từng viết: “Không ai nhìn đời bằng con mắt ác như Nam Cao nhưng cũng không ai
nhìn đời bằng con mắt tình thương như Nam Cao”
Một loạt các tác phẩm như Giăng sáng, Đời Thừa cho ta thấy rõ được sự tàn nhẫn
của tầng lớp tri thức nghèo, phải vật lộn với sinh kế rơi vào hoàn cảnh “sống mòn” và
“chết mòn” Đây có lẽ là đề tài ám ảnh và trăn trở nhất của Nam Cao Ông tập trung
miêu tả cuộc khủng hoảng tinh thần của những người tri thức nghèo Bi kịch đầu tiên
mà cuộc đời dành cho những con người ấy là “ bi kịch vỡ mộng” Đó có thể là những
nhà văn như Nam Cao phải vật lộn trong cuộc đấu tranh giữa lương tâm, nghệ thuật và nhu cầu cơm áo Là khát vọng khao khát được sống với đam mê, để cầm bút viết lên những trang viết hay nhưng lại bị gánh nặng cơm áo hàng ngày bóp nghẹt Sự túng quẫn chật vật trong cái nghèo đã khiến cho những hoài bão, ước mơ của họ chết dần, chết mòn theo năm tháng
Điền trong“Giăng sáng” không chút nào không phải nghĩ đến tiền Trong đầu Điền
đầy những lo lắng lắng nhỏ nhen Đôi khi nhớ lại cái mộng xưa, Điền lại thở dài Điền
tự an ủi có tiền rồi hãy viết Nhưng Điền chẳng bao giờ viết được nữa, bởi chắc chắn là suốt đời Điền không có tiền
Thứ trong “Sống mòn” trong cảnh sống ở trường tư ngoại ô, ban đầu nuôi ước vọng
cải tạo trường, mong đem lại một cái gì đó có ích cho đời Nhưng chẳng bao lâu anh rơi vào sự thất vọng, vì biết đó chỉ là ước mơ viển vông, không bao giờ thực hiện nổi
Trang 6Nam Cao cũng đã lý giải được bi kịch “ vỡ mộng” của những lớp người trí thức tiểu
tư sản Đó chính là xã hội thực dân phong kiến thối nát đã dập tan những ước mơ, dự định tươi đẹp của họ
Từ đó Nam Cao đã khẳng định nghệ thuật không nên lãng mạn, xa rời thực tế mà phải luôn bám sát vào đời sống của con người Vì nghệ thuật sinh ra từ chất liệu cuộc sống và quay lại phục vụ con người, phục vụ cuộc sống
2 Nghê thuật đồng nghĩa với sự sáng tạo
Với Nam Cao văn chương chính là hiện thực cuộc sống Chính bởi điều này chúng
ta bắt gặp trong những trang viết của ông là những phận người rất đời thực, những câu chuyện thật xuất phát từ chính cuộc sống hàng ngày Thế nhưng, tính hiện thực phải được kể một cách sáng tạo và mởi mẻ chứ không rập khuôn, máy móc Ông quan niệm
đã là một nhà văn thì cần phải tạo cho mình một lối đi riêng, nghệ thuật chân chính không bao giờ được đi theo lối mòn cũ và lặp lại các nhà văn khác Là một nhà văn có nhân cách, là phải có trách nhiệm với ngòi bút của mình Điều này có thể thấy trong
tuyên ngôn nghệ thuật của nhân vật Hộ (Đời Thừa): “ Văn chương không cần những
người thợ khéo tay làm theo một và kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những
ai biết đào sâu, tìm tòi khơi những nguồn chưa ai khơi, sáng tạo những gì chưa có”.
Đúng vậy chỉ có những thứ văn chương nông cạn mới rập khuôn sẵn có, văn chương thật sự phải dung nạp những điều mới mẽ, bản chất đích thực của văn chương phải là sáng tạo Nghệ thuật là cả một quá trình chọn lọc, nghiền ngẫm, khám phá, vì vậy để mỗi nhà văn cũng như các tác phẩm của mình muốn có chỗ đứng thì phải có tính mới sáng tạo ở cả nội dung và hình thức
Nam Cao không hạ mình bắt chước ai, không nói những cái người ta đã nói, không
đi theo những công thức, những lối mòn có sẵn Nhà văn cũng không uốn cong ngòi bút của mình theo thị hiếu của độc giả đương thời lúc đó đang rất say xưa với những tiểu thuyết lãng mạn Ông đã mạnh mẽ tự tìm cho mình một lối đi riêng đó chính là sự sáng tạo không ngừng được thể hiện rất rõ qua nội dung tư tưởng của mình
M.Prut cũng cho rằng: “Một cuộc thảm hiểm thật sự không phải ở chỗ tìm vùng đất
mới mà cần đôi mắt mới” Đúng vậy nghệ thuật không phải là sự mô phỏng, sao chép
hiện thực một cách giản đơn mà là sự tái tạo hiện thực theo lăng kính chủ quan của
Trang 7người nghệ sĩ để Sự sáng tạo của Nam Cao được thể hiện cả hai phương diện về nội dung và nghệ thuật
Nhà văn chọn một đề tài không mới là viết về người nông dân trước cách mạng,
mảnh đất đã được nhiều người“cày xới” nhưng Nam Cao vẫn có cách nhìn riêng, phát hiện ra những điều nhức nhối của hiện thực Nam Cao cố tìm ra “con người trong con
người” khơi được những nét nhân văn, nhân bản nhất từ trong con người bị mất đi
quyền sống
Nhân vật Chí Phèo không phải là một thành phần số nhỏ mà đây là một nhân vật đại diện có tính điển hình cho một bộ phận người nông dân bị tha hóa về cả nhân hình lẫn nhân tính mà chỉ có ở giai đoạn này Nam Cao đã sớm phát hiện ra họ là kết quả của xã hội ngột ngạt, bế tắc Ngoài việc vẽ lên bức tranh hiện thực xã hội ngột ngạt, ảm đạm nhà văn đã đào sâu và lí giải được con đường biến Chí Phèo trượt dài trên con đường tha hóa
Nhà văn đã phát hiện, ngợi ca và trân trọng nâng niu những phẩm chất cao quý của người nông dân Ông luôn đặt niềm tin sâu sắc vào nhân tính tốt đẹp của con người sẽ không bao giờ bị mất đi dù trong mọi hoàn cảnh Đó là vẻ đẹp phẩm chất của Chí Phèo
ẩn sâu vẻ bề ngoài đáng sợ, hung dữ, nhà văn đã phát hiện ra bản chất lương thiện, hiền lành của Chí, niềm khao khát được trở về với con đường lương thiện Chính cuộc gặp
gỡ định mệnh với Thị Nở đã giúp Chí nhận ra được nhiều điều ý nghĩa trong cuộc sống Những âm thanh cuộc sống đã trỗi dậy một thời ước mơ giản dị như bao người nông
dân khác“ một gia đình nhỏ, chồng quốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, có dần vốn thì nuôi
lợn…” Chí khao khát hạnh phúc lứa đôi, khát vọng được làm người lương thiện, có
tinh thần phản kháng
Thị Nở là nhân vật mang tính điển hình cho những người phụ nữ có ngoại hình xấu
xí những vẫn luôn có những phẩm chất tốt đẹp bên trong đó là giàu tình thương, có trái tim nhân hậu, khao khát mong muốn có được tình yêu và hạnh phúc
Đối với các nhân vật trí thức tiểu tư dù họ phải đối mặt với tấn bi kịch “sống mà
như đã chết” nhưng họ không trải dài mãi trên nỗi đau bị kịch ấy, họ biết dừng lại
đúng lúc để đấu tranh, vẫn giữ được niềm đam mê với văn chương Cái kết thúc của “
Giăng Sáng” đó là cảnh Điền vẫn ngồi viết văn giữa tiếng con khóc, tiếng vợ gắt gỏng,
tiếng léo xéo đòi nợ đầu xóm Và cả tiếng chửi bới của người người láng giềng ban
Trang 8đêm mất gà Điền mở rộng tâm hồn mình đón nhận tất cả những vang động của cuộc sống xunh quanh mình
Bằng chính quan niệm nghệ thuật của mình Nam Cao đã đặt ra yêu cầu cho người cấm bút đó là muốn có chỗ đứng, muốn thể hiện và khẳng định mình phải sáng tác nên những tác phẩm có giá trị, in đậm dấu ấn cá nhân, phải mang đến cho độc giả những cách thức mới mới mẻ và sáng tạo
3 Đánh giá cao vai trò, vị trí của văn chương trong tác động xã hội con người
Văn chương góp phần cải tạo và thúc đẩy cuộc sống, một thứ văn chương không nhằm thỏa mãn công danh mà là có ích cho đời Một tác phẩm có giá trị trước hết phải
vì con người, quan tâm đến cuộc sống con người Ông đã nhận thức rất rõ điều này
thông qua tuyên ngôn của nhân vật Hộ ( Đời Thừa) :“Một tác phẩm có giá trị phải vượt
lên trên tất cả bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi Nó ca tụng lòng thương, tình bắc ái, sự công bằng Nó làm cho con người gần người hơn”.
Đọc tác phẩm của Nam Cao ta thấy những trang viết của ông tưởng như lạnh lùng khách quan nhưng thật ra ẩn chứa niềm đồng cảm, thương xót những nỗi đau bất hạnh của con người qua các tác phẩm như Chí Phèo, Lão Hạc, Đời Thừa, Giăng Sáng… Ngoài việc nhà văn dũng cảm vạch trần hiện thực xã hội đã đẩy con người đến tấn bi kịch không lối thoát Nhưng thế vẫn chưa đủ đối với sáng tác của nhà văn Trong bức tranh hiện thực được tác giả vẽ lại còn có cả một trái tim ấm áp của nhà văn đồng cảm
với chính nhân vật của mình Như nhà văn Sê – Khốp đã khẳng định: “Một nhà nghệ sĩ
chân chính phải là nhà nhân đạo trong cốt tủy”.
Tư tưởng nghệ thuật đã chi phối sáng tác của Nam Cao là mối ưu tư của tính người trong một thực tại phi nhân tính Nam Cao coi tình thương là cốt lõi của tính người và tình người ở con người Trong bất kì một tác phẩm chân chính nào giá trị hiện thực cũng đi kèm với giá trị nhân đạo Với Nam Cao tác phẩm càng xuất sắc thì hai tư tưởng này phải thấm đượm vào nhau Chí Phèo cũng không nằm ngoài quy luật ấy Một mặt Nam Cao miêu tả quá trình tha hóa của Chí Phèo do hoàn cảnh xã hội tạo nên, nhưng mặc khác đôi mắt sắc xảo và trái tim nhân đạo ấy Nam Cao đã có cái nhìn là cảm thông với cuộc sống nghèo khổ trước hết là trân trọng những khát vọng về ước mơ cuộc sống tốt đẹp của con người, khẳng định bản chất tốt đẹp của con người luôn tồn tại trong bất
Trang 9cứ hoàn cảnh nào Chí Phèo dù bị xã hội vùi dập nhưng ở sâu bên trong tâm hồn Chí vẫn còn những phẩm chất tốt đẹp, chỉ cần một chút tình thương chạm khẽ là có thể sống
dạy một cách mãnh liệt Thị Nở dù có hình hài xấu xí đến “ma chê quỷ hờn” kì diệu
thay lại là nguồn ánh sáng duy nhất đã soi sáng vào chỗ tối tăm của Chí Phèo, thắp sáng một trái tim đã bị ngủ quên sau bao ngày tháng bị vùi dập Thị là người khiến cho Chí cảm nhận được chút tình thương, đánh thức tính thiện trong con người Chí
Nam Cao đã bộc lộ được tư tưởng chính đáng của mình đó là dù trong hoàn cảnh như thế nào thì tình yêu thương vẫn luôn tồn tại Dưới tôn chỉ nghệ thuật của Nam Cao, tình yêu chân chính cũng như là đôi cánh nâng đỡ con người lên khỏi cái địa ngục trần gian, giải thoát cho những con người tầm thường lạc lối như Chí Phèo
Nhân vật Hộ trong “Đời Thừa” anh luôn phải đè nặng trong nỗi lo gánh nặng cơm
áo gạo tiền để mưu sinh cuộc sống, Hộ trở nên bế tắc và vi phạm vào lí tưởng của nghề viết Văn Vì vậy khiến anh trở nên cáu kỉnh và lấy gia đình làm nơi trút hết những bực bội ấy Nhưng Hộ vẫn là một người giàu tình yêu thương, có khát khao và hoài bão với công việc Trong suy nghĩ của Hộ, Từ rất đáng yêu, rất đáng thương, hắn có thể hi sinh tình yêu, khước bỏ mẹ con Từ để có thể đến gần với sự nghiệp văn chương, nhưng hắn không thể từ bỏ lòng thương, có lẽ hắn nhu nhược, hèn nhác, nhưng hắn vẫn còn được
là con người Nam Cao đã phát biểu tư tưởng nhân đạo của mình qua suy nghĩ của nhân
vật Hộ: “ Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai người khác để thỏa mãn lòng ích kỷ.
Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ người khác trên đôi vai của mình” Đúng vậy con người
không có tình yêu thương đồng loại thì chỉ là một “thứ quái vật” không đáng gọi là
người
Muốn viết được những tác phẩm có giá trị, đòi hỏi nhà văn phải có con mắt nhìn đời nhạy bén, một trái tim hiểu đời, hiểu người Nhà văn trở thành sứ mệnh đào sâu vào cuộc đời
4 Đề cao vai trò trách nhiệm của nhà văn trong xã hội
Văn chương đi lên từ hiện thực, ảnh hưởng tới cuộc sống Bởi vậy khi cầm bút viết
ra bất cứ điều gì nhà văn cũng phải suy xét cẩn thận và tận tâm, phải có trách nhiệm
với những gì mình viết, viết bằng cả trái tim và khối óc của mình Trong “Đời Thừa” Nam Cao đã viết:“Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi Nhưng
sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện” Đây là một quan điểm đúng đắn đối
Trang 10với Nam Cao, thể hiện quan niệm nghệ thuật ông coi việc lao động nghệ thuật là cả một quá trình nghiêm túc, và công phu Đồng thời đầy cũng là một lời cảnh tỉnh cho người cầm bút
Ông cũng cho rằng “Sống rồi hãy viết, hãy hòa mình vào cuộc sống vĩ đại của nhân
dân” Một khi nhà văn đã cầm bút để vẽ lên một nhân vật nào đó, thì đòi hỏi phải tìm
hiểu về cuộc sống, tính cách và những điều sâu xa trong tâm hồn của họ Đôi mắt nhà văn phải nhìn mọi việc một cách đa chiều trên nhiều phương diện khác nhau của cuộc sống Nếu viết về đề tài người nông dân, nhà văn cũng trải qua cuộc sống đó, mới có thể hiểu hết những ngóc ngách trong cuộc sống
Niềm say mê với văn chương được biểu hiện rõ qua nhân vật Hộ “Đời Thừa” Hộ
là một nhà văn vừa mẽ văn vừa tự hào về cái nghề cầm bút của mình Mỗi lần đọc được
đoạn văn hay, một câu văn hay Hộ đều “ ngẫm nghĩ và để cho cái khoái cảm ngân ra
trong lòng” Với Hộ, văn chương là một món ăn tinh thần vô giá Mỗi lần đọc được
một đoạn văn hay, cảm được cái hay của văn chương “thì dẫu ăn một món ngon đến
đâu cũng không thích bằng Sướng lắm!” Hộ sẵn sàng cam chịu đời sống khổ cực
thiếu thốn để thực hiện sứ mệnh văn chương của mình nhưng rồi anh cảm thấy xấu hổ khi đọc lại những bài văn viết vội của mình, anh trách móc, giận dữ bởi vì sự cẩu thả trong văn trương của anh đã đi ngược lại với lí tưởng và trách nhiệm của người cầm bút
Nhân vật Điền “ Giăng Sáng” là một người đam mê văn chương, chấp nhận hoàn cảnh khó khăn để theo đuổi lí tưởng cho riêng mình Anh đã sẵn sàng bỏ công việc mấy trăm đồng, để theo cái nghề văn chương chỉ có giá năm đồng
5 Quan điểm duy vật về mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh
Hoàn cảnh có tác động rất mạnh mẽ, có những tác động sâu sắc đến tính cách nhân vật Điều này không chỉ thuộc về cuộc sống mà còn nằm trong nguyên tắc sáng tác đòi hỏi nhà văn phải nắm chắc và tuân thủ khi xây dựng hệ thống nhân vật của mình Với tư cách là một nhà văn hiện thực xuất sắc Nam Cao đã thực hiện hiệu quả quan điểm này
trong hàng loạt các sáng tác của ông Hai truyện ngắn “Tư Cách Mõm”,“Sao lại thế
này” là hai truyện ngắn có tính luận đề chứng minh cho quan điểm này
Nam Cao cho rằng hoàn cảnh nó quyết định ý thức của con người, ngoài cả ý muốn của con người Đồng thời tính cách của nhân vật cũng chỉ thực sự có ý nghĩa khi đặt