LÊ THỊ PHƯƠNG LAN DẤU ẤN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH THÔNG QUA MỘT VÀI TIỂU THUYẾT TIÊU BIỂU CỦA NGUYỄN THỊ HOÀNG KHẢO SÁT QUA CÁC TÁC PHẨM “VÒNG TAY HỌC TRÒ”; “TIẾNG CHUÔNG GỌI NGƯỜI TÌNH
Lịch sử nghiên cứu đề tài
Không thể phủ nhận sức ảnh hưởng sâu rộng của chủ nghĩa hiện sinh đến nhiều mặt của văn hóa và văn học Việt Nam Các tác phẩm văn học của các tác giả Việt Nam chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh đang trở thành lĩnh vực nghiên cứu hấp dẫn, thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Các nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Việt Nam tập trung vào các tác phẩm tiêu biểu như "Vòng tay học trò", "Tiếng chuông gọi người tình trở về" và "Cuộc tình trong ngục thất" của Nguyễn Thị Hoàng Phân chia các công trình nghiên cứu trước đó thành hai nhóm chính giúp làm rõ hơn về ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Việt Nam và sáng tác của Nguyễn Thị Hoàng.
2.1 Những công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh với các tác phẩm văn học Việt Nam
Sau hai cuộc chiến tranh thế giới, các cuộc khủng hoảng tinh thần kéo dài ở Tây Âu đã ảnh hưởng sâu sắc đến các trường phái hiện đại chủ nghĩa, khiến người ta hoài nghi về lịch sử và bi quan trước những thành tựu khoa học Từ đó, niềm tin vào giá trị nhân bản giảm sút, nghệ thuật bị tách rời khỏi đạo đức và chân lý Thay vào đó, các nhà tư tưởng đề xuất một chủ nghĩa cá nhân cực đoan, lấy cái tôi của mỗi cá nhân làm trung tâm để đánh giá mọi mặt của cuộc sống.
Văn học hiện sinh luôn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu văn học toàn cầu, đặc biệt trong bối cảnh xã hội nhiều biến động khiến con người ngày càng đắn đo, trăn trở về ý nghĩa cuộc sống và giá trị của đời sống Dù chưa xuất hiện chính thức trong văn học Việt Nam, nhưng dấu vết của chủ nghĩa hiện sinh có thể được nhận thấy qua các tác phẩm của văn học miền Nam trước 1975 Văn học miền Nam trước 1975, chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh chính trị và xã hội, thường phản ánh sâu sắc về sự mong manh, trôi nổi của cuộc đời con người, về nỗi buồn, đau đớn, số phận đầy bất công và những nỗ lực vượt qua khó khăn của con người trong một thế giới phi lý.
Các nhà nghiên cứu tập trung tìm hiểu, chỉ ra những đặc trưng của hiện sinh Với công trình nghiên cứu “Con người hiện sinh trong tiểu thuyết Việt
Trong mười năm đầu thế kỷ XXI, nhà nghiên cứu thể hiện sự băn khoăn về con người hiện sinh qua các đặc điểm cơ bản như sự nổi loạn toàn diện vì khát vọng tự do, nỗi lạc lõng cô đơn kéo dài trong cuộc đời mỗi người, và sự khẳng định tính dục như một phần không thể thiếu của bản ngã.
Trong quá trình nghiên cứu về tác động của chủ nghĩa hiện sinh đối với văn học miền Nam Việt Nam, Nguyễn Văn Trung trong “Nhìn lại tự trào hiện sinh tại miền Nam” đã làm rõ ảnh hưởng của Sartre trên thế giới Tác phẩm truyền đạt cách chủ nghĩa hiện sinh đã tác động sâu sắc đến tư duy và sáng tạo văn học, đồng thời dẫn dắt độc giả hiểu rõ các yếu tố lý luận về văn học nghệ thuật gắn liền với chủ nghĩa hiện sinh.
Năm 2002, Thụy Khuê đã phân tích bài viết “Nỗi đau hiện sinh trong Bướm trắng”, nhấn mạnh các chủ đề ẩn sâu trong tác phẩm của Nhất Linh về tính chất phi lý của cuộc đời và các vấn đề tồn tại như tự tử, sự ngộ nhận và sa đọa của con người Bài viết làm rõ rằng những đề tài chủ yếu của hiện sinh đều hiện diện rõ nét trong tác phẩm “Bướm trắng”, phản ánh sâu sắc những xung đột nội tại và ý nghĩa triết lý của cuộc sống.
Huỳnh Như Phương đã nghiên cứu và làm rõ ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh đối với văn học miền Nam Việt Nam qua phương diện nghệ thuật Trong đó, hình ảnh nhân vật thường được khắc họa là những con người lạc lõng, cô đơn, đối diện với thế giới phi lý và đầy sự xa lạ Đề tài "Chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam" thể hiện rõ nét những cảm nhận về cuộc sống đầy bất ổn, sự tìm kiếm ý nghĩa và sự tồn tại một cách bất định của con người trong đời sống hàng ngày.
Nghiên cứu về Nam Việt Nam trong giai đoạn 1954 – 1975 nhấn mạnh vai trò của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học miền Nam Việt Nam Công trình này khẳng định giá trị của chủ nghĩa hiện sinh và nhấn mạnh ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển của văn học thời kỳ đó Đồng thời, nó cũng là lời nhắc nhở về tầm quan trọng của việc nhìn nhận một cách nghiêm túc các ảnh hưởng của chủ nghĩa này đối với các tác phẩm văn học miền Nam Việt Nam trong giai đoạn lịch sử đặc biệt này.
Bên cạnh đó là công trình nghiên cứu “Dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương (2015)” của tác giả Phạm Thị Thắm
Dựa trên cơ sở lý thuyết hiện sinh, tác giả nhấn mạnh dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh về hiện thực và con người, khi con người ngày càng cảm thấy lạc lõng, chơ vơ, lo âu và đầy hoang mang trong một thế giới bất trắc, phi lý.
Luận án tiến sĩ văn học Việt Nam “Cảm thức hiện sinh trong truyện ngắn
Trong bài viết "Việt Nam từ 1986 đến 2010" của tác giả Trần Nhật Thu, nội dung tổng quát về tình hình nghiên cứu cảm thức hiện sinh trong văn học Việt Nam được trình bày rõ nét Tác giả phân tích các kiểu người mang cảm thức hiện sinh trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1986-2010, gồm: con người cô đơn, con người nổi loạn và con người lo âu Ngoài ra, bài viết cũng nhấn mạnh các yếu tố nghệ thuật như không gian, thời gian, các motif và biểu tượng góp phần thể hiện cảm thức hiện sinh trong truyện ngắn Việt Nam từ năm 1986 đến 2010.
Nhiều bài báo nghiên cứu về dấu ấn hiện sinh trong các tác phẩm tiêu biểu đã được xuất bản Đặc biệt, bài báo khoa học “Dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong ‘Những người đàn bà gánh nước sông’ của Nguyễn Quang Thiều” đã làm rõ những đặc trưng hiện sinh thể hiện trong tác phẩm này.
Bài báo này in trong Tạp chí khoa học Trường Đại học Vinh, Tập 49 – số 2B/2022, của tác giả Đoàn Thị Hạnh, phân tích những nội dung cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh và nhận diện dấu ấn hiện sinh qua nỗi cô đơn nhân văn trong bài thơ “Những người đàn bà gánh nước sông” Tác giả khẳng định rằng bài thơ nhấn mạnh vào nỗi cô đơn của những lao động miền quê ở vùng nông thôn sông Đáy, qua đó cảnh tỉnh con người cần trân trọng cuộc sống hơn Năm 2021, Tạp chí Khoa học Đại học Sài Gòn cũng xuất bản bài viết “Dấu ấn hiện sinh trong tiểu thuyết của Nguyễn Thị Hoàng” do Hà Minh Châu chủ biên, giúp độc giả có cái nhìn toàn diện về dấu ấn hiện sinh qua các sáng tác của Nguyễn Thị Hoàng Bài viết nổi bật đề cập đến nỗi cô đơn trong hành trình sống và trải nghiệm của nhân vật, từ đó giúp nhân vật có khả năng nhận thức và lựa chọn thái độ sống phù hợp để khẳng định ý nghĩa cuộc đời.
Văn học luôn phát triển cùng với sự biến đổi của xã hội, phản ánh những thay đổi và xu hướng mới trong chiều sâu của đời sống tinh thần Việc nghiên cứu và thống kê các ý kiến phản biện, phủ định trong văn học giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về quá trình sáng tạo nghệ thuật Điều này góp phần nâng cao hiểu biết và phân tích khách quan về tác phẩm, đồng thời làm rõ vai trò của văn học trong việc phản ánh thực tế xã hội.
2.2 Những công trình nghiên cứu về các tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng
Trong giai đoạn 1954 – 1975, tác giả này được xem là một trong những hiện tượng văn học đặc biệt, thể hiện qua sức ảnh hưởng và sự công nhận của độc giả Nhà thơ Từ Kế Tường nhấn mạnh rằng, các nhà văn nữ thời đó, dù ít có tên tuổi nổi bật, vẫn được độc giả đón nhận và tôn trọng, với những tên tuổi tiêu biểu như Bà Tùng Long, Nguyễn Thị Vinh, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng, Trần Thị NgH, mỗi người mang vẻ đẹp riêng và vị thế riêng trong làng văn Điều này phản ánh rằng, nếu tác giả thiếu tài năng, họ khó có thể tồn tại và định hình được chỗ đứng trên các diễn đàn văn học, đặc biệt là trong số các nhà văn nữ, những người có số lượng độc giả riêng biệt và trung thành.
Nguyễn Thị Hoàng là một tác giả gây nhiều tranh cãi trong giới văn học Việt Nam Tác phẩm vốn nổi bật của bà, "Vòng tay học trò", ra đời năm 1964 dựa trên những trải nghiệm cuộc sống và tình yêu đầy bi thương của chính tác giả Bản thảo lần đầu được đăng trên tạp chí Bách Khoa trước khi chính thức xuất bản năm 1966, nhanh chóng trở thành đề tài bàn tán sôi nổi trong dư luận Đây được xem như một “quả bom” gây chấn động văn đàn vì đề cập đến vấn đề nhạy cảm của xã hội thời đó – mối quan hệ tình cảm giữa giáo viên và học trò, trái với chuẩn mực xã hội Nhiều nhà báo nhận định rằng tác phẩm đã mở ra những tranh luận gay gắt về các vấn đề đạo đức và xã hội trong văn học Việt Nam thời kỳ đó.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài luận văn này, chúng tôi sẽ chỉ ra những dấu ấn hiện sinh đối với các tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng
Thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
4.1 Phương pháp cấu trúc – hệ thống
Nghiên cứu “Dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh qua các tiểu thuyết tiêu biểu của Nguyễn Thị Hoàng” tập trung phân tích tác phẩm “Vòng tay học trò,” “Tiếng chuông gọi người tình trở về” và “Cuộc tình trong ngục thất” nhằm làm rõ những nét đặc trưng của chủ nghĩa hiện sinh được thể hiện qua ngòi bút của tác giả Các tác phẩm này xây dựng một cấu trúc chặt chẽ, mang tính hệ thống, phản ánh sâu sắc thế giới nội tâm các nhân vật, đồng thời thể hiện những xung đột tồn tại trong cuộc sống và nỗi cô đơn, tuyệt vọng của nhân vật dưới góc nhìn hiện sinh Nghiên cứu giúp làm rõ cách Nguyễn Thị Hoàng sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh để thể hiện những triết lý sống, qua đó góp phần nâng cao hiểu biết về sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Việt Nam hiện đại.
4.2 Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại
Chúng tôi tập trung nghiên cứu kết cấu, nghệ thuật xây dựng nhân vật, cùng ngôn từ và giọng điệu để làm rõ dấu ấn của hiện sinh trong tiểu thuyết của Nguyễn Thị Hoàng Các yếu tố này góp phần thể hiện sâu sắc chủ đề hiện sinh và những trải nghiệm nội tâm phức tạp của các nhân vật trong tác phẩm Phân tích kỹ lưỡng giúp làm nổi bật phong cách sáng tạo độc đáo của nhà văn, đồng thời nâng cao giá trị nghệ thuật và ý nghĩa của các tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng.
4.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phân tích tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng để làm rõ những ảnh hưởng của hiện sinh trên bình diện nội dung và nghệ thuật
4.4 Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả áp dụng kiến thức chuyên ngành liên quan đến văn hóa, lịch sử và triết học để phân tích và lý giải chính xác các nhân vật, sự kiện và tình tiết trong tác phẩm.
Đóng góp mới của luận văn
Luận văn "Dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh thông qua một vài tiểu thuyết tiêu biểu của Nguyễn Thị Hoàng" đã làm rõ cách chủ nghĩa hiện sinh thể hiện rõ nét trong nội dung và nghệ thuật sáng tác của tác giả Phân tích các tác phẩm như "Vòng tay học trò", "Tiếng chuông gọi người tình trở về" và "Cuộc tình trong ngục thất" giúp làm sáng tỏ dấu ấn hiện sinh trong văn học Nguyễn Thị Hoàng Đây là một hướng tiếp cận giúp nhận diện dấu ấn hiện sinh trong văn học Việt Nam, từ đó mở ra con đường hiểu sâu hơn về các tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng trong bối cảnh văn hóa, xã hội đương đại.
Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tư liệu tham khảo, Mục lục,… luận văn cấu tạo gồm ba chương:
Chương 1: Khái quát về chủ nghĩa hiện sinh và sự biểu hiện của yếu tố hiện sinh trong văn học Việt Nam
Chương 2: Dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Thị Hoàng qua cảm quan về hiện thực và con người
Chương 3: Dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Thị Hoàng nhìn từ phương thức biểu hiện.
KHÁI QUÁT VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ SỰ BIỂU HIỆN CỦA YẾU TỐ HIỆN SINH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
Khái quát chung về chủ nghĩa hiện sinh
1.1.1 Khái niệm chủ nghĩa hiện sinh
Chủ nghĩa hiện sinh (Existentialism) dựa trên nghĩa gốc của từ “existentia” – sự tồn tại và sự hiện hữu Mặc dù còn nhiều tranh cãi, nhưng về cơ bản, chủ nghĩa này tập trung vào các vấn đề về con người, bao gồm bản tính, thân phận, thế giới nội tâm và mối quan hệ giữa con người với thế giới cũng như hoàn cảnh sống.
Chủ nghĩa hiện sinh nhấn mạnh sự tự do và trách nhiệm của từng cá nhân trong quá trình phát triển bản thân qua các hành động dựa trên lý trí Đây là triết lý xuất phát từ cuộc sống hàng ngày và những trải nghiệm quý giá mà con người tích góp trong quá trình tồn tại Các câu hỏi căn bản như “Tại sao tôi ở đây?”, “Mục đích sống của tôi là gì?”, và “Cái chết của tôi có ý nghĩa gì?” luôn được suy ngẫm, phản ánh những suy tư sâu sắc về ý nghĩa cuộc đời và bản chất của sự tồn tại.
Chủ nghĩa hiện sinh nhấn mạnh tầm quan trọng của trải nghiệm, hành động và cách sống của từng cá nhân trong cuộc đời Theo chủ nghĩa này, thế giới tồn tại và phát triển nhờ vào sự hoạt động, trải nghiệm và tư duy của mỗi người, khẳng định rằng mỗi cá nhân đều cần sống và ghi dấu ấn riêng biệt Chủ nghĩa hiện sinh coi con người như những thực thể không thể máy móc, mà phải trải qua thất bại, thành công để xây dựng ý nghĩa cuộc sống Nó tôn trọng sự khác biệt và độc đáo của từng cá nhân, góp phần tạo nên một thế giới đa dạng, sắc thái và phong phú trong quan điểm sống.
Mỗi cá nhân xây dựng "vũ trụ của riêng mình" trong bức tranh lớn của nhân loại, qua các hoạt động hàng ngày tạo thành thế giới quan riêng biệt Những trải nghiệm và suy nghĩ cá nhân giúp khẳng định ý nghĩa và sự tồn tại có giá trị của chính mình trong cuộc sống rộng lớn này.
Chủ nghĩa hiện sinh là một thuyết triết học phức tạp, với nhiều hướng nghiên cứu và tiếp nhận khác nhau Tuy nhiên, điểm chung của các tư tưởng hiện sinh là tập trung vào phân tích và khám phá bản chất của cá nhân qua quá trình sống, trải nghiệm và ghi dấu ấn trên cuộc đời mỗi con người.
1.1.2 Điều kiện ra đời của chủ nghĩa hiện sinh
Mỗi chủ nghĩa đều được hình thành trong các hoàn cảnh đặc thù, và chủ nghĩa hiện sinh cũng không ngoại lệ Các yếu tố bên ngoài như lịch sử, xã hội và nhận thức đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện thúc đẩy sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa hiện sinh Hiểu rõ các yếu tố này giúp làm rõ bối cảnh hình thành của chủ nghĩa hiện sinh và tầm ảnh hưởng của nó trong triết học và tư duy hiện đại.
Chiến tranh thế giới thứ I và thứ II đã tạo điều kiện thúc đẩy sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa hiện sinh, khi các phương diện của đời sống như kinh tế, chính trị, văn hoá bị tàn phá nặng nề Khủng hoảng chiến tranh gây ra sự sầu muộn và bối rối về tinh thần, khiến con người rơi vào trạng thái trống rỗng, tuyệt vọng, không tìm thấy mục đích sống, dẫn đến cảm giác vô nghĩa trong cuộc sống thực tế Trong bối cảnh đó, triết học hiện sinh phát triển mạnh mẽ, phản ánh nỗi lo âu, sự bất an và cảm giác cô đơn tràn lan trong xã hội bị chiến tranh tàn phá, đặc biệt là khi nền văn minh rơi vào khủng hoảng do chủ nghĩa phát xít Người dân châu Âu cảm nhận rõ sự lung lay của giá trị cũ, cảm thấy mình như những con số vô danh trong bộ máy chiến tranh khổng lồ, dẫn đến hoài nghi và cảm giác cuộc đời đầy phi lý Cảm xúc lo âu, chán nản và vô nghĩa đã trở thành nền tảng để phát triển chủ nghĩa hiện sinh, khi con người bắt đầu đặt ra các câu hỏi về ý nghĩa sống của bản thân và tìm cách khơi dậy những khát vọng, hướng tới tìm kiếm một cuộc đời ý nghĩa hơn.
Từ thời cổ đại, triết gia Socrate đã khẳng định con người khác biệt với các sinh vật khác bởi khả năng quan tâm đến đời sống tinh thần, đặt câu hỏi về ý nghĩa và giá trị cuộc sống Đến thời hiện đại, triết gia Kierkegaard nhấn mạnh rằng cuộc sống của con người sẽ vô nghĩa nếu không có mục đích, dám trải nghiệm và sống có ý nghĩa trong cuộc đời biến đổi không ngừng Chủ nghĩa hiện sinh ra đời như một lời giải cho những trăn trở về thân phận và khát vọng làm chủ cuộc sống của con người, đồng thời phản ánh nỗi khao khát vượt ra khỏi cái tôi để phát triển bản thân Ngoài ra, nó còn như một phản ứng chống lại các chủ nghĩa trước đó tồn tại trong xã hội bất công, phân hóa rõ rệt, đặc biệt trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp và khoa học công nghệ ở phương Tây Trong bối cảnh này, chủ nghĩa duy lý lên ngôi, coi con người như một “sản phẩm” máy móc, chỉ tập trung vào các yếu tố bên ngoài thay vì chiều sâu của tư duy và bản thể con người Chủ nghĩa hiện sinh đi sâu hơn vào những vấn đề về nhân sinh, đấu tranh để con người được sống đúng chính mình trong dòng chảy phức tạp của tư duy, từ đó thể hiện con người có mục đích rõ ràng trong cuộc sống.
Triết học hiện sinh ra đời do hai nguyên nhân chính: Thứ nhất, bởi sự chạy đua về lợi nhuận trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã dẫn con người vào tình trạng tha hóa và mất đi vị trí đích thực của mình Thứ hai, là sự đề cao tuyệt đối của khoa học và kỹ thuật ở phương Tây khiến con người cảm thấy lạc lõng, xem nhẹ khía cạnh tâm hồn Triết học hiện sinh thúc đẩy tinh thần con người và giá trị nhân vị, phản kháng với chủ nghĩa duy lý phương Tây lúc bấy giờ.
1.1.3 Những tư tưởng cốt lõi của chủ nghĩa hiện sinh
Chủ nghĩa hiện sinh ra đời như một phản kháng mạnh mẽ chống lại các thuyết triết học cổ điển trước đó, đồng thời phản ánh những xung đột và căng thẳng xã hội thời bấy giờ Sau nhiều năm chìm đắm trong tư tưởng cổ điển, các nhà triết học nhận thấy thế giới luôn vận động và thay đổi không ngừng, khiến con người cũng phải thích nghi và thay đổi theo Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt này, các vấn đề về con người và cuộc sống trở thành trung tâm của chủ nghĩa hiện sinh, đặc biệt là khái niệm về chủ thể tính Chính những bất công và phi lý trong xã hội khiến con người tự hỏi về tính chân thực của hiện sinh của chính mình, từ đó khẳng định chân lý cốt lõi của chủ nghĩa hiện sinh: “Tồn tại của con người là cứu cánh của mọi triết lý.” Nói cách khác, chủ nghĩa hiện sinh quan tâm đến sự tồn tại của con người với những giá trị riêng biệt, không trộn lẫn.
Kierkegaard nhấn mạnh rằng chỉ có chính từng cá nhân mới có khả năng xác định xem mình đang ở trong tình trạng khủng hoảng hay đang là kỵ sĩ của niềm tin Theo ông, sự nhận thức và quyết định cá nhân là yếu tố quyết định trong quá trình đối diện với khủng hoảng tâm lý, góp phần hình thành niềm tin vững chắc Việc hiểu rõ bản thân giúp mỗi người xác định đúng trạng thái tâm lý và hướng đi phù hợp trong cuộc sống Chính vì vậy, tầm quan trọng của sự tự nhận thức và ý chí cá nhân luôn được nhấn mạnh trong các quan điểm của Kierkegaard về cuộc đời và niềm tin.
Mỗi con người trong đời sống bị chi phối bởi ký ức quá khứ và dự cảm về tương lai, khiến họ khó sống trọn vẹn với hiện tại Dòng chảy vô thường của cuộc sống với nhiều biến số không thể dự đoán chính xác dẫn đến việc con người dễ rơi vào trạng thái lo âu và hoài niệm Điều này gây cản trở khả năng tận hưởng từng phút giây hiện tại và gây ra sự bất hạnh trong cuộc sống.
Chủ nghĩa hiện sinh tập trung vào con người như là trung tâm của tồn tại, nhấn mạnh rằng con người có thân xác vật chất và hoạt động hàng ngày trong xã hội Nó phản ánh sự tồn tại cá nhân trong thế giới thực, khẳng định rằng con người không chỉ là một khái niệm trừu tượng mà là những sinh thể sống động, trải nghiệm cuộc sống qua các mối quan hệ và hành động hàng ngày Chủ nghĩa này đề cao ý nghĩa của sự tự do, trách nhiệm và sáng tạo trong cuộc đời mỗi cá nhân, đồng thời thách thức các giá trị truyền thống để tìm kiếm ý nghĩa chân thật của cuộc sống.
Trong triết học hiện sinh, "cái tôi" không phải là con người phổ quát của Aristotle, mà là từng cá nhân cụ thể, bao gồm tôi, anh, chúng ta và từng người một "Con người sinh hoạt" đề cập đến khả năng tự do tự quyết của mỗi chủ thể, thể hiện rõ tính nhân vị tự do của con người Hai chủ đề chính của triết hiện sinh chính là ý thức về cá nhân và tự do tự quyết của con người trong cuộc sống hàng ngày.
Chủ nghĩa hiện sinh nhấn mạnh rằng con người không phải là một mảnh ghép của vũ trụ, mà là một chủ thể tự do tự định nghĩa chính mình qua quá trình tồn tại và sáng tạo Theo Paul Sartre, “con người trước hết phải hiện hữu, gặp gỡ nhau, xuất hiện ra trong thế giới đã, rồi theo đó tự định nghĩa mình,” và không thể định nghĩa được chính mình nếu không thừa nhận rằng trước hết con người là hư vô Con người tồn tại như những gì nó tự tạo ra, thể hiện rõ nguyên tắc của thuyết hiện sinh và tính chủ thể, nơi con người có phẩm giá cao hơn vật vô tri như đá hay bàn Con người không chỉ tồn tại một cách khách quan mà còn là dự phóng về mặt chủ thể, luôn mong muốn thể hiện và tự định hình bản thân qua những dự định và hành động của chính mình Khả năng tư duy và trải nghiệm giúp con người có những quan điểm cá nhân về thế giới, đồng thời sự khác biệt lớn của con người so với các sự vật khác nằm ở khả năng phản ứng đa dạng và sáng tạo trong suy nghĩ và hành xử trước thế giới xung quanh.
Sơ lược về sự biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học miền Nam Việt Nam trước 1975
Lê Công Sự nhấn mạnh rằng chủ nghĩa hiện sinh được xem là sự kế thừa của chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học, nhưng nó mang tinh thần quyết liệt và thẳng thắn khác biệt Chủ nghĩa hiện sinh phản kháng lại quan điểm của Karl Marx về sự liên hệ giữa con người và thế giới, thể hiện niềm tin vào cá tính và tự do của con người Nó đặc biệt chú trọng đến con người như một vũ trụ độc lập, tự tồn tại, từ đó các tác giả đã tiếp thu tinh thần hiện sinh để thổi hồn vào các tác phẩm của mình, tạo nên những tác phẩm đầy sâu sắc về nội tâm và ý nghĩa cuộc đời.
Văn học miền Nam Việt Nam trước 1975 chịu ảnh hưởng lớn từ lịch sử dân tộc, thể hiện rõ nét qua những tác phẩm đề cập đến sự mong manh của số phận con người và sự tan vỡ của những hoài bão cao đẹp Trong khi chưa hình thành dòng văn học hiện sinh, dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh đã thấm đẫm trong các sáng tác thời kỳ này, phản ánh những cảm xúc và tư duy nội tâm sâu sắc của tác giả Tuy nhiên, những đề tài và cảm nhận này không được chấp nhận trong dòng chảy chung của văn học cách mạng của cả nước, dẫn đến việc văn học miền Nam trước năm 1975 bị giới phê bình phía Bắc chỉ trích dữ dội và có phần định kiến, thấp kém.
Người viết Vòng tay học trò đã diễn giải chủ nghĩa hiện sinh một cách dung tục và tùy tiện, coi đó như một biểu tượng của thái độ sống trụy lạc và liều lĩnh trong miền Nam tạm chiếm Chủ nghĩa hiện sinh bị xem là thứ phản ánh sự hư hỏng, khi những người sống liều lĩnh như Trâm bám vào triết lý này như người sắp chết đuối bám vào cọng rơm, thể hiện sự tuyệt vọng trong cuộc sống.
Sau hai cuộc chiến tranh thế giới, các cuộc khủng hoảng tinh thần kéo dài ở Tây Âu đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của các trường phái hiện đại chủ nghĩa, dẫn đến sự hoài nghi về lịch sử và bi quan trước thành tựu khoa học Người ta mất lòng tin vào giá trị nhân bản và tách rời nghệ thuật khỏi đạo đức và chân lý, đồng thời đề cao chủ nghĩa cá nhân cực đoan lấy cái tôi của mỗi cá nhân làm trung tâm để đánh giá mọi thứ.
Mặc dù thời kỳ này chịu nhiều nhận định tiêu cực từ công chúng và các nhà phê bình văn học, nhưng không thể phủ nhận rằng văn học Việt Nam vẫn có những tác phẩm in đậm dấu ấn hiện sinh Tuy nhiên, do ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử, những giá trị tốt đẹp trong các tác phẩm này ngày càng bị mờ nhạt và dễ bị lãng quên Văn học hiện sinh thể hiện những cảm xúc về sự mất phương hướng và hiện sinh, dẫn đến thời kỳ dài bị xem là suy đồi, đồng nhất với sự sụp đổ về giá trị và tinh thần.
Các tác giả nổi bật như Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng, Duyên Anh và Trùng Dương đã thể hiện rõ những chủ đề cốt lõi của chủ nghĩa hiện sinh như nỗi cô đơn, cảm giác lẻ bóng, sự hoang mang, lo âu và cái chết trong các tác phẩm của họ Những tác phẩm này phản ánh sâu sắc những phạm trù tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh, mang đến cái nhìn chân thực về cuộc sống nội tâm của con người Từ đó, các tác giả góp phần làm nổi bật các giá trị nhân văn và cuộc đấu tranh nội tâm trong văn học hiện đại Việt Nam.
Đời sống thực tế được mô tả như một địa ngục trần gian đầy phi lý, hư vô và đau đớn khiến con người mệt mỏi Cuộc đời tràn ngập những nghịch cảnh không lối thoát, buộc con người phải tiếp tục sống trong hoàn cảnh đó mà không có sự lựa chọn nào khác Trong các tác phẩm văn học miền Nam Việt Nam trước 1975, Trịnh Thị Diệu Tân qua bài “Nắng qua sông” đã thể hiện tiếng lòng của thế hệ trẻ miền Nam, với câu nói: “Anh làm được gì! Bây giờ mới bắt đầu ư? Tuấn muốn gào lên Môi anh khô khan Mắt anh tối lại Anh làm gì được nữa Tình yêu ngu ngốc Chiến tranh phi lý Ngu ngốc Phi lý”, phản ánh rõ ràng nỗi niềm về sự tuyệt vọng trước cuộc đời đầy bất công, phi lý.
Nguyễn Thị Thụy Vũ thể hiện quan niệm sống phi lí qua những nhân vật đối mặt với nghịch cảnh vô lý trong sáng tác của mình Nhân vật ông Phủ trong “Khung rêu” rơi vào thực tại đầy nghịch cảnh khi đã về già, mất đi vẻ vang, gia đình và tình yêu, dẫn đến trạng thái hoang mang và không hiểu chính mình Tác phẩm “Mãnh” mô tả cuộc sống hàng ngày lặp đi lặp lại của bà Lý, thể hiện sự thừa thãi và vô nghĩa của kiếp nhân sinh, khiến bà trở nên cô đơn đến mức xem đó như người bạn tri kỉ nhưng không có ý định thay đổi cuộc đời Những hình ảnh này phản ánh rõ nét chủ đề phi lí của đời sống qua cách nhân vật đối diện với số phận lay lắt và vòng tròn vô tận của nỗi cô đơn.
Bà không chồng, không con, ngại ngùng về chuyện tái giá, và nhút nhát không dám sống bừa bãi, khiến bà gần như mòn mỏi trong sự trong sạch khô khan Những nỗi niềm chua xót về cuộc đời phi lý được thể hiện qua các sáng tác của các nhà văn thời kỳ này Thực tại trong tác phẩm của các tác giả còn phản ánh sự bất trắc do biến động của thời cuộc, đặc biệt là chiến tranh luôn tiềm ẩn hiểm họa có thể "nghiền nát" con người Sự bất định này càng làm nổi bật cảm giác cô đơn, hoang mang và lo lắng của con người trong thời kỳ đầy biến động.
Trong thời kỳ sáng tác đầy sự phi lý và bất trắc, các nhà văn tập trung thể hiện rõ nỗi cô đơn, lo lắng trước một thực tại biến động và tương lai không chắc chắn Nhiều tác phẩm đề cập đến các khái niệm phi lý, bế tắc và phản ánh những suy nghĩ, cảm nhận của con người trong xã hội đương đại Ví dụ, Nguyễn Thị Hoàng trong tác phẩm “Tuổi Sài Gòn” mô tả: “Mỗi tuổi trẻ là một vũ trụ cô đơn khác để rồi chỉ còn một mình kêu thương không ai đoái hoài, chỉ còn một mình trong bóng tối như lũ mèo hoang chuyển mình lầm lũi từ mái nhà này sang mái nhà khác để kiếm tìm cái gì hơn tiếng kêu thê thảm của mình” Các tác phẩm như “Cơn hồng thuỷ và bông hoa quỳ”, “Mưa không ướt đất”, “Vừa đi vừa ngước nhìn” phản ánh rõ nét tâm trạng bế tắc, cô đơn của con người trước những biến động của xã hội.
Trùng Dương thể hiện quan niệm về sự cô đơn qua việc xây dựng hệ thống nhân vật trẻ tuổi không thể hoà nhập với nhịp sống của xã hội thời đó Những diễn biến trong đời sống đã dẫn họ vào sự cô đơn tuyệt vọng, chỉ còn có thể bầu bạn và chia sẻ chính mình Trong tác phẩm “Mưa không ướt đất”, nhân vật Thư từng mơ bị lạc vào một hòn đảo hoang, tượng trưng cho cảm giác cô đơn, lạc lõng và mong muốn tìm kiếm nơi chốn bình yên.
Trong giấc mơ, Thư còn không thể nhận diện rõ ràng chính mình, thể hiện cảm giác mơ hồ và bất an trước cuộc đời Khi những cơn sóng cuộc đời ập đến, tất cả đều tan biến, khiến cô cảm thấy hoang mang và mất phương hướng, không có nơi nương tựa hay ai đó che chở Qua đó, ta có thể cảm nhận được sự lạc lõng và hoang mang của con người trong cuộc sống giữa dòng đời xô bồ và đầy thử thách.
Con người càng lạc lõng, cô đơn bao nhiêu, họ càng khát khao nổi loạn để khẳng định bản thân và sống đúng chính mình, hướng về những ước mơ, khát vọng cá nhân Tác giả “Sa mạc tuổi trẻ” thể hiện mong muốn nổi loạn để quên đi quá khứ và sống trọn vẹn với đam mê, từ đó tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời Các tác phẩm văn học thời kỳ này tập trung chủ yếu vào đề tài tình yêu và tính dục như một yếu tố chi phối tâm lý, tạo nên những mô-típ quá đỗi quen thuộc, ám ảnh các nhà viết như Nguyễn Thị Thuỵ Vũ hay Dương Nghiễm Mậu Tuy nhiên, việc tiếp nhận các tác phẩm này gặp nhiều trở ngại, đặc biệt liên quan đến vấn đề văn hoá dân tộc và đạo đức xã hội, dẫn đến nhiều tác phẩm trở thành mục tiêu công kích dư luận tiêu cực Một ví dụ nổi bật là cuốn “Vòng tay học trò” của Nguyễn Thị Hoàng bị chỉ trích dữ dội, khiến tác giả rơi vào trạng thái tuyệt vọng, nhưng vẫn kiên định phản kháng, thể hiện rõ niềm khát vọng nổi loạn của con người trong tình yêu và những cảm xúc trái đạo đức xã hội, qua đó thể hiện hình ảnh các nhân vật phi luân trong văn học đương đại.
Nhân vật của Nguyễn Thị Hoàng thường xuyên rơi vào trạng thái suy tư, đau đớn và u uất, như cảm nhận về cuộc đời là những bóng hình thoắt ẩn thoắt hiện, mong manh và phù du Trong đó, tác giả nhấn mạnh rằng “Nắng sẽ tắt, ngày rồi tàn vơi,” phản ánh sự vô thường của cuộc đời Các nhân vật chỉ có một khoảnh khắc hiện tại để trân trọng, còn sau đó là những hoài niệm và lời van xin trong trạng thái tuyệt vọng Từ đó, tác phẩm gửi gắm một thái độ bi quan, bất lực trước số phận và thời gian trôi qua không ngừng.
Như vậy, mặc dù chưa hoàn toàn hình thành dòng văn học hiện sinh trước
Dấu vết của hiện sinh đã in đậm trong các tác phẩm của tác giả đương thời từ năm 1975 ở miền Nam Việt Nam Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan, những tác phẩm này chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ để làm rõ những ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh Chúng tôi tin rằng, việc phân tích, tổng hợp và nhìn nhận lại dấu ấn hiện sinh trong các tiểu thuyết của Nguyễn Thị Hoàng sẽ giúp khôi phục những giá trị đã bị lãng quên của tác giả này.
Đôi nét về tác giả Nguyễn Thị Hoàng
Nguyễn Thị Hoàng sinh năm 1939 tại thành phố Huế, sống qua nhiều biến động lịch sử quan trọng như Chiến tranh thế giới thứ hai và sự đầu hàng của thực dân Pháp trước phát xít Đức, ảnh hưởng lớn đến cuộc đời bà Từ năm 1957, bà theo học tại Nha Trang và bắt đầu mối tình gây chú ý với Cung Giũ Nguyên, người dạy Pháp văn tại nhà bà, mặc dù từng gặp nhiều tranh cãi về mối quan hệ này Nguyễn Thị Hoàng khẳng định tình cảm của bà với ông Nguyên là tình yêu đích thực và hai người có với nhau một người con gái Cuộc đời của bà phản ánh rõ nét những biến cố lịch sử và trải nghiệm cá nhân đậm nét riêng biệt trong bối cảnh đất nước đổi thay.
Năm 1960, Nguyễn Thị Hoàng bắt đầu hành trình học tập tại Sài Gòn, theo học các ngành Luật và Văn khoa Sau đó, bà chuyển đến Đà Lạt để dạy học, nơi bà nhanh chóng nảy sinh một mối tình lãng mạn với học trò Mai Tiến Thành và có chung một đứa con Mối tình này, đầy cảm xúc, được Nguyễn Thị Hoàng thể hiện qua tác phẩm nổi tiếng “Vòng tay học trò,” phản ánh một câu chuyện đầy tranh cãi về tình yêu trái với chuẩn mực đạo đức Trong khi đó, Mai Tiến Thành cũng viết cuốn “Tiếng nói học trò” như một lời tự sự về mối quan hệ đặc biệt này, mặc dù tác phẩm không gây được tiếng vang lớn.
Năm 1966, Nguyễn Thị Hoàng chính thức bắt đầu sự nghiệp văn học của mình Cuốn tiểu thuyết “Vòng tay học trò”, được bà đồng ý xuất bản báo năm 1965, đã gây ra nhiều tranh cãi và sóng gió trong giới đọc giả Mặc dù nhận về nhiều ý kiến trái chiều, tác phẩm này đã giúp Nguyễn Thị Hoàng tạo tiếng vang lớn trong giới văn nghệ sĩ thời đó và khẳng định vị thế của bà trong làng văn học miền Nam.
Năm 25 tuổi bà khởi đầu viết văn, cuốn “Vòng tay học trò” mà bà cho là một cuốn truyện tình cờ, được đăng trên tạp chí Bách Khoa, năm 1965, đã gây nhiều tranh cãi, sóng gió
Sau này, bà kết hôn và cùng chồng lập nên nhà xuất bản và chuyên nghiệp văn chương
Nguyễn Thị Hoàng có một cuộc đời rực rỡ, đầy sóng gió và biến cố, qua đó bà tích lũy những trải nghiệm cá nhân độc đáo Với cá tính mạnh mẽ, bà đã thổi hồn vào các tác phẩm, tạo nên nét riêng biệt khó lẫn vào đâu được, chính điều này góp phần làm nên sức hút bền bỉ của tác giả Những câu chuyện và tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng vẫn như ngọn lửa cháy mãi, trở thành dấu ấn sâu đậm của một thời kỳ đã qua.
Trong xã hội hiện đại ngày nay, tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng đã được đón nhận trở lại, thể hiện sự ghi nhận của cộng đồng văn học Các nhà nghiên cứu đồng tình rằng bà là một nhà văn nổi bật, góp phần xây dựng tên tuổi trong dòng chảy văn học miền Nam trước 1975 Sau nhiều năm hoạt động sáng tác, Nguyễn Thị Hoàng đã thành công rực rỡ ở cả lĩnh vực thơ và tiểu thuyết, khẳng định vị thế của mình trong lịch sử văn học Việt Nam.
Nguyễn Thị Hoàng là một nữ tác giả có tâm hồn giàu suy tư, bắt đầu sự nghiệp sáng tác với thể loại thơ; bài thơ “Chi lạ rứa” vẫn lưu giữ trong ký ức nhiều độc giả như một biểu tượng của thời tuổi trẻ và cảm xúc chân thật Trước khi nổi bật với các tác phẩm tiểu thuyết, bà đã xuất bản nhiều bài thơ trên báo, thể hiện đậm nét tâm trạng và cảm xúc nội tâm sâu sắc Trong buổi giao lưu với độc giả, bà chia sẻ rằng thơ là phần tràn ngập xúc động của tâm hồn, phản ánh những trải nghiệm thực tế của đau khổ và niềm vui, giúp tạo ra giá trị đích thực cho tác phẩm Bà nhấn mạnh rằng, thơ chỉ là hương thơm của những ký ức đẹp đã qua, nhưng không vì thế mà trở nên xa vời hay mong manh, mà còn là tiếng nói thầm lặng, giúp chính mình hiểu rõ hơn về nội tâm Chính những chất thơ thuở trước đó đã góp phần làm nên nét đặc biệt, có phần không thực trong các tác phẩm tiểu thuyết của bà, tạo nên những nhân vật và cảnh vật mang sắc thái xa vời, tìm kiếm vẻ đẹp trong những điều giản dị nhưng chân thực.
Dù tài năng văn chương của Nguyễn Thị Hoàng đã thể hiện từ rất sớm, nhưng phải đến năm 1964 với sự nổi tiếng của cuốn “Vòng tay học trò” trên báo, tên tuổi của bà mới thực sự tỏa sáng Cuốn tiểu thuyết này nhanh chóng thu hút sự yêu thích của độc giả, được xuất bản và tái bản bốn lần chỉ trong vòng một tháng, chứng tỏ sức hút mãnh liệt bất chấp các ý kiến trái chiều thời điểm đó Trong buổi họp báo của nhà xuất bản Nhã Nam, Nguyễn Thị Hoàng chia sẻ rằng “Vòng tay học trò” được yêu mến nhờ ngôn ngữ, cách viết và cảm xúc chân thật mà tác phẩm mang lại, dù bà không tự nhận mình có tư duy lớn, mà viết rất hồn nhiên, sống trọn với nội tâm Cuốn sách không chỉ đơn thuần về tình yêu trái luân thường và đạo lý mà còn đề cập đến những vấn đề sâu sắc như suy nghĩ về giá trị sống, khát vọng vươn lên tìm kiếm điều tốt đẹp trong cuộc sống, và mong muốn yêu thương giữa dòng đời bấp bênh.
Nguyễn Thị Hoàng ghi dấu ấn trên thị trường văn học với hơn 30 tác phẩm gồm tiểu thuyết và truyện ngắn, được độc giả đón nhận nhiệt tình Trong những năm trước 1975, bà chia sẻ rằng áp lực gia đình và các đơn đặt hàng từ nhà xuất bản đã thúc đẩy bà viết nhiều, dù phải đối mặt với các yêu cầu này Sau 1975, Nguyễn Thị Hoàng vắng bóng trên văn đàn, rồi chính thức trở lại vào năm 1990 với tác phẩm “Nhật ký của im lặng” Đầu năm 2021, Nhà xuất bản Nhã Nam liên hệ và tái bản các tác phẩm của bà, trong đó “Vòng tay học trò” là cuốn sách được nhấn mạnh đầu tiên, cùng với sự gợi ý của chính tác giả về các tác phẩm còn lại Việc Nguyễn Thị Hoàng cùng các tác phẩm trở lại văn đàn đã tạo nên tiếng vang lớn, dẫn đến nhiều cuộc tọa đàm và nghiên cứu phê bình đánh giá cao sự kiện này.
Trong phạm vi hạn chế, chúng tôi tập trung phân tích ba tác phẩm nổi bật gồm "Vòng tay học trò", "Tiếng chuông gọi người tình trở về" và "Cuộc tình trong ngục thất" Những tác phẩm này thể hiện rõ nét đặc trưng về nội dung và nghệ thuật, góp phần làm nổi bật giá trị văn học của tác giả Việc khai thác kỹ lưỡng các tác phẩm này giúp độc giả hiểu sâu hơn về chủ đề, hình tượng và ý nghĩa nhân văn mà tác giả muốn truyền tải Đây là những tác phẩm tiêu biểu thể hiện sự sáng tạo và chân thực của tác giả trong từng trang viết.
“Vòng tay học trò” kể câu chuyện về mối tình ngang trái giữa cô giáo trẻ đẹp Tôn Nữ Quỳnh Trâm và cậu học trò Nguyễn Duy Minh, phản ánh mối quan hệ tình cảm vượt lễ giáo đầy trắc trở Tác phẩm khắc họa rõ nét những ẩn ức tính dục và xung đột nội tâm của nhân vật, thể hiện quan điểm mới mẻ về xã hội chật hẹp, tù túng và kìm hãm ước mơ con người Đồng thời, tác phẩm gửi gắm thông điệp về khát vọng sống chân thật, yêu thương và được yêu của con người trong cuộc sống hiện đại.
“Tiếng chuông gọi người tình trở về” là câu chuyện về mối quan hệ vợ chồng giữa Huyền và Bằng, phản ánh sự bế tắc sau những cảm xúc mãnh liệt của tình yêu đôi lứa Tác phẩm khắc họa khát vọng yêu thương và mong muốn được thấu hiểu của các nhân vật, đồng thời thể hiện hành trình tìm kiếm chính bản thân và tình yêu bị lạc mất Trong lần trở lại này, tác phẩm “Cuộc tình trong ngục thất” nổi bật với lời kể về cuộc chiến tranh khốc liệt, phản ánh sự nghẹt thở và bối rối của đôi vợ chồng trẻ khi họ cố gắng tìm chồng trong hỗn loạn của chiến tranh Tác giả đã mô tả rõ nét mong muốn sống hạnh phúc, tự do của nhân vật trong bối cảnh đầy nguy hiểm của chiến tranh, nơi bánh xe lịch sử dễ dàng nghiền nát mọi hy vọng, đồng thời thể hiện nỗi lo âu về số phận và cuộc đời qua từng chi tiết chân thật, cảm xúc sâu sắc.
Nguyễn Thị Hoàng trở lại với kỳ vọng góp phần làm nổi bật vẻ đẹp rực rỡ của văn chương miền Nam trước 1975 Nghiên cứu này nhằm khắc họa những giá trị văn học đã bị lãng quên và khẳng định vị trí xứng đáng của các tác phẩm chứa đựng dấu ấn hiện sinh trước năm 1975.
Chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Việt Nam thể hiện rõ nét qua những tác phẩm của các tác giả miền Nam trước 1975, mặc dù chưa trở thành một trào lưu phổ biến Những yếu tố của chủ nghĩa hiện sinh như sự tập trung vào con người, cảm giác cô đơn, lo âu, và khát vọng dấn thân được thể hiện qua việc khắc họa thực tế đầy phi lý, bất trắc, và tù túng Các nhân vật trong các tác phẩm này thường xuyên thể hiện sự nổi loạn, mong muốn thoát khỏi những giới hạn của cuộc đời, phản ánh sâu sắc quan điểm về con người và hành trình sống của chủ nghĩa hiện sinh.