1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO CÁO THỰC TẬP ĐỀ TÀI: TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN

93 86 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình Hình Triển Khai Bảo Hiểm Vật Chất Xe Cơ Giới Tại Công Ty Bảo Hiểm Bưu Điện
Tác giả Trần Thị Hương
Người hướng dẫn Th.S Nguyễn Thị Thía
Trường học Trường Đại học Lao động - Xã hội
Chuyên ngành Bảo hiểm và Quản trị kinh doanh
Thể loại Báo cáo thực tập
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI (9)
    • 1.1. Một số khái niệm và vai trò của bảo hiểm vật chất xe cơ giới (9)
      • 1.1.1. Một số khái niệm (9)
      • 1.1.2. Vai trò của bảo hiểm xe cơ giới (9)
    • 1.2 Nội dung cơ bản của bảo hiểm vật chất xe cơ giới (11)
      • 1.2.1. Đối tượng bảo hiểm (11)
      • 1.2.2. Phạm vi bảo hiểm (11)
      • 1.2.3. Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm (12)
      • 1.2.4. Công tác đề phòng và hạn chế tổn thất (15)
      • 1.2.5. Công tác giám định và bồi thường tổn thất (16)
    • 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình triển khai bảo hiểm vật chất xe cơ giới (19)
      • 1.3.1. Các yếu tố khách quan (19)
      • 1.3.2. Các yếu tố chủ quan (22)
    • 1.4. Các chỉ tiêu cơ bản đánh gia tình hình triển khai bảo hiểm vật chất xe cơ giới (23)
      • 1.4.1. Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh theo các khâu công việc (23)
      • 1.4.2. Các chỉ tiêu phân tích tình hình đề phòng và hạn chế tổn thất (24)
      • 1.4.3. Các chỉ tiêu phân tích tình hình giám định (25)
      • 1.4.4. Các chỉ tiêu phân tích tình hình bồi thường (25)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN THĂNG LONG GIAI ĐOẠN 2012 – 2016 (26)
    • 2.1. Khái quát chung về Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long (26)
      • 2.1.1. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển (26)
      • 2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức (27)
      • 2.1.3. Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và lao động của Công ty 24 2.1.4. Cơ sở vật chất kỹ thuật (30)
      • 2.2.1. Quá trình hình thành và phát triển Bảo hiểm xe cơ giới tại Việt (43)
      • 2.2.2. Thị trường Bảo hiểm vật chất xe cơ giới năm 2016 (43)
    • 2.3. Thực trạng triển khai Bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long giai đoạn 2012 – 2016 (45)
      • 2.3.1. Quy tắc bảo hiểm vật chất xe cơ giới (45)
      • 2.3.2. Công tác khai thác (46)
      • 2.3.3. Công tác đề phòng và hạn chế tổn thất (55)
      • 2.3.4. Công tác giám định và bồi thường tổn thất (56)
      • 2.3.5 Công tác phòng chống trục lợi bảo hiểm (65)
      • 2.3.6. Đánh giá chung về hoạt động triển khai nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long (68)
        • 2.3.6.2. Những mặt hạn chế và nguyên nhân (69)
  • CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG (72)
    • 3.1. Những thuận lợi và khó khăn của công ty khi triển khai Bảo hiểm vật chất xe cơ giới (72)
      • 3.1.1. Những thuận lợi (72)
      • 3.1.2. Những khó khăn và nguyên nhân (73)
    • 3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long (73)
      • 3.2.1. Đối với công tác khai thác (73)
      • 3.2.2. Đối với công tác đề phòng và hạn chế tổn thất (76)
      • 3.2.3. Đối với công tác giám định (77)
      • 3.2.4. Đối với công tác bồi thường (78)
      • 3.2.5. Đối với công tác phòng chống trục lợi bảo hiểm (78)
    • 3.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long (79)
      • 3.3.1. Đối với Bộ Tài Chính (79)
      • 3.3.2. Đối với Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (80)
  • KẾT LUẬN (81)
  • PHỤ LỤC (83)

Nội dung

Trường DH Lao Động Xã Hội Khoa Bảo Hiểm BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI BÁO CÁO THỰC TẬP ĐỀ TÀI TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY.Trường DH Lao Động Xã Hội Khoa Bảo Hiểm BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI BÁO CÁO THỰC TẬP ĐỀ TÀI TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY.

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI

Một số khái niệm và vai trò của bảo hiểm vật chất xe cơ giới

➢ Khái niệm xe cơ giới:

Xe cơ giới được hiểu là mọi loại xe tham gia giao thông trên đường bộ, có động cơ và ít nhất một chỗ ngồi Danh sách xe cơ giới rất phong phú, gồm xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, ô tô chở người, ô tô chở hàng hoặc vừa chở người vừa chở hàng hóa, và các loại xe chuyên dụng khác Để đối phó với rủi ro tai nạn bất ngờ có thể gây thiệt hại cho bản thân và tài sản, chủ xe cơ giới thường tham gia một số loại hình bảo hiểm sau: bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc khi tham gia giao thông, bảo hiểm vật chất xe để bảo vệ xe khỏi hư hỏng và mất mát, và các bảo hiểm bổ sung như bảo hiểm tai nạn cho người ngồi trên xe hoặc cho người điều khiển.

- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba;

- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với hàng hóa trên xe;

- Bảo hiểm vật chất xe;

- Bảo hiểm tai nạn hành khách trên xe

➢ Khái niệm bảo hiểm vật chất xe cơ giới

Bảo hiểm vật chất xe cơ giới là một loại bảo hiểm tài sản được thể hiện dưới dạng bảo hiểm tự nguyện Chủ xe tham gia bảo hiểm này nhằm được bồi thường thiệt hại vật chất đối với xe của mình do các rủi ro được bảo hiểm gây ra.

1.1.2 Vai trò của bảo hiểm xe cơ giới

Thứ nhất, Bảo hiểm xe cơ giới góp phần ổn định tài chính, khắc phục hậu quả khi rủi ro xảy ra cho người tham gia bảo hiểm

Hoạt động của xe cơ giới tiềm ẩn nhiều nguy cơ, tai nạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào, gây thiệt hại về kinh tế và ảnh hưởng đến thu nhập, đời sống cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của các cá nhân, doanh nghiệp tham gia bảo hiểm, thậm chí đe dọa tính mạng Bảo hiểm xe cơ giới ra đời để khắc phục hậu quả rủi ro; các nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới sẽ đảm bảo bồi thường về vật chất và tài chính, giúp khôi phục và ổn định đời sống, sản xuất kinh doanh Từ đó, các bên liên quan có thể phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh cùng các hoạt động khác một cách bình thường.

Bảo hiểm xe cơ giới đóng vai trò chủ chốt trong việc phòng ngừa và hạn chế tổn thất, từ đó làm cho cuộc sống của mỗi người an toàn hơn và xã hội trật tự hơn Việc này giúp giảm bớt nỗi lo cho cá nhân lẫn doanh nghiệp khi đối mặt với rủi ro và chi phí do tai nạn giao thông gây ra Nhờ bảo hiểm xe cơ giới, thiệt hại được xử lý nhanh chóng, nguồn lực được bảo toàn và niềm tin vào hoạt động kinh doanh được tăng lên, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Vai trò của bảo hiểm xe cơ giới không chỉ là bồi thường thiệt hại mà còn là công cụ phòng ngừa và giảm thiểu tai nạn giao thông Các cơ quan và công ty bảo hiểm đóng góp tài chính tích cực để thực hiện các biện pháp phòng tránh tai nạn, mua sắm dụng cụ phòng cháy chữa cháy, và phối hợp với ngành giao thông để lắp biển báo cũng như xây dựng đường lánh nạn Mỗi năm, các doanh nghiệp bảo hiểm đóng góp hàng chục tỷ đồng cho công tác phòng ngừa và hạn chế tai nạn, nhằm nâng cao an toàn cho người tham gia giao thông và giảm thiểu rủi ro trên đường.

Thứ ba, Bảo hiểm xe cơ giới góp phần ổn định chi tiêu của ngân sách Nhà nước

Quỹ bảo hiểm được hình thành từ sự đóng góp của các thành viên; cơ quan, công ty bảo hiểm sẽ trợ cấp hoặc bồi thưởng những tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia để họ khôi phục đời sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh Như vậy, ngân sách Nhà nước không phải chi trả trợ cấp cho các thành viên hay doanh nghiệp khi gặp rủi ro, trừ trường hợp tổn thất có tính thảm họa và phạm vi xã hội rộng lớn.

Thứ tư, Góp phần huy động vốn để đầu tư phát triển kinh doanh

Sự tồn tại và phát triển của bảo hiểm không chỉ đáp ứng nhu cầu đảm bảo an toàn cho cá nhân và doanh nghiệp mà còn đáp ứng nhu cầu vốn cho quá trình tái sản xuất mở rộng trong nền kinh tế thị trường Việc thu phí theo nguyên tắc ứng trước khiến các công ty bảo hiểm nắm giữ một quỹ tiền tệ lớn, thể hiện cam kết với khách hàng nhưng tạm thời nhàn rỗi Do vậy, các công ty bảo hiểm đã trở thành những nhà đầu tư lớn và quan trọng cho các hoạt động kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân.

Bảo hiểm không chỉ là công cụ đảm bảo an toàn cho tài sản và hoạt động kinh doanh mà còn đóng vai trò như một trung gian tài chính quan trọng Nhờ khả năng huy động vốn và phân bổ rủi ro, bảo hiểm nắm giữ vai trò then chốt trong quản trị rủi ro và ổn định tài chính của các công ty công nghiệp và thương mại lớn.

Trong vai trò được nêu trên, bảo hiểm có đóng góp đặc biệt cho nền kinh tế thị trường khi trở thành phương thức huy động vốn để đầu tư phát triển kinh tế – xã hội Bảo hiểm chuyển các nguồn tiết kiệm thành vốn dài hạn, hỗ trợ vốn cho các dự án và doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện chất lượng cuộc sống Đồng thời, bảo hiểm giúp quản trị rủi ro và ổn định tài chính cho gia đình, doanh nghiệp và nhà nước, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho các đề án phát triển bền vững Vì vậy, vai trò của bảo hiểm không chỉ là bảo vệ an toàn mà còn là động lực quan trọng cho đầu tư và phát triển kinh tế – xã hội trong nền kinh tế thị trường.

Nội dung cơ bản của bảo hiểm vật chất xe cơ giới

Bảo hiểm vật chất xe cơ giới là loại hình bảo hiểm tài sản và nó được thực hiện dưới hình thức bảo hiểm tự nguyện Chủ xe tham gia bảo hiểm vật chất xe cơ giới là để được bồi thường những thiệt hại vật chất xảy ra với xe của mình do những rủi ro được bảo hiểm gây nên Vì vậy, đối tượng bảo hiểm vật chất xe cơ giới là bản thân những chiếc xe còn giá trị, được phép lưu hành trên lãnh thổ quốc gia có tham gia bảo hiểm Đối với xe mô tô, xe máy thường các chủ xe tham gia bảo hiểm toàn bộ vật chất thân xe Đối với xe ô tô, các chủ xe có thể tham gia toàn bộ hoặc cũng có thể tham gia từng bộ phận của xe Để trở thành đối tượng được bảo hiểm trong các hợp đồng bảo hiểm thiệt hại vật chất xe cơ giới, những chiếc xe này phải đảm bảo những điều kiện kỹ thuật và pháp ký cho sự lưu hành: Người chủ xe phải được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy đăng ký xe, biển kiểm soát, giấy chứng nhận kiểm định về an toàn kỹ thuật và mội trường

Trong hợp đồng bảo hiểm vật chất xe, các rủi ro được bảo hiểm thông thường bao gồm:

- Tai nạn do đâm va, lật đổ

- Cháy, nổ, bão lụt, sét đánh, động đất, mưa gió

- Mất cắp toàn bộ xe

- Tai nạn do rủi ro bất ngờ khác gây nên

Ngoài việc được bồi thường những thiệt hại vật chất xảy ra cho chiếc xe được bảo hiểm trong những trường hợp trên, các công ty bảo hiểm còn thanh toán cho chủ xe tham gia bảo hiểm những chi phí cần thiết và hợp lý nhằm:

- Ngăn ngừa và hạn chế tổn thất phát sinh thêm khi xe bị thiệt hại do các rủi ro được bảo hiểm;

- Chi phí bảo vệ và kéo xe thiệt hại tới nơi sửa chữa gần nhất;

- Giám định tổn thất nếu thuộc trách nhiệm của bảo hiểm;

Trong mọi trường hợp, tổng số tiền bảo hiểm mà công ty bảo hiểm trả không vượt quá số tiền bảo hiểm đã ghi trên hợp đồng bảo hiểm Đồng thời, công ty bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất của xe do hao mòn tự nhiên, mất giá, giảm dần chất lượng, hỏng hóc do khuyết tật hoặc hư hỏng thêm do sửa chữa Hao mòn tự nhiên được tính dưới hình thức khấu hao và thường được tính theo tháng.

- Hư hỏng về điện hoặc bộ phận máy móc, thiết bị, săm lốp bị hư hỏng mà không do tai nạn gây ra

Mất cắp bộ phận của xe và các thiệt hại liên quan sẽ không được bảo hiểm chi trả nhằm ngăn ngừa lạm dụng bảo hiểm và các hành vi vi phạm pháp luật, cũng như các rủi ro đặc biệt khác; những thiệt hại, tổn thất xảy ra trong những trường hợp này sẽ không được bồi thường.

- Hành động cố ý của chủ xe, lái xe;

- Xe không đủ điều kiện kỹ thuật và thiết bị an toàn để an toàn lưu hành theo quy định của Luật an toàn giao thông đường bộ;

- Chủ xe (lái xe) vi phạm nghiêm trọng Luật an toàn giao thông đường bộ như:

+ Xe không có giấy phép lưu hành

+ Lái xe không có bằng lái, hoặc có nhưng không hợp lệ;

+ Lái xe bị ảnh hưởng của rượu bia, ma túy hoặc các chất kích thích tương tự khác trong khi điều khiển xe

+ Xe chở chất cháy, chất nổ trái phép

+ Xe chở quá trọng tải hoặc số hành khách quy định

+ Xe đi vào đường cấm

+ Xe đi đêm không đèn

+ Xe sử dụng để tập lái, đua thể thao, chạy thử sau khi sửa chữa

+ Những thiệt hại do chiến tranh

1.2.3 Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm

Giá trị bảo hiểm của xe cơ giới là giá trị thực tế trên thị trường tại thời điểm người tham gia bảo hiểm mua bảo hiểm Xác định đúng giá trị xe tham gia bảo hiểm là cơ sở để bồi thường, bảo đảm quyền lợi và trách nhiệm của các bên trong hợp đồng bảo hiểm Tuy thị trường xe luôn biến động và có nhiều mẫu xe mới gia nhập nên việc ước lượng giá trị xe trở nên khó khăn và phức tạp Trên thực tế, các công ty bảo hiểm thường dựa trên một số yếu tố để xác định giá trị xe, bao gồm giá thị trường của từng mẫu xe, tuổi xe, quãng đường đã đi, tình trạng bảo dưỡng, phiên bản và khu vực giao dịch.

- Mức độ cũ mới của xe

- Thể tích làm việc của xilanh

Một phương pháp xác định giá trị bảo hiểm mà các công ty bảo hiểm thường áp dụng là căn cứ vào giá trị ban đầu của xe và mức độ khấu hao Cụ thể, giá trị bảo hiểm được ước tính từ giá trị còn lại của xe sau khi trừ khấu hao theo tuổi đời và tình trạng hiện tại, hoặc tham chiếu đến giá trị xe mới và hệ số khấu hao tương ứng, từ đó xác định mức phí bảo hiểm và mức đền bù trong trường hợp có rủi ro.

Giá trị bảo hiểm của xe được xác định bằng giá trị ban đầu trừ đi phần khấu hao (nếu có) Để đánh giá chính xác giá trị bảo hiểm, cần kiểm tra tình trạng xe trước khi nhận bảo hiểm và sau đó đánh giá giá trị thực tế của chiếc xe tham gia bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ cùng với chủ xe tiến hành kiểm tra xác nhận tình trạng xe tại thời điểm tham gia bảo hiểm và cùng nhau thảo luận để xác định giá trị xe; trong nhiều trường hợp cụ thể, doanh nghiệp bảo hiểm cần thực hiện giám định tình trạng thực tế của xe trong quá trình người chủ xe đã sử dụng chiếc xe đó Đối với những chiếc xe mới bắt đầu đưa vào sử dụng, việc xác định giá trị ban đầu khá dễ dàng, có thể căn cứ vào các giấy tờ hóa đơn mua bán xe và hóa đơn thuế trước bạ để xác định giá trị xe Đối với các loại xe đã qua sử dụng, việc đánh giá thực sự đòi hỏi nhiều bước phức tạp để xác định giá trị ban đầu và tình trạng khấu hao cũng như tình trạng kỹ thuật và hình thức bên ngoài của xe.

Trong quá trình thương lượng giữa công ty bảo hiểm và chủ xe, hai bên sẽ xác định giá trị bảo hiểm phù hợp với xe Chủ xe có thể chọn tham gia bảo hiểm ở mức bằng hoặc thấp hơn giá trị thực tế của xe Việc quyết định số tiền bảo hiểm sẽ làm cơ sở để xác định mức bồi thường khi có tổn thất xảy ra.

Số tiền bảo hiểm là số tiền ghi trong đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm, được dùng để xác định giới hạn trách nhiệm mà người bảo hiểm phải thanh toán trong trường hợp bồi thường Đối với xe cơ giới, người mua có thể chọn bảo hiểm toàn bộ giá trị xe, bảo hiểm một phần giá trị xe hoặc bảo hiểm một số bộ phận của chiếc xe được bảo hiểm Việc xác định đúng số tiền bảo hiểm và phạm vi bảo hiểm giúp tối ưu quyền lợi và mức bồi thường khi có rủi ro xảy ra.

Trong trường hợp bảo hiểm toàn bộ xe, số tiền bảo hiểm được xác định bằng giá trị thực tế của xe tại thời điểm ký kết hợp đồng Đây là bảo hiểm đúng giá trị, giúp người tham gia nhận được mức đền bù phù hợp khi có rủi ro và hạn chế sự chênh lệch giữa giá trị khai báo và giá trị thực tế của xe.

Trong trường hợp chủ xe tham gia bảo hiểm bộ phận, số tiền bảo hiểm được xác định dựa trên tỷ lệ giữa giá trị của bộ phận được bảo hiểm và giá trị toàn bộ của xe Tỷ lệ này khác nhau ở từng loại xe, và các doanh nghiệp bảo hiểm thường có bảng tỷ lệ giá trị của các bộ phận so với giá trị từng loại xe để xác định mức phí bảo hiểm và phạm vi chi trả cho mỗi bộ phận.

Phí bảo hiểm phụ thuộc vào tính chất đặc biệt và mức độ rủi ro đối với từng đối tượng bảo hiểm cũng như trách nhiệm của người bảo hiểm trước rủi ro đó; ngoài ra, phí bảo hiểm còn chịu tác động của tình hình cung cầu và cạnh tranh trên thị trường nên có thể bị biến động theo thời gian Để xác định phí bảo hiểm, người ta dựa trên các phương thức thống kê và số liệu của các năm trước, nhằm xác định mức tổn thất bình quân trên mỗi đầu phương tiện, từng loại và từ đó ước tính mức chi phí bình quân của nhà bảo hiểm Giống như nhiều nghiệp vụ bảo hiểm khác, phí bảo hiểm tính theo năm và có thể được tính theo công thức sau.

Mức phí bảo hiểm/năm/xe = Phí thuần + Phụ phí

Trong đó, phí thuần (còn gọi là phí rủi ro) của mỗi phương tiện theo từng loại khác nhau được tính dựa trên số liệu thống kê về vụ tai nạn, mức độ tổn thất thuộc trách nhiệm của nhà bảo hiểm trong từng vụ, và số lượng phương tiện lưu hành.

Si: Mức độ tổn thất bình quân thuộc trách nhiệm của người bảo hiểm trong một vụ tai nạn năm thứ i

Ti: Số vụ tai nạn xảy ra có phát sinh trách nhiệm của người bảo hiểm năm thứ i

Ci: Số lượng phương tiện cùng loại tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự trong năm thứ i i = 1,n: Các năm lấy số liệu khảo sát

Lưu ý: Trong trường hợp có quy định về hạn mức trách nhiệm của người bảo hiểm khi tính mức độ tổn thất bình quân Si, các vụ tổn thất vượt quá hạn mức này sẽ chỉ được tính bằng đúng hạn mức trách nhiệm đã quy định.

Trong công thức tính phí bảo hiểm, phần phụ phí phản ánh các chi phí mà nhà bảo hiểm tính bình quân cho một phương tiện Những chi phí này bao gồm: chi phí để có được hợp đồng (hoa hồng đại lý, phí môi giới), chi phí quản lý hợp đồng, chi phí in ấn, trả lương, chi phí máy tính và các chi phí phụ trợ khác cùng thuế Dựa trên việc tính toán chi tiết từng loại chi phí, người bảo hiểm có thể xác định một tỷ lệ phụ phí nhất định trên tổng phí phải thu.

Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình triển khai bảo hiểm vật chất xe cơ giới

1.3.1 Các yếu tố khách quan

Điều kiện kinh tế – xã hội có tác động rất lớn đến thị trường bảo hiểm: khi kinh tế phát triển và đời sống người dân được cải thiện, thu nhập tăng khiến người dân quan tâm đến các sản phẩm bảo hiểm nhằm bảo vệ cuộc sống và gia đình trước rủi ro trong cuộc sống Ngược lại, nền kinh tế kém phát triển và thu nhập thấp buộc người dân phải tập trung vào các nhu cầu sinh tồn trước mắt, khiến nhu cầu bảo hiểm giảm sút và thị trường bảo hiểm bị co hẹp.

Phát triển kinh tế là cơ hội kinh doanh quan trọng cho mọi doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng Khi nền kinh tế tăng trưởng, các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, lợi nhuận cao và có thêm vốn để mở rộng quy mô sản xuất Trong lĩnh vực vận tải, nhu cầu đi lại và du lịch của người dân tăng lên khi thu nhập tăng, vì vậy các doanh nghiệp chở khách và chở hàng sẽ mở rộng đội xe để đáp ứng thị trường Dịch vụ taxi trở nên phổ biến và các doanh nghiệp kinh doanh loại hình này sẵn sàng chi thêm vốn mua xe để phục vụ khách hàng Nhờ thu nhập tăng, số lượng xe máy và ô tô tăng lên, mở rộng nguồn khách hàng tiềm năng cho các doanh nghiệp, dù điều kiện giao thông và khí hậu ở nước ta vẫn còn phức tạp.

Điều kiện văn hóa xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến kinh doanh bảo hiểm Người Việt Nam thường có tính lo xa để đảm bảo an toàn cho cuộc sống, vì vậy nếu biết tận dụng đặc điểm này thì bảo hiểm là một công cụ hữu hiệu, thu hút được nhiều người tham gia Mặt khác, người Việt Nam cũng có tính tiết kiệm, nên nhiều khi họ ngại tham gia vì rủi ro, thiệt hại chưa biết trước và cho rằng tham gia không được gì, dẫn tới tâm lý thờ ơ hoặc chủ quan.

Các yếu tố về chính trị pháp luật

Nhà nước thông qua các công cụ pháp lý, quản lý hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhằm:

Chính sách bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm và người được hưởng quyền lợi, đồng thời đảm bảo lợi ích hợp pháp cho các doanh nghiệp và tổ chức bảo hiểm thông qua xây dựng chế tài trừng phạt các cá nhân, tổ chức có hành vi sai trái nhằm mục đích trục lợi bảo hiểm Việc tăng cường biện pháp pháp lý và cơ chế kiểm soát giúp ngăn chặn gian lận, bảo vệ người đóng phí, nâng cao minh bạch và niềm tin trong thị trường bảo hiểm, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp bảo hiểm.

Xây dựng một môi trường cạnh tranh bình đẳng và phát triển thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn và lành mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu bảo hiểm của nền kinh tế và người dân; bảo đảm cho các tổ chức và cá nhân được tiếp cận các sản phẩm bảo hiểm đạt chuẩn quốc tế; thu hút nguồn lực trong nước và nước ngoài cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực tài chính và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm, đồng thời đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập quốc tế.

Nhận thức của người dân

Bảo hiểm là một sản phẩm vô hình nên khách hàng khó nhận thấy chất lượng và công năng ngay khi mua, khiến hình thức kinh doanh qua các đại lý trung gian gặp thách thức khi họ chưa thấy được lợi ích rõ ràng của bảo hiểm Do đó, nhận thức của người tiêu dùng Việt Nam về bảo hiểm còn nhiều quan niệm sai lệch và có cái nhìn chưa thiện cảm, là rào cản cho sự triển khai các loại hình bảo hiểm ở nước ta Tuy vậy, vài năm gần đây sự nâng cao dân trí và xu hướng mua ô tô ngày càng phổ biến đã làm thay đổi tư duy: người dân ngày càng nhận ra lợi ích của bảo hiểm xe cơ giới, vì chiếc xe là tài sản đắt tiền và bảo hiểm mang lại sự an tâm, đồng thời giúp giảm bớt chi phí sửa chữa và rủi ro tài chính khi gặp sự cố.

Trong ngành bảo hiểm, ứng dụng khoa học công nghệ thông tin cho phép số hóa quy trình dịch vụ, tối ưu hóa cấu trúc tổ chức và giảm bớt sự cồng kềnh của doanh nghiệp Nhờ đó, các doanh nghiệp bảo hiểm có thể đa dạng hóa các kênh phân phối và hình thức dịch vụ, đồng thời nâng cao chất lượng chăm sóc khách hàng nhờ các dịch vụ phụ trợ kỹ thuật cao.

Những tiến bộ nhanh chóng của công nghệ thông tin đang hình thành thói quen tiêu dùng mới, khi khách hàng ngày càng tìm kiếm thông tin qua Internet, điện thoại và email Đây là cơ hội cho doanh nghiệp bảo hiểm ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật để đáp ứng ngày càng cao và đa dạng của nhu cầu khách hàng trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập Việc khai thác các kênh thông tin số không chỉ nâng cao hiệu quả tiếp thị và dịch vụ mà còn tăng sự tin tưởng và hài lòng của khách hàng.

Mở cửa và hội nhập kinh tế là xu thế tất yếu của các quốc gia trên thế giới hiện nay, đồng nghĩa với việc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài sẽ gia nhập thị trường bảo hiểm trong nước Sự gia nhập này khiến môi trường cạnh tranh trở nên khốc liệt hơn và thị phần của các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước có thể bị thu hẹp đáng kể Để đứng vững và phát triển, các doanh nghiệp bảo hiểm cần áp dụng các phương thức kinh doanh mới nhằm thu hút khách hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh và tối ưu hoá sản phẩm, dịch vụ.

Cạnh tranh thúc đẩy các doanh nghiệp bảo hiểm tìm kiếm và triển khai nhiều biện pháp, hình thức thu hút khách hàng và từ đó nảy sinh những ý tưởng kinh doanh sáng tạo, giúp thị trường bảo hiểm phát triển ổn định Sự liên kết, hỗ trợ và hợp tác giữa các doanh nghiệp trong ngành, kể cả trên nền tảng cạnh tranh lành mạnh, góp phần phát triển bền vững của lĩnh vực bảo hiểm vật chất xe cơ giới Tuy nhiên, cạnh tranh cũng có thể tạo áp lực và sự cạnh tranh gay gắt khi các doanh nghiệp đều cố gắng lôi kéo khách hàng về phía mình Nhờ sự kết hợp giữa cạnh tranh lành mạnh và hợp tác, ngành bảo hiểm có thể tiếp tục đổi mới và tăng trưởng một cách bền vững.

Mục tiêu của bất kỳ doanh nghiệp kinh doanh nào cũng là bán được càng nhiều sản phẩm càng tốt Để đạt được mục tiêu này, doanh nghiệp phải thu hút và giữ chân khách hàng, vì khách hàng có tác động trực tiếp đến doanh thu và hiệu quả hoạt động Trong ngành bảo hiểm, khách hàng cũng được xem là trọng tâm của mọi hoạt động kinh doanh, từ chiến lược tiếp thị đến cải thiện trải nghiệm mua và sử dụng dịch vụ Việc tập trung vào nhu cầu và hành vi của khách hàng giúp tăng hiệu quả quảng bá, tối ưu hóa vòng đời khách hàng và đẩy mạnh doanh thu một cách bền vững.

Hiểu biết của người dân về bảo hiểm có tác động trực tiếp đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm Khi người dân nhận thức rõ lợi ích mà bảo hiểm mang lại cho cuộc sống hàng ngày, họ sẽ tham gia bảo hiểm và góp phần tăng trưởng doanh thu cho ngành; ngược lại, thiếu hiểu biết khiến họ cho rằng bảo hiểm không mang lại lợi ích và từ đó không tham gia Do đó, nâng cao nhận thức về bảo hiểm và truyền thông về lợi ích của bảo hiểm là yếu tố then chốt để mở rộng thị trường, tăng tỷ lệ tham gia và cải thiện hiệu quả kinh doanh.

1.3.2 Các yếu tố chủ quan

Uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp

Một doanh nghiệp có thời gian hoạt động lâu dài và uy tín trên thị trường bảo hiểm dễ dàng tạo niềm tin với khách hàng, từ đó thuận lợi triển khai sản phẩm, giảm thiểu chi phí và rút ngắn thời gian khai thác Trong khi đó, các doanh nghiệp mới thành lập chưa xây dựng được thương hiệu sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn khi triển khai nghiệp vụ bảo hiểm.

Một doanh nghiệp bảo hiểm có danh mục sản phẩm phong phú là lợi thế cạnh tranh giúp thu hút khách hàng Khi nhìn vào quy mô và sự đa dạng của sản phẩm, khách hàng có thể đánh giá tiềm lực tài chính, nguồn lực nhân sự, cơ sở vật chất và hạ tầng mà công ty có để triển khai quy mô lớn Để duy trì và mở rộng số lượng sản phẩm, doanh nghiệp phải đảm bảo đầy đủ các yếu tố này, từ đó tăng cường khả năng thanh toán khi sự kiện bảo hiểm xảy ra Điều này tạo niềm tin cho khách hàng về việc tiền của họ được quản lý và chi trả đúng nơi, đúng thời điểm, từ đó củng cố uy tín của doanh nghiệp bảo hiểm.

Doanh nghiệp sở hữu nhiều sản phẩm bảo hiểm có lợi thế ở việc kết hợp giới thiệu sản phẩm với nhau Khi khách hàng mua một gói bảo hiểm, nhân viên khai thác sẽ khéo léo tư vấn thêm các gói bảo hiểm khác của doanh nghiệp, tối ưu quyền lợi cho khách hàng và tăng cơ hội bán chéo Việc tư vấn chéo giúp khách hàng có sự lựa chọn toàn diện và thuận tiện hơn khi tiếp cận nhiều sản phẩm bảo hiểm của cùng một đơn vị Khi khách hàng đã tin tưởng và sử dụng gói bảo hiểm này một lần, họ có xu hướng tiếp tục chọn các gói bảo hiểm khác do uy tín của doanh nghiệp được xây dựng từ trải nghiệm trước Chiến lược kết hợp giới thiệu sản phẩm không chỉ mang lại sự hài lòng cho khách hàng mà còn giúp tăng doanh thu và mở rộng danh mục bảo hiểm được khách hàng tin dùng.

Các chỉ tiêu cơ bản đánh gia tình hình triển khai bảo hiểm vật chất xe cơ giới

1.4.1 Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh theo các khâu công việc

Mỗi nghiệp vụ bảo hiểm khi triển khai thường trải qua các khâu công việc cụ thể như khâu khai thác, khâu đề phòng và hạn chế tổn thất, khâu giám định và bồi thường Để nâng cao hiệu quả của nghiệp vụ, cần nâng cao hiệu quả ở từng khâu và xác định hiệu quả của từng công đoạn Việc so sánh và đánh giá hiệu quả từng khâu giúp nhận diện khâu chưa tối ưu, từ đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất biện pháp khắc phục phù hợp nhằm tối ưu quy trình và nâng cao chất lượng dịch vụ bảo hiểm.

Hiệu quả kinh doanh đánh giá qua khâu khai thác được tính theo công thức sau:

Trong kỳ, kết quả khai thác được đánh giá dựa trên hai khía cạnh chính: có thể là doanh thu phí bảo hiểm phát sinh hoặc là số lượng hợp đồng, số đơn bảo hiểm được cấp trong kỳ; đồng thời chi phí khai thác có thể là tổng chi phí liên quan đến hoạt động khai thác hoặc là số đại lý khai thác đang hoạt động trong kỳ.

1.4.1.2 Trong khâu đề phòng và hạn chế tổn thất

Hiệu quả kinh doanh đánh giá qua khâu đề phòng và hạn chế tổn thất được tính theo công thức sau:

Hiệu quả kinh doanh đánh giá qua khâu giám định được tính theo công thức sau:

Trong phân tích tỷ lệ giám định, tử số có thể là số vụ tai nạn rủi ro đã được giám định hoặc số khách hàng đã được giám định trong kỳ, còn mẫu số là tổng chi phí giám định trong kỳ Tỷ lệ này cho biết chi phí giám định trên mỗi vụ tai nạn hoặc trên mỗi khách hàng được giám định, từ đó giúp đánh giá hiệu quả chi phí và quy mô hoạt động giám định của kỳ báo cáo.

Hiệu quả kinh doanh đánh giá qua khâu bồi thường được tính theo công thức sau:

1.4.2 Các chỉ tiêu phân tích tình hình đề phòng và hạn chế tổn thất

 Tỷ lệ chi phí đề phòng và hạn chế tổn thất so với doanh thu:

 Tỷ lệ chi phí đề phòng và hạn chế tổn thất so với chi phí bồi thường:

1.4.3 Các chỉ tiêu phân tích tình hình giám định

 Tỷ lệ giải quyết giám định:

 Tỷ lệ số vụ giám định còn tồn đọng:

 Tỷ lệ chi phí giám định so với doanh thu:

 Tỷ lệ chi phí giám định so với chi phí bồi thường:

1.4.4 Các chỉ tiêu phân tích tình hình bồi thường

 Số vụ khiếu nại đòi giải quyết bồi thường trong kỳ (1)

 Số vụ khiếu nại đã được giải quyết bồi thường trong kỳ (2)

 Số vụ khiếu nại còn tồn đọng chưa giải quyết bồi thường trong kỳ (3)

 Tỷ lệ giải quyết bồi thường:

 Số tiền bồi thường bình quân trong kỳ:

 Tỷ lệ chi bồi thường:

 Tỷ lệ bồi thường trong kỳ:

THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN THĂNG LONG GIAI ĐOẠN 2012 – 2016

Khái quát chung về Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long

2.1.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển

2.1.1.1 Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện

Sau NĐ 100CP/1993 của chính phủ về hoạt động KDBH hàng loạt công ty bảo hiểm ra đời chấm dứt tình trạng độc quyền trên thị trường của

BH Bảo Việt Hòa chung với xu thế đó ngày 01 tháng 08 năm 1998Công ty

Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI) được thành lập theo Giấy phép số 3633/GP-UB do Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội cấp, với thời gian hoạt động 28 năm Vốn điều lệ ban đầu của PTI là 70 tỷ đồng Công ty được cấp Giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn và điều kiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm số 10/TC/GCN ngày 18 tháng 6 năm 1998 của Bộ Tài chính Ngày 01 tháng 02 năm 2007, PTI nhận Giấy phép số 41A GP/KDBH của Bộ Tài chính cho phép bổ sung vốn điều lệ lên 105 tỷ đồng Ngày 21 tháng 04 năm 2008, PTI nhận Giấy phép điều chỉnh số 41A/GPĐC/KDBH của Bộ Tài chính cho phép bổ sung vốn điều lệ lên 300 tỷ đồng.

Thông tin chung về doanh nghiệp:

- Tên đầy đủ tiếng Việt: Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện

- Tên giao dịch: Bảo hiểm Bưu điện

- Tên tiếng Anh: Post – Telecommunication Joint – Stock Insurance Corporation

- Địa chỉ: Tầng 8, số 4A Láng Hạ, Quận Ba Đình, TP Hà Nội

- Email: ptioffice@fmail.vnn.vn

- Web: www.pti.com.vn

PTI hoạt động theo Luật kinh doanh Bảo hiểm và Điều lệ hoạt động đã được Đại hội đồng Cổ đông thông qua Doanh nghiệp được Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 055051 ngày 12 tháng 8 năm 1998 và Đăng ký kinh doanh thay đổi lần 01 ngày 17 tháng 3 năm 2004 PTI là công ty cổ phần bảo hiểm do các tổng công ty lớn như Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), Tổng Công ty Cổ phần Tái Bảo hiểm quốc gia Việt Nam (VINARE), Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh, Tổng Công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội (HACC), Tổng Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam (VIB) và Công ty Cổ phần Thương mại Bưu chính Viễn thông (COKYVINA) góp vốn thành lập.

Từ 1998 – 2003 chủ yếu cung cấp sản phẩm dịc vụ cho các đơn vị dịch vụ bưu chính viễn thông

Vào năm 2008, PTI đã điều chỉnh chiến lược kinh doanh nhằm tập trung vào bán lẻ và mở rộng kênh phân phối sản phẩm thông qua ký kết thỏa thuận hợp tác với Tổng công ty Bưu điện Việt Nam Nhờ bước đi này, PTI trở thành một doanh nghiệp bảo hiểm có hệ thống bán hàng và phục vụ khách hàng lớn nhất Việt Nam.

PTI hiện nay hoạt động kinh doanh bao gồm bảo hiểm phi nhân thọ, tái bảo hiểm, giám định tổn thất và đầu tư tài chính Sau 16 năm hoạt động, PTI đã ổn định và phát triển từng bước, khẳng định vị thế với gần 7,5% thị phần trong thị trường bảo hiểm phi nhân thọ.

2.1.1.2 Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long

Công ty Bảo hiểm Bưu Điện Thăng Long (PTI Thăng Long) được thành lập ngày 01/07/2010 Ngày 13/09/2010, quyết định đổi tên Hội sở giao dịch của Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện thành Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long.

- Tên công ty: Công ty Bảo hiểm Bưu Điện Thăng Long

- Tên viết tắt: PTI Thăng Long

- Địa chỉ: 290 Nguyễn Trãi, Trung Văn, Từ Liêm, Hà Nội

Tài khoản số: 03201010506886 tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải – Chi nhánh Thanh Xuân, Hà Nội

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức

Là một trong những đơn vị chi nhánh hàng đầu và dẫn đầu về doanh thu của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện, Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long mang đậm nét các tôn chỉ của Tổng Công ty và không ngừng khẳng định vị thế trên thị trường bảo hiểm Với mạng lưới chi nhánh rộng khắp và cam kết cung cấp sản phẩm bảo hiểm chất lượng, công ty thực hiện các chức năng cốt lõi nhằm mang lại giải pháp bảo hiểm tối ưu cho khách hàng và đóng góp vào sự phát triển của ngành.

- Cung cấp cho khách hàng các sản phẩm phù hợp với chất lượng dịch vụ tốt nhất thông qua mạng lưới phục vụ trên toàn quốc

- Tư vấn cho khách hàng trong công tác quản lý rủi ro, đề phòng hạn chế tổn thất Đảm bảo giải quyết bồi thường kịp thời, thoả đáng

- Đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ và ý thức phục vụ khách hàng của cán bộ và nhân viên

Chúng tôi tăng cường quan hệ hợp tác với các đối tác trong nước và ngoài nước nhằm tạo sức mạnh tổng hợp để đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng Đồng thời, chúng tôi đảm bảo tăng trưởng đi đôi với phát triển bền vững, nâng cao hiệu quả kinh doanh và gia tăng giá trị cho cổ đông.

PTI đặt nhiệm vụ đem lại cho cộng đồng những sản phẩm bảo hiểm thiết thực và chất lượng dịch vụ chuẩn mực thông qua hệ thống mục tiêu chất lượng được thiết kế để đáp ứng nhu cầu thực tế của khách hàng Tại PTI, sự minh bạch, tốc độ và tối ưu hoá trải nghiệm khách hàng là nền tảng, đồng thời chúng tôi liên tục cải tiến danh mục sản phẩm bảo hiểm từ bảo hiểm nhân thọ, sức khỏe đến bảo hiểm tai nạn và bảo hiểm doanh nghiệp để phù hợp với từng giai đoạn cuộc sống Các mục tiêu chất lượng của PTI tập trung vào tính cạnh tranh của phí, sự linh hoạt trong gói quyền lợi, quy trình bồi thường nhanh gọn và dịch vụ khách hàng tận tâm, nhằm tăng cường sự tin tưởng và đóng góp tích cực cho cộng đồng.

- Phấn đấu hoàn thành 100% các chỉ tiêu kế hoạch về doanh thu, bồi thường tất cả các nghiệp vụ và chỉ tiêu kế hoạch về lợi nhuận

Chúng tôi nâng cao toàn diện chất lượng dịch vụ khách hàng thông qua chuẩn hóa và nâng cao chất lượng của hệ thống call-center, đồng thời tối ưu hóa quy trình hỗ trợ để đáp ứng nhanh và hiệu quả nhu cầu khách hàng Hệ thống garage liên kết trên toàn quốc được chuẩn hóa theo các tiêu chuẩn kỹ thuật và dịch vụ, giúp rút ngắn thời gian sửa chữa, tăng độ tin cậy và mang lại trải nghiệm khách hàng đồng nhất Việc mở rộng hệ thống bệnh viện liên kết sẽ mở rộng khả năng tiếp cận chăm sóc sức khỏe chất lượng cao, đồng bộ hóa quy trình dịch vụ trên toàn mạng lưới và đảm bảo sự liền mạch cho khách hàng trong mọi tình huống.

- bảo lãnh viện phí, đảm bảo 100% các vụ bồi thường được giải quyết chính xác, kịp thời và thuận tiện cho khách hàng

- Nâng cao hiệu quả công tác quản trị điều hành trên hệ thống

- Duy trì vị trí top 5 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ

Tiếp tục duy trì và phát triển văn hóa ứng xử PTI là ưu tiên hàng đầu nhằm xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, tôn trọng và minh bạch Đảm bảo 100% cán bộ, nhân viên được quán triệt và thực hiện đầy đủ các quy định tại Bộ Quy tắc ứng xử PTI, từ đó nâng cao chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và hình ảnh tổ chức Đồng thời củng cố cơ cấu tổ chức bộ máy để đảm bảo hệ thống quản trị, quy trình làm việc rõ ràng và sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban, hỗ trợ việc thực thi văn hóa ứng xử và các quy định của PTI một cách nhất quán.

PTI Thăng Long tổ chức bộ máy theo kiểu trực tuyến, đảm bảo mọi chức năng được phân định rõ và thống nhất quan điểm chỉ đạo để đồng bộ hóa mọi hoạt động của Công ty Cấu trúc này tăng tính chuyên môn hóa cho các công tác trong Công ty, giúp Ban Giám đốc quản lý chung mọi hoạt động của Công ty một cách hiệu quả và nhạy bén.

Dựa trên cơ cấu hoạt động và sự phân bổ các bộ phận chức năng, sơ đồ bộ máy của PTI Thăng Long được tóm tắt trong hình 1, mô tả rõ ràng vai trò từng phòng ban, các đường báo cáo và quan hệ phối hợp giữa các đơn vị nhằm tối ưu hóa quy trình vận hành và quản trị doanh nghiệp.

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của PTI Thăng Long

(Nguồn: Nguồn tài liệu nội bộ PTI Thăng Long)

- Phòng Tổng Hợp: Phòng Tổng hợp có chức năng tham mưu cho Ban Giám đốc Công ty trong việc chỉ đạo điều hành các Phòng tại Văn phòng

Các phòng chức năng Các phòng nghiệp vụ

BH Tài sản Kỹ thuật

Phòng phát triển khách hàng cá nhân

Công ty chịu trách nhiệm thực hiện chương trình, kế hoạch công tác và quy chế làm việc, đồng thời trực tiếp tổ chức và triển khai các công tác như công tác tổng hợp, thư ký, pháp chế, hành chính quản trị, tuyên truyền, quảng cáo, công tác quan hệ quốc tế, đối ngoại và khánh tiết.

Phòng Kế toán là đơn vị tham mưu cho Ban Giám đốc trong quản lý, chỉ đạo, kiểm tra và giám sát lĩnh vực Tài chính – Kế toán theo quy định của Nhà nước và của Công ty, đồng thời thực hiện công tác Tài chính – Kế toán tại Văn phòng Công ty.

Phòng Bồi thường và Phòng Giám định tham mưu cho Ban Giám đốc Công ty về công tác giám định tổn thất và thiệt hại, cũng như các chi phí liên quan đến xử lý tổn thất và bồi thường; đồng thời thực hiện công tác bồi thường và giải quyết khiếu nại, nhằm đảm bảo quy trình thông suốt, minh bạch và hiệu quả.

 Các phòng nghiệp vụ: Các phòng nghiệp vụ (Phòng BH Tài sản –

Thực trạng triển khai Bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long giai đoạn 2012 – 2016

2.3.1 Quy tắc bảo hiểm vật chất xe cơ giới a) Phạm vi bảo hiểm

PTI chịu trách nhiệm chi trả bồi thường cho chủ xe cơ giới đối với thiệt hại vật chất phát sinh từ thiên tai, tai nạn bất ngờ và các rủi ro không lường trước được, được áp dụng trong những trường hợp cụ thể được nêu sau.

• Đâm, va, lật, đổ, chìm, rơi toàn bộ xe, các vật thể khác tác động từ bên ngoài vào xe cơ giới

• Những rủi ro bất khả kháng do thiên nhiên như: bão, sóng thần, gió lốc, mưa đá, lụt, triều cường; động đất, sụt lở đất; sét đánh

• Mất toàn bộ xe do trộm, cướp

• Tai nạn do rủi ro bất ngờ khác gây nên ngoài những điểm loại trừ nêu trong Quy tắc

Ngoài số tiền bồi thường, PTI hoàn trả cho chủ xe cơ giới các chi phí cần thiết và hợp lý theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm để thực hiện các công việc theo yêu cầu và chỉ dẫn của PTI khi xảy ra tai nạn, thuộc phạm vi bảo hiểm và được PTI xác nhận thanh toán theo các điều khoản của hợp đồng.

• Chi phí bảo vệ hiện trường, ngăn ngừa hạn chế tổn thất phát sinh thêm

• Chi phí cứu hộ và vận chuyển xe bị thiệt hại tới nơi sửa chữa gần nhất

Mức chi phí trên Chủ xe cơ giới và PTI thỏa thuận theo Hợp đồng bảo hiểm tối đa không vượt quá 5% số tiền bảo hiểm (trừ khi có văn bản thỏa thuận khác) b) Loại trừ bảo hiểm

- Ngoài các điểm loại trừ chung quy định tại điều 12 của Quy tắc này, PTI không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau:

- Tổn thất do hao mòn tự nhiên hoặc do bản chất vốn có của tài sản, giảm giá trị thương mại, hỏng hóc do khuyết tật hoặc hỏng hóc thêm do sửa chữa, trong quá trình sửa chữa (bao gồm cả chạy thử)

Động cơ có thể bị hư hại do nước lọt vào bên trong khi xe hoạt động ở khu vực bị ngập nước Trừ khi có thỏa thuận khác bằng văn bản, các thiệt hại do nước lọt vào động cơ sẽ được xem xét và xử lý theo điều kiện đã nêu ban đầu.

Tổn thất riêng đối với các bộ phận như lốp, bạt phủ thùng xe, nhãn mác, biểu tượng nhà sản xuất, chắn bùn và chụp đầu trục bánh xe được xác định riêng biệt, trừ trường hợp tổn thất xảy ra do cùng một nguyên nhân và đồng thời với các bộ phận khác của xe trong cùng một vụ tai nạn.

- Mất bộ phận của xe do bị trộm hoặc bị cướp (trừ khi có thỏa thuận khác bằng văn bản)

Trong các giao dịch liên quan đến xe như cho thuê, cho mượn, cầm cố và các tranh chấp kinh tế, nguy cơ mất toàn bộ xe khi gặp lừa đảo hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt xe là có thể xảy ra Các trường hợp lừa đảo có thể khiến chủ xe hoặc bên cho vay mất trắng tài sản dù đã ký kết hợp đồng và giao nhận xe Để giảm thiểu rủi ro này, cần thận trọng kiểm tra uy tín đối tác, soạn thảo hợp đồng rõ ràng và chi tiết, lưu trữ đầy đủ chứng từ, hình ảnh và chứng cứ trước và sau khi cho thuê hoặc cho mượn, và cân nhắc các biện pháp bảo đảm như cầm cố hợp lệ hoặc các biện pháp đảm bảo tài sản khác trong quá trình giao dịch.

Thiệt hại có thể xảy ra đối với máy móc, dụng cụ điện và các bộ phận của thiết bị điện do vận hành ở chế độ quá tải hoặc quá áp, hoặc do đoản mạch, tự đốt nóng, hồ quang điện hoặc rò điện, bất kể nguyên nhân nào kể cả sét.

Tổn thất đối với các thiết bị chuyên dụng trên xe cơ giới và tổn thất đối với chính xe cơ giới do hoạt động của các thiết bị chuyên dụng của xe đó gây ra (trong mọi trường hợp) trừ khi có thỏa thuận khác bằng văn bản.

Xác định tổn thất đối với các thiết bị và bạt phủ lắp thêm trên xe, ngoài các thiết bị do nhà sản xuất đã lắp ráp, sẽ được xem như phần chịu rủi ro riêng và không tính đến các thiết bị mang tính chất bảo vệ cho xe như hệ thống báo động, cảm biến lùi, cản trước và cản sau Mọi trường hợp khác hoặc điều chỉnh liên quan đều phải được ghi nhận bằng văn bản thông qua thỏa thuận giữa các bên.

2.3.2.1 Quy trình khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Công ty Bảohiểm Bưu điện Thăng Long

Trong mọi nghiệp vụ bảo hiểm, khâu khai thác luôn là bước đi đầu quyết định thành công và mang lại doanh thu cho công ty Bảo hiểm vật chất xe cơ giới là sản phẩm bảo hiểm tự nguyện, vì vậy kết quả triển khai phụ thuộc nhiều vào số lượng khách hàng tham gia Khi kinh tế phát triển, đời sống người dân được nâng cao và mật độ phương tiện tham gia giao thông ngày càng tăng, đặc biệt ô tô, nên nhu cầu tham gia bảo hiểm vật chất xe cơ giới cũng tăng lên đáng kể Nhận thức được điều đó, Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long đã không ngừng hoàn thiện và phát triển, đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong những năm qua.

Quy trình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới của công ty được thể hiện qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 2.2: Quy trình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long

(Nguồn: Nguồn tài liệu nội bộ PTI Thăng Long)

Quy trình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long bao gồm các bước sau:

Bước 1: Tìm kiếm khách hàng là bước chủ chốt trong quá trình khai thác thị trường bảo hiểm xe cơ giới Mục tiêu của bước này là đưa sản phẩm bảo hiểm xe cơ giới đến gần khách hàng, giúp họ nhận biết và hiểu rõ sản phẩm do công ty cung cấp và từ đó thuyết phục họ mua sản phẩm.

Việc tìm kiếm khách hàng dựa trên nguyên tắc cạnh tranh trung thực và trên danh nghĩa của công ty, chứ không phải của bất kỳ cá nhân nào Các khai thác viên, cộng tác viên và đại lý phải cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết cho người tham gia bảo hiểm như hồ sơ cá nhân, thông tin liên hệ, điều kiện tham gia, quyền lợi và các điều khoản bảo hiểm, nhằm đảm bảo quá trình tư vấn, đăng ký và thực thi hợp đồng diễn ra minh bạch và có sự công bằng.

- Quy tắc về nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới

- Biểu phí cụ thể về nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới đối với từng loại xe

- Các nội dung khác nếu khách hàng yêu cầu

Bước 2: Chào phí và đàm phán

Sau khi phương án bảo hiểm đã được Lãnh đạo Đơn vị duyệt, KTV/Đại lý tiến hành chào bán bảo hiểm theo mẫu chào phí bảo hiểm

Chào phí và đàm phán

Ký kết HĐBH và cấp GCNBH

Khi nhận được bản chào phí bảo hiểm, nếu Chủ xe không chấp nhận bản chào phí hiện tại, KTV và Lãnh đạo Đơn vị sẽ tiến hành thảo luận và đàm phán với Chủ xe để sửa đổi bản chào phí Sau khi sửa đổi mà bản chào phí vẫn không đáp ứng được yêu cầu của Chủ xe, KTV/Đại lý và Lãnh đạo Đơn vị có thể thông báo bằng văn bản từ chối nhận bảo hiểm.

Nếu Chủ xe chấp nhận bản chào phí, tiến hành bước tiếp theo là Ký kết HĐBH và cấp GCNBH

Bước 3: Ký kết HĐBH và cấp GCNBH

Sau khi hoàn tất quá trình đàm phán, KTV/Đại lý tiến hành soạn thảo HĐBH và trình Lãnh đạo ký duyệt; HĐBH được ký kết với khách hàng và GCNBH được cấp cho khách hàng ngay sau đó.

Bước 4: Chăm sóc khách hàng

MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG

Ngày đăng: 18/12/2022, 19:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS Nguyễn Văn Định, Giáo trình Bảo hiểm thương mại, NXB Lao động Xã hội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Bảo hiểm thương mại
Tác giả: Nguyễn Văn Định
Nhà XB: NXB Lao động Xã hội
Năm: 2011
2. PGS.TS Nguyễn Văn Định, Giáo trình Quản trị Kinh doanh Bảo hiểm, NXB Lao động Xã hội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị Kinh doanh Bảo hiểm
Tác giả: Nguyễn Văn Định
Nhà XB: NXB Lao động Xã hội
Năm: 2007
3. Báo cáo Tài chính tổng hợp của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện năm 2012 - 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tài chính tổng hợp của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện năm 2012 - 2016
Tác giả: Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện
Nhà XB: Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện
Năm: 2012-2016
4. Báo cáo tổng kết kinh doanh năm 2012 – 2016 của Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết kinh doanh năm 2012 – 2016 của Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long
Tác giả: Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long
Nhà XB: Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long
5. Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, Báo cáo “Tổng quan thị trường Bảo hiểm Việt Nam 9 tháng năm 2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo "Tổng quan thị trường Bảo hiểm Việt Nam 9 tháng năm 2015
Tác giả: Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam
Nhà XB: Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam
Năm: 2015
6. Quy tắc bảo hiểm xe ô tô của Tổng Công ty Bảo hiểm Bưu điện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy tắc bảo hiểm xe ô tô của Tổng Công ty Bảo hiểm Bưu điện
8. Trang web của Tổng công ty Bảo hiểm Bưu điện:http://www.pti.com.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang web của Tổng công ty Bảo hiểm Bưu điện
9. Trang web của Hiệp hôi Bảo hiểm Việt Nam: http://avi.org.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang web của Hiệp hôi Bảo hiểm Việt Nam
7. Trang web: http://www.baohiem.info/ Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w