Để tìm ra ph ơngƣ h ớngƣkhắc phục và giúp cho hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên ngày một hoàn thiện hơn, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài “Các nhân tố ảnh h ởng đến quyết định t
Lý do lựa chọn đề tài
NCKH trong sinh viên là hoạt động thiết yếu cho công tác đào tạo và hội nhập quốc tế, đồng thời góp phần vào hội nhập văn hóa giáo dục hiện nay Nhận thức được điều này, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội đã đưa NCKH trở thành một học phần trong nhiều ngành học nhằm thâm nhập tri thức và tác động tích cực đến nhận thức của sinh viên Cùng với đó, trường đã tổ chức nhiều hoạt động NCKH được phổ biến rộng tới các khoa, ngành và lớp, với các giải thưởng có ý nghĩa như NCKH cấp trường và đặc biệt là sự kết hợp giữa NCKH và ý tưởng khởi nghiệp của sinh viên thông qua chương trình "Sinh viên và ý tưởng khởi nghiệp", chương trình đã gặt hái thành công qua ba mùa Thông qua các hoạt động này, trường sẽ đánh giá và xếp loại các đề tài NCKH xuất sắc để đề cử tham gia các hoạt động NCKH ở cấp cao hơn như "Tài năng Khoa học trẻ" do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức.
Việc tham gia NCKH của sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội tuy có tăng nhưng vẫn ở mức thấp so với kỳ vọng và chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu, đặc biệt trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 ảnh hưởng đến quyết định tham gia; do đó cần xem xét để từ đó tìm ra các biện pháp hữu hiệu nhất tạo động lực thúc đẩy sinh viên tham gia hoạt động NCKH Qua tìm hiểu, em nhận thấy có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia NCKH của sinh viên Dựa trên những định hướng đó, em phát triển đề tài nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia NCKH của sinh viên trước dịch Covid-19, điển hình là sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội.
Đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cơ sở lý luận
Một số vấn đề cơ bản về NCKH
Theo Collis & Hussey (2014), nghiên cứu là một quá trình tham vấn và điều tra có hệ thống và có phương pháp nhằm gia tăng lượng kiến thức Khoa học được hiểu là một hệ thống tri thức phản ánh bản chất và quy luật của các sự vật hiện tượng xuất hiện trong đời sống tự nhiên và xã hội; hệ thống tri thức này hình thành chủ yếu từ tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học Từ đây, ta có thể rút ra Nghiên cứu khoa học (NCKH) là hoạt động nhằm mở rộng và phát triển tri thức về một lĩnh vực nghiên cứu nhất định thông qua các phương pháp nghiên cứu khoa học Đặc điểm của NCKH bao gồm tính hệ thống, tính có phương pháp, tính xác thực và khả năng kiểm chứng qua thực nghiệm và lý luận; NCKH kết nối lý thuyết với thực tiễn và tạo nền tảng cho sự tiến bộ của khoa học cũng như của xã hội.
NCKH mang tính phổ quát và tính khái quát hóa về vấn đề nghiên cứu thông qua việc đóng góp tri thức mới.
NCKH mang tính hệ thống và quy chuẩn thể hiện ở việc các công trình nghiên cứu được thực hiện theo một quy trình chuẩn, từ đặt vấn đề nghiên cứu, tổng quan tài liệu, xác định câu hỏi nghiên cứu, lựa chọn phương pháp nghiên cứu, phân tích kết quả và đánh giá, cho đến tái thẩm định các giả thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Kết quả của NCKH được diễn giải và phân tích dựa trên bằng chứng cụ thể; các lập luận được xây dựng trên phạm vi lý thuyết cùng với các giả định và giả thuyết nghiên cứu, đồng thời dựa vào kết quả phân tích thống kê từ dữ liệu thu thập được, ngay cả khi các kết quả có thể vượt quá phạm vi cho phép của dữ liệu Quá trình này nhấn mạnh tính logic và tính tin cậy của kết quả, đồng thời làm rõ các loại hình NCKH khác nhau để chọn đúng phương pháp và khuôn khổ cho từng mục tiêu nghiên cứu.
Nghiên cứu khoa học cơ bản là hình thức nghiên cứu nhằm mở rộng tri thức khoa học của con người trong một ngành khoa học nhất định, thông qua việc trả lời các câu hỏi mang tính bản chất về khoa học Mục tiêu của nó là xây dựng nền tảng lý thuyết và khám phá các nguyên lý cơ bản, từ đó cung cấp kiến thức nền tảng cho các nghiên cứu và ứng dụng trong tương lai.
Nghiên cứu khoa học ứng dụng là loại hình nghiên cứu tập trung chuyển hóa các kết quả và tri thức khoa học hiện có thành các sản phẩm hoặc giải pháp cụ thể phục vụ mục đích thực tiễn Trong bối cảnh dịch Covid-19, một đại dịch bệnh truyền nhiễm do virus SARS-CoV-2 gây ra và lan rộng toàn cầu từ cuối năm 2019, quyết định tham gia NCKH của nhiều cá nhân và tổ chức bị ảnh hưởng bởi mức độ cấp thiết của việc ứng phó với dịch bệnh Dịch Covid-19 thúc đẩy việc tận dụng các thành tựu khoa học để phát triển nhanh vaccine, phương pháp chẩn đoán và chiến lược y tế công cộng, đồng thời đặt ra thách thức về an toàn nghiên cứu, quản trị dữ liệu và hợp tác đa ngành, đặc biệt là khi đại dịch đòi hỏi linh hoạt trong hình thức làm việc và chia sẻ kết quả.
2019 ghi nhận tâm dịch đầu tiên tại thành phố Vũ Hán, thuộc miền Trung Trung Quốc Sự kiện này được xem như một yếu tố mang tính quy luật vì diễn ra trong một thời gian dài và đã tác động đến quyết định tham gia nghiên cứu khoa học (NCKH) của sinh viên.
Thuyết hành vi hoạch định
Thuyết hành vi hoạch định (Ajzen, 1991) được phát triển từ thuyết hành động hợp lý (TRA, Ajzen & Fishbein, 1975), với giả thiết hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích thông qua các quyết định thực hiện hành vi đó Theo thuyết này, thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và kiểm soát nhận thức hành vi đóng vai trò thiết yếu để hình thành ý định thực hiện hành vi Trong đó, chuẩn chủ quan bao gồm các yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của người thực hiện.
Thuyết tự quyết
Thuyết tự quyết của Deci và Ryan (1985) cho rằng động cơ hành động của con người được phân loại thành ba nhóm: động cơ bên ngoài, động cơ bên trong và không có động cơ; trong đó động cơ bên ngoài và động cơ bên trong là hai dạng động lực có ảnh hưởng quyết định (Ryan & Deci, 2000) Theo thuyết này, động cơ nội tại và động cơ ngoại không loại trừ lẫn nhau mà bổ sung cho nhau, tác động cùng với sự tham gia của sinh viên vào NCKH (nghiên cứu khoa học).
Thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham MASLOW
Abraham Maslow (1908-1970) cho rằng hành vi con người bị chi phối bởi các nhu cầu và các nhu cầu này được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên từ thấp đến cao Theo học thuyết tháp nhu cầu Maslow, có 5 cấp độ nhu cầu được xếp từ đáy lên đỉnh: nhu cầu sinh lý, nhu cầu về sự an toàn, nhu cầu thuộc về mối quan hệ xã hội và tình cảm, nhu cầu được công nhận và tôn trọng, và cuối cùng là nhu cầu tự thể hiện và hoàn thiện bản thân Mô hình tháp nhu cầu Maslow thường được minh họa bằng hình tháp với các tầng tương ứng, cho thấy cách con người có động lực đạt tới sự tự hoàn thiện khi các nhu cầu ở các cấp thấp được đáp ứng đầy đủ.
Mục tiêu, đối t ợng, phạm vi ƣ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu các yếu tố ảnh h ởng đến quyết định tham gia NCKH của sinh ƣ viên
Tr ờng Đại học Công Nghiệp Hà Nội trong dịch Covid – 19.ƣ b Mục tiêu cụ thể :
Phản ánh thực trạng tham gia NCKH của sinh viên điển hình là sinh viên Tr ờngƣ Đại học Công Nghiệp Hà Nội tr ớc diễn biến dịch Covid –ƣ 19.
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định các yếu tố ảnh hưởng và đánh giá mức độ tác động của dịch Covid-19 đến sự tham gia của sinh viên khoa Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội vào hoạt động Nghiên cứu khoa học (NCKH) Bài viết phân tích các yếu tố như động lực học tập, nhận thức về NCKH, khả năng tiếp cận nguồn lực và sự hỗ trợ từ giảng viên, cùng với ảnh hưởng của môi trường học tập trực tuyến và cơ sở vật chất Đồng thời, nghiên cứu đánh giá mức độ tham gia NCKH trước và trong đại dịch, chỉ ra những khó khăn và cơ hội, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường tham gia NCKH cho sinh viên, như cải thiện hạ tầng CNTT, cung cấp khóa đào tạo kỹ năng nghiên cứu, và tăng cường sự hỗ trợ từ nhà trường và khoa.
Đề xuất các giải pháp tạo động lực thúc đẩy sinh viên tham gia vào hoạt động NCKH.
Nhân tố ảnh h ởng đến quyết định tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên ƣ
Tr ờng Đại học Công Nghiệp Hà Nội trong dịch Covid – 19.ƣ
Đối t ợng ƣ nghiên cứu
Quyếết đ nh thamị gia NCKH c a sinh viếnủ
S quan tâm,ự khuyếến khích t phía nhàừ
Môi trường nghiến Đ ng cộ ơ
Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Trong tình hình dịch Covid – 19 (cụ thể tháng 11/2021)
Không gian: Tr ờng Đại học Công Nghiệp Hàƣ Nội.
Bài viết này phân tích các nhân tố liên quan đến môi trường đại học ảnh hưởng đến quyết định tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội trong bối cảnh đại dịch Covid-19 Các yếu tố chủ chốt bao gồm cơ sở vật chất và thiết bị nghiên cứu, chất lượng và sự sẵn sàng của giảng viên trong việc hướng dẫn, văn hóa học tập và sự khuyến khích tham gia nghiên cứu từ nhà trường, cùng với chính sách hỗ trợ tài chính, thời gian dành cho nghiên cứu và các biện pháp an toàn sức khỏe tại trường Kết quả cho thấy khi môi trường đại học đảm bảo an toàn sức khỏe, có cơ sở vật chất đầy đủ, có hướng dẫn rõ ràng và cơ hội tham gia các dự án nghiên cứu thực tế, sinh viên có động lực tham gia nghiên cứu khoa học cao hơn Nghiên cứu cũng nhấn mạnh vai trò của sự linh hoạt trong huy động nguồn lực và truyền thông hiệu quả về cơ hội nghiên cứu nhằm tăng cường sự tham gia của sinh viên trong mọi điều kiện, đặc biệt là trong giai đoạn Covid-19.
Giả thuyết và mô hình nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu
a Năng lực sinh viên Đó là “sự kết hợp của nhiều kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp với một tình huống nào đó” (Uỷ ban Cộng đồng châu Âu, 2005, tr.3, xem trong Nguyễn Thành Ái, 2015) Khi năng lực sinh viên càng cao, toàn diện về nhiều mặt, tốt về cả 3 yếu tố gồm kiến thức, kỹ năng và thái độ sẽ thúc đẩy sinh viên tham gia NCKH có khả năng là rất lớn Từ đó, nhóm em đi đến giả thiết:
H1: Có mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực sinh viên với quyết định tham gia NCKH của sinh viên. b Động cơ
Theo lý thuyết về tính tự quyết của Deci và Ryan năm 1985, động cơ hành động của con ng ờiƣ đ ợcƣ đ ợcƣ phân loại thành động cơ bên ngoài, động cơ bên trong, và không động cơ, trong đó động cơ bên ngoài và động cơ bên trong là những loại động cơ mang tính quyết định (Ryan, R M & Deci, E L., 2000) Động cơ bên trong là động cơ xuất phát từ chính lòng yêu thích, đam mê NCKH của sinh viên để tác động đến sinh viên tham gia NCKH Còn động cơ bên ngoài là những nhân tố liên quan đến việc nhận thức về những khó khăn, lợi ích khi tham gia NCKH để quyết định có tham gia NCKH hay không? Khi động cơ về NCKH càng ngày càng nhiều lên lại càng tác động tích cực đến quyết định tham gia hoạt động đó nên nhóm em có giả thuyết:
H2: Có mối quan hệ cùng chiều giữa động cơ với quyết định tham gia NCKH của sinh viên. c Môi trường nghiên cứu
Môi trường nghiên cứu bao gồm cơ sở vật chất như trang thiết bị, thư viện và tài liệu tham khảo; các yếu tố về giảng viên như trình độ chuyên môn, sự nhiệt huyết trong hướng dẫn sinh viên tham gia NCKH và việc cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên, cùng với các chính sách phúc lợi từ Nhà nước như các Luật về NCKH và chế độ khen thưởng, cùng một số yếu tố khác Khi môi trường nghiên cứu đáp ứng tốt nhu cầu của sinh viên tham gia NCKH, nó sẽ tác động tích cực và thúc đẩy sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học Vì vậy, nhóm em đã đưa ra giả thuyết: một môi trường nghiên cứu tối ưu, kết hợp đầy đủ cơ sở vật chất, chất lượng giảng viên và chế độ phúc lợi phù hợp sẽ tăng cả số lượng và chất lượng sinh viên tham gia NCKH.
H3: Có mối quan hệ cùng chiều giữa môi trường nghiên cứu với quyết định tham gia NCKH của sinh viên. d Sự quan tâm, khuyến khích từ phía nhà trường
Sự quan tâm và khuyến khích từ phía nhà trường thể hiện qua các chế độ khen thưởng (khen thưởng vật chất và tinh thần), các hình thức truyền thông (tuyên truyền hoạt động NCKH thông qua website và phổ biến thông qua giáo viên chủ nhiệm của từng khoa, ngành) và nhiều yếu tố khác Sự quan tâm và khuyến khích của nhà trường cùng với các chế độ chính sách hấp dẫn và hoạt động tuyên truyền mạnh mẽ sẽ thu hút số lượng sinh viên tham gia NCKH ngày càng lớn Nhóm em đưa ra giả thuyết:
H4: Có mối quan hệ cùng chiều giữa sự quan tâm, khuyến khích của nhà trường với quyết định tham gia NCKH của sinh viên. e.Dịch Covid – 19
Tình hình dịch Covid-19 đang ảnh hưởng đến các chính sách giãn cách xã hội và tác động đến việc tiếp cận tài liệu cũng như hoạt động nhóm của sinh viên tham gia NCKH Việc duy trì khoảng cách xã hội và hạn chế gặp mặt trực tiếp khiến sinh viên gặp khó khăn trong việc thảo luận, tìm kiếm thông tin và phối hợp công việc nghiên cứu Những trở ngại này có thể làm chậm tiến độ NCKH và ảnh hưởng đến chất lượng kết quả học tập Do đó, cần tăng cường các hình thức làm việc từ xa và hỗ trợ đồng bộ tài liệu để duy trì hiệu quả nghiên cứu của sinh viên trong bối cảnh Covid-19.
H5: Có mối quan hệ ngược chiều giữa sự quan tâm, khuyến khích của nhà trường với quyết định tham gia NCKH của sinh viên. f Ngành học và giới tính
Có sự chênh lệch giới tính giữa nam và nữ khi tham gia NCKH và sự khác biệt giữa các ngành học, như khối kinh tế và khối kỹ thuật, cho thấy hai nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia NCKH của sinh viên Việc nhận diện hai yếu tố này giúp các trường đại học thiết kế chương trình NCKH và các hoạt động hỗ trợ phù hợp để tăng cơ hội tham gia nghiên cứu cho cả nam và nữ và cho ở nhiều khối ngành khác nhau Để thúc đẩy tham gia NCKH, cần đẩy mạnh bình đẳng giới, mở rộng cơ hội cho các ngành kỹ thuật và kinh tế, và tạo môi trường nghiên cứu thân thiện với sự đa dạng của sinh viên.
H6: Có mối quan hệ cùng chiều giữa sự quan tâm, khuyến khích của nhà trường với quyết định tham gia NCKH của sinh viên.
CHƯƠNG 3 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nhóm tiến hành nghiên cứu theo định tính kết hợp với nghiên cứu định
Nghiên cứu tổng quan
Thông qua việc tìm hiểu các thuyết động lực và tham khảo các bài viết về động lực nhóm, chúng tôi đã xác định khái niệm cơ bản liên quan đến động lực và nhận diện các nhân tố có tác động đến động lực nghiên cứu khoa học của sinh viên Đại học Công nghiệp Hà Nội Các yếu tố này bao gồm động lực cá nhân, môi trường học tập, sự công nhận thành tích và sự hỗ trợ từ giảng viên, từ đó có thể giải thích mức độ tham gia và hiệu quả nghiên cứu của sinh viên Nhận diện các nhân tố này giúp đề xuất các biện pháp thúc đẩy động lực nghiên cứu khoa học, như thiết kế hoạt động học tập có mục tiêu, chương trình khuyến khích và tạo môi trường học tập tích cực tại trường.
Nghiên cứu định tính
Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng trong giai đoạn nghiên cứu khám phá, thông qua việc nghiên cứu tài liệu thứ cấp và tiến hành thảo luận nhóm với đối tượng là sinh viên tham gia nghiên cứu để khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến động lực nghiên cứu khoa học của sinh viên Đại học Công nghiệp Hà Nội.
Nghiên cứu định l ợng ƣ
Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng nhằm xem xét sự khác biệt về kết quả nghiên cứu khoa học của sinh viên dựa trên số lượng tham gia vào các dự án nghiên cứu, bao gồm cả nhóm sinh viên tham gia và nhóm không tham gia Đồng thời, nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng và lý do khiến sinh viên không tham gia nghiên cứu khoa học, cũng như mức thời gian dành cho hoạt động nghiên cứu ở những sinh viên tham gia.
Ph ơng pháp chọn mẫu: là ph ơng pháp chọn mẫu ngẫuƣ ƣ nhiên
Nhóm nhận thấy, sinh viên năm 3 sẽ có nhiều đánh giá nhất về các nhân tố ảnh hưởng đến động lực NCKH của sinh viên, tiếp đến là sinh viên năm 2 Bên cạnh đó, sinh viên năm nhất mới vào trường thường không biết đến NCKH.
Ph ơng pháp chọn mẫu, thu thập, xử lí ƣ dữ liệu
Quy trình thu thập thông tin
Bước 1: Xác định dữ liệu
Để nghiên cứu quyết định tham gia NCKH của sinh viên trường Đại học Công Nghiệp, cần thu thập dữ liệu về các nhân tố ảnh hưởng như động lực học tập, sự hỗ trợ từ giảng viên và cơ sở vật chất, nhận thức về lợi ích và rào cản tham gia, cùng với các yếu tố cá nhân như giới tính, năm học và chuyên ngành Dữ liệu cần ở hai dạng: giá trị định lượng (ví dụ mức độ ảnh hưởng, số giờ tham gia NCKH mỗi tuần, điểm học tập, kỳ vọng về sự nghiệp sau NCKH) và mô tả dữ liệu (thông tin mô tả như phân loại giới tính, nhóm ngành, trình độ) Các biến định lượng có thể đo bằng thang đo Likert hoặc thang đo mức độ, được phân tích để xác định yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến quyết định tham gia NCKH, trong khi dữ liệu mô tả được tóm tắt bằng tần suất và tỷ lệ Mục đích của dữ liệu này là hỗ trợ quản trị và giảng viên cải thiện môi trường nghiên cứu, tăng cường nguồn lực và cơ hội cho sinh viên tham gia NCKH.
Trong Bước 2, nhóm xác định nguồn thu thập dữ liệu nhằm bảo đảm lượng thông tin đầy đủ và số phiếu khảo sát đáp ứng yêu cầu phân tích Để thực hiện điều này, nhóm quyết định thiết kế và phát hành phiếu khảo sát thông qua Google Forms, giúp thu thập dữ liệu một cách hiệu quả, dễ quản lý và tổng hợp kết quả nhanh chóng.
Bước 3: Phương pháp thu thập dữ liệu
Thu thập dữ liệu bằng ph ơng pháp điều tra mẫu thông qua phiếu hỏi.ƣ
Bước 4: Thiết kế công cụ
Dùng công cụ google biểu mẫu.
Bước 5: Thử nghiệm công cụ
Thử nghiệm tính khả thi của công cụ được thực hiện trên hai đối tượng gồm người điều tra và người được điều tra nhằm đánh giá tính phù hợp, hiệu quả và khả năng ứng dụng của công cụ trong thực tế Đảm bảo đọc hiểu, làm theo hướng dẫn, trả lời và nhập dữ liệu một cách chính xác, đồng thời loại bỏ mơ hồ, truyền tải thông tin một cách rõ ràng và dễ lưu trữ dữ liệu Để tối ưu cho SEO, bài viết nên nhấn mạnh các từ khóa liên quan như tính khả thi của công cụ, đối tượng điều tra, thu thập và quản lý dữ liệu, độ tin cậy và tính nhất quán của câu trả lời.
Bước 6: Tiến hành thu thập dữ liệu
CHƯƠNG 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thống kê mô tả
a Thống kê về năm học của sinh viên
Hình 4:Biểu đồ tỉ lệ (%) các khóa của sinh viên
Biểu đồ cho thấy khảo sát được thực hiện chủ yếu với sinh viên năm ba, năm hai và một số sinh viên năm nhất, trong khi sinh viên năm tư bận học nên không thể tham gia ý kiến Thống kê về số lượng sinh viên biết đến NCKH cho thấy mức độ nhận thức và sự quan tâm của sinh viên đối với hoạt động Nghiên cứu Khoa học trong trường, từ đó có thể xác định nhóm sinh viên có tiềm năng tham gia NCKH và đề xuất các biện pháp phổ biến thông tin về NCKH tới các khóa năm hai và năm ba.
Hình 5: Biểu đồ thể hiện (%) số sinh viên biết đến NCKH
Khảo sát cho thấy số lượng sinh viên tham gia NCKH tương đối đông, với tỉ lệ tham gia lên tới 96,1% Nguyên nhân chính là sinh viên biết và tham gia NCKH chủ yếu qua các học phần, sự hướng dẫn của thầy cô và các trang web, cho thấy vai trò của giáo dục từ học phần và thông tin trực tuyến trong thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Thống kê cũng cho thấy nguồn thông tin tiếp cận NCKH của sinh viên đến từ kết hợp các kênh này, phản ánh sự đa dạng của các nguồn lực hỗ trợ để sinh viên có thể tiếp cận và tham gia NCKH một cách hiệu quả.
Hình 6: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ (%) lí do sinh viên biết đến NCKH
Kết quả cho thấy có 81,6% sinh viên biết về Nghiên cứu khoa học (NCKH) thông qua học phần liên quan; ngoài ra, 40,8% nhận biết qua các anh chị khóa trên, 60,5% qua thầy cô, 35,5% qua bạn bè, và 35,5% thông qua các trang web, mạng xã hội; còn lại 5,3% sinh viên chưa biết đến NCKH.
2 Các nhân tố ảnh h ởng đếnƣ NCKH
Bảng khảo sát đ a ra 5 mức độ để sinh viên đánh giá ƣ với:
Các nhân tố ảnh h ởng ƣ đến NCKH
Thống kê về nhận thức của sinh viên
Hình 7: Biểu đồ tỉ lệ nhận thức về lợi ích khi tham gia NCKH
Nhìn vào biểu đồ, ta nhận thấy lợi ích của nghiên cứu khoa học (NCKH) mang lại cho sinh viên bao gồm nâng cao kiến thức chuyên môn, rèn luyện kỹ năng mềm như giao tiếp và làm việc nhóm, xây dựng nhiều mối quan hệ với thầy cô và bạn học, được trải nghiệm thực tế và có cơ hội được vinh danh, khen thưởng Những lợi ích này được đa số sinh viên đồng ý ở hai mức độ là đồng ý và hoàn toàn đồng ý.
Hình 8: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ nhận thức của sinh viên về khó khăn khi tham gia
Nhìn vào biểu đồ, tham gia NCKH đang gặp nhiều khó khăn, nổi bật là khó khăn trong tiếp cận tài liệu nghiên cứu, khó khăn trong việc phân bổ thời gian cho NCKH và khó khăn khi làm việc nhóm Đa số sinh viên cho rằng mức độ khó ở mức trung bình và thể hiện sự đồng ý với nhận định này Những khó khăn này cho thấy cần có sự hỗ trợ về truy cập tài liệu, quản lý thời gian và kỹ năng làm việc nhóm để tăng cường sự tham gia của sinh viên vào nghiên cứu khoa học và đạt hiệu quả cao hơn.
2.2 Thống kê về môi trường học tập
Hình 9: Thống kê về cơ sở vật chất của nhà trường
Nhà trường tạo điều kiện tốt nhất cho sinh viên tham gia Nghiên cứu khoa học (NCKH) với không gian nghiên cứu thoải mái, thuận tiện cho sáng tạo và trao đổi ý tưởng Cơ sở vật chất của trường được trang bị đầy đủ các trang thiết bị hiện đại phục vụ NCKH, giúp sinh viên thực hiện thí nghiệm, phân tích dữ liệu và thử nghiệm ý tưởng một cách hiệu quả Thư viện của trường có nguồn tài liệu tham khảo về NCKH phong phú và cập nhật, hỗ trợ tra cứu tài liệu, bài báo khoa học và nguồn học liệu cho quá trình nghiên cứu Những yếu tố này hợp lại tạo môi trường học tập và nghiên cứu tối ưu, đáp ứng nhu cầu phát triển kỹ năng nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Hình 10: Thống kê về giảng viên
Đặc thù của nghiên cứu khoa học (NCKH) liên quan đến các lĩnh vực mang tính khoa học đòi hỏi sự chuyên môn sâu rộng và hiểu biết sâu sắc Vì vậy, nhu cầu về các yếu tố liên quan được sinh viên công nhận và cho rằng ở mức độ hợp lý là hoàn toàn đúng đắn, cho thấy sự đồng thuận về tính phù hợp của những yếu tố này với mục tiêu NCKH Việc đáp ứng yêu cầu về chuyên môn và kiến thức rộng không chỉ nâng cao chất lượng dự án mà còn phù hợp với kỳ vọng của sinh viên về quá trình học tập và nghiên cứu chuyên sâu.
Hình 11:Thống kê về kiến thức
Mức ảnh hưởng tích cực của các yếu tố định hướng đến quyết định tham gia NCKH của sinh viên liên quan đến sự am hiểu sâu rộng và kiến thức chuyên sâu Trong khi đó, quan điểm cho rằng chỉ có tích lũy cao mới tham gia NCKH lại được đa số sinh viên cho là ít ảnh hưởng Điều này hợp lý: để tham gia NCKH không chỉ cần điểm tích lũy cao mà còn cần nhiều kỹ năng mềm và nhiều yếu tố khác nữa.
2.3 Thống kê về năng lực sinh viên
Hình 12: Thống kê về kĩ năng của sinh viên
Để sinh viên tham gia Nghiên cứu khoa học (NCKH) hiệu quả, cần trang bị nhiều kỹ năng thiết yếu như thuyết trình trước đám đông và tư duy logic sắc bén Những kỹ năng này phù hợp với thống kê kiến thức được nêu ở trên, cho thấy mối liên hệ giữa việc chuẩn bị kỹ năng và thành công trong các dự án NCKH Việc rèn luyện kỹ năng thuyết trình và phân tích giúp sinh viên truyền đạt ý tưởng một cách rõ ràng, đồng thời đảm bảo dữ liệu và kết quả được trình bày thuyết phục trong các báo cáo và bài thuyết trình khoa học.
Hình 13: Thống kê về thái độ của sinh viên
Nhận thấy sinh viên chưa thực sự tham gia tích cực vào nghiên cứu khoa học (NCKH) Thực tế khảo sát cho thấy tỷ lệ sinh viên tham gia NCKH tại trường còn rất thấp, chiếm một phần rất nhỏ so với tổng số sinh viên toàn trường Do đó, trường cần có chiến lược nâng cao nhận thức, tạo điều kiện và động lực cho sinh viên tham gia NCKH để phát triển kỹ năng nghiên cứu và đóng góp vào cộng đồng học thuật.
2.4 Thống kê về sự quan tâm, khuyến khích từ phía nhà trường
Hình 14: Thống kê về sự quan tâm khuyến khích từ nhà trường
Trường đã thể hiện sự nhanh nhạy trong cập nhật và phổ biến thông tin về NCKH cho toàn thể giảng viên và sinh viên, đảm bảo thông tin được cập nhật kịp thời Nhà trường tổ chức nhiều chương trình ngoại khóa về NCKH nhằm kích thích niềm đam mê nghiên cứu và nâng cao năng lực cho sinh viên Bên cạnh đó, trường còn trao khen thưởng và cấp học bổng cho những sinh viên tham gia NCKH, ghi nhận thành tích và động viên phong trào nghiên cứu Những hoạt động này góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và phát triển văn hóa NCKH bền vững trong trường.
2.5 Thống kê ảnh hưởng Covid-19
Hình 15 thể hiện thống kê về ảnh hưởng của dịch Covid-19 lên ý định tham gia của sinh viên Đa số sinh viên cho biết dịch Covid-19 tác động khá lớn, khiến họ gặp khó khăn trong làm việc nhóm (teamwork), cản trở quá trình thu thập dữ liệu và đồng thời thúc đẩy khả năng thích nghi với môi trường học tập xung quanh.
2.6 Thống kê về ý định tham gia NCKH của sinh viên
Hình 16: Thống kê ý định tham gia NCKH của sinh viên
Nhận thấy sinh viên chưa thực sự muốn tham gia NCKH Khảo sát thực tế cho thấy tại các trường đại học, tỷ lệ sinh viên tham gia NCKH chỉ chiếm một phần rất nhỏ so với tổng số sinh viên của toàn trường.
Thống kê về năng lực sinh viên
Hình 12: Thống kê về kĩ năng của sinh viên
Để tham gia nghiên cứu khoa học (NCKH), sinh viên cần phát triển các kỹ năng căn bản như thuyết trình hiệu quả, tư duy logic sắc bén và khả năng phân tích dữ liệu Những kỹ năng này giúp sinh viên trình bày ý tưởng một cách rõ ràng, làm việc nhóm tốt và đóng góp tích cực vào các dự án nghiên cứu Điều này phù hợp với thống kê về kiến thức đã được nêu trên, cho thấy sự gắn kết giữa nhu cầu kỹ năng và mức độ chuẩn bị của sinh viên cho NCKH.
Hình 13: Thống kê về thái độ của sinh viên
Nhận thấy sinh viên chưa thực sự có động lực tham gia NCKH Thực tế khảo sát cho thấy tỷ lệ sinh viên tham gia NCKH trong trường chưa cao, chiếm một phần rất nhỏ so với tổng số sinh viên toàn trường Điều này đặt ra nhu cầu tăng cường các hoạt động khuyến khích và cơ hội tham gia NCKH để nâng cao mức độ tham gia của sinh viên.
Thống kê về sự quan tâm, khuyến khích từ phía nhà tr ờng ƣ
Hình 14: Thống kê về sự quan tâm khuyến khích từ nhà trường
Trường đã thực hiện tốt công tác cập nhật và phổ biến thông tin về NCKH một cách kịp thời và nhanh chóng; đồng thời tổ chức nhiều chương trình ngoại khóa về NCKH và trao thưởng, học bổng cho những sinh viên tham gia hoạt động nghiên cứu, nhằm khuyến khích sự tham gia và ghi nhận thành tích nghiên cứu của sinh viên.
2.5 Thống kê ảnh hưởng Covid-19
Hình 15 trình bày thống kê về ảnh hưởng của dịch Covid-19 đối với ý định tham gia của sinh viên Đa số sinh viên cho rằng dịch bệnh ảnh hưởng khá lớn đến ý định tham gia vì gây khó khăn cho công tác teamwork, cản trở việc thu thập dữ liệu và đồng thời thúc đẩy sinh viên thích nghi với môi trường học tập xung quanh.
2.6 Thống kê về ý định tham gia NCKH của sinh viên
Hình 16: Thống kê ý định tham gia NCKH của sinh viên
Nhận thấy sinh viên chưa thực sự muốn tham gia NCKH, điều này phản ánh thực tế khảo sát tại nhiều trường đại học Dữ liệu cho thấy tỷ lệ sinh viên tham gia NCKH vẫn ở mức rất thấp, chiếm một phần nhỏ so với tổng số sinh viên của trường Để tăng cường tham gia NCKH của sinh viên, cần đẩy mạnh các cơ hội nghiên cứu, hỗ trợ từ giảng viên và cơ chế khuyến khích, đồng thời nâng cao nhận thức về giá trị của NCKH trong môi trường đại học.
Thống kê về ý định tham gia NCKH của sinh viên
Hình 16: Thống kê ý định tham gia NCKH của sinh viên
Nhận thấy sinh viên chưa thực sự muốn tham gia NCKH (nghiên cứu khoa học) Điều này được thể hiện qua kết quả khảo sát tại các trường đại học cho thấy tỷ lệ sinh viên tham gia NCKH còn rất thấp, chiếm một phần rất nhỏ so với toàn trường.
CHƯƠNG 5 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
Đề xuất giải pháp
Từ đó, nhóm 12 đ a ra một số kiến nghị nhằm thúc đẩy sự tham gia NCKH của sinh viên ƣ Đại học Công nghiệp Hà Nội nh sau:ƣ
Thứ nhất: Cần tạo ra một môi trường NCKH lý tưởng cho sinh viên
Bằng cách rà soát, điều chỉnh và thiết kế ch ơng trình học phù hợp giúp gia tăng kiến thức ƣ NCKH cho sinh viên, giảm thời gian học tập trung trên lớp để sinh viên có nhiều thời gian hơn cho hoạt động NCKH Khơi dậy và thắp sáng ngọn lửa nhiệt huyết nghiên cứu trong tr ờng, lớp nhằm truyền động lực nghiên cứu mạnh mẽ khi th ờng xuyên tạo ra các cơ hội ƣ ƣ trao đổi, làm việc cùng các giáo s , nhà nghiên cứu đầu ngành, va chạm cơ hội đó Phòng ƣ Quản lý khoa học kết hợp với Đoàn tr ờng phát động phong trào thi đua NCKH trong sinh ƣ viên, xây dựng bầu không khí và truyền thống NCKH trong toàn tr ờng Khuyến khích việc ƣ thành lập câu lạc bộ NCKH trong nhà tr ờngƣ và tổ chức sinh hoạt th ờngƣ xuyên, trong đó các sinh viên sẽ có cơ hội tham gia cùng làm đề tài với các giảng viên trong nhà tr ờng Đầu ƣ t xây dựng hệ thống th viện cung cấp đầy đủ cho sinh viên nguồn kiến thức và cả hệ ƣ ƣ thống máy tính nối mạng để truy cập tìm những tài liệu cần thiết Khi làm bất cứ công trình nghiên cứu nào, sinh viên phải hiểu rõ lịch sử nghiên cứu vấn đề, đối t ợng và phạm vi ƣ nghiên cứu, ph ơngƣ pháp và ph ơngƣ tiện nghiên cứu hệ thống tài liệu tham khảo phong phú mà thƣ viện cung cấp, bao gồm cả tài liệu sách in và tài liệu điện tử, sẽ phần nào giúp giải quyết đ ợc những câu hỏiƣ đó.
Thứ hai: Cần thiết phải xây dựng động cơ tham gia NCKH của sinh viên
Để kích thích ham học hỏi, khám phá và sáng tạo ở sinh viên, cần tạo cơ hội cho sinh viên thể hiện khả năng của bản thân, bởi động cơ thể hiện mang lại cảm xúc tích cực trong nghiên cứu khoa học (NCKH); đồng thời ngăn chặn động cơ tham gia NCKH mang tính đối phó có thể ảnh hưởng đến nhân cách Về phía giảng viên, thông qua nội dung môn học và các phương pháp dạy học tích cực, cùng các hoạt động khoa học trong và ngoài trường, giảng viên có thể giúp sinh viên tiếp cận NCKH và ứng dụng công nghệ thông tin vào nghiên cứu; định hướng sinh viên nghiên cứu những đề tài mang tính liên ngành Về phía sinh viên, tham gia NCKH là một hình thức học tập nâng cao, mở mang kiến thức, tăng cường sáng tạo và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp; đồng thời không ngừng học tập, tự học, tự đặt vấn đề và tích cực tự nghiên cứu; cần xây dựng kế hoạch học tập và nghiên cứu cho bản thân.
Thứ ba: Nâng cao năng lực của sinh viên
Các giảng viên trực tiếp nâng cao năng lực cho sinh viên bằng cách giao các bài tập có tính chất nghiên cứu cho cá nhân và cho nhóm sinh viên; tổ chức cho sinh viên tự tìm đọc tài liệu và các công trình nghiên cứu trên các tạp chí khoa học uy tín trong và ngoài nước; trao đổi ở các diễn đàn chính thức và không chính thức; và tổ chức thi cuối môn bằng hình thức làm tiểu luận Sinh viên sẽ học được rất nhiều từ việc thực hiện các tiểu luận, học cách tìm, đọc và tổng kết tài liệu, xác định vấn đề, phương pháp thực hiện, làm việc nhóm, trình bày và bảo vệ, định hướng viết bài đăng tham dự hội thảo hoặc cao hơn là các tạp chí quốc tế và chuyển giao những giá trị nghiên cứu vào thực tiễn.
Thứ tư: Tăng cường sự quan tâm và khuyến khích của nhà Trường đối với hoạt động NCKH của sinh viên
Cơ sở vật chất và kinh phí cho hoạt động NCKH là những điều kiện thiết yếu cho việc nghiên cứu khoa học ngày nay và cần sự quan tâm của các cấp lãnh đạo trong trường Bên cạnh việc xây dựng một môi trường NCKH lý tưởng, nhà trường cần tăng kinh phí hỗ trợ cho sinh viên NCKH theo mức độ hoàn thành đề tài và ưu tiên các đề tài có tính ứng dụng cao, nhằm tạo động lực nghiên cứu cho sinh viên Về mặt thực tiễn, giải pháp này góp phần rất lớn vào việc khuyến khích sinh viên tham gia NCKH một cách tích cực Ngoài ra, giảng viên cần định hướng cho sinh viên NCKH, nêu các vấn đề cần nghiên cứu và khuyến khích sinh viên tìm hiểu, khám phá và tích cực hỗ trợ khi gặp khó khăn.
Thứ năm : Thay đổi nhận thức, cách tiếp cận mới cho sự phát triển trong bối cảnh dịch Covid 19
Sinh viên cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình trước bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước; thực tế mùa dịch cho thấy phương pháp học truyền thống thầy–trò và trường–lớp trực tiếp không thể đảm bảo học tập an toàn khi giãn cách xã hội, và khi mọi người đến cơ quan làm việc sẽ làm tăng rủi ro lây nhiễm Vì vậy, cả hệ thống giáo dục phải thích nghi với học và làm việc trực tuyến, dù ban đầu gặp khó khăn nhưng đã dần hình thành thói quen mới Trong đợt dịch này, nhà trường nên rà soát và tái cấu trúc công nghệ tổ chức, công nghệ dạy học và công nghệ vận hành để phù hợp với điều kiện mới, từ đó giúp sinh viên tiếp cận NCKH một cách dễ dàng và hiệu quả hơn.
Học trực tuyến chỉ mang lại hiệu quả thực sự khi mỗi sinh viên chăm chỉ trau dồi và rèn luyện kỹ năng tự học, kỹ năng được xem là nền tảng và là năng lực đầu tiên mỗi người học cần có trong thời đại số Kỹ năng tự học giúp người học tự xác định mục tiêu, lập kế hoạch học tập, tự đánh giá tiến độ và chủ động tìm kiếm nguồn tài nguyên phù hợp, từ đó khai thác hiệu quả các khóa học trực tuyến, bài giảng và bài tập thực hành Để phát huy tối đa lợi ích của học trực tuyến, sinh viên cần áp dụng các phương pháp tự học như lên lịch học rõ ràng, luyện tư duy phản biện, ghi chú có hệ thống và thực hành qua các dự án nhỏ Khi được trang bị kỹ năng tự học vững vàng, học trực tuyến mang lại sự linh hoạt, tính tự chủ và kết quả học tập bền vững, đồng thời đáp ứng yêu cầu của giáo dục hiện đại và thị trường lao động ngày nay.
Trong thời đại 4.0, “công dân học tập” tự học và tự tìm tòi NCKH trở nên thiết yếu, đặc biệt khi dịch bệnh kéo dài Để học online hiệu quả, mọi sinh viên cần thành thạo các chức năng cơ bản của điện thoại thông minh, máy tính và máy tính bảng để truy cập chương trình đúng tên và có thể tương tác với giáo viên hỗ trợ đề tài NCKH Cần tạo cảm giác thoải mái, chuẩn bị sẵn sàng mọi dụng cụ học tập và chọn cho mình một vị trí học tập phù hợp Nếu có thể, một không gian yên tĩnh, sáng sủa và thông thoáng sẽ là điều kiện tốt nhất để tiếp thu kiến thức.
Trong thời đại dịch, khi sinh viên dành nhiều thời gian học tập tại nhà, việc hình thành thói quen đọc sách mỗi ngày và duy trì các hoạt động học tập là nhu cầu tinh thần không thể thiếu Thay vì lướt mạng tìm tin nóng, hãy kiên trì theo đuổi các chương trình học phù hợp và tham khảo các đề tài NCKH có sẵn để nâng cao kiến thức Khi có thói quen học tập đều đặn, ta sẽ cảm thấy thiếu điều gì đó vào những ngày không được học, và thói quen ấy chính là liều thuốc bổ cho não bộ, giúp rèn luyện tư duy, sáng tạo và sự tự tin trong công việc cũng như cuộc sống Từ những gì đã học, ta có thể chia sẻ với người thân, bạn bè và đồng nghiệp, lan tỏa kiến thức và kinh nghiệm để góp phần phổ biến các biện pháp phòng, chống dịch hiệu quả hiện nay.
Thảo luận
Thành công
Đề tài nghiên cứu đã đạt một số thành công nhất định so với mục đích nghiên cứu đề
Nghiên cứu đã khái quát các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên trong thời kỳ dịch Covid-19 tại Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Các yếu tố chủ chốt được xác định gồm động lực cá nhân, nhận thức về lợi ích của nghiên cứu, sự hỗ trợ từ giảng viên và cơ hội thực hành, cũng như điều kiện về an toàn y tế và thời gian dành cho hoạt động nghiên cứu Kết quả cho thấy mức độ sẵn sàng tham gia, định hướng nghề nghiệp và trải nghiệm nghiên cứu tích cực có tác động đến quyết định tham gia Từ đó đề xuất các biện pháp tăng cường tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên trong bối cảnh đại dịch và đảm bảo an toàn khi nghiên cứu.
Thứ hai, nghiên cứu đã đưa ra một số giải pháp kịp thời nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của Covid-19 đến quyết định tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Những giải pháp này tập trung vào tăng cường hỗ trợ học tập và nghiên cứu từ xa, nâng cao an toàn sức khỏe tại trường và nơi thực hành, đồng thời cung cấp đầy đủ thông tin về cơ hội, nguồn tài trợ và diễn đàn trao đổi để sinh viên tự tin tham gia các hoạt động nghiên cứu trong bối cảnh đại dịch.
Hạn chế
Hạn chế dữ liệu thu thập được có thể ảnh hưởng đến độ đại diện tổng quát của mẫu khi chỉ có 73 phiếu có ý nghĩa Mô hình hiện tại chỉ giải thích được vấn đề nghiên cứu ở mức độ 96.05% Nguyên nhân có thể là kích thước mẫu còn nhỏ so với quy mô nghiên cứu, còn nhiều yếu tố chưa được đưa vào khảo sát và nhóm nghiên cứu còn mắc nhiều sai sót trong quá trình thực hiện nghiên cứu.
Giáo dục đại học Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, nhưng chất lượng sinh viên khi ra trường vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thực tiễn và của quá trình đổi mới kinh tế - xã hội Việc kết hợp giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học vẫn còn hạn chế, khiến sinh viên được trang bị chưa đầy đủ các kỹ năng và tri thức cần thiết cho cuộc sống và công việc Mặc dù số cán bộ có trình độ cao tập trung ở các trường đại học trên toàn quốc, nhưng số giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học còn rất khiêm tốn.
Lượng sinh viên tăng nhanh nhưng số giảng viên không tăng tương xứng dẫn đến mâu thuẫn giữa quy mô và chất lượng đào tạo Thực tiễn cho thấy sự thiếu quan tâm đúng mức đến hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên, hoặc định hướng chưa phù hợp, đã làm chất lượng giáo dục đại học Việt Nam thấp và không đáp ứng được yêu cầu về khoa học kỹ thuật và công nghệ cũng như nguồn nhân lực cho các lĩnh vực kinh tế - xã hội Vì vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, một đòi hỏi cấp thiết là đẩy mạnh hơn nữa hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên; cần có những giải pháp mới nhằm thúc đẩy hoạt động này ở các trường cao đẳng, đại học, để hệ thống giáo dục Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ và toàn diện.
Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội trong bối cảnh dịch Covid-19 là vô cùng quan trọng Hiểu rõ các yếu tố này giúp nhận diện động lực tham gia, từ đó khai thác tối đa tiềm năng của sinh viên và tăng số lượng cũng như chất lượng các đề tài nghiên cứu, đồng thời nâng cao hiệu quả của hoạt động NCKH trong mùa dịch Kết quả của nghiên cứu sẽ đề xuất các giải pháp thiết thực và kịp thời để hỗ trợ sinh viên, giảng viên và nhà trường trong việc phát triển hoạt động nghiên cứu và giáo dục.