ĐỀ CƯƠNG SÁNG KIẾN HINH NGHIỆM NGUYEN VAN SINH TRUONG PT CAP 2 3 DA KIA Lời nói đầu Lâu nay, nhiều người kể cả giáo viên dạy văn thường vẫn xem Ngữ văn là một môn học chỉ có tính công cụ Ở khía cạnh n[.]
Trang 1Lời nói đầu:
Lâu nay, nhiều người-kể cả giáo viên dạy văn-thường vẫn xem Ngữ văn là một môn học chỉ có tính công cụ Ở khía cạnh nào đó, quan niệm này chẳng có gì bàn cãi, song xét toàn cục, thì Ngữ văn trong phạm vi nhà trường không hoàn toàn
là một môn học công cụ
Bản thân rất tâm đắc ý kiến sau đây của giáo sư Đỗ Ngọc Thống: “Môn Ngữ
văn là một môn học tích hợp Tích hợp ngôn ngữ với văn tự(chữ viết), ngôn ngữ với bài văn(văn bản), ngôn ngữ với văn học, ngôn ngữ với văn hóa, ngôn ngữ nói với ngôn ngữ viết, ngôn ngữ và lời nói Tích hợp các phương diện ấy mới nâng cao năng lực ngôn ngữ và văn học cho học sinh Hai tính chất của ngữ văn: tính công
cụ và tính nhân văn Các tính chất khác: tính tổng hợp, tính thực tiễn, tính tri thức, tính thẩm mỹ, tính xã hội.”.(Hướng dẫn thực hiện chương trình SGK lớp 12-Môn Ngữ văn-NXB Giáo Dục-2008) Giáo sư Phan Trọng Luận cũng viết:”Nói Môn Văn là môn công cụ là chưa hiểu biết một cách đầy đủ về môn học”lưỡng tính”, đa năng dễ đưa đến những chao đảo cần kịp thời ngăn ngừa” (Sách đã dẫn-trang 82).
Tuy nhiên, điều đáng lo ngại hơn là tính công cụ trong “lưỡng tính” của
môn văn , đến nay vẫn còn nhiều đồng nghiệp ít quan tâm nghiên cứu Thuộc tính này của bộ môn lại xuất hiện trong hầu hết các tiết Làm văn Trong khi đó, những tài liệu có tính hàn lâm của các nhà khoa học thì thường thiếu hơi thở trường lớp, đôi khi thật khó ứng dụng.Còn trong thực tế, bản thân đã từng thấy đồng nghiệp của mình e dè khi phải thao giảng một tiết Làm văn Có người đi thi GV dạy giỏi, lúc bốc thăm đúng bài dạy Làm văn cứ nằng nặc xin được đổi!?!?
Ra thế! Dạy Làm văn khô-khó-khổ lắm thay! Thầy sợ dạy tất nhiên trò sợ
học Sự trì trệ này góp phần không nhỏ vào việc học sinh hiện nay chán học Văn Phải có giải pháp cụ thể Phải có sự chung tay của nhiều nhà nghiên cứu giảng dạy văn học, của tất cả GV đang đứng lớp dạy Ngữ văn
Đó cũng chính là mối băn khoăn của người viết đề tài này Nhưng lực bất tòng tâm nên chỉ có thể góp một tiếng nói, một ứng dụng hết sức cụ thể vế:
“PHƯƠNG PHÁP TÌM LUẬN ĐIỂM CHO MỘT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI”.
Hy vọng rằng, qua cách làm này của bản thân, quý Thầy cô giáo dạy Ngữ văn có thể tìm thấy những đồng cảm trong cả nhận thức lẫn thực tế giảng dạy của mình ngõ hầu cùng nhau đi đến mục tiêu giúp HS chúng ta yêu thích giờ học Ngữ văn hơn
Rất mong nhận được sự góp ý xây dựng của tất cả mọi người-nhất là của quý Thầy cô giáo dạy Ngữ văn./
Tác giả,
Nguyễn Văn Sinh
Trang 2PHƯƠNG PHÁP TÌM LUẬN ĐIỂM CHO MỘT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI.
A ĐẶT VẤN ĐỀ:
1) Lý do chọn đề tài:
Ngữ văn trong nhà trường vừa là nghệ thuật, vừa là môn học(lưỡng tính)
Không thể nhất bên trọng nhất bên khinh Tính nghệ thuật (nhân văn) của bộ môn
có đích đến là mở rộng tri thức, nâng cao tâm hồn và sự nhạy cảm thẩm mỹ cho
HS Nhưng vì là một môn học nên tính công cụ cũng cần được quan tâm thể hiện với đích đến là kỹ năng đọc hiểu, kỹ năng tạo lập văn bản (nói cũng như viết)
Tính nghệ thuật bộc lộ rõ trong những giờ đọc văn; còn tính công cụ thì thể hiện rất rõ qua những tiết Tiếng Việt-Làm văn Đối tượng Đọc văn là tác phẩm VH(đoạn trích) thường không cố định Tất cả mọi cải cách chương trình SGK môn Ngữ văn đều nhằm vào thay đổi cơ bản là các tác phẩm được đưa vào giảng dạy
Nó có tính lịch sự-cụ thể, tính thời sự rất rõ Còn nội dung giảng dạy TV-LV, nhất
là Làm văn gần như chẳng có gì đổi mới Có chăng chỉ là đổi mới về PP mà thôi
Vậy thì tại sao nội dung các bài dạy làm văn có tính ổn định cao nhưng vẫn
luôn bị cho là khô-khó-khổ? Ngược lại các tác phẩm đưa vào chương trình đọc-hiểu
cứ thay đổi xoành xoạh nhưng chẳng mấy ai kêu ca?
Trong thực tế GD hiện nay, phần lớn GV đều ngại dạy phân môn Làm văn bởi nó vừa khô vừa khó Trong lúc đó, mục tiêu cuối cùng của việc học văn là tạo lập được văn bản, tức là phải có được kỹ năng viết một bài văn theo đúng nội dung, thể loại yêu cầu
Cái sự “khô”, sự “khó” của việc dạy và học Làm văn, theo bản thân, xuất phát từ chỗ người viết(HS) đa phần lúng túng trong khi tìm luận điểm trình bày(tức
tìm không ra ý để viết) Việc hướng dẫn cụ thể cho HS cách tìm ý cũng gặp khó khăn đối với không ít GV bộ môn.
Bên cạnh đó, thực trạng chung HS chán học văn có nguyên nhân chủ quan từ
Đồng thời xuất phát từ mong muốn hưởng ứng thiết thực cuộc vận động xây
những tiết Làm văn, HS sẽ thiết tha hơn với môn học, thêm yêu trường, yêu lớp và tích cực, tự tin hơn trong việc bộc lộ chính kiến của mình một cách gãy gọn và khúc chiết
Có nhiều giải pháp nhằm khắc phục thực trạng đáng buồn cũng như tiến dần
chóng tìm được luận điểm (tìm ý) cho một đề văn là một giải pháp hữu hiệu
Do vậy, nghiên cứu, tìm tòi và rút tỉa từ trong thực tiễn giảng dạy Làm văn ở THPT trong 5 học kì qua, người viết đề tài này muốn nêu lên một hướng khả thi để
xác định các luận điểm cho một bài văn nghị luận XH
2) Phạm vi tìm hiểu và ứng dụng của đề tài:
Trang 3+ Công đoạn TÌM Ý trong tiết dạy phân môn Làm văn THPT (gồm các tiết
lí thuyết làm văn nghị luận XH ở Lớp 12-Ban cơ bản)
+ Bước đầu, thử áp dụng cho mỗi nội dung của các tiết dạy lí thuyết và
thực hành Làm văn 12 (NL về một TT, đạo lý; NL về một HT đời sống) 3 đề văn cụ thể (tức 4 tiết dạy cụ thể-tương ứng với 6 đề văn chọn lọc được lồng ghép thực
hành trong giờ dạy)
B NỘI DUNG:
I Cơ sở khoa học (lý luận) :
+ Dạy Làm văn là một hoạt động có tính khoa học – thực hành
+ Dù Ngữ văn không phải chỉ là một bộ môn công cụ, nhưng trước hết, nó là một bộ môn có tính chất công cụ khá rõ-nhất là ở phần Làm văn
Đề tài này chú trọng đến yếu tố khoa học, phương pháp cụ thể, có tính ứng dụng cao trong bước đầu tiên của quá trình làm văn : tìm luận điểm Còn
những nội dung khác, ở những công đoạn khác có liên quan của bài làm văn, người
viết không đề cập, bởi dung lượng hữu hạn của một SKKN
nhanh chóng các ý chính của một đề văn NLXH-đó chính là mục tiêu của đề tài này.
II Nội dung cụ thể:
1) Vị trí của bài văn NLXH trong chương trình Ngữ văn bậc Trung học nói chung :
a) Trong hệ thống các bài dạy lí thuyết làm văn theo PPCT của BGD :
b) Trong cấu trúc đề thi TN THPT hằng năm :
2) Phương pháp tìm luận điểm cho một bài văn NLXH:(Trọng tâm)
a) Đối với tiết Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý :
- Bài Lý thuyết :
+ Yêu cầu chung của kiểu bài :
+ PP cụ thể:Xây dựng hệ thống câu hỏi và câu trả lời
- Bài thực hành :
+ ĐỀ 1 : + ĐỀ 2 : + ĐỀ 3 : b) Đối với tiết Nghị luận về một hiện tượng đời sống :::
- Bài Lý thuyết :
+ Yêu cầu chung của kiểu bài : + PP cụ thể : Xây dựng hệ thống câu hỏi và câu trả lời
- Bài thực hành :
+ ĐỀ 1 : + ĐỀ 2 : + ĐỀ 3 : 3) Thực tiễn ứng dụng và hiệu quả:
a) Hầu hết những mẩu câu hỏi đều phải được GV biên soạn và hệ thống hóa
Trang 4b) Nội dung câu trả lời chính là luận điểm cần tìm Do đó, cần có kiến thức
về từ vựng, ngữ pháp và biết vận dụng để đặt những câu văn luận điểm với nội dung hàm súc, khái quát cao
c) Bản thân người viết đã liên tục sử dụng biện pháp này trong rất nhiều tiết dạy lí thuyết làm văn, qua nhiều năm học và với nhiều lớp học sinh khác nhau Tất
cả đều thành công , không có ngoại lệ.
4) Yêu cầu quan trọng để đảm bảo chắc chắn việc sử dụng câu hỏi để tìm luận điểm luôn đạt hiệu quả:
a) Cần xác định nội dung ý nghĩa khái quát của đề văn (Luận đề)
b) GV phải tự biên tập hệ thống câu hỏi ứng dụng sao cho phù hợp, linh hoạt với mỗi kiểu bài;
c) Câu hỏi đã đưa ra, nhất thiết phải được trả lời một cách cụ thể, gẫy gọn mới có thể trở thành luận điểm
C KẾT LUẬN:
1) Ý nghĩa của SKKN đối với việc giáo dục, dạy học:
+ Tránh được lỗi lạc đề, xa đề trong bài làm văn
+ Hình thành thói quen trong quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ ; lúc cần trình bày, diễn đạt chính kiến của cá nhân
+ Yêu thích làm văn, yêu bộ môn Ngữ văn
+ Tự tin trong cuộc sống-nhất là khi giao tiếp nơi đông người
* Trên tất cả là giúp các em làm tốt bài văn NLXH trong đề thi TNTHPT để có thể giành trọn 3 điểm
2) Những nhận định chung về việc áp dụng và khả năng vận dụng:
Yêu cầu GV bộ môn khi thiết kế bài dạy:
-> Trước hết phải tìm được mối liên hệ giữa kiểu bài dạy với nội dung một
số mẫu câu hỏi…
->Sau đó chọn câu hỏi phù hợp nhất để đưa vào phần tìm ý.
->Bước tiếp theo là trả lời các câu hỏi đã đặt ra
-> Cuối cùng, biên tập câu trả lời sao cho thật sát hợp và có tính khái quát cao rồi đặt nó làm luận điểm
3) Những ý kiến đề xuất để thực hiện, áp dụng:
thông dụng ; một số đề văn NLXH thường gặp…
dạy thiết thực, gần gũi và dễ thực hiện
giảng dạy Làm văn của giáo viên thông qua ý kiến phản hồi từ phía học sinh Những tiết thao giảng, dự thi GVG cấp trường phải có tiết bắt buộc đối với phân môn làm văn./
Trang 5ĐỀ CƯƠNG KHÁI QUÁT
KỂ CHUYỆN VÀO BÀI-MỘT BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ
CHO HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC NGỮ VĂN.
A ĐẶT VẤN ĐỀ:
I Lý do chọn đề tài:
1) Về lý luận:
2) Về thực tiễn:
II Phạm vi tìm hiểu và ứng dụng của đề tài:
B NỘI DUNG:
I Cơ sở khoa học (lý luận) :
II Nội dung cụ thể:
1) Vai trị của những phút đầu tiên trong một tiết học-thời điểm vào bài mới.
2) Kể chuyện để dẫn dắt vào bài học:(Trọng tâm)
3) Thực tiễn ứng dụng và hiệu quả:
4) Mấu chốt để đảm bảo chắc chắn việc kể chuyện sẽ cĩ hiệu quả gây hứng thú cho HS:
C KẾT LUẬN:
+Ý nghĩa của SKKN đối với việc giáo dục, dạy học
+ Những nhận định chung về việc áp dụng và khả năng vận dụng
+ Những ý kiến đề xuất để thực hiện, áp dụng
Trang 6