GCCN Việt Nam mang trong mình sứ mệnh xóa bỏ chế độ tư bảnchủ nghĩa, chế độ bóc lột, tự giải phóng, giải phóng nhân dân lao động và toàn thểngười dân ra khỏi sự áp bức bóc lột xây dựng t
GIAI CẤP CÔNG NHÂN VÀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA
Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của giai cấp công nhân
1.1.1.1 Khái niệm giai cấp công nhân:
Giai cấp công nhân được coi là con đẻ của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến và phương thức sản xuất hiện đại C.Mác và Ph.Ăngghen đã dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ giai cấp công nhân, như giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại, giai cấp công nhân đại công nghiệp; đồng thời các ông cũng dùng các thuật ngữ hẹp hơn để chỉ các loại công nhân trong các ngành sản xuất và ở những giai đoạn phát triển khác nhau của công nghiệp, như công nhân khoáng sản, công nhân công trường thủ công, công nhân công xưởng và công nhân nông nghiệp.
Dù được diễn đạt bằng nhiều thuật ngữ khác nhau, giai cấp công nhân được các nhà kinh điển xác định dựa trên hai phương diện cơ bản: phương diện kinh tế - xã hội, nơi phản ánh vai trò, sức lao động và ảnh hưởng của người lao động trong sản xuất và phân phối của cải; và phương diện chính trị - xã hội, thể hiện sự liên kết, vị thế và tác động của giai cấp này đối với quá trình hình thành quyền lực và tổ chức xã hội.
Về phương diện kinh tế - xã hội:
Giai cấp công nhân là chủ thể của nền sản xuất đại công nghiệp, trực tiếp hoặc gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất ngày càng hiện đại và xã hội hóa cao Những người lao động này làm việc bằng phương thức công nghiệp hiện đại với các đặc điểm nổi bật như sản xuất bằng máy móc, lao động có tính xã hội hóa, năng suất lao động cao và tạo dựng nền tảng của cải vật chất cho xã hội mới Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, công nhân công xưởng là bộ phận tiêu biểu của giai cấp công nhân hiện đại Mác và Engels mô tả quá trình phát triển của giai cấp công nhân như một quá trình liên tục hình thành và trưởng thành từ lực lượng sản xuất ngày càng xã hội hóa và chuyên môn hóa Những nhận định này cho thấy vai trò và đặc điểm nổi bật của giai cấp công nhân trong quá trình tái sản xuất và phát triển của nền kinh tế công nghiệp.
7 thủ công và trong nghề thủ công, người công nhân sử dụng công cụ của mình, còn trong công xưởng thì người công nhân phải phục vụ máy móc" 1
Về phương diện chính trị - xã hội:
Xét từ lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân là sản phẩm xã hội của quá trình này và tồn tại trong một xã hội có điều kiện sống dựa trên chế độ làm thuê Trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp vô sản là giai cấp của những người lao động hiện đại, vì mất các tư liệu sản xuất nên buộc phải bán sức lao động để sống.
C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ, đó là giai cấp của những người lao động không có sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội Họ phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị chủ tư bản bóc lột giá trị thặng dư Đối diện với nhà tư bản, công nhân là những người lao động tự do, với nghĩa là tự do bán sức lao động của mình để kiếm sống Lao động sống của công nhân là nguồn gốc của giá trị thặng dư và sự giàu có của giai cấp tư sản cũng chủ yếu nhờ vào việc bóc lột được ngày càng nhiều hơn giá trị thặng dư Chính điều này khiến cho giai cấp công nhân trở thành giai cấp đối kháng với giai cấp tư sản
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại; họ lao động bằng phương thức công nghiệp ngày càng hiện đại và gắn liền với quá trình sản xuất vật chất hiện đại, là đại biểu cho một phương thức sản xuất mang tính xã hội hóa ngày càng cao Họ là người làm thuê do không có tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động để sống và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; vì vậy lợi ích cơ bản của họ đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản Đó là giai cấp có sứ mệnh phủ định chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới.
1 Hội đồng xuất bản C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập (1994) C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Toàn tập Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tập 23, tr.605.
2 Hội đồng xuất bản C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập (1994) C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Toàn tập Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tập 4, tr.610.
3 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021) Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr.55.
1.1.1.2 Đặc điểm giai cấp công nhân
C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra quan niệm khoa học về giai cấp công nhân và làm sáng tỏ những đặc điểm quan trọng của nó với tư cách là một giai cấp cách mạng có sứ mệnh lịch sử thế giới Có thể khái quát những đặc điểm chủ yếu của giai cấp công nhân bao gồm: Đặc điểm nổi bật của giai cấp công nhận là lao động bằng phương thức công nghiệp với đặc trưng công cụ lao động là máy móc, tạo ra năng suất lao động cao, quá trình lao động mang tính chất xã hội hóa
Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp và là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất hiện đại; họ đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến và cho phương thức sản xuất tiên tiến, từ đó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội hiện đại.
Trong nền sản xuất đại công nghiệp và với các phương thức sản xuất tiên tiến, giai cấp công nhân đã được rèn luyện nên những phẩm chất đặc sắc như tính tổ chức, kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác và tâm lý lao động công nghiệp, tạo nên một giai cấp cách mạng có tinh thần cách mạng triệt để.
Những đặc điểm trên chính là những phẩm chất cần thiết để giai cấp công nhân có vai trò lãnh đạo cách mạng.
1.1.2 Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, sứ mệnh lịch sử tổng quát của giai cấp công nhân là thông qua chính đảng tiên phong, tổ chức và lãnh đạo của giai cấp công nhân cùng nhân dân lao động đấu tranh để xóa bỏ các chế độ bóc lột, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản và giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động khỏi mọi sự áp bức và bóc lột, từ đó xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh.
C Mác đã viết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy, - đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại” 5
4 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021) Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr.57.
5 Hội đồng xuất bản C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập (1994) C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Toàn tập Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tập 20, tr.393.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân thể hiện trên ba nội dung cơ bản: nội dung kinh tế, nơi biến đổi lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tác động tới đời sống vật chất của xã hội; nội dung chính trị - xã hội, ở đó công nhân tham gia vào xây dựng và cải thiện hệ thống chính trị, quyền lợi và công bằng xã hội; và nội dung văn hóa, tư tưởng, nơi hình thành và lan tỏa các giá trị, nhận thức và hệ tư tưởng thông qua giáo dục, phong trào và hoạt động của tổ chức công đoàn, đảng và các phong trào xã hội.
Nội dung kinh tế cho thấy giai cấp công nhân là đại biểu cho một quan hệ sản xuất mới, khi họ sản xuất ra của cải vật chất ngày càng nhiều để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người và xã hội Nhờ quá trình sản xuất này, giai cấp công nhân tạo tiền đề vật chất và kỹ thuật cho sự ra đời của một xã hội mới.
Giai cấp công nhân đại biểu cho lợi ích chung của xã hội và không có lợi ích riêng biệt với tư hữu, nên luôn phấn đấu cho lợi ích toàn xã hội Họ chỉ nhận thấy lợi ích chân chính khi thực hiện được lợi ích chung của cả xã hội, và để thực hiện sứ mệnh lịch sử về nội dung kinh tế, giai cấp công nhân giữ vai trò nòng cốt trong giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất nhằm tạo nền tảng cho quan hệ sản xuất mới và sự ra đời của xã hội chủ nghĩa.
Nội dung chính trị - xã hội:
Giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tiến hành cách mạng chính trị nhằm lật đổ quyền thống trị của giai cấp thống trị và xóa bỏ chế độ bóc lột, áp bức Thiết lập nhà nước kiểu mới mang bản chất công nhân, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhằm thực hiện quyền lực của nhân dân, quyền dân chủ và làm chủ xã hội của tuyệt đại đa số nhân dân lao động.
Giai cấp công nhân và việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân hiện nay
1.2.1 Giai cấp công nhân hiện nay
So với giai cấp công nhân truyền thống ở thế kỷ XIX, giai cấp công nhân hiện nay vừa có những điểm tương đồng về bản chất lao động và mục tiêu sống còn, vừa có những khác biệt đáng kể do sự biến đổi của điều kiện lịch sử Sự tiến bộ của công nghệ, toàn cầu hóa và thay đổi cơ cấu nghề nghiệp tạo nên hình thức tổ chức lao động mới, vai trò của công đoàn và biện pháp bảo đảm xã hội cũng có những biến đổi rõ rệt Mặc dù áp lực thị trường và giá sinh hoạt vẫn tồn tại, những thay đổi này cho thấy giai cấp công nhân hiện đại vừa kế thừa tinh thần đấu tranh của thế hệ trước vừa thích ứng với bối cảnh kinh tế số hóa và toàn cầu hóa.
Về những điểm tương đối ổn định so với thế kỷ XIX:
Giai cấp công nhân hiện nay vẫn là lực lượng sản xuất hàng đầu của xã hội hiện đại và là chủ thể của quá trình sản xuất công nghiệp mang tính xã hội hóa ngày càng cao Ở các nước phát triển, sự phát triển của giai cấp công nhân tỷ lệ thuận với tăng trưởng kinh tế; tuy nhiên, ở các nước tư bản chủ nghĩa với sở hữu tư nhân, tình trạng bóc lột vẫn tồn tại và xung đột lợi ích giữa tư bản và lao động vẫn là nguyên nhân sâu xa của đấu tranh giai cấp Phong trào công nhân và phong trào xã hội ở nhiều quốc gia tiếp tục đóng vai trò hàng đầu trong các cuộc đấu tranh vì hòa bình, hợp tác và phát triển, vì dân sinh, dân chủ và tiến bộ.
6 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021) Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr.64.
Với sự tương đồng giữa công nhân hiện đại và công nhân thế kỷ XIX, có thể khẳng định rằng lý luận về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn mang giá trị khoa học và cách mạng, có ý nghĩa thực tiễn to lớn Lý luận này tiếp tục chỉ đạo cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, phong trào công nhân và quần chúng lao động hiện nay, chống chủ nghĩa tư bản và lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa trong sự phát triển của thế giới ngày nay. -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.
Những biến đổi và khác biệt của giai cấp công nhân hiện đại:
Thứ nhất , xu hướng “trí tuệ hóa” tăng nhanh:
Liên kết với cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại và sự phát triển của kinh tế tri thức, công nhân hiện đại đang chịu ảnh hưởng của xu hướng trí tuệ hóa Trí tuệ hóa và trí thức hóa công nhân là hai mặt của cùng một quá trình, phản ánh xu hướng nâng cao trình độ trí tuệ của lực lượng lao động và của giai cấp công nhân trong nền kinh tế tri thức Đã xuất hiện nhiều khái niệm mới để chỉ công nhân theo hướng này, như “công nhân tri thức” và “công nhân trí thức”.
Trong bối cảnh lao động hiện đại, công nhân áo trắng cho thấy hao phí lao động chủ yếu là hao phí về trí lực chứ không còn thuần túy là hao phí sức lực cơ bắp Cùng với sự gia tăng của nhu cầu vật chất, nhu cầu về tinh thần và văn hóa tinh thần của công nhân ngày càng phong phú, đa dạng và đòi hỏi chất lượng hưởng thụ tinh thần cao hơn.
Thứ hai , xu hướng “trung lưu hóa” gia tăng:
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chủ nghĩa tư bản đã điều chỉnh phương thức quản lý và các công cụ cân bằng mâu thuẫn xã hội để duy trì tăng trưởng và ổn định xã hội Một bộ phận công nhân đã tham gia sở hữu một phần tư liệu sản xuất của xã hội thông qua chế độ cổ phần hóa, mở ra cơ hội tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất và thay đổi cấu trúc sở hữu trong nền kinh tế.
Về mặt hình thức, họ không còn là “vô sản” nữa và có thể được “trung lưu hóa” về mức sống, nhưng về thực chất, ở các nước tư bản, do không chiếm được tỷ lệ sở hữu cao nên quá trình sản xuất và phân chia lợi nhuận vẫn bị phụ thuộc vào những cổ đông lớn Việc làm và lao động vẫn là nhân tố quyết định mức thu nhập, đời sống của công nhân hiện đại Quyền định đoạt quá trình sản xuất, quyền quyết định cơ chế phân phối lợi nhuận vẫn thuộc về giai cấp tư sản
Giai cấp công nhân vẫn bị bóc lột nặng nề bởi các chủ thể mới trong toàn cầu hóa như các tập đoàn xuyên quốc gia, nhà nước của các nước tư bản phát triển
Đảng Cộng sản đóng vai trò là giai cấp lãnh đạo, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, và nắm quyền cầm quyền trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một số quốc gia theo hệ thống xã hội chủ nghĩa.
Kể từ khi ra đời nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên – Nhà nước Xôviết – giai cấp công nhân và đội tiền phong của mình đảm nhận vai trò lãnh đạo, giành quyền lực và xây dựng hệ thống nhà nước xã hội chủ nghĩa ở các quốc gia đi lên chủ nghĩa xã hội, từ Liên Xô và Đông Âu trước đây đến các nước xã hội chủ nghĩa ngày nay Trong khi đó, công nhân hiện đại cũng gia tăng về số lượng và trải qua những biến đổi lớn về cấu trúc trong nền sản xuất hiện đại Cơ cấu xã hội, cơ cấu nghề nghiệp và cơ cấu thu nhập giữa các bộ phận công nhân có sự khác biệt đáng kể ở phạm vi toàn cầu và ở từng quốc gia.
1.2.2 Thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trên thế giới hiện nay
Giai cấp công nhân, với vai trò chủ đạo trong quá trình sản xuất áp dụng công nghệ hiện đại, đã nâng cao năng suất và chất lượng, đồng thời đảm bảo phát triển bền vững và làm lộ rõ sứ mệnh lịch sử của công nhân đối với sự phát triển xã hội Trong bối cảnh thế giới ngày nay, sự tiến bộ của sản xuất dưới sự tham gia trực tiếp của giai cấp công nhân và các lực lượng lao động - dịch vụ trình độ cao trở thành nhân tố kinh tế-xã hội thúc đẩy sự chín muồi của tiền đề chủ nghĩa xã hội ngay trong lòng chủ nghĩa tư bản Điều này tạo điều kiện để phát huy vai trò chủ thể của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh vì dân sinh, dân chủ, tiến bộ xã hội và chủ nghĩa xã hội.
Ở mỗi quốc gia và trên phạm vi toàn cầu, mâu thuẫn lợi ích căn bản giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản ngày càng sâu sắc Toàn cầu hóa vẫn mang tính chất tư bản chủ nghĩa, đồng thời những bất công và bất bình đẳng xã hội thúc đẩy cuộc đấu tranh chống chế độ bóc lột giá trị thặng dư trên phạm vi thế giới Người lao động phấn đấu xác lập một trật tự xã hội mới công bằng và bình đẳng, đồng thời từng bước thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong nền kinh tế - xã hội.
Ở các nước tư bản chủ nghĩa, mục tiêu đấu tranh trực tiếp của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chống bất công và bất bình đẳng xã hội, còn mục tiêu dài hạn là giành quyền lực chính trị về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, khi Đảng Cộng sản giữ vai trò đảng cầm quyền, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới, giải quyết hiệu quả các nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; đặc biệt là xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Nội dung văn hóa, tư tưởng:
Thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng ngày nay là cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản Khi hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tan rã và phong trào cách mạng thế giới trải qua những thoái trào, niềm tin vào lý tưởng xã hội chủ nghĩa cũng đứng trước thử thách, làm cho cuộc đấu tranh tư tưởng giữa hai hệ tư tưởng trở nên gay gắt hơn Tuy vậy, các giá trị khoa học và tính cách mạng vốn có của giai cấp công nhân và của chủ nghĩa xã hội vẫn mang ý nghĩa chỉ đạo, định hướng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản và trong lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa.
Những giá trị như lao động, sáng tạo, công bằng, dân chủ, bình đẳng và tự do vẫn là nền tảng được nhân loại thừa nhận và tiếp tục phấn đấu thực hiện Ở nhiều nước tư bản chủ nghĩa, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã mang lại nhiều tiến bộ xã hội trọng yếu Nhiệm vụ hiện tại là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản, nâng cao nhận thức và củng cố niềm tin khoa học đối với lý tưởng và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động Song song đó, giáo dục và thực hiện chủ nghĩa quốc tế chân chính của giai cấp công nhân trên cơ sở phát huy tinh thần yêu nước và bản sắc dân tộc, coi đó là nội dung sứ mệnh lịch sử của văn hóa tư tưởng.
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC XÂY DỰNG GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
Khái niệm, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam
2.1.1 Khái niệm giai cấp công nhân Việt Nam
Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn và đang phát triển, đóng vai trò là động lực chính của nền kinh tế giữa các loại hình sản xuất, kinh doanh và dịch vụ Theo Nghị quyết 20-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng, giai cấp này bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp.
2.1.2 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân nước ta Theo Nghị quyết Trung ương 6 khóa X (2008) về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, giai cấp công nhân Việt Nam có sứ mệnh to lớn: lãnh đạo cách mạng thông qua vai trò tiền phong của Đảng; đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; là lực lượng tiên phong trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và nòng cốt trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; đồng thời là lực lượng chủ lực trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Nghị quyết 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhằm hình thành đội ngũ công nhân có trình độ cao, tay nghề vững vàng và gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp Nội dung của nghị quyết tập trung đổi mới hệ thống giáo dục nghề nghiệp, nâng cao chất lượng đào tạo và cơ hội học nghề, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ để nâng cao năng suất lao động và chuyển dịch lực lượng lao động sang các ngành công nghiệp trọng yếu và công nghệ cao Nghị quyết cũng nhấn mạnh vai trò của nhà nước, doanh nghiệp và người lao động trong quá trình tái cấu trúc kinh tế, củng cố tổ chức công đoàn, cải thiện điều kiện làm việc và phúc lợi xã hội để bảo đảm quyền lợi người lao động Mục tiêu cuối cùng là phát triển kinh tế - xã hội bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước và thúc đẩy sự gắn kết giữa đào tạo với nhu cầu thực tiễn trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0.
8 Nghị quyết 20-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng https://luatvietnam vn/chinh sach/nghi quyet 20 nq tw xay dung giai cap cong nhan
0 0 https://luatvietnam.vn/chinh-sach/nghi-quyet-20-nq-tw-xay-dung-giai-cap-cong-nhan- vn-thoi-ky-day-manh-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-204583-d1.html
Tính tất yếu khách quan và tác dụng của thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
2.2.1 Khái niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Ngày 30 tháng 7 năm 1994, Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương khóa VII đã ra Nghị quyết số 07-NQ/HNTW về phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới, trong đó chỉ rõ “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”.
2.2.2 Tính tất yếu thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và nhanh chóng, mọi quốc gia phát triển đều phải đẩy nhanh chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức Vì thế, công nghiệp hóa và hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức là con đường tất yếu mà Việt Nam đang hướng tới để nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng trưởng bền vững Mỗi kỳ Đại hội Đảng đều nêu bật các chủ trương, đường lối và chính sách thiết thực nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi kinh tế tri thức ngày càng đóng vai trò nền tảng.
Lý do Việt Nam phải thực hiện CNH, HĐH bao gồm:
Trong khuôn khổ lý luận, mỗi phương thức sản xuất yêu cầu một cơ sở vật chất kỹ thuật tương ứng; Việt Nam đang ở giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, do đó phải tích cực tiến hành CNH-HĐH để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội CNH-HĐH là quy luật phổ biến của sự phát triển lực lượng sản xuất của mọi quốc gia, dù nước đó phát triển sớm hay đi sau Vì thế Việt Nam cần đẩy mạnh CNH-HĐH nhằm nâng cao năng lực sản xuất, hiện đại hóa công nghiệp và hạ tầng, từ đó thúc đẩy sự nghiệp xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Việt Nam đang quá độ từ một nước nông nghiệp lên chủ nghĩa xã hội, đối mặt với trình độ phát triển khoa học-kỹ thuật và lực lượng sản xuất còn thấp; để khắc phục các nguyên nhân này, nhà nước tập trung đẩy mạnh CNH-HĐH Quá trình CNH-HĐH làm tăng sức mạnh của khối liên minh công–nông–tri thức và đồng thời nâng cao vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Tiềm lực an ninh, quốc phòng được củng cố, mở ra những điều kiện vật chất và tinh thần để xây dựng nền văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa Vì vậy, thực hiện CNH-HĐH có ý nghĩa quyết định cho thắng lợi của sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta.
CNH-HĐH là quá trình thiết yếu nhằm phát triển lực lượng sản xuất, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực trong và ngoài nước để gia tăng độc lập, tự chủ cho nền kinh tế Quá trình này đồng thời thúc đẩy sự liên kết và hợp tác giữa các ngành, vùng miền trong nước, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế và tham gia hiệu quả vào quá trình phân công lao động và hợp tác kinh tế toàn cầu.
2.2.3 Tác dụng của thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
Công nghiệp hóa và hiện đại hóa là giai đoạn phát triển tất yếu mà mọi quốc gia đều trải qua để nâng cao trình độ kinh tế và đời sống nhân dân Nước ta từ một nền kinh tế nông nghiệp còn nhiều thách thức cần chuyển đổi mạnh mẽ sang công nghiệp và dịch vụ nhằm đạt được mức tăng trưởng cao và bền vững Thực hiện tốt công nghiệp hóa, hiện đại hóa mang ý nghĩa đặc biệt và tác động sâu rộng trên nhiều mặt: cải thiện cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới công nghệ và thu hút vốn đầu tư Qua đó, Việt Nam tăng cường cạnh tranh, mở rộng hội nhập và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng như hạ tầng kinh tế-xã hội Những chuyển biến này góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện của đất nước và nâng cao mức sống của người dân.
Công nghiệp hóa và hiện đại hóa là động lực chủ yếu để phát triển lực lượng sản xuất và tăng năng suất lao động, từ đó tăng cường khả năng con người chế ngự tự nhiên và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nhờ đó, đời sống nhân dân được ổn định và nâng cao, đồng thời góp phần quyết định sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội Bản chất của công nghiệp hóa và hiện đại hóa là một cuộc cách mạng về lực lượng sản xuất, làm thay đổi căn bản kỹ thuật và công nghệ sản xuất, từ đó làm tăng năng suất lao động.
Xây dựng nền tảng vật chất vững chắc và củng cố vai trò kinh tế nhà nước, nâng cao năng lực tích lũy và tạo nhiều cơ hội việc làm để thúc đẩy sự phát triển tự do và toàn diện trong mọi hoạt động kinh tế của con người – nhân tố trung tâm của nền sản xuất xã hội; để đào tạo những người phát triển toàn diện, cần một nền kinh tế phát triển cao, một nền khoa học kỹ thuật hiện đại, một nền văn hóa tiên tiến và một nền giáo dục phát triển; nhờ sự phát triển toàn diện, con người sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất ngày càng phát triển; để đạt được điều đó, cần thực hiện tốc độ công nghiệp hóa và hiện đại hóa, đồng thời quan tâm đầy đủ đến sự phát triển tự do và toàn diện của nhân tố con người.
Công nghiệp hóa và hiện đại hóa là động lực then chốt cho phát triển kinh tế - xã hội; khi kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện vật chất bảo đảm củng cố an ninh quốc phòng và khả năng chống thù trong giặc ngoài Quá trình này cũng tác động trực tiếp đến việc đảm bảo kỹ thuật, bảo quản và dần cải tiến vũ khí, trang thiết bị hiện có của lực lượng vũ trang.
Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đẩy nhanh quy mô thị trường và mở rộng các kênh kinh tế như thị trường hàng hóa, thị trường vốn, thị trường lao động và thị trường công nghệ Bên cạnh đó, sự gia tăng hoạt động tín dụng và sự phát triển của ngân hàng cùng các dịch vụ tài chính khác làm tăng khả năng huy động vốn, đầu tư và thanh toán trong sản xuất, kinh doanh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng tạo ra nguồn lực vật chất cần thiết để xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ và có khả năng tham gia hiệu quả vào sự phân công và hợp tác quốc tế.
2.3 Thực trạng và giải pháp tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đạt được Nguyên nhân
Hạn chế Nguyên nhân hạn chế
Giải pháp khắc phục GCCN tăng về số lượng, đa dạng về cơ cấu ngành nghề
HĐH đã thay đổi cơ cấu ngành nghề
Tiếp tục phát triển theo hướng CNH-HĐH ngày càng hài hoà
Thu nhập của phần lớn GCCN còn thấp
Phần lớn còn lao động đơn giản, chưa có cơ quan xác định mức sống tối thiểu
Xác định mức sống tối thiểu cho GCCN từ đó điều chỉnh mức lương tối thiểu phù hợp
GCCN ngày càng trẻ hoá, trình độ từng bước được nâng lên
Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện để
GCCN phát triển toàn diện
Tích cực hội nhập quốc tế chuyển giao công nghệ, tăng cường đào tạo GCCN
Quan hệ lao động không tốt ở một số doanh nghiệp khiến môi trường làm việc trở nên bất ổn và ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất Đãi ngộ từ các doanh nghiệp chưa tương xứng với công sức và đóng góp của người lao động, làm suy giảm sự hài lòng và tăng rủi ro nghỉ việc Vấn đề nợ tiền lương xảy ra thường xuyên, gây tác động nghiêm trọng đến đời sống và niềm tin của người lao động Để khắc phục, cần ban hành và thực thi các chính sách lao động hiệu quả, đồng thời phổ biến rộng rãi các luật lao động để GCCN nắm bắt rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình.
GCCN năng động sáng tạo, đi đầu trong quá trình
Chính sách, đường lối đúng đắn của Đảng trong việc xây dựng
Tiếp tục phát huy vai trò của GCCN trong quá trình CNH-HĐH
Phần lớn GCCN lao động giản đơn, thiếu GGCN chất lượng cao
Thiếu các chính sách giữ chân nhân tài, nhiều nhân tài có xu hướng dư học và làm việc ở nước ngoài
Tăng cường đạo tạo và các chính sách ưu đãi dành cho nguồn nhân lực chất lượng cao
2.3.1 Thực trạng xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thời gian qua
2.3.1.1 Những mặt đạt được và nguyên nhân a Những mặt đạt được
Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH nước ta, quá trình xây dựng GCCN Việt Nam đạt được nhiều thành tựu.
Một là GCCN nước ta tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu và ngành nghề
Hiện nay tổng số công nhân, người lao động trên toàn quốc khoảng 16 triệu người, có mặt ở tất cả các thành phần kinh tế và ở mọi ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và dịch vụ Lực lượng lao động nước ta đang trẻ hóa, với trên 60% người lao động dưới 30 tuổi, và tỷ lệ này còn cao hơn ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê năm 2020, tổng số công nhân Việt Nam chiếm khoảng 13% dân số và khoảng 24% lực lượng lao động xã hội, gồm cả công nhân làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong nước, người lao động đang làm việc theo hợp đồng ở nước ngoài, và số lao động giản đơn tại các cơ quan Đảng, Nhà nước và đoàn thể.
Hai là, giai cấp công nhân nước ta đang được trẻ hóa, trình độ học vấn, chuyên môn nghề nghiệp từng bước được nâng lên
Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, trình độ học vấn của công nhân, người lao động nước ta không ngừng được nâng cao Công nhân, người lao động là lực lượng có khả năng sáng tạo trong sản xuất và đời sống xã hội, thích ứng nhanh với sự thay đổi của cơ cấu kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật, từ đó đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, cải thiện chất lượng cuộc sống và nâng cao vị thế của lực lượng lao động trong xã hội.