Chênh lệch về lợi ích của quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động với người lao động làm thuê vốn có nay càng khắc họa rõ nét hơn… Nhằm nâng cao quyền tự chủ, tự quyết cho doanh ngh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÀI TẬP LỚN MÔN PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐẠI CƯƠNG
ĐỀ TÀI: NHẬN DIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG THEO BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019
HỌC KỲ 221, NĂM HỌC 2022 – 2023
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Lê Mộng Thơ
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 10 NĂM 2022
Trang 2THỰC HIỆN ĐỀ TÀI CỦA TỪNG THÀNH VIÊN NHÓM 7
ST
T
1 Trần Thị Tố Hảo 2113305 Phần Mở đầu ( Lí do & Nhiệm vụ), 1.2, 1.3
2
3
4
5
6
NHÓM TRƯỞNG (ghi rõ họ tên, ký tên)
(Thông tin liên hệ của nhóm trưởng: SĐT, EMAIL)
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG THEO BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019 3
1.1 Đặc điểm hợp đồng lao động 3
1.1.1 Phân loại hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019 3
1.1.2 Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động 3
1.1.3 Chủ thể giao kết hợp đồng lao động 5
1.1.4 Hình thức của hợp đồng lao động 5
1.2 Ý nghĩa của hợp đồng lao động 6
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lao động là hoạt động quan trọng nhất trong đời sống của con người Lao động tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần để thỏa mãn cho nhu cầu bản thân và xã hội, hoạt động gắn liền với sự hình thành và phát triển của loài người Từ đó hợp đồng xuất hiện nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa người sử dụng lao động, người lao động, tổ chức, cá nhân có liên quan đến quan hệ sử dụng lao động Hợp đồng lao động là công cụ pháp lý quan trọng để xác lập mối quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động Hợp đồng lao động được quy định tại điều 13 của Bộ luật Lao động năm 2019 được Quốc hội khóa 14 thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2019 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2021
Khi xã hội đã đạt đến mức độ phát triển nhất định thì sự phân hóa, phân công lao động
xã hội diễn ra như một tất yếu và ngày càng sâu sắc Sự phát triển của nền kinh tế thị trường
và xu hướng hội nhập kinh tế đó tạo nên sự phong phú, đa dạng trong quan hệ lao động, cũng như nảy sinh ra vấn đề phức tạp Chênh lệch về lợi ích của quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động với người lao động làm thuê vốn có nay càng khắc họa rõ nét hơn… Nhằm nâng cao quyền tự chủ, tự quyết cho doanh nghiệp, Nhà nước cho phép các doanh nghiệp quyền tuyển dụng lao động theo nhu cầu sản xuất kinh doanh, trong đó hình thức tuyển dụng lao động thông qua hợp đồng lao động hiện nay trở thành hình thức phổ biến, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội hiện nay
Xuất phát từ những yêu cầu, đòi hỏi thực tế của hợp đồng lao động, vậy nên nhóm em thực hiện nghiên cứu đề tài “Nhận diện hợp đồng lao động theo bộ luật lao động năm 2019” cho Bài tập lớn trong chương trình học môn Pháp luật Việt Nam Đại cương
Trang 52 Nhiệm vụ của đề tài
Một là, làm rõ lý luận về chế định hợp đồng lao động theo pháp luật lao động Việt
Nam Trong đó, nhóm em cứu những vấn đề về khái niệm; đối tượng và phạm vi điều chỉnh của hợp đồng lao động; các loại hợp đồng lao động theo quy định pháp luật hiện hành
Hai là, từ lý luận về hợp đồng lao động từ đó nhóm em tập trung là sáng tỏ đặc trưng
của hợp đồng lao động để nhận diện trong thực tế
Ba là, nghiên cứu thực tiễn xét xử của Toà án về hợp đồng lao động để nhận thấy
những bất cập giữa quy định của pháp luật và thực tiễn xét xử
Bốn là, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế định hợp đồng lao động.
Trang 6PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG THEO BỘ
LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019 1.1 Hợp đồng lao động và dấu hiệu nhận diện hợp đồng lao động
1.1.1 Khái niệm hợp đồng lao động
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), hợp đồng lao động được hiểu là: “Thoả thuận ràng buộc pháp lí giữa một người sử dụng lao động và một công nhân trong đó xác lập các điều kiện và chế độ làm việc"
Theo Điều 15, Bộ luật Lao động năm 2012:
Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động
Những ưu, nhược điểm của khái niệm hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2012:
Ưu điểm: Định nghĩa này đã nêu được các yếu tố cơ bản nhất của hợp đồng lao động,
đó là về bản chất hợp đồng lao động là sự thương lượng, thoả thuận, giao ước của các bên, chủ thể của hợp đồng lao động là người lao động và người sử dụng lao động, nội dung hợp đồng lao động là việc làm có trả công, tiền lương điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động
Nhược điểm: Việc xác định một họp đồng là hợp đồng lao động phụ thuộc vào cả tên gọi và nội dung của hợp đồng Khiến cho người sử dụng lao động lách luật, “biến tướng” hợp đồng lao động dưới các hình thức hợp đồng khác, gây ảnh hưởng tới quyền lợi của người lao động Đồng thời cũng chưa phù hợp với quan điểm của Tổ chức Lao động quốc tế
và pháp luật các nước về hợp đồng lao động và dấu hiệu nhận diện quan hệ hợp đồng lao động được thể hiện trong Khuyến nghị 198
Theo Điều 13, Bộ luật Lao động năm 2019
Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động
Trang 7Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động
Phân tích khái niệm:
“Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động
về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động” Khái niệm hợp đồng lao động theo Bộ luật lao động 2019 về cơ bản vẫn giữ nguyên định nghĩa của Bộ luật lao động 2012 nhưng đã thay “trả lương” thành
“trả công, tiền lương” và “điều kiện làm việc” thành “điều kiện lao động” Định nghĩa này
đã nêu đầy đủ các yêu tố cơ bản của một hợp đồng và khiến cho khái niệm này phù hợp hơn với yêu cầu của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)
Đặc biệt Bộ luật lao động năm 2019 còn quy định: “Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản
lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động” Điều đó có nghĩa việc xác định một họp đồng là hợp đồng lao động không quá phụ thuộc vào tên gọi của hợp đồng mà phụ thuộc vào nội dung của nó Nếu nội dung thoả thuận của các bên trong hợp đồng có các điều khoản của hợp đồng lao động (các dấu hiệu của hợp đồng lao động) thì vẫn xác định đó là hợp đồng lao động
1.1.2 Các yếu tố để nhận diện hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019
Trình bày và phân tích các yếu tố nhận diện hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019:
Hình thức của hợp đồng: Theo Điều 14, Bộ luật Lao động 2019, hình thức của hợp đồng lao động được quy định như sau:
1 Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này
Hợp đồng lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp
dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản
Trang 82 Hai bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn dưới
01 tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18, điểm a khoản 1 Điều 145 và khoản 1 Điều 162 của Bộ luật này
Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: Theo Điều 15, Bộ luật Lao động 2019, nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động được quy định như sau:
1 Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực
2 Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội
Hợp đồng lao động thực chất là hợp đồng mua bán sức lao động Người cung cấp sức lao động ở đây là Người lao động và người có nhu cầu sử dụng sức lao động là Người sử dụng sức lao động
Tuy nhiên, đây là hợp đồng mua bán đặc biệt bởi sức lao động - đối tượng mua bán của hợp đồng là một loại “hàng hoá” đặc biệt Không giống như các loại “hàng hoá” thông thường
có thể nhìn thấy, sờ thấy, cầm được; sức lao động là “hàng hoá” mà chúng ta không thể nhìn thấy, không thể cầm được và nó lại chỉ có thể có được thông qua quá trình lao động của Người lao động Thông qua quá trình lao động, Người lao động chuyển giao hàng hoá sức lao động cho Người sử dụng sức lao động và trên cơ sở đó Người sử dụng sức lao động trả công cho Người lao động Quá trình lao động đó được thể hiện thông qua việc Người lao động thực hiện một công việc nhất định (đó chính là việc làm)
Việc làm là đối tượng quan trọng của hợp đồng lao động và là một trong những dấu hiệu quan trọng để nhận diện hợp đồng đó có phải là hợp đồng lao động hay không, người ta thường xem hợp đồng đó có “yếu tố việc làm” hay không Bởi vậy, thông thường chỉ khi nào trong hợp đồng đó có “yếu tố việc làm” thì hợp đồng đó mới được xác định là hợp đồng lao động
Theo Khuyến nghị số 198 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), có rất nhiều dấu hiệu để việc làm được coi là yếu tố nhận diện hợp đồng lao động Có hai nhóm dấu hiệu chính, đó là thực tế công việc và việc đình kì trả lương Yếu tố về công việc được nhận biết như công việc đó được thực hiện dưới sự chỉ dẫn và dưới sự kiểm soát của phía bên kia; công việc có
sự tương tác với công việc của Người lao động khác, công việc tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định và có tính liên tục; công việc cần sự cung cấp công cụ nguyên liệu và
Trang 9máy móc làm việc bởi bên yêu cầu công việc Còn việc định kì trả lương cho Người lao động thể hiện ở khía cạnh tiền công là nguồn gốc thu nhập duy nhất hoặc nguồn gốc thu nhập chủ yếu của Người lao động, ghi nhận sự cho phép nghỉ hàng tuần, nghỉ hàng năm hoặc không có sự rủi ro tài chính cho Người lao động
Đặc trưng của hợp đồng lao động:
Trong hợp đồng lao động có sự phụ thuộc pháp lí của Người lao động với Người sử dụng lao động
Đối tượng của hợp đồng lao động là việc làm có trả lương
Hợp đồng lao động do đích danh Người lao động thực hiện
Trong hợp đồng lao động sự thỏa thuận của các bên thường bị khống chế bởi những giới hạn pháp lí nhất định
Hợp đồng lao động được thực hiện liên tục trong thời gian nhất định hay vô hạn định
1.2 Đặc điểm hợp đồng lao động
1.2.1 Phân loại hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019
Theo quy định Bộ luật Lao động năm 2019, hợp đồng lao động được chia thành 2 loại: hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng lao động xác định thời hạn
Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không
xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng
Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời
hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong thời gian không quá 36 tháng kể từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng
Bộ luật Lao động 2019 đã bỏ quy định về hợp đồng mùa vụ, quy định này được đánh giá là tiến bộ lớn của pháp luật lao động nhằm bảo vệ người lao động, hạn chế tình trạng người sử dụng lao động "lách luật", không đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động bằng cách ký các loại hợp đồng mùa vụ, dịch vụ…
1.2.2 Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động
Một là, tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực.
Trang 10Tự nguyện là sự thỏa thuận của người sử dụng lao động và người lao động, không bên
nào ép buộc bên nào giao kết hợp đồng lao động sự tự nguyện chính là biểu hiện của yếu tố
“tự do” của các chủ thể phù hợp với pháp luật Nguyên tắc này cũng là một trong những cơ
sở quan trọng ràng buộc trách nhiệm của các bên trong việc thực hiện hợp đồng lao động và giải quyết những vấn đề phát sinh có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của các bên
Bình đẳng là nguyên tắc khẳng định vị thế ngang nhau của người sử dụng lao động và
người lao động khi giao kết hợp đồng lao động Thực hiện nguyên tắc này giúp phòng tránh việc người sử dụng lao động lợi dụng “sức mạnh” và vị thế của mình để áp đặt đối với người lao động khi giao kết hợp đồng lao động Tuy nhiên, bình đẳng giữa hai bên khi giao kết hợp đồng lao động chỉ là sự bình đẳng tương đối, bởi dù sao người lao động chỉ đứng ở
vị trí của người đi làm thuê, ngay cả trong giai đoạn giao kết hợp đồng lao động Việc tôn trọng, thực hiện nguyên tắc bình đẳng không ảnh hưởng đến quyền quyết định của người sử dụng trong việc tuyển dụng hay không tuyển dụng người lao động vào làm việc
Thiện chí, hợp tác và trung thực chính là điều quyết định việc người sử dụng lao động
và người lao động xích lại với nhau, cùng nhau đồng thuận để thiết lập và duy trì quan hệ lao động bằng cách giao kết và thực hiện hợp đồng lao động Thiện chí biểu hiện cách đối
xử tốt đẹp, chân thành với nhau; hợp tác là thể hiện sự phối hợp cùng nhau trong thỏa thuận, bàn bạc giải quyết vấn đề; và trung thực thể hiện sự tin tưởng và thái độ tích cực Khi không
có thiện chí và không muốn hợp tác thì sẽ không có việc giao kết hợp đồng lao động Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, nếu các bên không còn thiện chí và không muốn tiếp tục hợp tác cũng là lúc quan hệ lao động sẽ đi vào chỗ bế tắc và đổ vỡ
Chính vì thế, khi giao kết hợp đồng cần tuân theo nguyên tắc này Đây là nguyên tắc đảm bảo quyền tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc của công dân Nguyên tắc tự do, tự nguyện biểu hiện về mặt chủ quan của hai bên tham gia giao kết hợp đồng lao động, có nghĩa rằng khi tham gia giao kết hợp đồng lao động các chủ thể hoàn toàn tự do về mặt ý chí và tự nguyện về mặt lý trí, theo đó, mọi hành vi cưỡng bực, lừa dối… đều dẫn đến hợp đồng bị vô hiệu
Hai là, tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước
lao động tập thể và đạo đức xã hội
Tự do giao kết hợp đồng là quyền tự do giao kết hợp đồng là quyền mà chủ thể tham
gia ký kết hợp đồng được tự do lựa chọn đối tác giao kết hợp đồng; tự do lựa chọn đối
Trang 11tượng hợp đồng; tự do thỏa thuận các nội dung hợp đồng hay tự do quyết định mình sẽ bị ràng buộc bởi những nghĩa vụ như thế nào
Nhưng sự tự do ở đây là có giới hạn Giới hạn đó là chính là chuẩn mực tối thiểu về quyền, tối đa về nghĩa vụ của người lao động được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, là những điều cấm của pháp luật vì lợi ích của chính các bên và lợi ích chung của xã, những chuẩn mực về đạo đức xã hội
Giao kết hợp đồng lao động là giai đoạn đầu tiên thể hiện sự hợp tác của các bên để đi đến sự thống nhất ý chí nhằm xác lập quan hệ lao động Quá trình xác lập hợp đồng lao động cũng là quá trình để các bên tìm hiểu, đánh giá về nhau một cách trực tiếp từ đó lựa chọn và ra quyết định chính thức Do vậy, khi giao kết hợp đồng cần tuân theo nguyên tắc này
1.2.3 Chủ thể giao kết hợp đồng lao động
Chủ thể của hợp đồng lao động là người lao động và người sử dụng lao động khi giao kết hợp đồng lao động
Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được
trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động Độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi, trừ trường hợp quy định tại Mục 1 Chương
XI của Bộ luật lao động 2019
Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá
nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận; trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
1.2.4 Hình thức của hợp đồng lao động
Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản
2 Điều 14 Bộ luật lao động 2019 Hợp đồng có hiệu lực tại thời điểm bên sau cùng kí vào văn bản hợp đồng
Ưu điểm của hình thức này là văn bản chính là chứng cứ rõ ràng và xác thực nhất về
việc tồn tại một quan hệ lao động giữa các bên Các bên đều biết chính xác họ đã thỏa thuận những điều gì, quyền và nghĩa vụ cụ thể của họ như thế nào, khi có thắc mắc về bất cứ vấn
đề nào có thể kiểm tra trong hợp đồng Khi có tranh chấp xảy ra, hợp đồng được giao kết