1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài 1 đại CƯƠNG về QUẢN TRỊ học bài 3 môi TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG của tổ CHỨC sơ đồ tổ chức của trường đại học công nghệ TP HCM (HUTECH)

20 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Môi Trường Hoạt Động Của Tổ Chức
Người hướng dẫn Prof. Đoàn Văn Diện
Trường học Trường Đại Học Công Nghệ TP.HCM
Chuyên ngành Quản Trị, Quản Trị Học
Thể loại Bài tập cá nhân
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 633,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 2: cho biết sự khác biệt giữa công việc quản trị ở một doanh nghiệp và một tổ chức phi lợi nhuận Bài 3: MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC Câu 1: Hãy nêu các kỹ năng cần thiết đối với

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM



BÀI TẬP CÁ NHÂN

Giảng viên hướng dẫn: Prof Đoàn Văn Diện Sinh viên thực hiện: Trần Duy Hoàng

MSSV: 2288500243

Lớp: 22DLQC2

Nhóm: Sun team

TP.HỒ CHÍ MINH,2022

QUẢN TRỊ HỌC

Trang 2

MỤC LỤC



Lời cảm ơn ………1 Mục lục ……… 2 Bài 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ QUẢN TRỊ HỌC

Câu 1: khoa học quản trị và nghệ thuật quản trị, loại nào cần cho nhà quản trị hơn ?

Câu 2: cho biết sự khác biệt giữa công việc quản trị ở một doanh nghiệp và một tổ chức phi lợi nhuận

Bài 3: MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC

Câu 1: Hãy nêu các kỹ năng cần thiết đối với nhà quản trị? Mức độ đòi hỏi

về từng loại kĩ năng này đối với các nhà quản trị ở cấp bậc khác nhau như thế nào? Và kỹ năng này có giúp ích gì cho nhà quản trị điều hành công

việc?

Câu 2: Hãy phân tích chu kỳ đời sống SP cho việc hoạch định chiến lược ? (vẽ hình minh hoạ)

CÂU HỎI NÂNG CAO

Câu 1: sơ đồ tổ chức của trường Đại Học Công Nghệ TP.HCM (HUTECH) Câu 2: 10 sứ mệnh và 10 tầm nhìn của 10 trường đại học ở Việt Nam.

Câu 3: Bảng nghiên cứu thị trường sữa Vinamik

Bảng nghiên cứu thị trường tập đoàn hoà phát

Câu 4: Tìm quỷ

Trang 3

Bài 1

Đại cương về quản trị học

 Câu 1: : khoa học quản trị và nghệ thuật quản trị, loại nào cần cho nhà

quản trị hơn ?

“ Quản trị là một quá trình do một hay nhiều người thực hiện, nhằm phối hợp các hoạt động của những người khác để đạt được những kết quả mà một người hành động riêng

lẽ không thể nào đạt được “

-James H.D, James L.Gibson & John

M.I- Tính khoa học quản trị:

Quản trị là một hoạt động mang tính khoa học Khoa học quản -

trị là bộ phận tri thức được tích luỹ qua nhiều năm, thừa hưởng kết quả từ nhiều ngành khoa học khác như: kinh tế học, xã hội học, tâm

lý học, toán học… Khoa học quản trị cung cấp cho nhà quản trị tư duy hệ thống trước các vấn đề phát sinh, các phương pháp khoa học, các công cụ để giải quyết vấn đề… Tính khoa học của quản trị thể hiện ở các yêu cầu sau đây:

- Quản trị phải đảm bảo phù hợp với sự vận động của các quy

luật khách quan Điều đó, đòi hỏi việc quản trị phải dựa trên sự hiểu biết sâu sắc các quy luật chung và riêng của tự nhiên và xã hội Trên

cơ sở am hiểu các quy luật khách quan mà vận dụng tốt nhất các

thành tựu khoa học Trước hết là triết học, kinh tế học, tâm lý học,

xã hội học, toán học, tin học, điều khiển học, công nghệ học … cùng với những kinh nghiệm trong thực tế vào thực hành quản trị

- Quản trị cần sử dụng các phương pháp, kỹ thuật quản trị Đó là những cách thức và phương pháp thực hiện các công việc như: kỹ

thuật thiết lập chiến lược, kỹ thuật thiết kế cơ cấu tổ chức, kỹ thuật kiểm tra…

Quản trị phải đảm bảo phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi tổ chức trong từng giai đoạn cụ thể Điều đó, đòi hỏi các nhà quản trị vừa kiên trì các nguyên tắc vừa phải vận dụng một cách linh hoạt các phương pháp, hình thức và các kỹ năng quản trị phù hợp cho từng điều kiện hoàn cảnh nhất định

Trang 4

- Như vậy, khoa học quản trị cho ta hiểu biết về các nguyên tắc, quy luật, phương pháp, kỹ thuật quản trị để trên cơ sở đó biết cách giải quyết các vấn đề quản trị Tuy nhiên, việc vận dụng khoa học quản trị vào thực tiễn đòi hỏi phải tính đến một số yếu tố khác trong từng hoàn cảnh cụ thể, hay quản trị còn đòi hỏi tính nghệ thuật

 Tính nghệ thuật của quản trị:

- Nghệ thuật quản trị chính là những kỹ năng, kỹ xảo, bí quyết,

“mưu mẹo” và “biết làm thế nào” để đạt được mục tiêu mong muốn với hiệu quả cao Nếu khoa học là sự hiểu biết kiến thức có hệ

thống, thì nghệ thuật là sự tinh lọc kiến thức để vận dụng cho phù hợp trong từng lĩnh vực, trong từng tình huống Vì thế nghệ thuật quản trị luôn gắn với các tình huống, các trường hợp cụ thể Nghệ thuật quản trị thường được biểu hiện trong một số lĩnh vực như:

- Nghệ thuật sử dụng người: Nói về thuật dùng người, Khổng Tử

đã có dạy: “Dụng nhân như dụng mộc” Mỗi con người đều có những

ưu, nhược điểm khác nhau, nếu biết sử dụng thì người nào cũng đều

có ích, họ sẽ cống hiến nhiều nhất cho tổ chức, cho xã hội, cho cộng đồng mà họ đang sinh sống Điều đó, đòi hỏi nhà quản trị phải am hiểu đặc điểm tâm lý của từng người, nên sử dụng họ vào việc gì, ở đâu là phù hợp nhất Có như vậy, mỗi cá nhân mới có điều kiện, cơ hội phát huy hết khả năng của mình, cống hiến nhiều nhất cho tập thể

- Nghệ thuật giáo dục con người: Để giáo dục con người, thông thường người ta sử dụng các hình thức: khen, chê, thuyết phục, tự phê bình và phê bình, khen thưởng và kỷ luật… Với ai, nên áp dụng hình thức nào, biện pháp gì, mức độ cao hay thấp, và được tiến hành

ở đâu, khi nào đều là những vấn đề mang tính nghệ thuật Cùng một vấn đề nhưng mỗi đối tượng khác nhau có khi phải giải quyết khác Nếu áp dụng không phù hợp chẳng những không giúp cho con người phát triển theo chiều hướng tích cực mà trái lại sẽ làm tăng thêm tính tiêu cực trong tư tưởng lẫn hành vi của họ

- Nghệ thuật ứng xử: Được thể hiện trong quá trình giao tiếp Sự lựa chọn lời nói, cách nói và thái độ phù hợp với người nghe là nghệ thuật ứng xử trong giao tiếp Ca dao Việt Nam có câu: “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” đó là tư tưởng cơ bản của thuật lựa lời trong giao tiếp Cách nói thẳng, nói gợi ý, nói triết lý,… là những cách nói cần lựa chọn cho phù hợp với từng trình độ, tâm lý của người nghe Thái độ tôn trọng, thành ý, khiêm tốn, hoà nhã,… là nghệ thuật giao tiếp không thể thiếu trong quá trình giao tiếp

-Ngoài ra, nghệ thuật quản trị còn biểu hiện ở nghệ thuật tạo thời cơ, nghệ thuật sử dụng các đòn bẩy trong quản lý, nghệ thuật ra quyết định…

Trang 5

 Từ mối liên hệ giữa khoa học và nghệ thuật quản trị, cái gì đối với người lãnh đạo là quan trọng: khoa học hay nghệ thuật quản trị?

- Muốn sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao, người lãnh đạo phải có kiến thức, phải nắm vững khoa học quản trị Nhưng nghệ thuật quản trị cũng không kém phần quan trọng vì thực tiễn muôn hình muôn vẻ, tình huống, hoàn cảnh luôn luôn thay đổi và không bao giờ lặp lại Một nhà quản trị nổi tiếng nói rằng: “Một vị tướng thì không cần biết kỹ thuật điều khiển tên lửa như thế nào, kỹ thuật lái máy bay ra sao và làm thế nào để xe tăng vượt qua được chướng ngại vật Nhưng đã làm tướng thì phải biết khi nào thì phải dùng pháo và loại pháo cỡ nào sẽ mang lại hiệu quả mong muốn Khi nào thì dùng máy bay, khi nào cần phải dùng xe tăng hạng nặng Sự phối hợp chúng như thế nào và có thể mang lại những hiệu quả gì? Phải làm gì để có thể sử dụng tốt nhất các loại vũ khí đó? Người làm tướng phải nắm chắc những kiến thức các loại này và phải luôn luôn sáng tạo Trong lĩnh vực quản trị kinh tế cũng vậy”

- Chúng ta có thể hiểu như sau: Khoa học là sự hiểu biết kiến thức có hệ thống, còn nghệ thuật là sự tinh lọc kiến thức Nghệ thuật quản trị trước hết là tài nghệ của nhà quản trị trong việc giải quyết những nhiệm vụ đề ra một cách khéo léo và có hiệu quả nhất Ở đây muốn nói đến tài năng của quản trị gia, năng lực tổ chức, kinh

nghiệm giúp họ giải quyết sáng tạo xuất sắc nhiệm vụ được giao

- Trên phương diện lý thuyết cũng như thực tế người ta nghiên cứu nghệ thuật quản trị không chỉ từ những kinh nghiệm thành công

mà còn cả những kinh nghiệm thất bại

- Một quản trị gia nổi tiếng nói: “Việc nghiên cứu những thất bại còn quan trọng hơn là việc nghiên cứu những thành công, bởi vì thành công có thể sẽ được lặp lại hay không lặp lại, còn thất bại sai lầm thì nhất thiết không được để cho lặp lại”

Câu 2: Cho biết sự khác biệt giữa công việc quản trị ở

một doanh nghiệp và một tổ chức phi lợi nhuận ?

 Doanh nghiệp là gì ?

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tài sản và tên riêng, có

trụ sở giao dịch ổn định, được cấp giấy đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên trị trường (Theo mục 7 điều 1 chương 1 luật doanh nghiệp 2014)

Quá trình kinh doanh thực hiện một cách liên tục, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích để sinh lợi Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù

Trang 6

thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận

Phân loại doanh nghiệp :

Theo bản chất kinh tế của của chủ sở hữu chúng ta sẽ có 3 loại hình

doanh nghiệp là :

1 Doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn (Corporation)

2 Doanh nghiệp hợp danh (Partnership).

3 Doanh nghiệp tư nhân (Proprietorship)

Căn cứ vào hình thức pháp lý doanh nghiệp :

Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu

hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty

 Tổ chức phi lợi nhuận là gì ?

-Tổ chức phi lợi nhuận là tổ chức không có chủ sở hữu hoặc sở hữu tư nhân; hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, giáo dục, từ thiện hoặc các mục đích phục vụ cộng đồng; không mang mục tiêu chính là lợi nhuận; và sử dụng lợi nhuận thu được chủ yếu

để duy trì, cải thiện và mở rộng hoạt động của tổ chức Danh mục các tổ chức phi lợi nhuận thật vô cùng đa dạng

- Quản trị ở tổ chức phi lợi nhuận- sự khác biệt với quản trị doanh nghiệp

- Tổ chức phi lợi nhuận thường hướng tới hoạt động xã hội

Đó có thể là các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể, nghề nghiệp, các

tổ chức từ thiện, các tổ chức tôn giáo, các trường học, bệnh viện tư, v.v Ngày nay, các tổ chức phi lợi nhuận nhưng lại phi chính phủ đang phát triển hết sức mạnh mẽ tạo nên khu vực thứ ba (khu vực xã hội, khu vực phi lợi nhuận, xã hội dân sự), bên cạnh khu vực nhà nước và khu vực tư nhân

- Các tổ chức này hoạt động dựa trên nguyên tắc tự nguyện, tự quản lý, vì lợi ích công cộng, không phân phối lợi nhuận Hoạt động của các tổ chức thuộc khu vực thứ ba được tài trợ chủ yếu bằng các khoản phí và hiển tặng tình nguyện chứ không phải bằng tiền thuế Chúng độc lập và được quản lý bởi các ban lãnh đạo tình nguyện riêng của mình

- Theo mục tiêu cơ bản, các tổ chức được phân ra thành tổ chức

vì lợi nhuận và tổ chức phi lợi nhuận

- Tổ chức vì lợi nhuận là tổ chức tồn tại chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận Yêu tố được quan tâm nhất ở các tổ chức này là bao nhiêu lợi nhuận được tạo ra từ các khoản đầu tư và lợi ích của các chủ sở hữu

Trang 7

được thỏa mãn như thế nào Đó chính là các doanh nghiệp, các hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể

 Sự khác biệt về quản trị ở tổ chức phi lợi nhuận với doanh nghiệp

Về chức năng lập dự toán kinh doanh

Việc lập dự toán sản xuất được lập dựa trên mục tiêu thông tin mà nhà quản trị muốn sử dụng Họ có thể lập dự toán trên nhiều chỉ tiêu khác nhau như hệ thống chỉ tiêu dự toán ngân sách, kinh doanh được xây dựng cho từng quá trình

Cụ thể là quá trình mua hàng, quá trình sản xuất, quá trình tiêu thụ sản phẩm của hoạt động sản xuất kinh doanh ,của doanh nghiệp và chi tiết cho từng nội dung: vốn bằng tiền, hàng tồn kho, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động

Đồng thời, họ cũng tự lập các dự toán hoạt động, dự trù nguồn ngân sách cũng như cách thức quản lý hoạt động dự án để đảm bảo mục tiêu mà dự án mang lại

Chức năng cung cấp thông tin thực hiện

Doanh nghiệp sẽ căn cứ vào đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý

để đổ chức tập hợp chi tiết theo từng trung tâm phát sinh chi phí Từ

đó có thể phân loại, đánh giá, kiểm soát chi phí theo từng trung tâ phát sinh hay từng quá trình hoạt động, phạm vi chuyên môn cũng như cấp bậc quản trị

Chức năng cung cấp thông tin ra quyết định

Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp luôn phải đối tiện với nhiều quyết định ngắn hạn và dài hạn khác nhau Với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên doanh nghiệp luôn phải cân nhắc giữa chi phí bỏ ra với lợi nhuận thu được, dựa trên các cách thức quản lý và thu thập thông tin, các doanh nghiệp sẽ sử dụng để đưa ra quyết định

Trang 8

Bài 3

Chức năng hoạch định

 Câu 1: : Hãy nêu các kỹ năng cần thiết đối với

nhà quản trị? Mức độ đòi hỏi về từng loại kĩ năng này đối với các nhà quản trị ở cấp bậc khác nhau như thế nào? Và kỹ năng này có giúp ích gì cho nhà quản trị điều hành công việc?

1 Các kỹ năng cần thiết đối với nhà quản trị:

Để hoàn thành nhiệm vụ phức tạp khó khăn của mình, nhà quản trị cần phải có một số kỹ năng cần thiết Theo Robert L Katz, 3 loại kỹ năng mà mỗi nhà quản trị cần phải có gom:

1.1 kỹ năng kỹ thuật (technical skills) hay kỹ năng chuyên môn

nghiệp vụ:

Là những khả năng cần thiết để thực hiện một công việc chuyên môn

cụ thể, nói cách khác là trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhà quản trị Kỹ năng kỹ thuật bao hãm sự hiểu biết và sự thành thạo về một loại hình hoạt động đặc biệt, nhất là loại hình hoạt động có liên quan đến các phương pháp, các chu trình, các thủ tục hay các kỹ thuật Nhà quân trị có được những chuyên môn đó qua đào tạo ở các trường hay qua hồi dưỡng ở đơn vị Đây là kỹ năng rất cần cho quan trị viên cấp cơ sở hơn là cho cấp quan trị viên trung gian hoặc cao cấp

Ví dụ: Những kỹ năng kỹ thuật của nhạc sĩ, nhân viên kế toán hay kỹ sư Kỹ năng kỹ thuật dòi hỏi kiến thức chuyên môn, khả năng phân tích trong chuyên môn đỏ và sự thành thạo, dễ dàng trong việc sử dụng các công cụ và kỹ thuật của chuyên ngành đặc biệt đó

Kỹ năng kỹ thuật có lẽ là cái quen thuộc nhất bởi vì nó cụ thể nhất,

số người đòi hỏi là đông nhất Hầu hết các chương trình hướng nghiệp và đào tạo vừa học vừa làm chủ yếu quan + tâm đến việc phát triển kỹ năng kỹ thuật chuyên môn này

1.2 Kỹ năng nhân sự (human skills):

Là những kiến thức liên quan đến khả năng cùng làm việc, động viên

và điều khiển nhân sự Kỹ năng nhân sự là tài năng đặc biệt của nhà quản trị trong việc quan hệ với những người khác nhằm tạo sự thuận lợi và thúc đẩy sự hoàn thành công việc chung Một vài kỹ năng nhân sự cần thiết cho bất cứ quản trị viên nào là biết cách thông đạt

Trang 9

hữu hiệu, có thái độ quan tâm tích cực đến người khác, xây dựng không khi hợp tác trong lao động biết cách tác động và hướng dẫn nhân sự trong tổ chức để hoàn thành các công việc

Kỹ năng nhân sự đối với mọi cấp quản trị viên đều cần thiết như nhau trong bất kỳ tổ chức nào, đủ là phạm vi kinh doanh hoặc phi kinh doanh

Kỹ năng nhân sự thể hiện qua:

- Nhận thức được những thái độ, giả thiết và niềm tin của chính mình đối với các cả nhân khác hay đổi với các nhóm, họ có khả năng thấy được tính hữu ích và những hạn chế của các cảm giác này Bằng cách chấp nhận sự tồn tại của những quan điểm, những nhận thức và những niềm tin khác với những quan điểm, nhận thức và niềm tin của chính mình, họ có kỹ năng hiểu được cái mà những người khác thực sự muốn nói qua từ ngữ và hành vĩ của họ

-Thông qua hành vi của mình, truyền đạt cho những người khác điều

mà họ muốn nói đến, trong những ngữ cảnh của những người kia một cách thành thạo Người như vậy thường cố gắng tạo ra một bầu không khi tán thành và đảm bảo, trong đó những người dưới quyền cảm thấy tự do trong việc tự biểu lộ bản thân mà không sợ bị khiển trách hoặc chế nhạo, bằng cách khuyến khích họ tham gia vào việc lập kế hoạch và tiên hành những công việc có ảnh hưởng trực tiếp đến họ

1.3 Kỹ năng tư duy (conceptual skills):

Là cái khó hình thành và khó nhất, nhưng nó lại có vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là đối với các nhà quản trị cao cấp Họ cần có tư duy chiến lược tốt để đề ra đúng đường lối chính sách đối phó có hiệu quả với những bất trắc, đe dọa, kìm hãm sự phát triển đối với tổ chức Nhà quản trị cần phải có phương pháp tổng hợp tư duy hệ thống, biết phân tích mối liên hệ giữa các bộ phận, các vấn đề biết cách làm giảm những sự phức tạp rắc rối xuống một mức độ có thể chấp nhận được trong một tổ chức

-Kỹ năng tư duy bao gồm khả năng bao quát doanh nghiệp như một tổng thể Khả năng này bao gồm việc thừa nhận các tổ chức khác nhau của tổ chức phụ thuộc lẫn nhau như thế nào, và những thay đổi trong một bộ phận bất kỳ ảnh hưởng đến tất cả những bộ phận khác như thế nào Khả năng này cũng mở rộng đến việc hình dung được mỗi quan hệ giữa một cá thể doanh nghiệp với tất cả ngành công nghiệp, với ca cộng đồng, và các lực lượng chính trị, xã hội và kinh

Trang 10

tế trên cả nước với tư cách là một tổng thể Thừa nhận những mối quan hệ này và nhận thức được những yếu tố nổi bật trong bất kỳ tình huống nào, người quán trị khi đó sẽ có thể hành động theo cách nào nâng cao được phúc lợi tổng thể của toàn bộ tổ chức

-Vì thế sự thành công của bất cứ quyết định nào đều phụ thuộc vào

kỹ năng tư duy của những người đưa ra quyết định và những người chuyển quyết định thành hành động

-Ví dụ: Khi thực hiện một thay đổi quan trọng trong chính sách tiếp thị thì điều tối quan trọng là phải tính đến những tác động đối với sản xuất, việc kiểm tra, tài chính, công tác nghiên cứu và những con người có liên quan Và công việc này giữ nguyên tầm quan trọng của

nó cho đến tận cấp cán bộ điều hành cuối cùng, người phải thi hành chính sách mới Nếu như mỗi nhà quản trị đều thừa nhận những quan

hệ tổng thể và tầm quan trọng của sự thay đổi thì họ gần như chắc chắn sẽ là người điều hành sự thay đổi đó có hiệu quả hơn Và do vậy, cơ hội thành công sẽ tăng lên rất nhiều

2 Mức độ đòi hỏi về từng loại kỹ năng này đối với các nhà quản trị ở cấp bậc khác nhau và những kỹ năng này giúp ích gì cho nhà quản trị trong điều hành công việc?

Tầm quan trọng tương đối của ba kỹ năng này theo cấp trách nhiệm điều hành Tại những cấp thấp hơn, kỹ năng kỹ thuật và kỹ năng con người là những yếu tố cần thiết nhất Tại những cấp cao hơn, tính hiệu quả của hoạt động điều hành phần lớn phụ thuộc vào kỹ năng con người và kỹ năng nhận thức Ở cấp cao nhất, kỹ năng nhận thức trở thành yếu tố quan trọng nhất trong tất cả những hoạt động quản trị thành công

* Kỹ năng kỹ thuật là yếu tố tạo ra nhiều điểm trụ Việt của công

nghiệp hiện đại Nó là yếu tố không thể thiếu của một hoạt động có hiệu quá Tuy nhiên, kỹ năng kỹ thuật có tầm quan trọng lớn nhất là tại những cấp quản trị cơ sở

Dù tất cả ba kỹ năng đều quan trọng tại mỗi cấp quan trị, song tầm quan trọng tương đối của kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng nhân sự và

kỹ năng tư duy của nhà quản trị cũng thay đổi tùy theo những cấp trách nhiệm khác nhau Khi nhà quản trị tiền dẫn lên ngày càng cao hơn so với hoạt động vật chất thực tế thì nhu cầu về kỹ năng kỹ thuật trở nên ít quan trọng hơn, giá định rằng ông ta có những của bộ cấp dưới có kỹ năng và ông ta có thể giúp họ giải quyết những vấn đề riêng của họ Ở cấp đinh cao, kỹ năng kỹ thuật có thể gần như không tồn tại và nhà quản trị có thể vẫn có khả năng làm việc với hiệu suất cao nếu như các kỹ năng nhân sự và tư duy của ông ta phát triển cao

Ngày đăng: 18/12/2022, 10:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w