(Luận văn thạc sĩ) Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)(Luận văn thạc sĩ) Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)(Luận văn thạc sĩ) Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)(Luận văn thạc sĩ) Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)(Luận văn thạc sĩ) Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)(Luận văn thạc sĩ) Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)(Luận văn thạc sĩ) Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)(Luận văn thạc sĩ) Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)(Luận văn thạc sĩ) Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)(Luận văn thạc sĩ) Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)(Luận văn thạc sĩ) Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)(Luận văn thạc sĩ) Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)(Luận văn thạc sĩ) Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)(Luận văn thạc sĩ) Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)(Luận văn thạc sĩ) Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)(Luận văn thạc sĩ) Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)(Luận văn thạc sĩ) Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)(Luận văn thạc sĩ) Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)(Luận văn thạc sĩ) Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
………o0o………
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NÂNG
iiiCAO
iiiCHẤT
iiiLƯỢNG
iiiHOẠT
iiiĐỘNG
iiiMÔI
iiiGIỚI
iii
CHỨNG
iiiKHOÁN
iiiTẠI
iiiCÔNG
iiiTY
iiiTNHH
iiiCHỨNG
iiiKHOÁN
iii
NGÂN
iiiHÀNG
iiiTMCP
iiiNGOẠI
iiiTHƯƠNG
iiiVIỆT
iiiNAM
Ngành: Tài chính – Ngân hàng
ĐẶNG KIM THANH
Hà Nội - 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NÂNG
iiiCAO
iiiCHẤT
iiiLƯỢNG
iiiHOẠT
iiiĐỘNG
iiiMÔI
iiiGIỚI
iii
CHỨNG
iiiKHOÁN
iiiTẠI
iiiCÔNG
iiiTY
iiiTNHH
iiiCHỨNG
iiiKHOÁN
iii
NGÂN
iiiHÀNG
iiiTMCP
iiiNGOẠI
iiiTHƯƠNG
iiiVIỆT
iiiNAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác igiả ixin icam iđoan itoàn ibộ inội idung itrong iluận ivăn ithạc isỹ i“Nâng i cao
i chất i lượng i hoạt i động i môi i giới i chứng i khoán i tại i Công i ty i TNHH i Chứng i khoán
i Ngân i hàng i Thương i mại i Cổ i phần i Ngoại i thương i Việt i Nam i (VCBS)” ilà ikết iquả
icủa iquá itrình ihọc itập ivà inghiên icứu icủa ichính itác igiả, idưới isự ihướng idẫn icủa iPGS,
iTS. iNguyễn iThị iQuy. iKết iquả inghiên icứu ivà icác ikết iluận itrong iluận ivăn inày ilà
itrung ithực ivà ichưa itừng iđược isử idụng iđể ibảo ivệ ibất icứ ihọc ihàm, ihọc ivị inào. iCác
inội idung itrích idẫn ivà itham ikhảo icác itài iliệu, isách ibáo, ithông itin iđược iđăng itải itrên
icác itác iphẩm, itạp ichí ivà itrang iweb itheo idanh imục itài iliệu itham ikhảo icủa iluận ivăn
iTác igiả ixin ichịu ihoàn itoàn itrách inhiệm ivề inghiên icứu icủa imình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tác giả đã nhận được
sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, tổ chức và cá nhân Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu này
Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất đến quý thầy cô Trường Đại học Ngoại thương, đặc biệt là giảng viên hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Quy đã định hướng, bổ sung kiến thức, gợi ý các nguồn tài liệu tham khảo, đưa
ra những nhận xét, góp ý quý báu cho tác giả trong quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn thạc sĩ này
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo Công ty TNHH chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCBS) đã tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình thu thập dữ liệu và thực hiện nghiên cứu của mình
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, mặc dù đã cố gắng và nỗ lực, tuy nhiên
do hạn chế về thời gian cũng như giới hạn về kiến thức của bản thân tác giả, luận văn này không thể tránh khỏi thiếu sót Vì vậy, tác giả kính mong nhận được những nhận xét, góp ý từ Quý thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Tác giả luận văn
Đặng Kim Thanh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
DANH MỤC HÌNH VẼ ix
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN x
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về hoạt động môi giới chứng khoán và chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán 5
1.2 Công ty chứng khoán 7
1.2.1 Khái niệm công ty chứng khoán 7
1.2.2 Chức năng của công ty chứng khoán 8
1.2.3 Vai trò của công ty chứng khoán 8
1.2.4 Nghiệp vụ của công ty chứng khoán 11
1.3 Hoạt động môi giới của công ty chứng khoán 15
1.3.1 Khái niệm hoạt động môi giới chứng khoán 15
1.3.2 Đặc điểm hoạt động môi giới chứng khoán 16
1.3.3 Nguyên tắc của hoạt động môi giới chứng khoán 17
1.3.4 Quy trình của hoạt động môi giới chứng khoán 18
1.3.5 Vai trò của hoạt động môi giới chứng khoán 21
1.4 Chất lượng hoạt động môi giới của công ty chứng khoán 24
1.4.1 Khái niệm chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán 24
1.4.2 Các tiêu chí đo lường chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán 26
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán của công ty chứng khoán 32
1.5.1 Nhân tố chủ quan 32
Trang 61.5.2 Nhân tố khách quan 35
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY TNHH CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 38
2.1 Khái quát về công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 38
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty: 38
2.1.2 Cơ cấu tổ chức, nhân sự: 39
2.1.3 Các sản phẩm, dịch vụ của Công ty 40
2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty chứng khoán VCBS trong thời gian từ năm 2019 - 2021 42
2.2 Hoạt động môi giới chứng khoán tại VCBS 46
2.2.1 Tổ chức hoạt động 46
2.2.2 Nhân sự môi giới chứng khoán 48
2.2.3 Mạng lưới hoạt động của VCBS 48
2.2.4 Cơ sở vật chất 49
2.3 Chất lượng hoạt động môi giới tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 50
2.3.1 Chất lượng hoạt động môi giới tại VCBS thể hiện qua tiêu chí định lượng 50
2.3.2 Chất lượng hoạt động môi giới tại VCBS thể hiện qua tiêu chí định tính 60
2.4 Đánh giá chất lượng hoạt động môi giới tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam 64
2.4.1 Các kết quả đạt được 64
2.4.2 Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân 66
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY TNHH CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 74
Trang 73.1 Dự báo xu hướng phát triển thị trường chứng khoán trong thời gian tới
74
3.1.1 Cơ sở dự báo 74
3.1.2 Xu hướng phát triển thị trường chứng khoán trong thời gian tới 75
3.2 Định hướng nâng cao chất lượng môi giới chứng khoán của Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 78
3.2.1 Định hướng phát triển của Công ty Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 78
3.2.2 Định hướng nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán của Công ty Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 79
3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động môi giới tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 80
3.3.1 Hoàn thiện mô hình tổ chức của VCBS để tạo điều kiện nền tảng cho việc nâng cao chất lượng hoạt động môi giới 80
3.3.2 Cải thiện năng lực tài chính để đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ của khách hàng, từ đó nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ của VCBS: 81
3.3.3 Nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ hiện có, đồng thời mở rộng các sản phẩm dịch vụ mới 83
3.3.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hiện tại, đẩy mạnh việc thu hút và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao 86
3.3.5 Xây dựng và phát triển chính sách quảng bá marketing 89
3.3.6 Nâng cấp hệ thống giao dịch và cơ sở vật chất 90
3.4 Kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán 92 3.4.1 Đối với Chính phủ 92
3.4.2 Đối với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước 92
3.4.3 Đối với Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Vietcombank 94
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 101
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
Exchange
Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
IPO Initial Public Offering Phát hành công khai lần đầu
M&A Mergers and acquisitions Mua bán và sáp nhập
Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
trung tâm
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của VCBS từ năm 2019 - 2021 43
Bảng 2.2 Tổng hợp lợi nhuận sau thuế của một số CTCK từ 2019-2021 45
Bảng 2.3 Thống kê một số chỉ tiêu tài chính năm 2021 của các CTCK 46
Bảng 2.4 Số lượng tài khoản mở mới tại VCBS giai đoạn 2019-2021 50
Bảng 2.5 Doanh thu hoạt động môi giới chứng khoán tại VCBS 52
Bảng 2.6 Thị phần môi giới trái phiếu chính phủ năm 2021 55
Bảng 2.7 So sánh mức phí giao dịch chứng khoán áp dụng năm 2021 của VCBS với các công ty chứng khoán khác 57
Bảng 2.8 Tỷ lệ ký quỹ áp dụng sản phẩm Margin thường (%) năm 2021 tại VCBS 58
Bảng 2.9 Lãi suất Margin áp dụng năm 2021 tại VCBS (%) 59
Bảng 2.10 Tổng hợp kết quả khảo sát khách hàng 61
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Doanh thu và thị phần chi tiết trên từng địa bàn VCBS năm 2021 49Biểu đồ 2.2 Tỷ trọng doanh thu hoạt động môi giới tại VCBS 52Biểu đồ 2.3 Thị phần môi giới cổ phiếu & chứng chỉ quỹ năm 2021 tại HOSE 54
Trang 11DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của VCBS năm 2021 40Hình 2.2 Mô hình quản lý khối bán lẻ của VCBS 47Hình 3.1 Lộ trình tăng vốn, IPO và bán vốn cho đối tác chiến lược 83
Trang 12TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Sau hơn 20 năm đi vào hoạt động, nghiệp vụ môi giới của công ty TNHH chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam đã đạt được những thành công nhất định Cùng với sự phát triển càng ngày càng cao của thị trường, nhà đầu
tư thông minh luôn lựa chọn những công ty có chất lượng môi giới tốt trên thị trường Vì sự khốc liệt và phát triển nhanh chóng về cả lượng lẫn chất, chất lượng hoạt động môi giới trên thị trường chứng khoán phải luôn được nâng cao từng ngày
Đề tài nghiên cứu ““Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán
tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)”, đã đạt được những kết quả sau đây:
Trong chương I, tác giả đã hệ thống hóa khung lý thuyết cho việc nghiên cứu
đề tài luận văn, tác giả đã làm sáng tỏ các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài luận văn như sau:
Thứ nhất, lý luận cơ bản về công ty chứng khoán, vai trò, nghiệp vụ của công
đó đanh giá kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó
Trong chương II, trên cơ sở lý luận về thực trạng đã được hệ thống tại
chương I, luận văn đã tập trung đi sâu vào phân tích, đánh giá chất lượng hoạt động
môi giới ở Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại
thương Việt Nam (VCBS) giai đoạn 2019-2021 theo các tiêu chí định lượng và tiêu chí định tính Nghiên cứu cho thấy các kết quả đạt được cũng như những tồn tại hạn chế và nguyên nhân
Trang 13Trong chương III, luận văn đưa ra những cơ sở dự báo xu hướng phát triển thị
trường chứng khoán trong thời gian tới giai đoạn 2022-2025 từ đó để có những định hướng hoàn thiện nâng cao chất lượng môi giới cho giai đoạn tới Trên cơ sở những hạn chế đã phân tích ở chương II cùng với định hướng, tác giả đã đưa ra các giải pháp cũng như kiến nghị với Chính phủ, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam nhằm hoàn thiện nâng cao chất lượng hoạt động môi giới tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)
Trang 14PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thị trường chứng khoán đang trải qua một giai đoạn phát triển sôi động nhờ kinh tế vĩ mô của Việt Nam ổn định, hồi phục sau dịch khá ấn tượng so với mặt bằng chung của thế giới Các doanh nghiệp niêm yết vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng tốt với kết quả kinh doanh ấn tượng đã tạo động lực tăng trưởng tốt đối với giá cổ phiếu Ngoài ra, việc Ngân hàng Nhà nước hạ lãi suất và duy trì các chính sách tiền tệ nới lỏng cũng làm cho dòng tiền nhàn rỗi chuyển sang các kênh tài sản
có giá trị sinh lời cao hơn, trong đó có kênh đầu tư chứng khoán
Số liệu từ Trung tâm lưu ký Chứng khoán Việt Nam cho thấy nhà đầu tư trong nước mở mới ở mức kỷ lục với hơn 1,5 triệu tài khoản trong năm 2021, và lớn hơn tổng số tài khoản mở mới trong 4 năm từ 2017 đến năm 2020 Trong đó số lượng tài khoản giao dịch cá nhân chiếm tới 99,8% số lượng tài khoản giao dịch trong nước, không như những nhà đầu tư tổ chức, những nhà đầu tư cá nhân thường không có nhiều kiến thức cũng như kinh nghiệm khi tham gia vào thị trường chứng khoán Chính vì thế, hoạt động môi giới đóng vai trò rất quan trọng giúp cho nhà đầu tư tiết kiệm chi phí và giảm thiểu rủi ro trong giao dịch
Nắm bắt được nhu cầu của thị trường, các công ty chứng khoán thường rất chú trọng vào việc đẩy mạnh các hoạt động môi giới Hoạt động môi giới tốt sẽ giúp cho công ty chứng khoán gia tăng số lượng khách hàng, gia tăng doanh thu và củng cố vị thế của doanh nghiệp trên thị trường
Mặc dù vậy chất lượng hoạt động môi giới ở Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế như tình trạng nhiều môi giới trên thị trường vẫn chưa có chứng chỉ hành nghề, thiếu hiểu biết về pháp luật, và không đủ năng lực tư vấn Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán Việt Nam cũng xuất hiện tình trạng môi giới bắt tay với các doanh nghiệp thao túng giá cổ phiếu, gây náo loạn thị trường và khiến cho nhiều khách hàng mất trắng tài sản Những hệ lụy từ chất lượng hoạt động môi giới yếu kém không chỉ dừng lại ở danh tiếng của môi giới hoặc công ty chứng khoán, mà còn khiến cho thị trường chứng khoán Việt Nam mất uy tín đối với cả nhà đầu tư
Trang 15trong và ngoài nước, và gián tiếp ảnh hưởng tới sự phát triển chung của nền kinh tế Việt Nam
Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCBS) là một trong những công ty chứng khoán đầu tiên đồng hành cùng thị trường ngay từ thời điểm mới thành lập Doanh thu từ hoạt động môi giới hiện cũng chiếm tới gần 50% tổng doanh thu hoạt động của công ty, nên hoạt động môi giới vẫn luôn được ban lãnh đạo chú trọng và không ngừng cải thiện
Bên cạnh đó, sự cạnh tranh quyết liệt từ các công ty chứng khoán mới, các công ty có nguồn vốn nước ngoài cũng đòi hỏi VCBS phải nghiên cứu, điều chỉnh hoạt động hiện tại để nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán, nhằm giữ chân khách hàng cũ và thu hút khách hàng mới, đảm bảo sự tăng trưởng bên vững của công ty
Nhận thấy tính cấp thiết của công tác này, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu
là “Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH
Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở lý luận về chất lượng hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán, luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại VCBS trong thời gian qua, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại VCBS trong thời gian tới
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về chất lượng hoạt động môi giới của công
ty chứng khoán
- Đánh giá thực trạng chất lượng hoạt đọng môi giới chứng khoán tại công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam (VCBS)
Trang 16- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán tại công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động môi giới chứng khoán và chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại công ty chứng khoán
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)
- Phạm vi thời gian: Thông tin số liệu về chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS) được lấy trong giai đoạn 2019-2021
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu bao gồm:
- Phương pháp thu thập thông tin dữ liệu (Báo cáo thường niên, Báo cáo tài chính của VCBS từ các năm 2019-2021; Báo cáo nghiên cứu của cơ quan, ngân hàng, tổ chức tài chính…)
- Phương pháp điều tra, khảo sát khách hàng là các nhà đầu tư mở tài khoản
và giao dịch qua VCBS
- Phương pháp phân tích, tổng hợp dựa trên các kết quả khảo sát chỉ tiêu định lượng, định tính
5 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 3 chương:
• Chương 1 Cơ sở lý luận chung về chất lượng hoạt động môi giới của các Công ty Chứng khoán
Trang 17• Chương 2 Thực trạng chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
• Chương 3 Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán của Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Trang 18CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về hoạt động môi giới chứng khoán và chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán
Trước tầm quan trọng của hoạt động Môi giới chứng khoán (MGCK), trong những năm qua đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về hoạt động môi giới trên thị trường chứng khoán Có thể kể đến như:
Lê Ngọc Cường (2019)“Chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán của các
công ty chứng khoán trên địa bàn TP Hà Nội” Tạp chí Tài chính, bài viết xác định
6 nhóm nhân tố tác động tới chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán và thực trạng chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán tại các công ty chứng khoán trên địa bàn thành phố Hà Nội Theo đó, 6 nhóm nhân tố gồm: Phương tiện hữu hình, mức độ tin, khả năng phản, mức độ đảm bảo, sự thấu cảm, dịch vụ hỗ trợ Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán, góp phần giúp các công ty chứng khoán trên địa bàn thành phố nâng cao sức cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập
Nhã An (2019) “Cuộc chiến môi giới chứng khoán: Khốc liệt nhóm dưới”
Báo Đầu tư chứng khoán, bài viết so sánh cách phản ứng nâng cao hiệu quả hoạt
động của các công ty chứng khoán khi luồng vốn nước ngoài có xu hướng chảy vào thâu tóm các CTCK trong nước và tác động từ thay đổi thông tư số 128/2018/TT-BTC của Bộ tài chính quy định mức trần giá dịch vụ mua, bán chứng khoán là 0,5% giá trị giao dịch mà không còn quy định về mức sàn 0,15% như quy định cũ Tác giả nhận định năm 2019 sẽ chứng kiến sự cạnh tranh mạnh mẽ hơn trong hoạt động kinh doanh của các CTCK Quy định mới tại Thông tư 128/2018/TT-BTC sẽ tạo ra một cuộc cạnh tranh về phí môi giới trong thời gian tới Thị trường cũng đón nhận ngày càng nhiều sự tham gia của các CTCK nước ngoài có tiềm lực về nguồn vốn, nhân sự, công nghệ,… Bên cạnh đó là sự chủ động cạnh tranh trong chiến lược kinh doanh ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo, phát triển hệ thống giao dịch- các yếu
tố sẽ góp phần đáng kể vào kết quả kinh doanh của từng CTCK
Trần Anh (2019) “Tương lai nghề môi giới chứng khoán nhìn từ thị trường
Hàn Quốc” Tạp chí The Leader đưa ra quan điểm của mình về tương lai nghề môi
giới chứng khoán nhìn từ thị trường Hàn Quốc Tác giả đưa ra so sánh cách áp dụng
Trang 19ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI để tư vấn khách hàng qua robot advisor ở một thị trường chưa đầy 20 năm tuổi như Việt Nam so với cách ứng dụng AI kết hợp công nghệ phân tích dữ liệu lớn Big Data tại các công ty chứng khoán Hàn Quốc, điển hình là Tập đoàn tài chính Mirae Asset Từ đó tác giả nhận định những sản phẩm tài chính được xây dựng dựa trên AI, Big Data tại thị trường Việt Nam cần được tùy biến để phù hợp với đặc thù dữ liệu thông tin, từ đó mới thể hiện được vai trò của
AI trong việc đưa ra tư vấn, quản lí đầu tư hiệu quả Trong khi các nhà phát triển ứng dụng tài chính công nghệ phải làm việc nỗ lực không ngừng để nghiên cứu về
AI và BigData, các nhà môi giới chứng khoán phải thích nghi với việc sử dụng ứng dụng, đi đầu trong việc sử dụng công nghệ và tìm ngách cung ứng dịch vụ để giữ vững, phát huy vai trò môi giới của mình
Luận văn thạc sĩ “Phát triển dịch vụ chứng khoán của Công ty Chứng khoán
ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Minh Nguyệt,
trong đó tác giả nghiên cứu về các loại hình dịch vụ chứng khoản của Công ty trong
đó có hoạt động môi giới chứng khoán Trong phân tích về hoạt động môi giới chứng khoán, tác giả sử dụng một số chỉ tiêu như số lượng tài khoản mở, thị phần môi giới, doanh thu môi giới và các dịch vụ hỗ trợ chứng khoán Tác giả đã chỉ ra rằng để phát triển nghiệp vụ này tại BSC thì cần phải hoàn thiện quy trình nghiệp
vụ môi giới, nâng cao trình độ chuyên môn cho nhân viên và phát triển mạnh hơn nữa các sản phầm phụ trợ
Ngoài ra, còn có một vài công trình nghiên cứu khác có đề cập đến hoạt động môi giới chứng khoán như nghiên cứu của TS Nguyễn Trung Đức, trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN năm 2016, Nguyễn Thị Bích Hạnh, Đại học Bách khoa Hà Nội, 2012…
Có thể nhận thấy, các công trình kể trên đã đề cập tới vai trò của CTCK trước xu hướng và chiến lược phát triển của TTCK Việt Nam, qua đó chỉ ra những điều kiện và giải pháp xây dựng, phát triển các nghiệp vụ chứng khoán của các CTCK Tuy nhiên, các nghiên cứu về dịch vụ môi giới chứng khoán và nâng cao chất lượng dịch vụ môi giới còn chưa nhiều Phạm vi nghiên cứu là công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS) trong khoảng thời gian 2019 -2021 là chưa có nghiên cứu nào đề cập tới Từ khoảng trống đó và trên cơ sở kế thừa một số nội dung có tính lý luận và thực tiễn, tác giả
Trang 20lựa chọn đề tài “Nâng cao chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán tại Công
ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS)” để nghiên cứu, với mục đích là: (i) Phân tích thực trạng hoạt động
môi giới chứng khoán của công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCBS); (ii) Đề xuất và kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng môi giới chứng khoán tại Công ty chứng khoán VCBS
1.2 Công ty chứng khoán
1.2.1 Khái niệm công ty chứng khoán
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán, trao đổi các loại chứng khoán, là một bộ phận của thị trường tài chính Thị trường chứng khoán
có vai trò hết sức quan trọng trong việc huy động vốn và sử dụng vốn của nền kinh
tế thị trường Để hình thành và phát triển thị trường chứng khoán, một yếu tố không thể thiếu được là các chủ thể tham gia kinh doanh trên thị trường Bởi thị trường là nơi mua bán các loại chứng khoán và giấy tờ có giá, là nơi đầu tư để huy động vốn trung, dài hạn Các chủ thể này bao gồm cả công chúng đầu tư, các doanh nghiệp, các tổ chức và chính quyền Để tạo thuận lợi cho việc huy động vốn, các nhà đầu tư mua bán chứng khoán cần thiết có sự tham gia của các trung gian tài chính, các công
ty chứng khoán – một định chế tài chính sẽ giúp thúc đẩy thị trường hoạt động có trật tự, công bằng và hiệu quả Đây là một tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực chứng khoán
Căn cứ Quy chế Tổ chức và hoạt động của Công ty chứng khoán được Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành kèm theo Quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ngày
24/4/2007, Công ty chứng khoán được định nghĩa là tổ chức có tư cách pháp nhân
hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán
Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian, được thành lập khi
có sự chấp thuận của Ủy ban chứng khoán Nhà nước Để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động, công ty chứng khoán phải đảm bảo các yêu cầu về quyền sử dụng trụ sở làm việc tối thiểu 01 năm, trong đó diện tích làm sàn giao dịch phục vụ nhà
Trang 21đầu tư tối thiểu 150m2; có đầy đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ hoạt động kinh doanh, bao gồm sàn giao dịch phục vụ khách hàng, thiết bị văn phòng, hệ thống máy tính cùng các phần mềm thực hiện hoạt động giao dịch chứng khoán, trang thông tin điện tử, bảng tin để công bố thông tin cho khách hàng, hệ thống kho, két bảo quản chứng khoán, tiền mặt, tài sản có giá trị khác và lưu giữ tài liệu, chứng từ giao dịch đối với công ty chứng khoán có nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán; đáp ứng mức vốn pháp định theo từng loại hình kinh doanh và nhân viên công ty phải có chứng chỉ hành nghề
Đóng vai trò là một tổ chức tài chính trung gian, công ty chứng khoán là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng Nhờ các công ty chứng khoán mà các cổ phiếu và trái phiếu được mua bán trên TTCK, qua đó huy động một nguồn vốn khổng lồ được đưa vào đầu tư từ việc tập hợp những nguồn vốn lẻ trong công chúng
1.2.2 Chức năng của công ty chứng khoán
Nhờ các công ty chứng khoán mà chứng khoán được lưu thông từ nhà phát
hành tới người đầu tư và có tính thanh khoản, qua đó tạo ra cơ chế huy động vốn
linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi đến người sử dụng vốn (thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành)
Công ty chứng khoán hỗ trợ cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch (thông
qua hệ thống khớp giá hoặc khớp lệnh)
Tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán (hoán chuyển từ chứng khoán ra
tiền mặt, và ngược lại từ tiền mặt ra chứng khoán một cách dễ dàng)
Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường (thông qua hoạt động tự doanh hoặc
vai trò nhà tạo lập thị trường)
1.2.3 Vai trò của công ty chứng khoán
Hoạt động của thị trường chứng khoán trước hết cần những người môi giới trung gian, đó là các công ty chứng khoán – một định chế tài chính trên thị trường chứng khoán, có nghiệp vụ chuyên môn, đội ngũ nhân viên lành nghề và bộ máy tổ
Trang 22chức phù hợp để thực hiện vai trò trung gian môi giới mua – bán chứng khoán, tư vấn đầu tư và thực hiện một số dịch vụ khác cho cả người đầu tư lẫn tổ chức phát hành Vì vậyvai trò của công ty chứng khoán vô cùng cần thiết đối với các nhà đầu
tư, các doanh nghiệp và cơ quan quản lý Nhà nước, là một trong những nhân tố chính điều tiết kinh tế thị trường nói chung.Những vai trò này được thể hiện thông qua các nghiệp vụ hoạt động của công ty chứng khoán
1.2.3.1 Đối với doanh nghiệp
Mục tiêu khi tham gia vào thị trường chứng khoán của các tổ chức phát hành
là huy động vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu trên thị trường Một trong những nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán là nguyên tắc trung gian, nhà đầu tư và nhà phát hành không được mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải thông qua các trung gian Vì vậy các công ty chứng khoán đóng vai trò trung gian huy động vốn cho doanh nghiệp để giúp các giao dịch mua bán thuận lợi và nhanh chóng hơn
1.2.3.2 Đối với nhà đầu tư
Để có thể giao dịch trên thị trường chứng khoán, nhà đầu tư phải có tài khoản giao dịch chứng khoán mở tại các công ty chứng khoán Các công ty chứng khoán thông qua hoạt động môi giới, tư vấn đầu tư đóng vai trò làm cầu nối trung gian giúp nhà đầu tư giảm chi phí và thời gian giao dịch nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư
Đối với thị trường chứng khoán, sự biến động thường xuyên của giá cả chứng khoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn kém chi phí, công sức và thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư Nhưng thông qua các công ty chứng khoán, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả
Đặc biệt đối với những người mới tham gia thị trường, công ty chứng khoán
sẽ là kênh cung cấp nguồn thông tin hữu ích bao gồm báo cáo phân tích thị trường, phân tích ngành, phân tích doanh nghiệp… để nhà đầu tư có những nhận định riêng chính xác hơn
Trang 231.2.3.3 Đối với thị trường chứng khoán
Đối với thị trường chứng khoán, công ty chứng khoán thể hiện hai vai trò chính:
Thứ nhất, công ty chứng khoán góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường
Giá cả chứng khoán là do thị trường quyết định Tuy nhiên, để đưa ra mức giá cuối cùng, người mua và người bán phải thông qua các công ty chứng khoán vì họ không được tham gia trực tiếp vào quá trình mua bán Các công ty chứng khoán là những thành viên của thị trường, do vậy họ cũng góp phần tạo lập giá cả thị trường thông qua đấu giá Trên thị trường sơ cấp, các công ty chứng khoán cùng với các nhà phát hành đưa ra mức giá đầu tiên Chính vì vậy, giá cả của mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham gia định giá của các công ty chứng khoán
Thứ hai, các công ty chứng khoán góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính: Thị trường chứng khoán có vai trò là môi trường làm tăng tính
thanh khoản của các tài sản tài chính Nhưng các công ty chứng khoán mới là người thực hiện tốt vai trò đó vì công ty chứng khoán tạo ra cơ chế giao dịch trên thị trường Trên thị trường cấp 1, do thực hiện các hoạt động như bảo lãnh phát hành, chứng khoán hoá, các công ty chứng khoán không những huy động một lượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinh doanh cho nhà phát hành mà còn làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính được đầu tư vì các chứng khoán qua đợt phát hành
sẽ dược mua bán giao dịch trên thị trường cấp 2 Điều này làm giảm rủi ro, tạo tâm
lý yên tâm cho người đầu tư Trên thị trường cấp 2, do thực hiện các giao dịch mua
và bán các công ty chứng khoán giúp người đầu tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại Những hoạt động đó có thể làm tăng tính thanh khoản của những tài sản tài chính
1.2.3.4 Đối với cơ quan quản lý thị trường
Công ty chứng khoán có vai trò cung cấp đầy đủ thông tin về thị trường chứng khoán cho cơ quan quản lý Việc cung cấp thông tin này là theo quy định của pháp luật, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của công ty chứng khoán vì công ty chứng khoán cần hoạt động minh bạch Nguồn thông tin này công ty chứng khoán có được
Trang 24nhờ tư vấn phát hành cho các tổ chức, là trung gian mua bán chứng khoán, thực hiện các giao dịch trên thị trường chứng khoán Dựa vào thông tin do công ty chứng khoán cung cấp, các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát, chống hiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường
Như vậy, công ty chứng khoán với tư cách là trung gian tài chính đóng vai trò quan trọng và cần thiết đối với các nhà đầu tư, tổ chức phát hành, cơ quan quản
lý, và đối với thị trường chứng khoán nói chung Những vai trò này được thể hiện
rõ nét qua các nghiệp vụ hoạt động của công ty chứng khoán
1.2.4 Nghiệp vụ của công ty chứng khoán
1.2.4.1 Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng Theo đó, công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại SGDCK hay thị trường OTC mà chính khách hàng là người chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của mình
Thông qua hoạt động môi giới, công ty chứng khoán cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu tư bán chứng khoán với nhà đầu tư mua chứng khoán Do đó môi giới chứng khoán cần có nhiều phẩm chất đạo đức,
kỹ năng nghề nghiệp trong công việc; thái độ quan tâm tới khách hàng
Mục đích của hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán là nhằm thu lợi cho chính mình Tuy nhiên để đảm bảo tính minh bạch, sự ổn định của thị trường,
Trang 25các nước đều yêu cầu công ty chứng khoán phải đáp ứng một số yêu cầu sau:
(1) Do hoạt động tự doanh là công ty mua bán chứng khoán cho chính mình nên cần có nguồn vốn nhất định theo quy định của pháp luật Ở Việt Nam vốn pháp định với hoạt động này là 100 tỷ đồng
(2) Tự doanh hoạt động song hành cùng môi giới, vừa phục vụ lệnh cho khách hàng đồng thời phục vụ lệnh cho chính mình nên rất có thể dẫn đến xung đột
về lợi ích Do đó, cần tách biệt rõ ràng hai hoạt động này, cần ưu tiên thực hiện lệnh cho khách hàng trước
(3) Nhân viên tự doanh cần có trình độ chuyên môn nhất định, có khả năng
tự quyết cao và đặc biệt có tính nhạy cảm trong công việc Bởi con người cũng là yếu tố quyết định đến sự thành công của hoạt động tự doanh
Bên cạnh đó, các công ty chứng khoán còn phải tuân thủ một số quy định khác như các giới hạn về đầu tư, lĩnh vực đầu tư nhằm đảm bảo độ an toàn nhất định cho các công ty trong quá trình hoạt động, tránh đổ vỡ
Tổ chức bảo lãnh được hưởng phí bảo lãnh hoặc một tỷ lệ hoa hồng nhất định trên số tiền thu được Nên hoạt động này chiếm tỷ lệ doanh thu khá cao trong tổng doanh thu của các công ty chứng khoán
Việc bảo lãnh phát hành thường thực hiện theo một trong các phương thức sau: bảo lãnh với cam kết chắc chắn, bảo lãnh với cố gắng cao nhất, bảo lãnh theo phương thức tất cả hoặc không, bảo lãnh theo phương thức tối thiểu hoặc tối đa, bảo lãnh theo phương thức dự phòng
Trang 261.2.4.4 Quản lý danh mục đầu tư
Đây là một dạng hoạt động tư vấn của công ty chứng khoán nhưng ở mức độ cao hơn vì trong hoạt động này khách hàng ủy thác cho công ty chứng khoán thay mặt mình quyết định đầu tư theo một chiến lược hay những nguyên tắc đã được khách hàng chấp thuận Đầu tư trên vốn ủy thác của khách hàng nhằm sinh lợi cho khách hàng trên cơ sở tăng lợi nhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng
Thực hiện hoạt động này công ty chứng khoán vừa bảo quản hộ chứng khoán, vừa đầu tư hộ chứng khoán Thông thường công ty chứng khoán nhận được phí quản lý bằng một phần trăm nhất định trên một số lợi nhuận thu về cho khách hàng Họ cũng có thể nhận được những khoản tiền thưởng nhất định khi hoàn thành tốt nhiệm vụ Trong khi quản lý tài sản cho khách hàng, công ty chứng khoán phải tuân thủ các điều kiện trong hợp đồng ký kết với khách hàng Công ty chứng khoán xác định rõ với khách hàng là họ không đảm bảo về lợi nhuận đầu tư, mọi rủi ro của hoạt động đầu tư sẽ do khách hàng gánh chịu Trong hợp đồng luôn xác định mức
độ ủy quyền của khách hàng cho công ty
1.2.4.5 Tư vấn và đầu tư chứng khoán
Tư vấn và đầu tư chứng khoán là quá trình phân tích các cổ phiếu và đưa ra các lời khuyên liên quan đến chứng khoán, phân tích các tình huống và có thể thực hiện một số công việc liên quan đến phát hành, đầu tư và cơ cấu lại nguồn tài chính cho khách hàng
Trong hoạt động tư vấn, công ty chứng khoán cung cấp thông tin, cách thức đầu tư và loại chứng khoán nên đầu tư đối với từng đối tượng khách hàng của mình Hoạt động này đòi hỏi người môi giới phải chuyên nghiệp và có nhiều kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ cũng như kinh nghiệm Mặt khác, tính trung thực của công ty chứng khoán có tầm quan trọng rất lớn trong việc thu hút khách hàng Thông thường hoạt động tư vấn đầu tư luôn đi kèm với các hoạt động khác như lưu
ký chứng khoán, môi giới, bảo lãnh phát hành
Trang 271.2.4.6 Các hoạt động phụ trợ khác
Hoạt động lưu ký chứng khoán:
Công ty chứng khoán cung cấp thông tin, cách thức đầu tư trên thị trường tập trung là hình thức giao dịch ghi sổ, khách hàng phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán tại các công ty chứng khoán (nếu chứng khoán phát hành dưới hình thức ghi sổ) hoặc ký gửi chứng khoán (nếu phát hành dưới hình thức chứng chỉ vật chất) Khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán cho khách hàng, công ty chứng khoán sẽ nhận được các khoản thu phí lưu ký chứng khoán
Hoạt động quản lý thu nhập chứng khoán cho khách hàng động lưu ký chứng khoán:
Xuất phát từ việc lưu ký chứng khoán cho khách hàng, công ty chứng khoán lưu ký chứng khoán cho khách hàng, theo dõi tình hình thu lãi, cổ tức của khách hàng sau đó đứng ra cung cấp dịch vụ thu nhận và chi trả cổ tức cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng Công ty đều có báo cáo gửi khách hàng Trên thực tế, các công ty chứng khoán thường không trực tiếp quản lý, không trực tiếp lưu ký một số loại chứng khoán tại chính mình mà lưu ký tại trung tâm lưu ký chứng khoán
Hoạt động tín dụng:
Đây là hoạt động thông dụng trên thị trường chứng khoán phát triển Đối với thị trường mới nổi hoạt động này bị hạn chế khá nhiều Công ty chứng khoán bên cạnh hoạt động môi giới chứng khoán để hưởng hoa hồng còn triển khai dịch vụ cho vay chứng khoán để khách hàng thực hiện giao dịch bán khống, cho cầm cố chứng khoán, cho vay tiền để thực hiện mua ký quỹ, ứng trước tiền bán chứng khoán cho khách hàng; giúp khách hàng có được tiền để kinh doanh chứng khoán Hoạt động này cũng mang lại một nguồn thu nhập cho công ty chứng khoán; làm đa dạng hơn về các sản phẩm dịch vụ cung ứng giúp thị trường chứng khoán phát triển
Hoạt động quản lý quỹ:
Đối với hoạt động này thì tùy theo mỗi thị trường khác nhau có cho phép hay
Trang 28không Công ty chứng khoán cử đại diện của mình để quản lý quỹ và sử dụng vốn
và tài sản của quỹ đầu tư để đầu tư vào chứng khoán Khi đó, công ty chứng khoán được thu khoản phí dịch vụ quản lý quỹ đầu tư
1.3 Hoạt động môi giới của công ty chứng khoán
1.3.1 Khái niệm hoạt động môi giới chứng khoán
Thị trường chứng khoán là sự phát triển bậc cao của nền kinh tế thị trường, tại đó người tham gia mua bán, trao đổi những hàng hóa rất đặc biệt, đó là chứng khoán, là loại tài sản tài chính được hình thành từ sự ra đời của TTCK Tài sàn này đòi hỏi người tham gia trên thị trường cần phải có khả năng phân tích, nhận định dự đoán tình hình và đưa ra những đánh giá về xu hướng phát triển của loại hàng hóa
đó Theo đó, nhà đầu tư sẽ phải ra quyết định mua/bán đối với loại hàng hóa này và cần phải tìm kiếm đối tác đối ứng giao dịch trên thị trường Đây là công việc đòi hỏi tốn kém rất nhiều thời gian, công sức và cả tiền bạc cho mỗi người tham gia Không phải nhà đầu tư nào khi tham gia TTCK cũng được trang bị đầy đủ kiến thức, kinh nghiệm để có thể đưa ra các quyết định giao dịch một cách hiệu quả Từ sự phức tạp
đó, hình thành nên nghiệp vụ môi giới tại các công ty chứng khoán, thông qua việc
tư vấn, hỗ trợ nhà đầu tư thực hiện giao dịch trên TTCK Công ty chứng khoán hưởng doanh thu từ chi phí giao dịch
Theo khoản 20, điều 6 Luật chứng khoán 2006 quy định: “Môi giới chứng
khoán là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng”
Công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng của mình để giao dịch tại các sàn giao dịch chứng khoán hay ngay cả trên thị trường phi tập trung (OTC), đồng thời chính khách hàng là người chịu trách nhiệm toàn bộ đối với các quyết định đầu
tư của mình từ việc giao dịch, cũng như trả cho CTCK một khoản phí, thường được gọi là phí môi giới hoặc phí giao dịch Với chức năng trung gian kết nối người bán
và người mua, cung cấp những thông tin cần thiết cho các nhà đầu tư, nghiệp vụ môi giới đã mang lại khoản phí không nhỏ cho công ty
Để thực hiện được công việc này, nhà môi giới cần phải tích lũy đầy đủ kiến
Trang 29thức, trình độ nhằm có đủ khả năng thu thập, xử lý thông tin, phân tích thông tin, đánh giá phân tích doanh nghiệp, hàng hóa đáp ứng nhu cầu của khách hàng Bên cạnh đó, để tạo được hình ảnh nhà môi giới chuyên nghiệp trên TTCK thì nhà môi giới ngoài kiến thức trình độ còn phải có đạo đức nghề nghiệp cao độ trong việc xử
lý các phát sinh, xung đột có liên quan giữa CTCK, khách hàng và chính nhà môi giới đối với các khuyến nghị của nhà môi giới cho khách hàng
1.3.2 Đặc điểm hoạt động môi giới chứng khoán
Hoạt động môi giới là một trong những nghiệp vụ kinh doanh cơ bản nhất của CTCK, đóng góp tỷ trọng doanh thu quan trọng trong hoạt động kinh doanh của CTCK Bên cạnh đó, hoạt động môi giới cũng là hoạt động giúp CTCK thu hút khách hàng và xây dựng hình ảnh tốt cho CTCK
Thứ nhất, hoạt động môi giới chứng khoán luôn được thực hiện bởi chủ thể đặc thù là các tổ chức, cá nhân có chuyên môn, nghiệp vụ môi giới chứng khoán Để tiến hành hoạt động môi giới chứng khoán, nhà môi giới phải được cấp
giấy phép thành lập và hoạt động kinh doanh chứng khoán đồng thời phải thực hiện việc đăng kí kinh doanh dịch vụ môi giới chứng khoán tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Thứ hai, hoạt động môi giới chứng khoán được thực hiện thông qua công
cụ pháp lí là hợp đồng dịch vụ môi giới chứng khoán Hợp đồng này được giao
kết giữa bên môi giới với bên được môi giới (khách hàng) là người mua hoặc người bán chứng khoán Thông qua hợp đồng dịch vụ môi giới chứng khoán, bên môi giới
có cơ sở pháp lí để thực hiện trách nhiệm mua hộ hoặc bán hộ chứng khoán cho khách hàng với tư cách là người đại diện, từ đó thu được phí hoa hồng môi giới khi kết thúc giao dịch mua bán hộ chứng khoán
Thứ ba, trong hoạt động môi giới chứng khoán, nhà môi giới sử dụng
chuyên môn nghiệp vụ và những hiểu biết sâu sắc của mình về lĩnh vực chứng khoán để mua hay bán hộ chứng khoán cho khách hàng nhằm hưởng phí hoa hồng Khi thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, nhà môi giới phải mở tài
khoản giao dịch chứng khoán cho mỗi khách hàng trên cơ sở hợp đồng dịch vụ môi
Trang 30giới chứng khoán, thay mặt khách hàng để chuyển giao chứng khoán cho người mua và chuyển giao tiền cho người bán từ các tài khoản giao dịch chứng khoán
1.3.3 Nguyên tắc của hoạt động môi giới chứng khoán
Bất kỳ một ngành nghề nào hoạt động cũng đều có nguyên tắc riêng Môi giới chứng khoán là hoạt động trong nền kinh tế thị trường phát triển, là sản phẩm của thị trường bậc cao với nhiều nét đặc trưng riêng lại càng cần có nguyên tắc áp dụng khi thực hiện: nguyên tắc tôn trọng; nguyên tắc công bằng, công khai, minh bạch; nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; nguyên tắc tự chịu trách nhiệm về rủi ro
Thứ nhất, nguyên tắc tôn trọng: tôn trọng quyền sở hữu, quyền khác đối với
tài sản trong hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán; quyền tự do giao dịch, đầu tư, kinh doanh và cung cấp dịch vụ về chứng khoán của tổ chức, cá nhân
Thứ hai, nguyên tắc công bằng, công khai, minh bạch: Tất cả các hoạt
động trên thị trường chứng khoán đều được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, cụ thể là thông tin về loại chứng khoán đang được đưa ra mua bán trên thị trường, tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của các công ty có chứng khoán đăng ký yết giá trên thị trường; số lượng, giá cả, cũng như từng loại chứng khoán đã mua, bán Nguyên tắc công bằng chỉ ra rằng các nhà đầu tư trong những điều kiện như nhau sẽ có cơ hội ngang nhau trong một giao dịch Nhưng cũng cần thấy rằng biểu hiện của nguyên tắc này là rất đa dạng và phải luôn được xử lý trong mối quan hệ với các điều kiện có tính thương mại trong giao dịch chứng khoán Nguyên tắc công bằng, công khai và minh bạch trong hoạt động của thị trường giao dịch chứng khoán được hiểu là các chủ thể tham gia vào thị trường chứng khoán được quyền có cơ hội như nhau khi tiếp cận các thông tin liên quan đến chứng khoán và thị trường chứng khoán
Thứ ba, nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư: bảo
vệ nhà đầu tư là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu cần phải được phản ánh trong các quy định pháp luật về thị trường chứng khoán Điều đó xuất
Trang 31phát từ việc nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư phổ thông thường được coi là yếu thế trong giao dịch do khả năng tiếp cận và phân tích các nguồn thông tin, nguồn vốn và tính chuyên nghiệp thường hạn chế Do vậy, lý thuyết cũng như thực tế đã phát hiện thấy rằng các nhà đầu tư không phải là nhà đầu tư có tổ chức thường dễ bị thiệt thòi trong các giao dịch, khả năng tự bảo vệ của họ trước những hành vi gian lận, trục lợi không cao Điển hình cho các hiện tượng này là việc nhà đầu tư bị lạm dụng tài sản (chứng khoán, tiền trên tài khoản), các lệnh giao dịch của nhà đầu tư bị chèn ép bị thiệt hại vì các hành vi thao túng thị trường hoặc giao dịch nội gián Vì vậy, các quy định pháp luật về thị trường chứng khoán thường đặt trọng tâm vào việc thiết kế các biện pháp, cách thức để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư như: cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác cho nhà đầu tư, xác định các điều kiện chặt chẽ và yêu cầu khắt khe cho tổ chức kinh doanh chứng khoán hoặc cá nhân hành nghề chứng khoán, thiết lập cơ chế và phương tiện giám sát thị trường chứng khoán một cách hiệu quả
Thứ tư, nguyên tắc tự chịu trách nhiệm về rủi ro: Đầu tư chứng khoán là
một hình thức kinh doanh có rủi ro Vì vậy, khi tham gia đầu tư trực tiếp vào thị trường chứng khoán cũng như khi đầu tư thông qua các quỹ, nhà đầu tư cần tìm hiểu trước và chấp nhận được các rủi ro này
1.3.4 Quy trình của hoạt động môi giới chứng khoán
Nhìn chung, nghiệp vụ môi giới gắn liền với khách hàng, gắn liền với công tác tìm kiếm, chăm sóc và giữ chân khách hàng giao dịch tại CTCK Do đó, Quy trình hoạt động môi giới chứng khoán là toàn bộ các bước công việc mà bộ phận môi giới, các nhân viên môi giới phải thực hiện để hoàn thành hoạt động môi giới Quy trình môi giới chứng khoán của công ty chứng khoán bao gồm các bước sau:
Trang 32Bước 1 Tìm kiếm, sàng lọc và lựa chọn khách hàng: điều kiện ban đầu và
luôn duy trì trong mọi chuỗi nghiệp vụ môi giới chính là công tác tìm kiếm khách hàng Nguồn khách hàng được hình thành từ chính tại công ty chứng khoán, các tổ chức hợp tác với CTCK, các nhà đầu tư tiềm năng tại các khu vực kinh tế có liên quan đến TTCK.Nhà môi giới tại CTCK cần vận dụng các kỹ năng nghiệp vụ cũng như tiềm lực sẵn có để thực hiện công tác tìm kiếm khách hàng mở tài khoản và giao dịch chứng khoán Đây là điều kiện tiền đề cho nhà môi giới có cơ sở để làm việc và phát huy năng lực
Bước 2 Giới thiệu, khuyến nghị với khách hàng về các sản phẩm dịch vụ:
chăm sóc và tư vấn cho khách hàng sử dụng các sản phẩm dịch vụ, sử dụng các sản phẩm tư vấn phù hợp cho từng đối tượng khách hàng mà nhà môi giới được phân công chăm sóc Khách hàng chính là người tạo thu nhập cho nhà môi giới, tạo doanh thu cho CTCK, vì vậy nhà môi giới cần phải tối ưu thỏa mãn các nhu cầu cho khách hàng để giúp khách hàng giao dịch và duy trì nguồn thu cho CTCK cũng như thu nhập cho nhà môi giới
Bước 3 Mở tài khoản cho khách hàng: vòng xoáy phát triển của thị trường, nhà đầu tư hoàn toàn có thể rút lui khỏi thị trường, rút tài khoản từ CTCK này sang CTCK khác Do vậy từ sự ra đi của khách hàng, nhà môi giới với tư cách
là cán bộ trực thuộc một CTCK (quy định về chứng khoán chỉ cho phép 1 nhà môi giới công tác tại 1 CTCK) cần phải phát huy tối đa năng lực bản thân để duy trì và kỳ vọng giữ chân khách hàng, tái mở tài khoản và giao dịch với khách hàng trong tương lai
Mở tài khoản cho khách hàng
Nhận lệnh của khách hàng
Thực hiện lệnh và xác lệnh kết quả thực hiện lệnh
Thanh quyết toán với khách hàng và giao nhận chứng khoán
Trang 33Bước 4 Nhận lệnh của khách hàng: Nhân viên môi giới có nhiệm vụ nhận
lệnh từ khách hàng và phải kiểm tra tính chính xác của các thông số: tên khách hàng, số tài khoản, đối chiếu chữ kí (mật mã đối với đặt lệnh từ xa), ngày tháng viết phiếu, số lượng, số tiền ký quỹ, sức mua (đối với lệnh mua) và số chứng khoán trong tài khoản (đối với lệnh bán) Lưu ý tuyệt đối nhận lệnh thông qua các phương tiện liên lạc của công ty hoặc các phương tiện liên lạc để lại vết nhằm tránh xảy ra xung đột giữa công ty chứng khoán và khách hàng
Bước 5 Thực hiện lệnh và xác lệnh kết quả thực hiện lệnh: Lệnh của khách
hàng sau khi kiểm tra tính hợp lệ, đầy đủ sẽ đước chuyển tới các sàn giao dịch bởi các môi giới Lệnh được truyền từ các CTCK đến sở giao dịch có thể bằng các hình thức: mạng máy tính internet, fax, điện thoại… Ngày nay nhờ có ứng dụng công nghệ hiện đại, CTCK có thể đổ lệnh trực tiếp từ công ty vào hệ thống của sở giao dịch mà không cần có đại diện của công ty tại sàn để nhập lệnh (“giao dịch không sàn”)
Bước 6 Thanh quyết toán với khách hàng và giao nhận chứng khoán: Sau
khi thực hiện giao dịch, thì kết quả giao dịch sẽ được thông báo qua phần mềm giao dịch của công ty Khi đó môi giới sẽ so sánh giữa báo cáo giao dịch và lệnh của khách hàng để đảm bảo độ chính xác của quá trình Sau đó công ty sẽ gửi cho khách hàng một phiếu xác nhận kết quả giao dịch bao gồm: giá, số lượng chứng khoán thực hiện, mức phí phải trả, ngày thanh toán Xác nhận này có tính pháp lý rất cao, nó đóng vai trò làm hóa đơn giao dịch giữa công ty và khách hàng
Trước khi thực hiện giao dịch chứng khoán, khách hàng đã phải nộp tiền vào tài khoản chứng khoán để gia tăng sức mua cho tài khoản Và số tiền này sẽ được tạm giữ lại cho đến khi lệnh đặt kết thúc và khi giao dịch thành công, hoạt động mua bán chứng khoán và thanh toán sẽ được thực hiện tại trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam (VSD) và được hạch toán tiền và chứng khoán thông qua tài khoản của khách hàng tại công ty
Trang 341.3.5 Vai trò của hoạt động môi giới chứng khoán
1.2.5.1 Đối với nhà đầu tư
Thứ nhất, góp phần làm giảm chi phí giao dịch
Đối với các thị trường thông thường, mọi giao dịch về hàng hóa/dịch vụ hầu như phải được đánh giá, kiểm tra, tham khảo nhiều nhà đầu tư mới quyết định mua bán Theo đó họ sẽ tốn kém khoản chi phí để thực hiện các công tác có liên quan này Tuy nhiên với thị trường chứng khoán, hàng hóa đặc thù và đặc điểm người mua người bán vô cùng khó khăn có thể gặp gỡ trực tiếp với nhau, các công tác thẩm định chất lượng hàng hóa, tham khảo giá cả hàng hóa… sẽ không dễ dàng thực hiện được nếu không có sự hỗ trợ của các nhà môi giới tại các CTCK giúp đỡ Ngoài ra, để đảm bảo thuận tiện cho giao dịch, các CTCK phải bỏ ra một khoản chi phí khổng lồ để xây dựng và vận hành hệ thống giao dịch, nhưng cũng từ hệ thống
đó, áp với mỗi nhà đầu tư, họ chỉ phải bỏ ra rất ít chi phí cho mỗi giao dịch Sự cộng hưởng từ hai bên (cả CTCK xây dựng môi trường giao dịch, hệ thống giao dịch và NĐT có nhu cầu giao dịch) đã góp phần giảm thiểu các chi phí phát sinh có liên quan đến giao dịch
Nhờ sự hỗ trợ công nghệ thông tin hiện đại của CTCK đã góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu chi phí cho các giao dịch nhà đầu tư cần phải bỏ ra chi phí đối với việc mua bán chứng khoán Bên cạnh đó, nhờ có nhà môi giới chứng khoán chăm sóc, tư vấn, nhà đầu tư sẽ dễ dàng hơn nhiều trong việc tìm kiếm thông tin liên quan đến giao dịch của mình Do vậy, môi giới chứng khoán đã giúp cho nhà đầu tư giảm thiểu các chi phí phát sinh có liên quan đến giao dịch chứng khoán của mình
Thứ hai, cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng
Nhiệm vụ của CTCK nói chung và nhà môi giới nói riêng là phải chăm sóc
tư vấn tốt nhất cho mọi nhu cầu của khách hàng mình Do vậy, thông qua nhà môi giới của CTCK, khách hàng sẽ được tiếp cận nguồn thông tin khổng lồ có được từ 1 định chế tài chính trung gian bậc nhất trên TTCK là các CTCK Nguồn thông tin trên TTCK rất nhiều và đa dạng, đòi hỏi rất khó khăn cho mỗi cá nhân nhà đầu tư tự
Trang 35đi tìm kiếm Bằng nguồn lực sẵn có là hệ thống phân tích chủ động của CTCK, kèm với việc hợp tác với các đơn vị tổ chức lớn khác, đầu mối tiếp nhận thông tin từ chính nhu cầu của khách hàng mình, các CTCK sẽ hỗ trợ nhiều cho nhà đầu tư được tiếp cận thông tin cần có trên TTCK thông qua chính các cán bộ môi giới tư vấn giao dịch cho khách hàng
Thứ ba, cung cấp sản phẩm và dịch vụ tài chính, giúp khách hàng thực hiện được những giao dịch theo yêu cầu và vì lợi ích của họ
Sản phẩm/dịch vụ tài chính có tính chất phức tạp và mức độ hấp dẫn khác nhau, nhà đầu tư không thể nắm bắt được hết các sản phẩm/dịch vụ nếu như không
có sự hỗ trợ từ các nhà môi giới tại các CTCK Nắm bắt nhu cầu khách hàng trên cơ
sở trao đổi trực tiếp, làm việc trực tiếp với khách hàng, kết hợp với các xu hướng phát triển, các nghiên cứu sẵn có để các CTCK tung ra các sản phẩm/dịch vụ hấp dẫn linh hoạt nhằm đáp ứng và lôi kéo khách hàng tiềm năng về giao dịch Nhờ đó, vai trò của nhà môi giới với việc nắm rõ và hiểu sâu sắc về sản phẩm CTCK cung cấp cho khách hàng sẽ đáp ứng tối đa nhu cầu của từng loại khách hàng mà nhà môi giới chăm sóc
1.3.5.2 Đối với công ty chứng khoán
Việc chăm sóc và phát triển khách hàng luôn là công việc khó khăn nhưng bắt buộc mọi CTCK phải thực hiện Để triển khai công việc này, người tiếp cận trực tiếp để nắm bắt nhu cầu của khách hàng chính là các nhà môi giới Hoạt động của các nhà môi giới đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho các công ty chứng khoán Các kết quả nghiên cứu cho thấy, ở những thị trường phát triển, 20% trong tổng số những nhà môi giới đã tạo ra 80% nguồn thu từ hoa hồng cho ngành Nguồn thu của người bán hàng gồm: hoa hồng, các khoản tín dụng bán hàng, các khoản chênh lệch giá mua bán, các khoản chi phí cho các dịch vụ hoặc sản phẩm đặc biệt, các khoản thu do nỗ lực bán hàng của họ
Chính đội ngũ nhân viên này đã nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty, thu hút khách hàng và đa dạng hoá sản phẩm của công ty với sự lao động nghiêm túc để nâng cao kiến thức và phục vụ cho khách hàng
Trang 36Nhà môi giới làm việc trong công ty chứng khoán đã tạo nên uy tín, hình ảnh tốt của CTCK nếu họ được khách hàng tín nhiệm và uỷ thác tài sản của mình Từ đó góp phần đem lại thành công cho chính công ty chứng khoán họ làm việc
1.3.5.3 Đối với thị trường
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính quan trọng trên thị trường chứng khoán thể hiện qua sự phát triển sản phẩm và dịch vụ trên thị trường: Nhà môi giới chứng khoán khi thực hiện vai trò làm trung gian giữa người mua (khách hàng) và người bán (nhà phát hành) có thể nắm bắt được nhu cầu của khách hàng và
có thể phản ánh với người cung cấp sản phẩm và dịch vụ Có thể nói nghiệp vụ môi giới là một trong những nguồn cung cấp ý tưởng thiết kế sản phẩm và dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng kết quả đó xét trong dài hạn là cải thiện đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ; nhờ đó đa dạng hoá được khách hàng từ đó thu hút được ngày càng nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội phục vụ cho chiến lược đầu tư phát triển của đất nước Trong những thị trường mới phát triển, hàng hoá còn ít về số lượng và kém chất lượng, nếu các CTCK phát triển tốt, môi giới chứng khoán sẽ góp phần cải thiện đáng kể môi trường này
Cải thiện môi trường kinh doanh: Thông qua nghiệp vụ môi giới chứng khoán đã góp phần hình thành nên nền văn hoá đầu tư: Trong những nền kinh tế mà môi trường đầu tư còn thô sơ thì người dân chưa có thói quen sử dụng số tiền nhàn rỗi của mình vào để đầu tư vào các tài sản tài chính trong khi đó nguồn vốn cần cho phát triển kinh tế lại thiếu trầm trọng Để thu hút được đông đảo công chúng đầu tư, nhà môi giới tiếp cận với những khách hàng tiềm năng và đáp ứng nhu cầu của họ bằng các tài sản tài chính phù hợp cung cấp cho họ những kiến thức thông tin cập nhật để thuyết phục khách hàng mở tài khoản Khi đó người có tiền nhàn rỗi sẽ thấy được lợi ích từ sản phẩm đem lại, họ sẽ tham gia đầu tư Nghiệp vụ môi giới chứng khoán đã thâm nhập sâu vào cộng đồng các doanh nghiệp và nhà đầu tư sẽ là một yếu tố quan trọng góp phần tạo nên văn hoá đầu tư, thể hiện ở các yếu tố như:
(1) Xây dựng được ý thức và thói quen đầu tư trong cộng đồng vào các tài sản tài chính;
Trang 37(2) Thói quen và kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin trong đầu tư chứng khoán;
(3) Tạo ra sự hiểu biết và tuân thủ pháp luật đối với nhà đầu tư
Tăng chất lượng và hiệu quả dịch vụ nhờ cạnh tranh: để thành công trong nghề môi giới chứng khoán, điều quan trọng là phải ngày càng thu hút được nhiều khách hàng tìm đến mở tài khoản tại công ty, giữ chân khách hàng đã có và quan trọng hơn cả là việc gia tăng tài sản cho khách hàng trên số vốn mà khách hàng giao dịch hoặc uỷ thác cho công ty chứng khoán Từ đó có sự cạnh tranh giữa các nhà môi giới khiến cho họ không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trau dồi kiến thức, kỹ năng hành nghề; nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật và của CTCK Quá trình này đã nâng cao chất lượng và hiệu quả nghiệp vụ môi giới xét trên toàn cục Đồng thời cũng do áp lực cạnh tranh nên các CTCK không ngừng cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tốt cho khách hàng
1.4 Chất lượng hoạt động môi giới của công ty chứng khoán
1.4.1 Khái niệm chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán
Chất lượng hoạt động môi giới là một điều rất đáng lưu ý trong quá trình phát triển thị trường chứng khoán tại Việt Nam, đặc biệt là sau khi giai đoạn bùng nổ về cả lượng và chất của thị trường chứng khoán trong 2 năm qua 2020 và 2021 Thanh khoản trên thị trường bùng nổ chưa từng có, kỷ lục hơn 50 nghìn tỷ đồng/1 phiên giai đoạn cuối 2021 đầu 2022, Khối lượng giao dịch đạt hơn 1,3 tỷ cổ phiếu khớp lệnh/1 phiên; Điểm số VN-Index bứt phát 1.200 và chạm mốc 1.530; và dĩ nhiên với sự bùng nổ của thị trường chứng khoán là số lượng môi giới “mọc lên như nấm sau mưa” giai đoạn 2020-2021 Để thị trường chứng khoán phát triển một cách ổn định và bền vững, bảo
vệ lợi ích của các nhà đầu tư nhỏ lẻ, cũng nhưng nhà đầu tư lớn nhưng ít ỏi kinh nghiệm về thị trường chứng khoán thì chất lượng môi giới là một tiêu chí được quan tâm hàng đầu Vậy nên chúng ta cần hiểu và biết cách thức đánh giá được chất lượng môi giới để có thể sống sót trên thị trường
Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa (ISO) đưa ra khái niệm về chất lượng trong
bộ tiêu chuẩn ISO 9000: “Chất lượng là mức độ và khả năng đáp ứng yêu cầu của một
Trang 38tập hợp các tính chất” Trong nghiên cứu của Kochar & Kaur, 2018, hai tác giả đã đưa
ra một định nghĩa dễ hiểu hơn như sau: “Chất lượng là nhận thức của khách hàng về
hàng hóa và dịch vụ và thường không phải là đặc điểm vật lý của đối tượng”
Theo khoản 29 điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019, Môi giới chứng khoán là
việc làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng Trong đó công
ty chứng khoán làm trung gian đại diện cho khách hàng tiến hành mua hoặc bán chứng khoán cho khách hàng và được hưởng hoa hồng từ hoạt động đó Nhà môi giới chứng khoán thực hiện giao dịch cho những nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Nhà môi giới chứng khoán thường tư vấn cho khách hàng của mình trong những giao dịch chứng khoán; phân tích và giải thích cho khách về phương thức hoạt động của thị trường chứng khoán, thu thập thông tin để giúp họ có sự đầu tư tốt nhất
Từ hai định nghĩa trên tác giá đưa ra định nghĩa về chất lượng hoạt động môi
giới “chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán là nhận thức của khách hàng
về các sản phẩm dịch vụ môi giới mà công ty chứng khoán nói chung, và người môi giới nói riêng cung cấp Chất lượng hoạt động môi giới cũng phản ánh năng lực đáp ứng các nhu cầu của khách hàng khi sử dụng dịch vụ môi giới và tư vấn chứng khoán”
Nếu như chất lượng cao rất quan trọng trong lĩnh vực sản xuất, nơi hàng hóa được sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng rõ ràng thì chất lượng lại càng quan trọng hơn trong lĩnh vực dịch vụ, đặc biệt dịch vụ môi giới chứng khoán vì có tính chất
vô hình khó nhận biết Có thể xem xét chất lượng theo đánh giá của khách hàng, dịch vụ tổng thể của doanh nghiệp mang lại chuỗi lợi ích và thỏa mãn đầy đủ nhất giá trị mong đợi của khách hàng trong hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ đầu ra Khi một CTCK hiểu được khách hàng của họ sẽ đánh giá dịch vụ như thế nào, họ sẽ
có khả năng tạo ra tác động vào những đánh giá theo hướng mong muốn Chất lượng là sự so sánh giữa sự mong đợi về giá trị đầu tư của khách hàng với giá trị dịch vụ thực tế khách hàng nhận được (mức độ tin tưởng, sự hài lòng của khách hàng, mức độ được thỏa mãn cũng như lợi ích mà bộ phận môi giới mang lại cho khách hàng…) Đó đồng thời cũng là sự đo lường phân phối dịch vụ phù hợp với sự mong đợi của khách hàng tốt tới mức nào, sự thỏa mãn của khách hàng trong quá trình khách hàng đầu tư và cảm nhận dịch vụ do các CTCK cung cấp
Trang 39Hoạt động môi giới chứng khoán có chất lượng khi đem lại mức lợi nhuận cao và uy tín cho công ty chứng khoán, đem lại cơ hội kinh doanh và đảm bảo về an toàn tài chính cho khách hàng từ đó thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
1.4.2 Các tiêu chí đo lường chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán
Đối với CTCK việc đánh giá chất lượng hoạt động môi giới chính là để nhằm nâng cao và phát triển nó Do đó, công ty không thể chỉ đánh giá những lợi ích hiện tại mà hoạt động môi giới đem lại mà còn đánh giá tiềm năng phát triển của
nó trong tương lai Điều đó có nghĩa là công ty cần phải quan tâm đến khả năng làm thoả mãn lợi ích cho khách hàng của hoạt động này cũng như vai trò của nó đối với nền kinh tế Vì vậy hệ thống các chỉ tiêu được đánh giá chất lượng hoạt động môi giới bao gồm các chỉ tiêu xét trên lợi ích mà công ty đạt được từ hoạt động môi giới
và những chỉ tiêu phản ánh lợi ích mà hoạt động môi giới chứng khoán mang lại cho khách hàng và cho nền kinh tế
Hiện nay, tại Việt Nam chưa có một hệ thống các chỉ tiêu thống nhất nào phản ánh hoàn toàn chính xác chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán Tuy nhiên, chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán có thể được đánh giá dựa trên một số chỉ tiêu sau:
1.4.2.1 Tiêu chí định tính
(1) Mức độ tin tưởng của khách hàng đối với dịch vụ của công ty:
Khi khách hàng bắt đầu tham gia vào thị trường chứng khoán, bước đầu tiên trong quy trình nghiệp vụ là thực hiện các bước yêu cầu để mở một tài khoản giao dịch, sau đó khi thực hiện các giao dịch cũng sẽ phải tuân theo một số quy trình nhất định Quy trình thực hiện càng đơn giản sẽ càng tiết kiệm thời gian cũng như chi phí cho khách hàng và tận dụng được cơ hội thị trường Việc lựa chọn một công
ty chứng khoán để đồng hành trong quá trình tham gia thị trường cũng là một quyết định quan trọng đối với mỗi khách hàng, quyết định này có thể được đưa ra dựa trên mức độ tin tưởng của khách đối với dịch vụ của công ty chứng khoán, thể hiện qua các yếu tố như sự uy tín, thương hiệu của công ty trong mắt khách hàng, khách hàng tin tưởng công ty luôn tuân thủ các quy định, luật trong quá trình vận hành và công ty luôn đảm bảo bảo mật thông tin khách hàng
Trang 40(2) Mức độ hài lòng của khách hàng đối với năng lực, chất lượng nhân viên môi giới: được thể hiện chủ yếu ở hai khía cạnh:
Sự hiểu biết về quy trình nghiệp vụ cũng như các sản phẩm, dịch vụ mà công
ty cung cấp: Một trong các nghĩa vụ của nhân viên môi giới chứng khoán là thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán thông qua việc nhận lệnh và truyền lệnh vào hệ thống giao dịch tại SGDCK hoặc nhận uỷ thác theo nhu cầu của khách hàng Hiểu rõ các quy trình nghiệp vụ và các sản phẩm, dịch vụ mà công ty cung cấp sẽ giúp môi giới có thể thực hiện các giao dịch, giải quyết các vấn đề xảy ra một cách nhanh chóng cũng như cung cấp các sản phẩm tốt nhất tới khách hàng của mình Từ
đó nâng cao hiệu quả đầu tư cho khách hàng Vì vậy, sự hiểu biết về quy trình nghiệp vụ cũng như các sản phẩm, dịch vụ mà công ty cung cấp thể hiện sự chuyên nghiệp của nhân viên môi giới
Trình độ tư vấn: Nghĩa vụ quan trọng nhất của nhân viên môi giới là thu thập
và thẩm định thông tin về thị trường cổ phiếu trong hoặc ngoài nước, chứng khoán
và trái phiếu chính phủ; trên cơ sở đó đưa ra lời khuyên thích hợp cho khách hàng
Do vậy, nhân viên môi giới có trình độ tư vấn càng hiệu quả càng thể hiện sự chuyên nghiệp của mình
(3) Mức độ được thỏa mãn yêu cầu của khách hàng đối với sự đa dạng chính sách sản phẩm dịch vụ, mức độ phát triển của các hoạt động hỗ trợ như
hệ thống cơ sở vật chất, công nghệ:
Sự đa dạng về sản phẩm dịch vụ sẽ giúp các các công ty đứng vững và ngày càng phát triển hơn trên thị trường Việc da dạng hóa các sản phẩm dịch vụ hỗ trợ môi giới như các phần mềm giao dịch trực tuyến, các sản phẩm cung cấp vốn cho nhà đầu tư, cung cấp các báo cáo phân tích định kỳ hoặc theo yêu cầu, các sản phẩm phái sinh sẽ rất có ý nghĩa rất lớn đối với khách hàng, giúp khách hàng thuận tiện hơn trong các giao dịch từ đó thu hút nhiều hơn lượng khách hàng mở tài khoản giao dịch tại công ty Sản phẩm dịch vụ đa dạng sẽ giúp công ty tiếp cận được tới nhiều đối tượng khách hàng hơn bởi mỗi nhà đầu tư sẽ có những nhu cầu sử dụng, mức độ chấp nhận chi phí khác nhau, do vậy, sản phẩm, dịch vụ càng đa dạng thì