Thất nghiệp tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện Thất nghiệp tự nguyện là tình trạng thất nghiệp mà ở đó công nhân không muốn làm việc với tiền lương trên thị trường lúc đó.. Thất n
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ
****
LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ
BÀI THU HOẠCH
Sinh Viên Thực Hiện : Nguyễn Thị Vân Anh
MSSV : 1955290006
Lớp : Kinh Tế Và Quản Lý K39 Giảng Viên Hướng Dẫn : Nguyễn Thị Kim Thu
HÀ NỘI – 2021
Trang 21
MỤC LỤC
I HỌC THUYẾT THẤT NGHIỆP 2
1.1 Các Khái Niệm Về Thất Nghiệp Và Tỷ Lệ Thất Nghiệp 2
1.2 Các Loại Thất Nghiệp 2
1.2.1 Thất nghiệp tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện 2
1.2.2 Thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp cơ cấu và thất nghiệp chu kỳ 3 1.2.3 Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên 4
II HỌC THUYẾT LẠM PHÁT 4
2.1 Các định nghĩa và tác động của lạm phát 4
2.1.2 Các định nghĩa về lạm phát 4
2.1.3 Tác động của lạm phát 6
2.2 Nguồn gốc của lạm phát và những biện pháp kiểm soát lạm phát 6
2.2.2 Nguồn gốc của lạm phát 6
2.2.3 Những biện pháp kiểm soát lạm phát 7
III HỌC THUYẾT TIỀN TỆ, NGÂN HÀNG 8
3.1 Học thuyết về tiền tệ 8
3.2 Ngân hàng thương mại và quá trình tạo nguồn tiền gửi ngân hàng 9
IV LÝ THUYẾT GIỚI HẠN KHẢ NĂNG SẢN SUẤT 10
Trang 32
I HỌC THUYẾT THẤT NGHIỆP
Thất nghiệp là một vấn đề trung tâm của các xã hội hiện đại, khi mức thất nghiệp cao, tài nguyên bị lãng phí, thu nhập của nhân dân bị giảm sút
Về mặt kinh tế, những thời kỳ mức thất nghiệp cao là thời kỳ GDP thực tế thấp hơn mức tiềm năng của nó Mức thất nghiệp cao đi liền với mức cao của sản lượng bị bỏ đi hoặc không sản xuất
Về mặt xã hội, thất nghiệp gây ra tổn thất về người, tâm lý xã hội nặng nề
1.1 Các Khái Niệm Về Thất Nghiệp Và Tỷ Lệ Thất Nghiệp
Những người có việc là những người đi làm Còn những người thất nghiệp là những người không có việc nhưng đang tìm việc làm
Những người không có việc làm nhưng không tìm việc làm, là những người ngoài lực lượng lao động Đó là những người đang đi học, trông coi nhà cửa, về hưu, quá ốm đau không đi làm được hoặc thôi không tìm việc làm nữa
Tỷ lệ thất nghiệp là số người thất nghiệp chia cho toàn bộ lực lượng lao động
1.2 Các Loại Thất Nghiệp
1.2.1 Thất nghiệp tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện
Thất nghiệp tự nguyện là tình trạng thất nghiệp mà ở đó công nhân không muốn làm việc với tiền lương trên thị trường lúc đó Hay chính là thị trường có việc làm nhưng không có công nhân muốn làm
Hình 1 Thất nghiệp tự nguyện
L1 là toàn bộ lực lượng lao động, AE là số công nhân có việc làm với tiền lương Wi EF là số công nhân muốn đi làm nhưng với tiền lương cao hơn W1,
Do vậy, EF là thất nghiệp tự nguyện Nếu tiền lương thay đổi linh hoạt, sẽ không còn thất nghiệp tự nguyện nữa
Trang 43
Thất nghiệp không tự nguyện là tình trạng với tiền lương cứng nhắc, không thay đổi, một quỹ lương nhất định chỉ thuê một số lượng công nhân nhất định,
số còn lại muốn đi làm với tiền lương đó nhưng không tìm được việc làm Hay nói đơn giản là ở mức tiền công đó người lao động chấp nhận nhưng vẫn không được làm việc do kinh tế suy thoái, cung lớn hơn cầu về lao động…
Hình 2 Thất nghiệp không tự nguyện
L1 là toàn bộ lực lượng lao động Ở tiền lương W1, số công nhân muốn đi làm ở điểm G trên đường cung lao động SL, song các doanh nghiệp chỉ thuê ở điểm H trên đường cầu lao động DL Do vậy, HG là thất nghiệp không tự nguyện
So với giá cả hàng hóa thông thường, thì tiền lương có tính cứng nhắc, chỉ thay đổi sau 1 đến 3 năm kể từ khi có hợp đồng lao động Nguyên nhân là các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp không có tổ chức công đoàn, họ định ra tiền lương rồi thuê công nhân theo tiền lương đó Tiền lương có khuynh hướng giữ nguyên trong thời gian một năm
Trong các ngành công nghiệp có tổ chức công đoàn, tiền lương được định ra bằng hợp đồng nhiều năm Các công nhân tham gia công đoàn không muốn cắt lương, thậm chí trong trường hợp 1/3 công đoàn viên bị thất nghiệp Việc thương lượng để thay đổi tiền lương là rất khó khăn và phức tạp
1.2.2 Thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp cơ cấu và thất nghiệp chu kỳ
Thất nghiệp tạm thời phát sinh do sự di chuyển không ngừng của lao động giữa các vùng, các công việc hoặc các giai đoạn khác nhau của cuộc sống Do
sự di chuyển mà một số người tạm thời thất nghiệp " Thất nghiệp cơ cấu xảy ra
do sự mất cân đối giữa mức cung lao động và mức cầu lao động Sự mất cân đối này có thể diễn ra vì mức cầu về loại lao động này tăng lên trong khi mức cầu đối với loại lao động khác thì giảm đi Trong trường hợp đó, mức cung lao động điều chỉnh không kịp gây ra thất nghiệp
Trang 54
Thất nghiệp chu kỳ phát sinh khi mức cầu về lao động thấp Nó gắn với giai đoạn suy thoái và đóng cửa chu kỳ kinh doanh
1.2.3 Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
Một trong những khái niệm then chốt của kinh tế vĩ mô hiện nay là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên Đây là mức mà ở đó các thị trường lao động khác biệt ở trạng thái cân bằng Ở một số thị trường thì cầu quá mức (hoặc nhiều công việc không
có người làm), trong khi đó ở những thị trường khác thì cung quá mức (hay thất nghiệp) Gộp lại, tất cả các nhân tố hoạt động để sức ép đối với tiền lương và giá cả trên tất cả các thị trường đều cân bằng
Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên luôn phải lớn hơn số 0 Vì trong một nước rộng lớn, mức độ cơ động cao, thị hiếu và tài năng đa dạng, mức cung cầu về số loại hàng hóa, dịch vụ thường xuyên thay đổi, tất yếu có thất nghiệp tạm thời và cơ cấu
Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên liên quan chặt chẽ với lạm phát Đó là tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất mà đất nước có thể chấp nhận được ở mức trung bình mà không có nguy cơ gây lạm phát tăng xoáy ốc
Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên có xu hướng ngày càng tăng Nguyên nhân của sự gia tăng là tăng thêm số thanh thiếu niên, người thiểu số, phụ nữ và lực lượng lao động, tác động của chính sách (như trợ cấp bảo hiểm) làm cho công nhân thất nghiệp không tích cực tìm việc làm; do thay đổi cơ cấu sản xuất
Để giảm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, cần cải thiện dịch vụ thị trường lao động,
mở các lớp đào tạo, loại bỏ những trở ngại về chính sách của chính phủ, tạo ra việc làm công cộng
II HỌC THUYẾT LẠM PHÁT
2.1 Các định nghĩa và tác động của lạm phát
2.1.2 Các định nghĩa về lạm phát
Lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng - giá bánh mì, dầu xăng, xe ô tô tăng, tiền lương, giá đất, tiền thuê tư liệu sản xuất tăng Giảm lạm phát có nghĩa là giá cả chi phí nói chung hạ xuống
Ngày nay, người ta tính lạm phát bằng “chỉ số giá cả”, mức trung bình giá cả của hàng nghìn sản phẩm riêng biệt Chỉ số giá cả được sử dụng rộng rãi nhất là
Trang 65
chỉ số giá cả hàng tiêu dùng (CPI) Chỉ số này tính giá của một giỏ hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ so với giá của những thứ đó trong một năm gốc
Lạm phát tồn tại rất lâu, cùng với nền kinh tế thị trường, ở Anh kể từ thế kỷ thứ XIII đã có lạm phát
Lạm phát gồm có lạm phát vừa phải, lạm phát phi mã và siêu lạm phát
- Lạm phát vừa phải xảy ra khi giá cả tăng chậm, thường là một con số (dưới 10%), trong điều kiện lạm phát vừa phải và ổn định, giá cả tương đối không khác mức bình thường nhiều;
- Lạm phát phi mã là lạm phát xảy ra khi giá cả tăng 2 hoặc 3 con số mỗi năm
Ví dụ: Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 vẫn đang tiếp diễn khiến nguồn cung bị gián đoạn, giá năng lượng trên toàn thế giới tăng cao, lạm phát toàn cầu
là điều không tránh khỏi Theo thống kê, tại Hy Lạp, lạm phát đang ở mức cao nhất trong 25 năm và mức tăng giá của nhiều mặt hàng thực phẩm cơ bản ở mức hai con số: Rau củ tăng hơn 14% so với một năm trước, dầu ô liu tăng hơn 15%
và một số loại thịt cao hơn 17% Tại một cửa hàng tạp hóa trong khu phố ở quận Petralona ở trung tâm Athens, những người mua sắm đang chọn một vài món hàng cho biết, họ phải mang theo tờ 20 EUR thay vì tờ 10 EUR như năm ngoái
- Siêu lạm phát là lạm phát xảy ra khi tiền giấy bung ra quá nhiều, giá cả tăng lên gấp nhiều lần mỗi tháng
Ví dụ: Venezuela đã trải qua 4 năm liên tiếp với mức lạm phát không tưởng lên tới hàng nghìn phần trăm và phải thực hiện hai lần đổi tiền Chu kỳ này bắt đầu từ quý IV/2017 khi Venezuela ghi nhận mức lạm phát hàng tháng là 56,7%
và tỷ lệ lạm phát của cả năm đó là 862,6% Tuy nhiên, đó mới chỉ là sự khởi đầu cho một giai đoạn tồi tệ của nền kinh tế này, khi tỷ lệ lạm phát phi mã lên tới 130.060% vào năm 2018 Xu hướng lạm phát phi mã bắt đầu giảm dần trong năm 2020 và tháng 12 của năm đó là lần cuối cùng mức lạm phát của quốc gia Nam Mỹ này vượt quá ngưỡng 50% Lạm phát đã ảnh hưởng đến người dân Venezuela đến nỗi vào năm 2017, nhiều người trong số họ đã ồ ạt tham gia các trò chơi điện tử trực tuyến, chẳng hạn như trò chơi RuneScape với mục đích kiếm được thật nhiều tiền ảo trong trò chơi, rồi đổi số tiền ảo đó cho những người chơi khác ở nước ngoài để nhận lấy tiền thật Trong nhiều trường hợp, những game thủ này kiếm được nhiều tiền hơn cả những người làm công ăn lương ở Venezuela mặc dù họ chỉ kiếm được vài USD mỗi ngày Trong mùa Giáng sinh 2017, một số cửa hàng ở Venezuela đã quyết định không sử dụng
Trang 76
thẻ báo giá đối với các loại mặt hàng được bày bán vì giá cả tăng quá nhanh, vì vậy khách hàng được yêu cầu hỏi nhân viên tại các cửa hàng số tiền của mỗi món hàng mà họ muốn mua
2.1.3 Tác động của lạm phát
P.A Samuelson cho rằng, lạm phát tác động đến nền kinh tế bằng hai cách:
Một là, phân phối lại thu nhập và của cải
Lạm phát cân bằng và có dự đoán trước không làm cho ai bị thiệt và có lợi, vì lúc này, giá cả và tiền lương đều biến đổi theo cùng một tỷ lệ
Còn lạm phát không xác định được trước, thường có lợi cho những người mắc nợ, những kẻ tìm cách kiếm lời và đầu tư liều lĩnh, có hại cho chủ nợ, giai cấp có thu nhập ổn định, những người hưởng trợ cấp và những người đầu tư nhát gan
Hai là, thay đổi mức độ và hình thức sản lượng
Lạm phát gây ra những tác hại kinh tế lớn Khi lạm phát không cân bằng thì giá cả, thuế suất và lãi suất thực tế bị biến dạng Nhân dân đến ngân hàng nhiều hơn, thuế có thể tăng lên, thu nhập tính được có thể biến dạng
Lạm phát không dự toán trước dẫn đến những đầu tư sai lầm, phân phối lại thu nhập một cách ngẫu nhiên
Vì vậy, trong nền kinh tế hiện nay, hạn chế lạm phát là một trong những mục tiêu chủ yếu của chính sách kinh tế vĩ mô
2.2 Nguồn gốc của lạm phát và những biện pháp kiểm soát lạm phát
2.2.1 Nguồn gốc của lạm phát
P.A Samuelson cho rằng, nguồn gốc của lạm phát là do cầu kéo và chi phí đầy
Lạm phát do cầu kéo diễn ra khi nền kinh tế đạt tới hoặc vượt quá mức sản xuất tiềm năng, việc tăng mức cầu lúc này sẽ dẫn tới lạm phát (xem đồ thị hình 3)
Trang 87
Hình 3 Lạm phát do cầu kéo
Khi chi phí đẩy giá lên ngay cả trong những thời kỳ tài nguyên không được
sử dụng hết, khủng hoảng diễn ra, gọi là lạm phát do chi phí đẩy Theo P.A Samuelson, đây là hiện tượng mới của nền kinh tế công nghiệp hiện nay Nguyên nhân là tăng tiền lương, tăng giá dầu lửa và các sản phẩm sơ khai làm tăng chi phí sản xuất, đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng giá (xem đồ thị hình 4)
Hình 4 Lạm phát do chi phí đẩy
2.2.2 Những biện pháp kiểm soát lạm phát
- Chấp nhận mức lạm phát và suy thoái kinh tế Giữa lạm phát và thất nghiệp
có mối quan hệ Để giảm lạm phát phải tăng thất nghiệp và ngược lại
- Dùng “chỉ số” và những kỹ thuật thích ứng
Chỉ số hóa là một cơ chế, theo đó, người ta miễn dịch một phần hoặc hòan toàn thay đổi ở trong mức nói chung
- Kiểm soát giá cả và tiền lương hay hướng dẫn tự nguyện
Trang 98
- Dựa vào kỷ luật của thị trường cạnh tranh để hạn chế việc tăng giá cả và tiền lương
- Sử dụng chính sách thu thập dựa trên thuế, như trợ cấp cho những người mà tiền lương hoặc giá cả tăng chậm, đánh thuế vào những người làm tăng lạm phát
III HỌC THUYẾT TIỀN TỆ, NGÂN HÀNG
3.1 Học thuyết về tiền tệ
Học thuyết tiền tệ đã qua quá trình phát triển Trong thời kỳ A Smith, D Ricardo và K Marx, các nhà kinh tế học ủng hộ tư tưởng giá trị - lao động về tiền Trong Tư bản, K Marx đã phân tích các hình thái phát triển của giá trị từ hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên, đến hình thái giá trị toàn bộ hay mở rộng đến hình thái giá trị của tiền tệ Từ đó, ông rút ra bản chất của tiền Theo ông, tiền là hàng hóa đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho các hàng hóa khác Nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện giữa những người sản xuất hàng hóa Tiền được dùng để đo lường giá trị hàng hóa, phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ, phương tiện thanh toán và tiền tệ thế giới Theo các nhà kinh tế học thời kỳ này, tiền xuất hiện khi vàng được dùng làm vật ngang giá chung cho quan hệ trao đổi trong một nước cũng như phạm vi thế giới Còn tiền giấy chỉ là ký hiệu tiền tệ
Kinh tế thị trường càng phát triển, quan điểm về tiền được mở rộng lớn Các nhà kinh tế học cho rằng, ngày nay là thời đại cuả tiền ngân hàng hoặc một thế chế tài chính nào đó; thẻ tín dụng, séc du lịch được sử dụng ở các cửa hàng, thẻ ghi nợ cá nhân được ghi vào máy tính trung tâm
Từ đó, các nhà kinh tế học hiện nay kết luận: bản chất của tiền tệ là để dùng làm phương tiện trao đổi, nhờ đó chúng ta có thể mua và bán hầu hết mọi thứ Nhiều đồ vật đã được làm tiền tệ qua các thời đại nhưng ngày nay chủ yếu là thời đại của tiền giấy và tiền ngân hàng là những thứ không có giá trị nội tại Vấn đề quan trọng trong học thuyết tiền tệ hiện nay là xác định thành phần của mức cung tiền tệ Có nhiều quan điểm khác nhau về việc xác định thành phần, mức cung của tiền tệ Trong tác phẩm “Kinh tế học”, P.A Samuelson nêu một số thành phần cơ bản mức cung tiền như sau:
Tiền giao dịch được ký hiệu là My Nó bao gồm các khoản tiền thực tế được dùng cho giao dịch, để mua bán đồ vật Đó là tổng số tiền kim khí và tiền giấy
Trang 109
lưu thông bên ngoài các ngân hàng cộng với tiền gửi ngân hàng có thể rút ra bằng séc
Tiền rộng được ký hiệu là My đôi khi được gọi là “tiền tệ tài sản” hay “chuẩn tệ” Khác với My, tiền rộng My không thể sử dụng như một phương tiện không hạn chế để tiến hành những cuộc mua bán nhỏ và lớn Tuy nhiên, chúng có thể chuyển thành tiền mặt trong một thời gian rất ngắn nên rất gần với tiền giao dịch Thành phần của M gồm những tài sản, tài khoản gửi tiết kiệm ngoài tiền kim khí, tiền giấy và tiền gửi ngân hàng có thể rút ra bằng séc
Tổng số tín dụng hoặc nợ, ký hiệu là D, bao gồm toàn bộ các công cụ tài chính - tiền tệ - chuẩn tệ, công trái, văn tự cầm cố
3.2 Ngân hàng thương mại và quá trình tạo nguồn tiền gửi ngân hàng
Theo P.A Samuelson, chức năng chính của ngân hàng là cung cấp tài khoản séc cho khách hàng Chẳng hạn, ngân hàng hương mại cung cấp tài khoản séc, ngân hàng tiết kiệm cung cấp tài khoản tiết kiệm, các công ty bảo hiểm bán bảo hiểm, ngân hàng du lịch bán séc du lịch
Các ngân hàng thương mại, hội tiết kiệm và cho vay, một số các doanh nghiệp khác nhận tiền tiết kiệm hoặc quỹ của một nhóm này và cho nhóm khác vay lại hình thành nên tổ chức môi giới tài chính Những tổ chức môi giới tài chính cung cấp cho người gửi tiền nhiều loại công cụ tài chính dưới hình thức tài khoản séc, tài khoản tiết kiệm, giấy lĩnh tiền hàng năm, giấy chứng nhận tiền ký gửi 3 năm và cho những nhóm khác vay những khoản tiền nói trên
Quá trình tạo nguồn tiền gửi ngân hàng
Lý thuyết kinh tế học, một vấn đề được coi là bí hiểm nhất của tiền tệ và ứng dụng là “sự mở rộng nhiều lần của tiền gửi ngân hàng” hay là quá trình tạo nguồn tiền gửi ngân hàng Nhờ tính bí hiểm này của ngân hàng mới làm cho vai trò của nó ngày càng quan trọng trong nền kinh tế hiện nay
Vậy, quá trình mở rộng nhiều lần của tiền gửi ngân hàng diễn ra như thế nào? Nếu các ngân hàng giữ 100% tiền mặt so với tổng tiền gửi thì không có việc tạo ra nguồn tiền tăng lên gấp nhiều lần, song nếu ngân hàng trung ương quyết định các qũy dự trữ của hệ thống ngân hàng phải đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc
từ quỹ tiền gửi mới Hệ thống ngân hàng lấy những dự trữ đó làm đầu vào và