2 BỘ TƯ PHÁP ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI MÔN HỌC LUẬT DÂN SỰ 3 ĐỀ TÀI Phân tích chế định được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật theo Bộ luật dân sự 2015 Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện Mã sinh.
Trang 1ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
MÔN HỌC: LUẬT DÂN SỰ 3
ĐỀ TÀI: Phân tích chế định được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật theo
Bộ luật dân sự 2015
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Mã sinh viên:
Lớp:
Hà Nội, Tháng 11/2022
Trang 2Mục lục
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH ĐƯỢC LỢI VỀ TÀI SẢN
KHÔNG CÓ CĂN CỨ PHÁP LUẬT 4
1 Định nghĩa về chế định được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật 4
2 Được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật là căn cứ phát sinh một nghĩa vụ 3 Nghĩa vụ của các chủ thể 5
3.1 Nghĩa vụ của người được lợi 5
3.2 Nghĩa vụ của người bị thiệt hại 7
4 So sánh chế định chiếm, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật với chế định được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật 8
II SO SÁNH CHẾ ĐỊNH ĐƯỢC LỢI VỀ TÀI SẢN KHÔNG CÓ CĂN CỨ PHÁP LUẬT TRONG BLDS 2015 VÀ BLDS 2005 9
III PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN BẢN ÁN 11
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO 11
1 Tóm tắt bản án: 11
2 Các vấn đề pháp lý 11
3 Giải pháp pháp lý mà Tòa án các cấp giải quyết vấn đề pháp lý 12
4 Phân tích, bình luận bản án 12
5 Giá trị của chế định được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật 13
IV KẾT LUẬN 14
V DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
QUYẾT ĐỊNH SỐ 377/2008/DS-GĐT NGÀY 23-12-2008 CỦA TÒA DÂN SỰ
Trang 3I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH ĐƯỢC LỢI VỀ TÀI SẢN
KHÔNG CÓ CĂN CỨ PHÁP LUẬT
1 Định nghĩa về chế định được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật
Đối với chế định được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật thì hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa pháp lý cụ thể cho vấn đề này
Tuy nhiên trên thực tế thì các nhà nghiên cứu cho rằng những quy định về chế định này trong bộ luật dân sự 2015 như (Căn cứ phát sinh, nghĩa vụ hoàn trả, căn cứ xác lập…) cũng đã ngầm định hướng rằng việc có sự gia tăng tài sản và có sự thiệt hại về tài sản của một chủ thể đối với tài sản nhưng không dựa trên căn cứ pháp luật quy định nào chính là được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật
VD: A chuyển nhầm một khoản tiền lớn vào tài khoản ngân hàng của B
→ B đã có sự gia tăng tài sản
→ A đã bị thiệt hại tài sản
Chủ thể của chế định này là người được lợi về tài sản và người bị thiệt
=> Được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật là trường hợp được lợi về
tài sản mà người được lợi không có căn cứ pháp lý để được hưởng khoản lợi đó
2 Được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật là căn cứ phát sinh một
nghĩa vụ
Bộ luật dân sự 2015 đã ghi nhận được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật là một trong những căn cứ phát sinh nghĩa vụ Vậy thì câu hỏi đặt ra là được lợi
về tài sản không có căn cứ pháp luật là căn cứ phát sinh nghĩa vụ gì?
Việc có sự gia tăng tài sản hoặc được phép chiếm hữu, sử dụng tài sản của một người chỉ được pháp luật thừa nhận khi chính người đó tác động nhằm làm gia tăng khối tài sản đó hoặc chính người đó là chủ sở hữu của tài sản hoặc được chủ sở hữu chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản đó
Vì vậy trong trường hợp người không tự làm gia tăng khối tài sản, không phải chủ sở hữu hoặc không không phải người được chủ sở hữu chuyển giao quyền
Trang 4mà chiếm hữu, sử dụng tài sản thì bị coi là được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật dẫn đến phát sinh quan hệ nghĩa vụ trong đó người được lợi không có căn cứ pháp luật phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu
=> Nghĩa vụ phát sinh trong trường hợp này là nghĩa vụ hoàn trả lại tài sản
3 Nghĩa vụ của các chủ thể
3.1 Nghĩa vụ của người được lợi
* Tính chất nghĩa vụ:
“Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác
bị thiệt hại thì phải hoàn trả khoản lợi đó cho người bị thiệt hại” Đây là nghĩa vụ chủ yếu nhất của chế định này
Nghĩa vụ hoàn trả chỉ có một ngoại lệ duy nhất, đó là người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hiệu 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì không phải hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản cũng như người
bị thiệt hại
* Điều kiện phát sinh nghĩa vụ hoàn trả của người được lợi:
Thứ nhất: Phải có người đã được lợi từ tài sản của người khác Đây chính là
điều kiện tiên quyết phát sinh quyền yêu cầu hoàn trả tài sản từ người bị thiệt hại đối với người được lợi
Thứ hai: Có sự tồn tại của tình trạng được lợi về tài sản
• Tình trạng này phải được chứng minh bằng sự tăng lên (có thể
về số lượng tài sản, giá trị tài sản hoặc việc thực hiện được một khoản tiết kiệm do tránh được các khoản chi…) Sự tăng lên về giá trị tài sản được hiểu theo nghĩa rộng – sự tăng lên này có thể là kết quả của một hành động hoặc không hành động Đây là điều kiện tiên quyết trong việc xác định nghĩa vụ hoàn trả
Trang 5• Việc chứng minh này là cần thiết vì nếu không có một người bị thiệt hại thì không có vấn đề được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật
• Luật không nói rõ ai là người phải chịu trách nhiệm chứng minh Một cách hợp lý, người nào cho rằng một người khác hưởng lợi
là do đã lấy đi lợi ích của mình, thì phải tự chứng minh điều đó Điều
579 khoản 2 ghi nhận thiệt hại mà một người phải gánh chịu như là điều kiện để áp dụng điều luật
Thứ ba: Việc được lợi từ tài sản phải không có căn cứ pháp lý cho việc được lợi
• Không có căn cứ pháp lý được hiểu là tình trạng được lợi về tài sản tồn tại trong tình trạng không có bất kỳ quy tắc pháp lý nào có thể được dùng để đặt cơ sở cho việc được lợi đó (không tìm được bất kỳ căn cứ pháp luật nào để chứng minh cho sự gia
tăng về tài sản của người được lợi.)
• Đây là điều kiện quan trọng để phân biệt chế định này với các chế định khác trong pháp luật dân sự như phạt vi phạm hợp đồng, khoản tiền bồi thường thiệt hại… Bên cạnh đó, dù có lỗi hay không có lỗi về việc bị thiệt hại của mình thì người bị thiệt hại do tình trạng được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật vẫn có quyền yêu cầu hoàn trả
* Quy định về hoàn trả
Đối với quy định về hoàn trả theo bộ luật dân sự 2015 có 3 quy định chính:
• Về tài sản hoàn trả: đối tượng hoàn trả có thể là vật hoặc tiền Pháp luật cho phép bên bị thiệt hại yêu cầu hoàn trả cả hoa lợi, lợi tức
Trang 6phát sinh trên khoản tài sản mà người được lợi một cách trái pháp luật
và không ngay tình đã thu được Người được lợi
về tài sản mà không có căn cứ pháp luật và không ngay tình thì phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật (Điều 581)
• Về mức độ hoàn trả: người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã thu được hoặc
khoản lợi có được về tài sản đó
• Về phương thức hoàn trả: Căn cứ theo điều 580 BLDS 2015 nếu tài sản là vật đặc định thì người hoàn trả phải trao trả đúng vật đó Trường hợp vật đặc định không còn do bị mất hoặc bị hư hỏng mà không thể sửa chữa được thì phương thức hoàn trả sẽ do các bên thỏa thuận Nếu không có thỏa thuận thì người hoàn trả phải đền bù bằng tiền tương ứng với giá trị của tài sản Việc định giá tài sản có thể do Hội đồng thẩm định giá hoặc trung tâm thẩm định giá xác định theo yêu cầu của các bên hoặc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
3.2 Nghĩa vụ của người bị thiệt hại
Nghĩa vụ đi kèm với quyền được yêu cầu hoàn trả những khoản thiệt hại mà người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đã thu được
Người bị thiệt hại phải thanh toán những chi phí cần thiết mà người được lợi
về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình đã bỏ ra để bảo quản, làm tăng giá trị của tài sản Nghĩa vụ này chỉ phát sinh khi người được lợi đã thực hiện những hoạt động như làm tăng giá trị tài sản của người bị thiệt hại và việc hoàn trả được thực hiện bằng hiện vật
Chỉ trong trường hợp ngay tình, người chiếm hữu, sử dụng, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật mới có quyền yêu cầu thanh toán chi phí Người không ngay tình mà đã bỏ chi phí trong thời gian chiếm hữu, sử dụng tài sản thì
Trang 7không có quyền yêu cầu đó Điều này có nghĩa là người có tài sản bị chiếm hữu,
sử dụng, được lợi không có căn cứ pháp luật, đến lượt mình, lại được lợi trong khi người khác bị thiệt hại Tuy nhiên trường hợp được lợi này là có căn cứ tại điều 582, hơn nữa có thể coi việc không thừa nhận quyền yêu cầu thanh toán cho người chiếm hữu, sử dụng, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật và không ngay tình như một biện pháp chế tài với người này
Dẫu sao, nếu người bị thiệt hại do người khác được lợi về tài sản mà không
có căn cứ pháp luật tự nguyện thanh toán cho người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, thì người này có quyền, thậm chí có đủ
chính danh để nhận khoản thanh toán đó
4 So sánh chế định chiếm, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật với chế định được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật
* Giống:
• Đều là những trường hợp không có căn cứ pháp luật
• Đều có nghĩa vụ hoàn trả hoa lợi, lợi tức
• Đều là căn cứ xác lập quyền dân sự
• Chủ thể đều không phải chủ sở hữu
* Khác:
Tiêu chí Được lợi về tài sản không
có căn cứ pháp luật
Chiếm hữu tài sản không
có căn cứ pháp luật
Trang 8Khái niệm Được lợi về tài sản không
có căn cứ của pháp luật là một người bất ngờ nhận được một tài sản nhưng pháp luật không có quy định để người này được
hưởng tài sản đó Mối lợi
Chiếm hữu không có căn
cứ pháp luật là việc chiếm hữu của một người đối với một tài sản mà không dựa trên những căn cứ của pháp luật quy định
của một người là kết quả thiệt hại mà người khác phải gánh chịu
Chủ thể Chủ yếu không có mục
đích chiếm đoạt
Có thể có hoặc không có mục đích chiếm đoạt
Phân loại Ngay tình Chiến hữu ngay tình và
không ngay tình
Ví dụ A được chuyển nhầm 1
khoản tiền lớn vào tài khoản ngân hàng
A ăn trộm xe máy của C đưa cho B, B biết đấy là xe máy ăn trộm nhưng vẫn dùng
Trang 9II SO SÁNH CHẾ ĐỊNH ĐƯỢC LỢI VỀ TÀI SẢN KHÔNG CÓ CĂN CỨ PHÁP
LUẬT TRONG BLDS 2015 VÀ BLDS 2005
Chế định được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật trong BLDS 2015 cơ bản là
kế thừa BLDS 2005
Thuật ngữ “trái pháp luật” và “không có căn cứ pháp luật”
Trước khi BLDS 2015 được thông qua đã có nhiều dự thảo BLDS ban hành nhằm
lấy ý kiến của các chuyên gia và nhân dân Dự thảo của Chính phủ có nội dung “chủ sở
hữu có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu trái pháp luật”
Các nhà làm luật khi đó cho rằng sự thay thế giữa “chiếm hữu không có căn cứ pháp luật” thành “chiếm hữu trái pháp luật” mà không cho biết trái pháp luật là gì Các điều luật trước và sau đề cập khi tài sản không trên cơ sở chiếm hữu trái pháp luật mà là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật Do đó có sự không thống nhất, cuối cùng ý kiến trên sau khi được đề cập nhiều lần đã được tiếp thu và điều 166 bộ luật dân sự 2015 đã
theo hướng đó
Quy định về đòi lại tài sản từ người được lợi tài sản không có căn cứ pháp luật:
Quy định chung về quyền đòi lại tài sản tại điều 256 BLDS 2005 cơ bản được giữ nguyên tại điều 166 BLDS 2015, theo đó chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản đối với tài sản không có căn cứ pháp luật
Điều 168 BLDS 2015 quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình có sự dẫn chiếu tại khoản 2 Điều 133 Có sự bất cập:
Ví dụ trưởng hợp 1: A chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho B Sau khi nhận được Giấy chứng nhận QSDĐ thì B bán cho C Sau đó hợp đồng A và B bị Tòa tuyên vô hiệu Vậy C là ngay tình A không thể đòi tài sản lại từ C
Ví dụ trưởng hợp 2: A giao tài sản hợp pháp cho B, nhưng nhờ B quản lý giúp B đã làm cách nào đó để có Giấy CNQSDĐ và bán cho C Vậy C là ngay tình
Trang 10Trường hợp 1 A không thể đòi lại tài sản từ C vì thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 DD133 BLDS “trưởng hợp giao dịch dấn ự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng
ký tại CQNN có thảm quyền, sau đó được chuyển giao bằng 1 giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này có căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện gioa dịch thì không bị vô hiệu”
Trưởng hợp 2, không có cơ sở dể áo dụng quy định trên vì không thuộc trưởng hợp quy định tại Khoản 2 Điều 133, do áp dụng trong khuân khổ của hajauq ảu của giao dịch dấn sự vô hiệu tới người thứ 3 Trong trưởng hợp này không có giao dịch dân sự nào vô hiệu cả
III PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN BẢN ÁN
QUYẾT ĐỊNH SỐ 377/2008/DS-GĐT NGÀY 23-12-2008 CỦA TÒA DÂN
SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
1 Tóm tắt bản án:
• Nguyên đơn: bà Xê
• Bị đơn: chị Hương (con gái ông Lưu), anh Chính (chồng chị Hương)
Các tình tiết của bản án:
• Ông Lưu và bà Thẩm kết hôn năm 1964, có đăng ký kết hôn tại xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ Có con gái chung là chị Hương
(sinh năm 1965)
• Sau giải phóng miền Nam ông Lưu chuyển công tác vào Nam, bà Thẩm và chị Hương vẫn ở lại Phú Thọ Ngày 7/10/1996, ông Lưu nhận chuyển nhượng của bà Bướm 101m2 đất tại tổ 8, khu phố 10 để cất nhà ở
• Ngày 21/10/1996, ông Lưu làm thủ tục đăng ký kết hôn với bà Xê tại UBND phường 6, tp Mỹ Tho Ông bà sống chung với nhau, đến năm
Trang 112003 thì ông Lưu chết Vợ chồng chị Hương vào ở tại căn nhà trên để làm
ăn sinh sống cùng bà Xê
• Trước khi chết, ông Lưu để lại di chúc cho bà Xê được quyền sử dụng toàn bộ tài sản, bao gồm cả căn nhà mà ông đã xây Bà Thẩm lại cho rằng căn nhà là tài sản chung của bà với ông Lưu trong thời kỳ hôn nhân nên
bà yêu cầu được hưởng thừa kế theo pháp luật
2 Các vấn đề pháp lý
Điều kiện để được hoàn trả được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật:
Nghĩa vụ trong thời kỳ hôn nhân: Ông Lưu bà Thẩm đã kết hôn trên cơ sở tự
nguyện, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Kinh Kệ vào năm
1964 và có con chung là chị Hương Ông Lưu vào Nam, mẹ con bà Thẩm ở lại Phú Thọ Bà Thẩm là người trực tiếp nuôi dưỡng chị Hương từ lúc nhỏ đến khi
trưởng thành mà không có sự giúp đỡ của ông Lưu
Hôn nhân giữa ông Lưu và bà Xê: Ông Lưu kết hôn với bà Xê năm 1996 tại
UBND phường 6, thành phố Mỹ Tho
Việc thực hiện di chúc ông Lưu để lại: Ông Lưu lập di chúc ngày 27/7/2002
thể hiện ý chí để lại tài sản cho bà Xê
3 Giải pháp pháp lý mà Tòa án các cấp giải quyết vấn đề pháp lý
Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm: đều xác định di chúc của ông
Lưu lập ngày 27/7/2002 là di chúc hợp pháp Từ đó bà Xê được hưởng toàn bộ di
sản của ông Lưu
Tòa án Tối cao: Quyết định hủy bán án dân sự sơ thẩm và bản án dân sự
phúc thẩm về vụ án “Tranh chấp thừa kế tài sản” giữa nguyên đơn là bà Xê với chị Hương và anh Chính Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang giải quyết theo đúng quy định của pháp luật
Trang 124 Phân tích, bình luận bản án
Trên cơ sở điều kiện nghĩa vụ hoàn trả khi có lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật:
Thứ nhất, được lợi về tài sản:
Cả hai ông bà đều có nghĩa vụ chăm sóc và nuôi dạy con chung là chị Hương Tuy nhiên, từ sau khi ông Lưu vào Nam công tác, một mình bà Thẩm đã phải chăm
lo cho chị Hương mà không có sự giúp đỡ của ông Lưu Hay nói cách khác, ông Lưu được lợi về tài sản vì việc nuôi dưỡng chăm sóc con yêu cầu ông phải đầu
tư nhưng ông không làm việc này
Thứ hai, tài sản được lợi không có căn cứ pháp luật: việc được lợi về tài sản từ
hành vi không thực hiện nghĩa vụ của ông Lưu là không đúng quy định pháp luật
Thứ ba, có người bị thiệt hại:
Hành vi của ông gây ra thiệt hại với bà Thẩm đã một mình nuôi dưỡng con chung từ lúc nhỏ đến trưởng thành, là thiệt hại về tinh thần và vật chất mà đáng nhẽ
ra bà sẽ được hưởng nếu ông Lưu làm tròn nghĩa vụ
Trong trường hợp này bà Thẩm là người bị thiệt hại đồng thời là người được thụ hưởng nghĩa vụ hoàn trả Khi giải quyết cần xem xét đến công sức nuôi con chung của bà Thẩm Những gì mà ông Lưu được lợi từ bà Thẩm là việc chăm sóc con chung nên ông Lưu có thể thực hiện nghĩa vụ hoàn trả bằng tiền Việc xác định trách nhiệm phải căn cứ vào khả năng thực tế của ông Lưu và nhu cầu của chị Hương cũng như điều kiện thực tế khi bà Thẩm nuôi dưỡng chị Hương
Với việc thỏa mãn 3 điều kiện trên, quyết định của Tòa án nhân dân tối cao là hợp lý
5 Giá trị của chế định được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật
Không ai được hưởng bất cứ lợi ích gì nếu không đúng pháp luật Một khi việc chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật hoặc tình trạng được lợi