MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, giai cấp nông dân luôn là một lực lượng xã hội to lớn, có vai trò hết sức quan trọng, là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đã góp phần làm nên lịch sử vẻ vang của dân tộc. Nông dân Việt Nam vốn giàu lòng yêu nước và nhiệt tình cách mạng, chịu đựng gian khổ, hy sinh, lao động cần cù, sáng tạo, góp phần quan trọng trong việc giữ vững và phát triển sản xuất, bảo đảm cuộc sống cho cả cộng đồng dân tộc; đồng thời đấu tranh kiên cường chống áp bức, bóc lột của thực dân, đế quốc, phong kiến để giành độc lập, tự do, xây dựng và bảo vệ đất nước và giải phóng bản thân mình. Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giai cấp nông dân vẫn đóng vai trò rất quan trọng. Nông dân vẫn là lực lượng lao động cơ bản trong xã hội, là chủ lực quân trên mặt trận nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới văn minh, hiện đại, cùng với giai cấp công nhân và lực lượng lao động khác trong xã hội tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khoá X tiếp tục khẳng định: Trước đây, hiện nay cũng như sau này, Đảng ta luôn đặt nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở vị trí chiến lược quan trọng, coi đó là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế xã hội bền vững, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái”. Xuất phát từ vị trí, vai trò của giai cấp nông dân, trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cánh mạng, Đảng cộng sản Việt Nam luôn đánh giá cao vai trò của nông dân và luôn coi trọng công tác vận động nông dân. Đảng ta cho rằng: làm tốt công tác vận động nông dân có ý nghĩa quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ rằng: Nông dân là một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất trung thành của giai cấp công nhân, muốn kháng chiến, kiến quốc thành công, muốn độc lập, thống nhất thật sự phải dựa vào lực lượng của nông dân, nếu nông dân được lãnh đạo tốt thì khó khăn gì họ cũng khắc phục được, việc to lớn mấy họ cũng làm được. Nhận thức được vai trò quan trọng của công tác vận động nông dân, trong những năm vừa qua, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới đất nước, các cấp uỷ đảng, chính quyền đã có nhiều biện pháp vận động nông dân, chăm lo lợi ích cho nông dân. Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, đời sống nông dân ngày càng được cải thiện và nâng cao. Nông nghiệp nước ta đang trên đà phát triển, có nhiều đóng góp cho nền kinh tế đất nước. Nông thôn Việt Nam đang được đổi mới hàng ngày, hàng giờ. Có thể nói, những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn có phần đóng góp quan trọng của công tác vận động nông dân. Cũng như các địa phương khác trong cả nước, Đảng bộ Thanh Hoá đã quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác dân vận nói chung, công tác vận động nông dân nói riêng. Các đảng bộ huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá luôn chú trọng vận động, tập hợp nông dân, lôi cuốn nông dân tham gia các phong trào cách mạng và đã đạt được nhiều thành quả quan trọng. Đời sống nhân dân Thanh Hoá nói chung, của nông dân các huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá nói riêng được cải thiện không ngừng. Nông dân luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và một lòng, một dạ đi theo con đường mà Đảng và Bác Hồ đã chọn. Bước vào thời kỳ mới, xuất phát từ vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Đảng bộ Thanh Hoá cũng như các cấp uỷ địa phương xác định nhiệm vụ của công tác vận động nông dân càng nặng nề. Các cấp uỷ đảng cần phải tăng cường đẩy mạnh công tác vận động nông dân hơn nữa, tạo ra nhiều phong trào nông dân rộng lớn để đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, làm cơ sở cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên các lĩnh vực khác của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác vận động nông dân của các đảng bộ huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá thời gian qua còn có những hạn chế, khuyết điểm. Không ít cấp uỷ đảng, chính quyền chưa nhận thức đúng đắn và đầy đủ vị trí, vai trò của nông dân, nông nghiệp, nông thôn và chưa thật sự coi trọng công tác vận động nông dân; nội dung, hình thức, phương pháp vận động nông dân còn bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới. Không ít cấp uỷ, tổ chức đảng, nhất là ở cơ sở đang còn lúng túng về nội dung, hình thức và phương pháp vận động nông dân. Phong trào nông dân trong các huyện phát triển chưa mạnh. Đời sống nông dân còn nhiều khó khăn. Tình hình kinh tế xã hội nông thôn đang có nhiều diễn biến phức tạp, nhiều vấn đề bức xúc đang nảy sinh; lòng tin của nông dân đối với tổ chức Đảng, chính quyền chưa cao. Những hạn chế, khuyết điểm trong công tác vận động nông dân của các tổ chức đảng đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương, đến phong trào nông dân và đời sống của nông dân. Trước thực trạng ấy, để góp phần nâng cao đời sống nông dân, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn các huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá cũng như sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đòi hỏi các đảng bộ huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá phải nhanh chóng phát huy ưu điểm, khắc phục, hạn chế khuyết điểm trong công tác vận động nông dân. Việc phân tích đúng tình hình, luận giải những vấn đề bức xúc đang đặt ra trong nông thôn các huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá, đề ra những giải pháp khả thi nhằm góp phần tăng cường công tác vận động nông dân của các đảng bộ huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết và cấp bách.
Trang 1Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bớc vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nớc, giai cấp nông dân vẫn đóng vai trò rất quan trọng.Nhận thức đợc vai trò quan trọng của công tác vận độngnông dân, trong những năm vừa qua, đặc biệt là trong thời
kỳ đổi mới đất nớc, các cấp uỷ đảng, chính quyền đã cónhiều biện pháp vận động nông dân, chăm lo lợi ích chonông dân
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt đợc, công tácvận động nông dân của các đảng bộ huyện vùng đồngbằng Thanh Hoá thời gian qua còn có những hạn chế, khuyết
điểm
Trớc thực trạng ấy, để góp phần nâng cao đời sốngnông dân, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn cáchuyện vùng đồng bằng Thanh Hoá cũng nh sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, đòi hỏi các đảng bộhuyện vùng đồng bằng Thanh Hoá phải nhanh chóng pháthuy u điểm, khắc phục, hạn chế khuyết điểm trong côngtác vận động nông dân Vì vậy, tác giả chọn đề tài: "Côngtác vận động nông dân của các đảng bộ huyện vùng đồngbằng tỉnh Thanh Hoá giai đoạn hiện nay" làm luận văn thạcsĩ
Trang 2Việc phân tích đúng tình hình, luận giải những vấn
đề bức xúc đang đặt ra trong nông thôn các huyện vùng
đồng bằng Thanh Hoá, đề ra những giải pháp khả thi nhằmgóp phần tăng cờng công tác vận động nông dân của các
đảng bộ huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá trong giai đoạnhiện nay là rất cần thiết và cấp bách
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề nông dân và công tác vận động nông dân từtrớc đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu và bàiviết, tuỳ thuộc từng góc độ, phạm vi nghiên cứu mà có cáchtiếp cận và nội dung đề cập khác nhau, đáng chú ý là một
số công trình nghiên cứu khoa học sau:
- "Lịch sử phong trào nông dân và Hội nông dân Việt Nam (1930 - 1995)"của Hội nông dân Việt Nam, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 1998
- "Công tác vận động nông dân của Đảng trong thời kì
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc”, luận án
tiến sĩ Lịch sử của tác giả Lê Kim Việt, Học viện Chính trịquốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2003
- "Công tác vận động nông dân ở Đảng bộ tỉnh Cà Mau trong giai đoạn hiện nay” Luận văn thạc sĩ khoa học chính
Trang 3trị của Đặng Trí Thủ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ ChíMinh, Hà Nội, 2006.
- "Nâng cao chất lợng công tác vận động nông dân của các Đảng bộ xã ở tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay”,
luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử của Phạm Đức Hoá, Học việnchính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2003
- "Tổ chức và hoạt động của Hội nông dân Việt Nam trong giai đoạn mới"của Vũ Ngọc Kì, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2005
- "Nông nghiệp và nông thôn trên con đờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hợp tác hoá, dân chủ hoá"của Vũ
Oanh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998
- "Công tác vận động nông dân trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc", của Trung ơng
Hội nông dân Việt Nam và đề tài nghiên cứu khoa học KHBD
12, Nxb nông nghiệp, Hà Nội, 1999
- "Mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong thời kì
đổi mới đất nớc, vấn đề và kinh nghiệm”, của Nguyễn Văn
Sáu, Trần Xuân Sầm, Lê Doãn Tá đồng chủ biên, Nxb Chínhtrị quốc gia, Hà Nội, 2002
- "Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kì CNH - HĐH đất nớc”, bài đăng trên báo
Nhân dân từ số 19203, ngày 17 tháng 3 năm 2008 đến số
19207 ngày 21 tháng 3 năm 2008
- Nông nghiệp và nông dân Việt Nam phải làm gì để hội nhập kinh tế quốc tế, của Võ Tòng Xuân, Tạp chí Cộng sản số 6(150), tháng 3/2008.
Trang 4- Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn trong tình hình mới, của Hồ Văn Vĩnh, Tạp chí Cộng sản số 7(151), tháng 4/2008.
Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu và các bàiviết đăng trên các báo, tạp chí, các hội thảo khoa học khác cóliên quan đến đề tài nông dân và công tác vận động nôngdân
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đề cậpkhá nhiều nội dung về vấn đề nông dân và công tác vận
động nông dân dới các góc độ khác nhau Nhiều bài viếtluận giải khá sâu sắc về vị trí, vai trò của nông dân ViệtNam trong sự nghiệp cách mạng của Đảng Một số công trình,bài viết đề cập đến thực trạng nông thôn, nông nghiệp,nông dân và công tác vận động nông dân, đồng thời đềxuất nhiều giải pháp nhằm tăng cờng công tác vận độngnông dân của các cấp uỷ đảng, chính quyền trong thời kỳmới
Tuy nhiên, cho đến nay cha có công trình, bài viết nàonghiên cứu một cách sâu sắc về nông dân và công tác vận
động nông dân của các đảng bộ huyện vùng đồng bằngThanh Hoá trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nớc
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo
sát thực tế, luận văn đề xuất những phơng hớng, giải phápchủ yếu nhằm tăng cờng công tác vận động nông dân củacác đảng bộ huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá trong giai
đoạn hiện nay
Trang 53.2 Nhiệm vụ:
Làm rõ một số vấn đề lý luận chủ yếu về công tác vận
động nông dân + Phân tích đặc điểm, vai trò củanông dân các huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá trong lịch
sử cũng nh trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoánông nghiệp, nông thôn ở Thanh Hoá
Đánh giá đúng thực trạng công tác vận động nông dâncủa các đảng bộ huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá, xác
định rõ nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm thựctiễn
Nêu lên phơng hớng, mục tiêu và đề xuất những giảipháp chủ yếu tăng cờng công tác vận động nông dân củacác đảng bộ huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá trong giai
đoạn hiện nay
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tợng nghiên cứu của luận văn là công tác vận độngnông dân của các đảng bộ huyện vùng đồng bằng ThanhHoá, mà trực tiếp là của các Ban chấp hành huyện uỷ và các
đảng uỷ cơ sở thuộc 8 huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá,bao gồm các huyện: Đông Sơn, Hà Trung, Nông Cống, ThiệuHoá, Thọ Xuân, Triệu Sơn, Vĩnh Lộc và Yên Định
- Phạm vi nghiên cứu: Các chủ trơng, nghị quyết của các
đảng bộ huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá về công tác vận
động nông dân từ năm 2001 đến nay và từ nay đến năm
2015
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phơng pháp nghiên cứu của luận văn
Trang 6- Cơ sở lý luận của luận văn đợc dựa trên cơ sở lý luậncủa chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, quan điểm,
đờng lối của Đảng cộng sản Việt Nam; nghị quyết của Đảng
bộ Thanh Hóa và của các đảng bộ huyện vùng đồng bằngThanh Hoá về công tác dân vận, về nông dân và công tácvận động nông dân
- Cơ sở thực tiễn của luận văn là tình hình nông dân,nông thôn và thực trạng công tác vận động nông dân của 8huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá thời gian qua, đồng thờixuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ của Đảng bộ, nhân dân 8huyện trong giai đoạn 2005 - 2015
- Phơng pháp nghiên cứu: Luận văn chủ yếu kết hợpnghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn Đồng thời cũng sửdụng các phơng pháp phân tích và tổng hợp, lôgic và lịch
sử, khảo sát thực tế và kế thừa các công trình nghiên cứu trớc
đây
6 Đóng góp của luận văn
- Góp phần nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò củanông dân và công tác vận động nông dân của các đảng bộhuyện vùng đồng bằng Thanh Hoá
- Góp phần làm rõ những căn cứ khoa học và thực tiễncủa việc xác định phơng hớng, mục tiêu và giải pháp tăng c-ờng công tác vận động nông dân của các đảng bộ huyệnvùng đồng bằng Thanh Hoá và đảng bộ Thanh Hóa trong giai
đoạn hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Trang 7Ngoµi phÇn më ®Çu, kÕt luËn, phô lôc vµ danh môc tµiliÖu tham kh¶o, kÕt cÊu cña luËn v¨n gåm 3 ch¬ng, 6 tiÕt
Trang 8Chơng 1 Công tác vận động nông dân của các đảng bộ huyện vùng đồng bằng tỉnh thanh hoá - những vấn đề
lý luận và thực tiễn
1.1 Nông dân và các đảng bộ huyện vùng đồng bằng tỉnh Thanh Hoá - đặc điểm, vị trí, vai trò
1.1.1 Khái quát đặc điểm địa lý - dân c các huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá
1.1.1.1 Về đặc điểm địa lý, tự nhiên
- Tỉnh Thanh Hóa nằm ở cực Bắc miền Trung, cách thủ
đô Hà Nội 150 km về phía Nam Diện tích tự nhiên rộng1.112.023 ha Địa hình đa dạng, chia làm 3 vùng rõ rệt: vùngnúi và trung du; vùng đồng bằng và vùng ven biển Thanh Hóa
có 27 huyện, thị, thành phố Vùng đồng bằng có 8 huyện:Yên Định, Thiệu Hóa, Vĩnh Lộc, Thọ Xuân, Triệu Sơn, NôngCống và Hà Trung Các huyện vùng đồng bằng Thanh Hóanằm ở khu vực trung tâm của tỉnh, thuộc trung lu và hạ lusông Mã, sông Chu và một số sông nhỏ khác Tổng diện tích
đất tự nhiên 177.089,61 ha, chiếm phần lớn diện tích đồngbằng sông Mã (đồng bằng lớn thứ ba ở nớc ta, sau đồng bằngBắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ) Phần lớn đất đai trong vùng
đợc bồi tụ bởi hệ thống sông Mã và một số hệ thống sông nhỏkhác nên địa hình tơng đối bằng phẳng, phì nhiêu, thuậnlợi cho phát triển nông nghiệp Tuy nhiên, địa hình vùng
đồng bằng Thanh Hoá không hoàn toàn bằng phẳng nh
đồng bằng Bắc Bộ hay Nam Bộ mà có xen kẽ đồi núi thấp.Các huyện: Thọ Xuân, Triệu Sơn, Vĩnh Lộc, Yên Định có một
Trang 9phần diện tích ở phía Tây giáp các huyện miền núi củaThanh Hóa Đây là vùng bán sơn địa, địa hình chủ yếu là
đồi núi thấp, có khả năng phát triển lâm nghiệp Trong vùng
có 2 con sông lớn là sông Mã và sông Chu Ngoài ra còn có một
số sông nhỏ khác nh: sông Bởi (Vĩnh Lộc), sông Hoàng (ĐôngSơn, Nông Cống, Triệu Sơn), sông Yên (Nông Cống), sôngNhơm (Triệu Sơn)…
- Khí hậu toàn vùng thuộc khu vực khí hậu nhiệt đới giómùa, với 4 mùa rõ rệt Lợng ma trung bình khoảng từ 1700 mm
đến 2200 mm/ năm Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng
230C đến 240C Số ngày nắng trong năm khá cao Nhìnchung đặc điểm khí hậu, thời tiết vùng này thuận lợi chosản xuất nông, lâm nghiệp Song vẫn bị thiên tai nguy hiểm
là rét đậm và vùng phía Tây thờng chịu ảnh hởng của gióphơn Tây nam khô nóng
- Tiềm năng, thế mạnh kinh tế trong vùng trớc hết là tàinguyên đất Đất nông nghiệp tơng đối màu mỡ, đã đợc nôngdân khai phá, sử dụng, cải tạo hàng vạn năm nay để sản xuấtnông nghiệp, chủ yếu là trồng lúa nớc rất có hiệu quả Diệntích đất nông nghiệp toàn vùng khoảng hơn 105.631 ha,chiếm hơn 43% diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh ThanhHóa Ngoài đất trồng lúa là chủ yếu, trong vùng còn có mộtphần diện tích đất đồi núi để phát triển lâm nghiệp, một sốvùng đất trũng và hồ để phát triển nuôi trồng thủy sản Đất
đai trong vùng có khả năng để phát triển một nền nôngnghiệp hàng hóa đa dạng, đa sản vật
Trong vùng còn có khá nhiều núi đá vôi nằm rải rác ở cáchuyện, là nguồn khoáng sản có trữ lợng khá lớn để phát triển
Trang 10ngành sản xuất vật liệu xây dựng, nhiều nhất là ở Vĩnh Lộc,Yên Định, Đông Sơn, Hà Trung Có quặng Crôm, Secpentin ởTriệu Sơn, Phốt phát ở Thọ Xuân với trữ lợng khá Ngoài ra còn
có một số loại khoáng sản khác nh: sét, cao lanh, than bùn, cátsỏi v.v
1.1.1.2 Về đặc điểm dân c
- Qua tài liệu lịch sử, địa chí các huyện trong vùng chothấy, đây là vùng đất có bề dày lịch sử, con ngời đã sinhsống ở đây từ lâu đời nên mật độ dân c khá đông đúc.Tổng dân số toàn vùng khoảng 1.314.993 ngời, chiếmkhoảng trên 35,5% dân số toàn tỉnh Thanh Hóa Phần lớndân c trong vùng là nông dân, sống bằng nghề nông, tuyệt
đại đa số là ngời Kinh, có một bộ phận nhỏ là đồng bào dântộc ít ngời, gồm ngời Mờng và ngời Thái ở các huyện: ThọXuân, Vĩnh Lộc, Triệu Sơn, Yên Định Số ngời theo các tôn giáokhá đông, nhiều nhất là Phật giáo Ngoài ra còn có một số vùngdân c theo đạo Thiên chúa giáo Điểm nổi bật của dân c vùng
đồng bằng Thanh Hoá là sống quần tụ theo các làng, xóm,thôn Mỗi làng là một quần tụ dân c có cấu kết khá chặt chẽ,bền vững Làng đợc hình thành cùng với sự phát triển, biến
đổi của lịch sử Trong lịch sử hàng nghìn năm, làng xã ViệtNam nói chung và làng xã vùng đồng bằng Thanh Hoá luôn là
đơn vị hành chính cơ bản nhất và thấp nhất của hệ thốnghành chính, là điểm tựa tinh thần bền vững của ngời nôngdân
Các huyện vùng đồng bằng Thanh Hóa là mảnh đất giàutruyền thống yêu nớc và cách mạng, là quê hơng của những con
Trang 11ngời lao động cần cù, thông minh, sáng tạo Nét đẹp truyềnthống đó có từ xa xa, khi con ngời nơi đây phải đấu tranhkhông mệt mỏi để chống chọi với thiên nhiên, khẩn hoang, trịthủy với biết bao mồ hôi, công sức để vợt qua bão dông, lụt lội,nắng hạn; đấu tranh để chống giặc ngoại xâm, giành giữ
độc lập, tự do cho dân tộc, cho quê hơng
- Về đơn vị hành chính: Điều 118 hiến pháp nớc ta, banhành năm 1992 đã qui định nh sau: " tỉnh chia thànhhuyện Huyện chia thành xã, thị trấn; ” Bởi thế, hiện nay,
8 huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá đợc chia thành 232 xã, thịtrấn, trong đó có 16 xã thuộc vùng miền núi Cụ thể: huyện Yên
Định có 27 xã, 2 thị trấn(1 xã miền núi); huyện Vĩnh Lộc có 15xã, 1 thị trấn; huyện Thọ Xuân có 38 xã, 3 thị trấn(5 xã miềnnúi); huyện Thiệu hoá có 30 xã, 1 thị trấn; huyện Đông sơn có
20 xã, 1 thị trấn; huyện Hà Trung có 24 xã, 1 thị trấn(6 xã miềnnúi); huyện Triệu Sơn có 35 xã, 1 thị trấn(4 xã miền núi);huyện Nông Cống có 32 xã, 1 thị trấn Theo qui định của tỉnhThanh Hoá, các xã, thị trấn đợc chia thành các thôn (thuộc xã) vàkhu phố (thuộc thị trấn) Thôn là đơn vị dân c, còn xã là đơn
vị hành chính cuối cùng trong hệ thống hành chính ở nớc ta
1.1.2 Đặc điểm và vai trò của nông dân các huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá
Trang 12Đặc điểm nông dân các huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá
- Nông dân các huyện VĐBTH có tinh thần lao động cần
cù, chịu khó, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, sốnggiản dị, mộc mạc, chân tình, thật thà chất phác
- Nông dân các huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá cólòng yêu nớc nồng nàn, một lòng một dạ gắn bó với Đảng cộngsản Việt Nam
- Nông dân các huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá cótinh thần cộng đồng cao, sống trọng nghĩa, trọng tình
- Nông dân các huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá vẫncòn ảnh hởng của t tởng thời kỳ phong kiến và thời kỳ baocấp
1.1.2.2 Vai trò của nông dân các huyện vùng
đồng bằng Thanh Hoá
Nông dân là lực lợng vô cùng quan trọng của xã hội ở nớc
ta, kể từ thời xa xa, các bậc vua quan của các triều đại phongkiến đã nhìn thấy vai trò và sức mạnh to lớn của giai cấpnông dân Nguyễn Trãi đã từng nói "Nâng thuyền cũng làdân mà lật thuyền cũng là dân”, hoặc "Lật thuyền mới biếtdân nh nớc” "Dân" trong xã hội phong kiến nói ở đây chính
là nông dân Chính vì vai trò to lớn của nông dân mà cáctriều đại phong kiến đã có nhiều biện pháp thu phục lòngdân, khoan th sức dân, lôi cuốn nông dân vào việc phục vụnhững lợi ích chính trị của mình
C.Mác và F.ăngghen trong quá trình sáng lập ra chủnghiã xã hội khoa học, hai ông luôn nhấn mạnh vai trò to lớn, vị
Trang 13trí quan trọng của nông dân trong tiến trình lịch sử xã hội,
đã nhận thấy ở nhiều quốc gia, nông dân vẫn là: "Nhân tốrất cơ bản của dân c, của nền sản xuất và của lực lợng chínhtrị" [68, tr.715] Phân tích cuộc đấu tranh giai cấp ở Pháp,
C Mác đã chỉ rõ, trong cuộc đấu tranh chống lại mọi sự cờngquyền, áp bức và nô lệ, sự nổi dậy của giai cấp nông dânchống lại t bản là một điều kiện không thể thiếu để cáchmạng có thể thắng lợi
Nhận thức rõ của vai trò của giai cấp nông dân, nhất là
ở các nớc thuộc địa và nửa thuộc địa, V.I.Lênin cho rằng vấn
đề giải phóng dân tộc thực chất là giải phóng giai cấp nôngdân Sự liên minh của giai cấp công nhân với giai cấp nôngdân là một điều kiện có tính bắt buộc và quyết định cho
sự thành công của cách mạng vô sản Giai cấp công nhân sẽkhông hoàn thành nhiệm vụ của mình "Nếu không đoànkết quần chúng lao động ở nông thôn chung quanh Đảngcộng sản và giai cấp vô sản thành thị, nếu Đảng cộng sảncủa giai cấp vô sản không giáo dục quần chúng lao động ởnông thôn"[66, tr.208]
Kế thừa và phát triển những t tởng, quan điểm của chủnghĩa Mác - Lênin, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhậnthức sâu sắc và đánh giá đúng đắn vị trí, vai trò củanông dân trong tiến trình cách mạng của dân tộc Đảng tacoi giai cấp nông dân là lực lợng quan trọng trong khối liênminh công nhân, nông dân, trí thức Cùng với giai cấp côngnhân, đội ngũ trí thức, giai cấp nông dân là chủ lực quântrong cách mạng giải phóng dân tộc, trong công cuộc CNH -
Trang 14HĐH và xây dựng CNXH trên đất nớc ta Thực tiễn cách mạngnớc ta gần 80 năm qua đã khẳng định vai trò của giai cấpnông dân.
Cũng nh giai cấp nông dân Việt Nam nói chung, nôngdân các huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá có một vai trò tolớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hơng, đất nớc.Với hơn 80% dân số là nông dân, trong suốt chiều dài lịch
sử đấu tranh xây dựng, bảo vệ quê hơng, ở các huyệnVĐBTH, nông dân luôn là đội quân chủ lực đi đầu trong
đấu tranh chống chọi với thiên nhiên và giặc ngoại xâm Ngờinông dân ở đây đã đổ biết bao công sức, máu xơng để
đắp đê, khai phá đất đai, giữ đất giữ làng, cống hiến chonền độc lập, tự do của dân tộc Trải qua cuộc sống lao độnghàng ngàn năm, nông dân các huyện VĐBTH đã góp phầnquan trọng, to lớn trong việc sáng tạo nên các giá trị vật chấttinh thần và truyền thống văn hoá quí báu của quê hơng
Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc dới sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nông dân các huyệnVĐBTH có vai trò hết sức to lớn Họ là đội quân chủ lực củacách mạng, lực lợng xung kích đi đầu trong đấu tranh chống
đế quốc, phong kiến, giành chính quyền và là lực lợng quantrọng góp phần xây dựng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyềncách mạng ở các huyện VĐBTH Trong các cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp, hàng vạn nông dân Thanh Hoá đã trựctiếp tham gia dân công tiếp viện cho chiến trờng Những
đoàn dân công gùi gánh, xe thồ nối đuôi nhau phục vụ chochiến dịch Điện Biên phủ, những phong trào "hũ gạo tiết
Trang 15kiệm”, phong trào "hiến của cải cho kháng chiến”,v.v trongnông thôn Thanh Hoá vẫn là niềm tự hào truyền thống củacác lớp thế hệ nhân dân Thanh Hoá
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, bảo vệ tổquốc, hàng chục vạn con em nông dân các huyện VĐBTH đãtrực tiếp tham gia chiến đấu trên chiến trờng Những phongtrào "thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một ng-ời”; phong trào "Mỗi ngời làm việc bằng hai”; "Tất cả vìmiền Nam ruột thịt" đã trở thành truyền thống, thành máuthịt, niềm tự hào của mỗi ngời nông dân Thanh Hoá
Trong công cuộc phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vậtchất cho CNXH, nông dân VĐBTH đã có nhiều đóng góp quantrọng Phong trào hợp tác hoá những năm 1960, phong trào kiên
cố hoá kênh mơng những năm đầu 1990, phong trào dồn điền
đổi thửa những năm vừa qua, phong trào cải tiến cơ chế quản
lý kinh tế, v.v và gần đây là các phong trào thâm canh tăng
vụ, xây dựng công trình thuỷ lợi, giao thông, trờng học, xâydựng làng văn hoá đợc nông dân đồng tình hởng ứng, lànhững điểm sáng, điển hình tiên tiến giúp cho Thanh Hoá vàTrung ơng đúc rút đợc những kinh nghiệm hay trong chỉ đạophát triển nông nghiệp Trong công cuộc đổi mới, các phongtrào nông dân đã tạo nên động lực mới cho kinh tế - xã hội pháttriển trên các lĩnh vực khác của tỉnh
Bớc vào thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH, nông dân VĐBTHvẫn là lực lợng cơ bản, trực tiếp thực hiện CNH - HĐH nôngnghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới, là chủ lực quânxung kích trong chuyển đổi cơ cấu sản xuất, ứng dụng các
Trang 16tiến bộ khoa học - công nghệ trong nông nghiệp và xoá bỏnghèo nàn, lạc hậu ở địa phơng, tạo điều kiện cho sản xuấtnông nghiệp phát triển và ứng dụng thành tựu khoa học, kỹthuật vào sản xuất; đi đầu trong phát triển kinh tế trang trạinông nghiệp, nông thôn, tạo ra bớc chuyển biến mới trongphát triển kinh tế, đẩy mạnh CNH - HĐH nông nghiệp, nôngthôn ở Thanh Hoá và cả nớc Các huyện VĐBTH vẫn là mộttrong những vựa lúa lớn, nơi cung cấp phần lơng thực, thựcphẩm lớn nhất của Thanh Hoá Nông nghiệp vẫn đang gópphần quan trọng cho tổng thu nhập và tăng trởng GDP hàngnăm trên địa bàn của tỉnh.
1.1.3 Khái quát tình hình các đảng bộ huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá
1.1.3.1 Về cơ cấu tổ chức bộ máy
Các đảng bộ huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá hiệnnay có 483 tổ chức cơ sở Đảng trực thuộc, với 58.215 đảngviên, trong đó có 232 đảng uỷ xã, thị trấn; 2216 chi bộ thôn,với 49.413 đảng viên sinh hoạt ở chi bộ nông thôn
1.1.3.2 Về chức năng, nhiệm vụ
Chơng IV và chơng V Điều lệ Đảng (khoá X) qui định rõchức năng, nhiệm vụ của cơ quan lãnh đạo của Đảng ở cáccấp địa phơng (tỉnh, huyện và tơng đơng) và của tổ chứccơ sở đảng Điều 19 chỉ rõ: "Cấp uỷ tỉnh , cấp uỷ huyện lãnh đạo thực hiện nghị quyết đại hội đại biểu; nghị quyết,chỉ thị của cấp trên Điều 23 nêu rõ 5 nhiệm vụ của tổ chứccơ sở đảng, cụ thể là: "Tổ chức cơ sở đảng cónhiệm vụ:
Trang 171 Chấp hành đờng lối, chính sách của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nớc, đề ra chủ trơng, nhiệm vụ chính trị của đảng
bộ, chi bộ và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả
2 Xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh vềchính trị, t tởng và tổ chức; thực hiện đúng nguyên tắc tậptrung dân chủ; nâng cao chất lợng sinh hoạt Đảng; thực hiện
tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỉ luật và tăng cờng
đoàn kết thống nhất trong Đảng; thờng xuyên giáo dục, rènluyện và quản lí cán bộ, đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo
đức cách mạng, tính chiến đấu, trình độ kiến thức, năng lựccông tác; làm công tác phát triển đảng viên
3 Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh
tế, hành chính, sự nghiệp, quốc phòng, an ninh và các đoànthể chính trị-xã hội trong sạch, vững mạnh, chấp hành đúngpháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
4 Liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sốngvậy chất, tinh thần và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhândân; lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện
đờng lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nớc
5 Kiểm tra việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết,chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nớc đợc chấp hànhnghiêm chỉnh ”
Điều 24 qui định: " chi bộ lãnh đạo thực hiện nhiệm
vụ chính trị của đơn vị; giáo dục, quản lí và phân côngcông tác cho đảng viên; làm công tác vận động quần chúng
và công tác phát triển đảng viên ”
Trang 181.2 Công tác vận động nông dân của các đảng bộ huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá - quan niệm, vị trí, vai trò và nội dung, phơng thức vận động nông dân
1.2.1 Quan niệm về công tác vận động nông dân của các đảng bộ huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá
1.2.1.1 Quan niệm về công tác vận động nông dân của Đảng
công tác vận động nông dân của Đảng là một hoạt
động nhằm tuyên truyền, giáo dục, nâng cao giác ngộ cáchmạng, ý thức chính trị cho nông dân, tập hợp, thu hút nôngdân và tổ chức các phong trào nông dân thực hiện đờnglối, chủ trơng, chính sách của Đảng, Nhà nớc, là quá trình xáclập mối quan hệ gắn bó giữa Đảng và giai cấp công nhân vớigiai cấp nông dân
Nội hàm của khái niệm công tác vận động nông dân của
Đảng bao gồm:
- Hoạt động tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nângcao giác ngộ cách mạng, ý thức chính trị cho nông dân Giảithích cho nông dân hiểu đợc đờng lối, chủ trơng, chínhsách của Đảng, pháp luật của Nhà nớc, hiểu đợc quyền lợi,trách nhiệm và nghĩa vụ của mình
- Tập hợp, thu hút mọi lực lợng nông dân vào các tổ chứccách mạng dới sự lãnh đạo của Đảng Xây dựng mối quan hệgắn bó giữa Đảng với giai cấp nông dân Củng cố khối đại
đoàn kết toàn dân, khối liên minh công - nông - trí thứcvững chắc
Trang 19- Tổ chức các phong trào hành động cách mạng củanông dân thực hiện chủ trơng, đờng lối, chính sách của
Đảng và Nhà nớc
- Công tác vận động nông dân là trách nhiệm chủ yếu
và trực tiếp của các cấp uỷ, tổ chức Đảng
1.2.1.2 Quan niệm về công tác vận dộng nông dân của các đảng bộ huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá
Công tác vận động nông dân của các đảng bộ VĐBTH
là hoạt động của cấp uỷ và tổ chức đảng các cấp nhằm tuyên truyền giáo dục, nâng cao giác ngộ cách mạng, ý thức chính trị cho nông dân; tập hợp, thu hút nông dân và tổ chức các phong trào hành động cách mạng trong nông dân thực hiện đờng lối, chủ trơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nớc và các chủ trơng, nghị quyết của các cấp
uỷ, tổ chức Đảng và chính quyền địa phơng, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị của các huyện.
Đối với các đảng bộ huyện VĐBTH, vận động nông dân
là trách nhiệm chủ yếu và trực tiếp của mỗi cấp uỷ, tổ chức
đảng, chính quyền, đoàn thể, của toàn bộ hệ thống chínhtrị ở các huyện và của đội ngũ cán bộ, đảng viên từ huyện
đến các xã, thị trấn, trong đó, Hội Nông dân đóng vai tròquan trọng Các cấp uỷ và tổ chức đảng ở mỗi địa phơngphải lãnh đạo chặt chẽ toàn hệ thống chính trị tiến hànhcông tác vận động nông dân và phải thờng xuyên chăm lo
đến công tác vận động nông dân
Trang 20Hiện nay, trong giai đoạn cả nớc đang thực hiện đẩymạnh CNH - HĐH và phát triển nền kinh tế thị trờng định h-ớng xã hội chủ nghĩa, nhiệm vụ trọng tâm hết sức lớn lao củatoàn Đảng, toàn dân ta là phát triển kinh tế, tăng cờng củng
cố khối đại đoàn kết toàn dân và khối liên minh công - nông
- trí thức vững chắc thì công tác vận động nông dân còn
là trách nhiệm của các doanh nghiệp, các hội nghề nghiệp,của giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức và cán bộ, côngchức trong các huyện
Mối quan hệ của Đảng với giai cấp nông dân phụ thuộcvào chất lợng công tác vận động nông dân của các cấp uỷ,
tổ chức Đảng và toàn hệ thống chính trị, phụ thuộc vào sự
đúng đắn của chủ trơng, đờng lối, chính sách của Đảng
đối với nông dân, nông nghiệp, nông thôn
Chất lợng công tác vận động nông dân của các đảng bộhuyện vùng đồng bằng Thanh Hoá là kết quả tổng hợp củanhiều hoạt động, bao gồm: Công tác tuyên truyền, giáo dục;công tác tổ chức các phong trào cách mạng trong nông dân;phơng thức lãnh đạo, chỉ đạo; năng lực định hớng chính trị
và việc xây dựng các chủ trơng, kế hoạch nhằm cụ thể hoáchủ trơng, đờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nớc đối vớinông dân, nông nghiệp, nông thôn của các cấp uỷ và tổchức Đảng, chính quyền địa phơng
Chất lợng công tác vận động nông dân của các đảng bộhuyện vùng đồng bằng Thanh Hoá phụ thuộc vào chất lợnghoạt động của từng tổ chức trong hệ thống chính trị cáccấp trong các huyện, mà trớc hết phụ thuộc vào chất lợng lãnh
đạo của từng cấp uỷ, tổ chức đảng, phụ thuộc vào chất lợng
Trang 21hoạt động của bộ máy chính quyền, các đoàn thể nhândân, phụ thuộc vào chất lợng đội ngũ cán bộ, đảng viên từhuyện đến cơ sở Vì vậy, đánh giá chất lợng công tác vận
động nông dân của các cấp uỷ, tổ chức đảng trong cáchuyện VĐBTH chính là đánh giá vai trò lãnh đạo của cấp uỷ,
tổ chức đảng đối với chính quyền, các đoàn thể nhân dântrong quá trình tiến hành công tác vận động nông dân ởmỗi địa phơng Phải căn cứ vào chất lợng, hiệu quả hoạt
động của hệ thống chính trị, của đội ngũ cán bộ, đảng viên
ở mỗi huyện
Để nâng cao chất lợng công tác vận động nông dân ởcác đảng bộ huyện VĐBTH phải tiến hành đồng bộ các hoạt
động, bao gồm việc nâng cao chất lợng lãnh đạo của các cấp
uỷ, tổ chức đảng đối với chính quyền, các đoàn thể nhândân; đổi mới và nâng cao chất lợng của toàn bộ hệ thốngchính trị các cấp; đổi mới nội dung, phơng thức vận độngnông dân; nâng cao năng lực vận dụng, cụ thể hoá và tổchức thực hiện chủ trơng, đờng lối của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nớc ở địa phơng; nâng cao chất lợng độingũ cán bộ, đảng viên của các tổ chức cơ sở Đảng nông thôntrong các huyện
Kết qủa công tác vận động nông dân của các đảng bộhuyện VĐBTH thể hiện ở phong trào nông dân, ở sự giác ngộchính trị, ý thức làm chủ, tinh thần tự giác của giai cấp nôngdân trong việc thực hiện đờng lối, chủ trơng của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nớc; thể hiện ở đời sống kinhtế- chính trị- xã hội và bộ mặt nông thôn mới ở mỗi huyện
Trang 22Kết quả công tác vận động nông dân còn thể hiện ởsức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân và khối liên minhcông - nông - trí thức trong các huyện Suy cho cùng, kết qủacông tác vận động nông dân ở các huyện VĐBTH đợc thểhiện ở tâm trạng, lòng tin, mối quan hệ giữa giai cấp nôngdân đối với Đảng và chế độ XHCN, đối với đảng bộ, chínhquyền các cấp trong các huyện và thể hiện ở đời sống vậtchất, tinh thần của nông dân.
Tiêu chí để đánh giá chất lợng công tác vận động nôngdân của các đảng bộ huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá baogồm:
- Chỉ tiêu đạt đợc trong phát triển kinh tế - xã hội ở các
huyện và đời sống vật chất, tinh thần của nông dân cáchuyện không ngừng đợc nâng lên
- Quy mô, chất lợng và kết quả phong trào nông dân
1.2.2.1 Về lý luận
Công tác vận động nông dân là một nhiệm vụ chiến lợc,một bộ phận quan trọng, có vị trí đặc biệt trong công tácvận động quần chúng của Đảng cộng sản Xuất phát từ quan
Trang 23điểm "cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, các lãnh tụcủa giai cấp vô sản rất coi trọng công tác vận động, tập hợpquần chúng, luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của khối liênminh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và xem
đây là điều kiện tiên quyết để giai cấp vô sản giànhthắng lợi trong cuộc đấu tranh giai cấp Theo C.Mác vàF.Angghen, giai cấp vô sản không không tự giải phóng đợcmình nếu không giải phóng toàn thể xã hội Vì vậy Đảngcộng sản - đại diện của giai cấp vô sản, phải thờng xuyên vận
động, thu hút, tập hợp, lôi cuốn mọi tầng lớp dân c trong xãhội tham gia vào tiến trình cách mạng vô sản V I Lênin đãviết:
Toàn bộ công tác thờng xuyên, hàng ngày, hiện tạicủa tất cả các tổ chức và tất cả các nhóm của Đảng
ta, tức là công tác tuyên truyền, cổ động và tổ chức
đều phải hớng vào việc củng cố và mở rộng mối quan
hệ với quần chúng
Công tác ấy khi nào cũng cần thiết, nhng ở thời
kỳ cách mạng thì, hơn lúc nào hết, càng không thểcoi là đủ đợc [63, tr.5]
Trong điều kiện một nớc nông nghiệp, đại đa số dân c
là nông dân thì việc giai cấp vô sản phải liên minh với giaicấp nông dân là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho cáchmạng vô sản giành thắng lợi Theo V.I Lênin, "Nếu không liênminh với nông dân thì không thể có đợc chính quyền củagiai cấp vô sản, không thể nghĩ đến việc duy trì chínhquyền đó" [67, tr.57], và "sở dĩ chúng ta làm cuộc Cách
Trang 24mạng Tháng Mời dễ nh vậy vì toàn thể nông dân đi theochúng ta” [64, tr.171].
Thấm nhuần quan điểm, t tởng của chủ nghĩa Lênin, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất coi trọng côngtác dân vận nói chung, công tác vận động nông dân nóiriêng Vì nớc ta là nớc nông nghiệp, đa số dân c là nôngdân, nên việc thu hút, tập hợp nông dân tham gia cách mạng
Mác-có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Đảng ta đã khẳng định: ở nớc
ta, giai cấp nào nắm đợc nông dân, lôi kéo đợc nông dân,
đợc nông dân ủng hộ thì sẽ nắm đợc quyền lãnh đạo xã hội
Đảng đã tập trung giải quyết vấn đề giải phóng nông dânngay từ những ngày đầu của các mạng Đây là quan điểmhết sức đúng đắn, sáng tạo của Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minhcho rằng:
Cuộc cách mạng vô sản không thể thắng lợi ở cácnớc nông nghiệp và nửa nông nghiệp nếu nh giai cấpvô sản cách mạng không đợc quần chúng nông dânủng hộ tích cực Đó là một sự thực hiển nhiên đối vớicả hai cuộc cách mạng, cách mạng t sản dân quyền
và cách mạng vô sản [69, tr.413]
Cùng với những quan điểm, chủ trơng đúng đắn vềvấn đề nông dân, Đảng ta thờng xuyên quan tâm đổi mớinội dung, phơng thức vận động nông dân Trong điều kiệnhoàn cảnh khó khăn, Đảng vẫn quan tâm vận động, tuyêntruyền, nâng cao giác ngộ cách mạng cho nông dân, dựa vàolực lợng nông dân Khi nhiệm vụ của cách mạng thay đổi, cáccấp uỷ Đảng, chính quyền đã chủ động, kịp thời thay đổinội dung, hình thức, phơng pháp vận động nông dân đáp
Trang 25ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng Trong suốt quá trình lãnh
đạo cách mạng, Đảng luôn chăm lo mang lại lợi ích thiết thựccho nông dân Khi cha giành đợc chính quyền, Đảng đã nêukhẩu hiệu "Độc lập dân tộc và ngời cày có ruộng" để lôicuốn và tập hợp nông dân Khi giành đợc chính quyền vàtrong hai cuộc kháng chiến chống đế quốc xâm lợc cũng nhtrong hoà bình xây dựng đất nớc, Đảng vẫn kiên trì thựchiện mục tiêu đó và mỗi bớc thắng lợi của cách mạng nớc ta,nông dân đều nhận đợc những lợi ích thiết thực cho mình.Nhờ đó nông dân đã thực sự tin yêu, gắn bó với Đảng, với con
đờng XHCN mà Đảng và nhân dân ta đã chọn
Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nớc, vị trí vai tròcủa giai cấp nông dân không giảm đi mà vẫn có vị trí quantrọng trong tiến trình phhát triển của đất nớc Giai cấp nôngdân vẫn là lực lợng quan trọng trong khối liên minh côngnhân - nông dân và trí thức cách mạng, là lực lợng trực tiếptiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, là lực lợng lao
động cơ bản trong xã hội Nông nghiệp, nông thôn vẫn là nơicung cấp lơng thực, thực phẩm cho toàn xã hội và là địa bànchiến chợc trong công cuộc bảo vệ an ninh của tổ quốc.Nghị quyết Trung ơng lần thứ Bảy, khoá X tiếp tục khẳng
định vai trò, vị trí chiến lợc của nông nghiệp, nông dân,nông thôn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, anninh quốc phòng của đất nớc ta
1.2.2.2 Về thực tiễn
Đối với các huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá, công cácvận động nông dân có vị trí vai trò hết sức quan trọng, bởivì các huyện VĐBTH đều là huyện nông nghiệp, đại đa số
Trang 26dân c là nông dân ở đây nông dân là lực lợng lao động cơbản, chủ yếu, phần lớn thu nhập GDP của các huyện đều dolĩnh vực nông nghiệp đóng góp Là các huyện nông nghiệp,muốn CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn thì các cấp uỷ
đảng, chính quyền các huyện, trớc hết phải quan tâm chăm
lo cho nông dân, phải thu hút đông đảo, tập hợp tối đa lực ợng nông dân tham gia thực hiện các phong trào cách mạng ở
l-địa phơng
Khi nông dân là lực lợng chủ yếu, trực tiếp thực hiệnnhiệm vụ cách mạng, nếu không tập hợp đợc nông dân thìkhông có lực lợng cách mạng, việc thực hiện nhiệm vụ cáchmạng sẽ khó khăn, thậm chí thất bại Ngợc lại nếu thu hút tậphợp đợc nông dân, nhiệm vụ cách mạng dù khó khăn mấy cùngthành công Thực tiễn cách mạng nớc ta cũng nh thực tiễncách mạng ở các huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá đã chứngminh công tác vận động nông dân có vị trí,vai trò hết sứcquan trọng ở đâu, khi nào các đảng bộ, chính quyền làmtốt công tác vận động nông dân, tập hợp, cuốn hút đợc đông
đảo lực lợng nông dân vào các phong trào cách mạng, tổchức đợc nhiều phong trào nông dân có hiệu quả thì ở đótình hình chính trị ổn định, kinh tế - xã hội phát triển,mối quan hệ giữa Đảng với dân luôn bền chặt
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ,Thanh Hoá là vùng tự do, các huyện vùng đồng bằng cũng nhtoàn tỉnh Thanh Hoá là hậu phơng lớn của kháng chiến Nôngdân là lực lợng chủ yếu sản xuất, đảm bảo hậu cần, cungcấp sức ngời, sức của cho quân đội cách mạng Có thể nóinông dân các huyện VĐBTH đã góp phần to lớn sức ngời, sứccủa cho hai cuộc kháng chiến, góp phần cùng quân dân cả
Trang 27nớc đánh bại hai kẻ thù xâm lợc, giành độc lập, hoà bình, tự
do cho tổ quốc, thống nhất đất nớc
Ngày nay các huyện VĐBTH đang nỗ lực cùng cả tỉnh, cảnớc thực hiện sự nghiệp CNH - HĐH, đặc biệt là CNH - HĐHnông nghiệp, nông thôn Đây thực sự là cuộc cách mạng, tuy cóthuận lợi cơ bản, song cũng có nhiều khó khăn, thách thức lớn.Lực lợng chủ yếu để thực hiện đờng lối đổi mới, CNH - HĐHnông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới ở các huyệnchính là nông dân Vì vậy, đảng bộ, chính quyền các cấptrong các huyện phải thực sự coi trọng và tích cực thu hút, tậphợp mọi lực lợng nông dân, động viên nông dân tích cực thamgia các phong trào cách mạng ở địa phơng Mỗi cấp uỷ, tổchức Đảng, chính quyền phải làm tốt công tác vận động nôngdân nhằm lôi kéo nông dân tích cực chuyển dịch cơ cấukinh tế, phát triển nông nghiệp toàn diện theo hớng sản xuấthàng hoá và xây dựng nông thôn mới văn minh, hiện đại
Những năm gần đây, nhờ nhận thức đợc vị trí, tầmquan trọng của công tác vận động nông dân nên các cấp uỷ,
tổ chức đảng ở các huyện VĐBTH đã luôn coi trọng và làmtốt công tác vận động nông dân, luôn đổi mới nội dung, ph-
ơng thức vận động nông dân, đổi mới nội dung, phơng thứclãnh đạo Hội nông dân, thực hiện tốt các chính sách đối vớigiai cấp nông dân, nhờ đó cả 8 huyện đều luôn giữ vững
ổn định về chính trị, kinh tế - xã hội liên tục phát triển, đờisống nông dân đợc nâng lên, bộ mặt nông thôn các huyện
đều có bớc khởi sắc đáng mừng, niềm tin của nông dân
đối với sự lãnh đạo, quản lý của các cấp uỷ đảng, chínhquyền đợc củng cố và nâng cao
Trang 28Tuy nhiên những năm gần đây công tác vận động nôngdân của các đảng bộ huyện VĐBTH có lúc, có nơi còn cóthiếu sót, khuyết điểm cả trong nhận thức và kết quả tổchức thực hiện Một số cấp uỷ, tổ chức đảng cha thực sựquan tâm đến công tác vận động nông dân, cha chú ý tôntrọng ý kiến, nguyện vọng chính đáng của nông dân Côngtác tuyên truyền, giáo dục cha đợc coi trọng, thờng tuyêntruyền một chiều, cha kết hợp chặt chẽ với việc chăm lo giảiquyết những vấn đề thiết thực, bức xúc trong đời sống vậtchất, tinh thần của nông dân Không ít cấp uỷ đảng, chínhquyền cha chú trọng đầy đủ vai trò của Hội nông dân - ngời
đại diện cho lợi ích, tiếng nói của nông dân, thiếu chăm loxây dựng củng cố tổ chức Hội vững mạnh nên Hội hoạt độngkém hiệu quả, vai trò mờ nhạt
1.2.3 Nội dung và phơng thức vận động nông dân của các đảng bộ huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá
Trang 29thể nhân dân các cấp, Ban dân vận cấp huyện và khối dânvận cấp xã.
- Vận động nông dân tham gia xây dựng Đảng, xâydựng chính quyền, MTTQ và các đoàn thể nhân dân cáccấp
1.2.3.2 Phơng thức lãnh đạo công tác vận động nông dân của các đảng bộ huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá
Một là: lãnh đạo, chỉ đạo các cấp uỷ, tổ chức đảng cơ
sở ra nghị quyết về công tác vận động nông dân; định ớng nội dung hoạt động của công tác vận động nông dân
h-đối với các cấp uỷ, chính quyền cơ sở
Hai là: Lãnh đạo chính quyền các cấp triển khai thực hiện
cụ thể, có hiệu quả các chủ trơng, chính sách của Đảng, Nhà
n-ớc, của tỉnh và nghị quyết của đảng bộ huyện đối với nôngdân, nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện
Ba là: Ban thờng vụ cấp uỷ lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp
để Hội nông dân và Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể, cácHội nghề nghiệp phát huy tốt vai trò của mình
Bốn là: Tăng cờng lãnh đạo, chỉ đạo các cấp uỷ cơ sở
thực hiện việc phân công đảng viên tiến hành vận độngnông dân và kiểm tra đảng viên đợc phân công hoạt độngtrong tổ chức Hội nông dân và các tổ chức đoàn thể các cấp,nhất là ở cơ sở
1.2.3.3 Các hình thức vận động nông dân của các đảng bộ huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá
Trang 30- Thông qua các hoạt động kinh tế, chuyển dịch cơ cấucây trồng, vật nuôi, chuyển giao các tiến bộ khoa học- kỹthuật trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, các hoạt
động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ng, khuyến công
- Thông qua các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao,truyền thanh, tổ chức các lễ hội truyền thống, xây dựng đờisống văn hoá nông thôn
- Thông qua hoạt động của Hội nông dân và các đoànthể nhân dân, các hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác để
đẩy mạnh chơng trình xoá đói, giảm nghèo, giúp nhau pháttriển kinh tế, làm giàu chính đáng và các hoạt động nhân
đạo, từ thiện, chăm sóc các gia đình đối tợng chính sách,
Trang 31Chơng 2 công tác vận động nông dân của các Đảng bộ huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá - Thực trạng và nguyên
nhân 2.1 Thực trạng nông nghiệp, nông dân và nông thôn các huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá
2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội nông thôn, nông nghiệp các huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá từ năm
- Văn hoá- xã hội có nhiều mặt tiến bộ theo hớng xã hộihoá và nâng cao chất lợng Sự nghiệp giáo dục phát triển khácả về qui mô và chất lợng giáo dục
2.1.1.2 Những tồn tại và yếu kém
Một là, về cơ bản, kinh tế vẫn thuần nông, phổ biến là
sản xuất nhỏ Tốc độ tăng trởng kinh tế tuy tăng khá nhng sovới một số địa phơng trong cả nớc, nơi đây vẫn là vùng cótốc độ tăng trởng kinh tế chậm
Hai là, quá trình đổi mới hợp tác xã nông nghiệp, phát
triển các hình thức hợp tác mới trong sản xuất kinh doanh còn
Trang 32chậm, hiệu quả hoạt động của hợp tác xã trong nông nghiệpcòn hạn chế .
Ba là, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong nông
thôn phát triển chậm, qui mô nhỏ lẻ, thu hút lao động hạnchế, sản phẩm thiếu khả năng cạnh tranh trên thị trờng
Bốn là, cơ sở vật chất hạ tầng trong nông nghiệp, nông
thôn còn yếu và cha đồng bộ; ứng dụng tiến bộ khoa công nghệ vào sản xuất, kinh doanh cha thật mạnh mẽ, cha
học-đều, cha đáp ứng yêu cầu phát triển
Năm là, văn hoá- xã hội còn nhiều mặt tiến bộ chậm.
Chất lợng công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
và chất lợng, hiệu quả các phong trào xây dựng làng văn hoá,gia đình văn hoá cha cao
2.1.2 Thực trạng đời sống nông dân các huyện vùng
đồng bằng Thanh Hoá
2.1.2.1 Về mức sống và thu nhập
Nhờ những thành tựu đạt đợc của công cuộc đổi mới
đất nớc cũng nh những tiến bộ đáng kể trong phát triển kinh
tế, nhất là sản xuất nông nghiệp ở các huyện VĐBTH trongnhững năm gần đây nên đời sống của đại bộ phận nôngdân đã đợc cải thiện và nâng lên khá rõ rệt, cả về mức sống
và thu nhập Hộ khá và giàu tăng nhanh, hộ nghèo giảmnhiều, hộ đói còn không đáng kể Nhìn chung, điều kiệnsống và sinh hoạt, làm việc của đa số nông dân trong vùng
đã đợc cải thiện Nhiều hộ đã có tích luỹ đợc vốn mở rộngsản xuất hoặc chuyển đổi kinh doanh ngành nghề mới cóthu nhập cao hơn Nhà ở của đa số hộ nông dân đã khang
Trang 33trang hơn; số hộ có nhà kiên cố, nhà mái bằng tăng khánhanh Phần nhiều số hộ đã mua sắm đợc những vật dụng
có giá trị nh xe máy, ti vi, tủ lạnh số hộ có điện thoại ngàycàng tăng
Thu nhập của đại bộ phận nông dân trong vùng đã tăngkhá do phát triển đợc sản xuất, dịch vụ Bình quân thunhập đầu ngời năm 2007 của huyện đạt cao nhất trong số 8huyện là Thọ Xuân (hơn 9 triệu đồng), thấp nhất là ThiệuHoá(6,176 triệu đồng) Một bộ phận có thu nhập cao và tăngnhanh là các hộ phát triển kinh doanh dịch vụ tổng hợp vàphát triển kinh tế trang trại, phát triển thành doanh nghiệp tnhân Thu nhập tăng nên đời sống nông dân đợc cải thiện
và nâng cao, số hộ nghèo mấy năm gần đây giảm khánhanh
Song, dù năng xuất lúa bình quân trong vùng cao nhấttỉnh Thanh Hoá và 8 huyện vùng đồng bằng Thanh Hoá lànơi chủ yếu cung cấp lúa gạo hàng hoá cho tỉnh, nhng thunhập bình quân đầu ngời cho đến năm 2007 ở các huyệnvùng đồng Thanh Hoá vẫn thấp hơn bình quân chung củaTỉnh Tuy số hộ nghèo những năm gân đây giảm đáng kể,song, tỉ lệ hộ nghèo vẫn còn cao Năm 2007 huyện còn tỉ lệ
hộ nghèo cao nhất (theo tiêu chí mới) là 25,8% (huyện VĩnhLộc), thấp nhất là 17,3 % (huyện Thiệu Hóa) Trong khi đó,
tỉ lệ hộ nghèo bình quân của cả nớc chỉ còn khoảng 15%
Có thể nói, nhìn tổng quát đời sống vật chất, tinh thần của
đa số nông dân trong vùng cha cao; điều kiện sinh hoạt vàlàm việc còn khá nhiều vất vả, nặng nhọc, lao động thủcông là chính Thu nhập của nông dân vẫn thấp và chênh
Trang 34lệch khá nhiều so với các bộ phận dân c phi nông nghiệp.Một bộ phận vẫn phải sống trong những căn nhà tạm bợ, điềukiện sinh hoạt thấp kém so với mặt bằng chung của xã hội Số
ít nông dân sống trên sông nớc, không có đất sản xuất,không có nơi ở cố định, đời sống hết sức khó khăn, thiếuthốn Đây là vấn đề thực tiễn đang đặt ra đòi hỏi các cấp
uỷ đảng, chính quyền phải có những giải pháp thiết thực,khẩn trơng giúp đỡ những hộ nông dân này thoát khỏi khókhăn, ổn định và nâng cao đời sống
2.1.2.2 Về đời sống văn hoá tinh thần
Nhờ thành tựu đổi mới đất nớc, quê hơng, đời sống vậtchất của nông dân các huyện VĐBTH những năm gần đây
đợc nâng lên, đồng thời đời sống văn hoá tinh thần cũng cónhiều tiến bộ
Sự nghiệp giáo dục, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân
đợc quan tâm hơn Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, lễ hộitruyền thống, phong trào thể dục thể thao phát triển đềukhắp các huyện, bớc đầu đáp ứng một phần nhu cầu thởngthức văn hoá, văn nghệ, thể thao của nông dân
Phong trào xây dựng gia đình văn hoá, làng, xã văn hoáthực hiện nếp sống văn minh trong việc cới, việc tang và lễhội đợc đẩy mạnh Nhiều thuần phong, mỹ tục đợc gìn giữ,phát huy Nhiều hoạt động văn hoá tinh thần tốt đẹp đợc khôiphục nh: Múa đèn (Đông Sơn), trò chiềng (Yên Định), trò ngô(Thiệu Hoá) v.v Các phong tục tập quán lạc hậu, tệ nạn cờ bạc,
mê tín dị đoan v.v bị đẩy lùi và khắc phục dần Các xã, thịtrấn đều có điểm bu điện văn hoá và mạng lới truyền thanh.Hầu hết các hộ nông dân đều có ti vi hoặc ra đi ô Các
Trang 35huyện đều có đài phát thanh và truyền hình của huyện Số
hộ có máy điện thoại cố định ngày càng tăng Một số hộ đã cómáy vi tính nối mạng Intơnét Đa số các thôn đã xây dựng đợcnhà văn hoá, có phòng đọc, tủ sách th viện với hàng trăm cuốnsách và nhiều tờ báo, tập san khác nhau
Sự phát triển của cơ sở hạ tầng văn hoá - xã hội đã tạo
điều kiện thuận lợi cho nông dân tiếp cận đợc nhanh hơn,nhiều hơn với thông tin kinh té - xã hội, với khoa học - kỹ thuậtphục vụ sản xuất và đời sống Đờng lối chủ trơng, chính sáchcủa Đảng, Nhà nớc đến với nông dân đầy đủ, kịp thời hơn
Sau nhiều năm thực hiện chính sách, cơ chế kinh tế mới
và quy chế dân chủ ở cơ sở, quyền làm chủ của nông dânbớc đầu đợc đảm bảo và phát huy tốt hơn Không khí dânchủ trong nông thôn ngày càng tăng Nông dân phấn khởi vàngày càng tin tởng vào Đảng, Nhà nớc và chế độ xã hội chủnghĩa, tin tởng vào sự lãnh đạo, quản lý của cấp uỷ đảng,chính quyền địa phơng
Nhìn chung đời sống văn hoá, tinh thần của nông dâncác huyện VĐBTH ngày càng phong phú, đa dạng Cùng với bộmặt kinh tế - xã hội, hầu hết các xã, thị trấn đợc đổi mớitiến bộ rõ nét trên nhiều mặt Nhiều nơi đã và đang từng b-
ớc hình thành những thôn, làng mới văn minh, hiện đại
Tuy đời sống văn hoá, tinh thần của nông dân có nhiềutiến bộ, song những tiến bộ đó vẫn cha đáp ứng yêu cầu vàcha thật tơng xứng với những tiến bộ đạt đợc trên lĩnh vựckinh tế Đời sống văn hoá, tinh thần của nông dân vẫn còn cónhững khoảng cách, còn thấp kém hơn tầng lớp dân c khác.Thực tiễn đang nổi lên một số vấn đề tơng đối bức xúc
Trang 36Trớc hết, giáo dục, y tế là những vấn đề nông dân chịu
nhiều thiệt thòi và có nhiều băn khoăn nhất Phần nhiều gia
đình nông dân thu nhập không đủ để nuôi con học tậpsau khi tốt nghiệp phổ thông trung học và chữa bệnh khi
đau ốm nặng Điều kiện học tập của đa số con em nôngdân còn thiếu thốn nên phần nhiều các cháu bị hạn chế
đến kết quả Rõ nhất là thi đại học Thực tiễn cho thấy cáchuyện vùng đồng bằng Thanh Hoá đều là những vùng đấthiếu học, có truyền thống khoa cử, nhng tỷ lệ các cháu tốtnghiệp PTTH đợc học đại học, cao đẳng hàng năm chỉchiếm 15 - 20% tổng số học sinh toàn tỉnh đỗ đại học.Tình trạng học sinh bỏ học tuy ít nhng vẫn đang diễn ra ởmột bộ phận nhỏ nông dân nghèo Tỷ lệ trẻ em đợc đến nhàtrẻ, mẫu giáo đạt thấp Nhiều xã, thị trấn hệ thống nhà trẻ,mẫu giáo không còn
Đời sống văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao còn khá
đơn điệu và nghèo nàn Nhiều nhu cầu thởng thức văn hoá,nghệ thuật thiết thực của nông dân cha đợc đáp ứng Ngoàivô tuyến và đài truyền thanh, hầu nh cả năm nông dânkhông đợc xem một buổi biểu diễn nào của các đoàn nghệthuật chuyên nghiệp hay chiếu phim màn ảnh rộng Một số xãcha có nhà văn hoá Các điểm bu điện văn hoá xã, th việnhuyện và cả các phòng đọc ở nhà văn hoá thôn, làng chaphát huy hiệu quả, cha thực sự thuận lợi và bổ ích cho nôngdân trong tiếp cận thông tin Đại bộ phận nông dân rất ít có
điều kiện đọc sách báo ở th viện, nhà văn hoá