BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ PHẦN KIẾN THỨC VỀ CHÍNH TRỊ, QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ CÁC KỸ NĂNG CHUNG Họ và tên Đơn vị công tác Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Bắc Ninh Lớp Bồi.
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ PHẦN KIẾN THỨC VỀ CHÍNH TRỊ, QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VÀ CÁC KỸ NĂNG CHUNG
Họ và tên :
Đơn vị công tác : Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Bắc Ninh Lớp : Bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp bác sĩ chính
Bắc Ninh, tháng 11 năm 2019
Trang 2MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
NỘI DUNG 2
1 CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHUYÊN ĐỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO BÁC SĨ VÀ NHÂN VIÊN Y TẾ 2
1.1 Động lực và tạo động lực làm việc 2
1.2 Một số lý thuyết cơ bản về tạo động lực làm việc 4
1.3 Các công cụ trong tạo động lực làm việc cho bác sĩ 7
2 THỰC TRẠNG ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO VIÊN CHỨC LÀ BÁC SĨ TẠI TRUNG TÂM KIỂM SOÁT BỆNH TẬT TỈNH BẮC NINH 9
2.1 Bối cảnh và thực trạng động lực làm việc của bác sĩ tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Bắc Ninh 9
2.2 Thực trạng tạo động lực làm việc cho bác sĩ tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Bắc Ninh hiện nay 12
3 ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP 13
KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Được sự quan tâm, tạo điều kiện của Sở Y tế Bắc Ninh tôi được tham gia lớp bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp bác sĩ chính hạng II thời gian từ ngày 12/10/2019 đến ngày 22/11/2019, tại thành phố Bắc Ninh
Trong thời gian học tập, được Ban tổ chức lớp học tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên là các Thầy, Cô giáo có trình độ chuyên môn cao, khả năng truyền đạt tốt, phương pháp giảng dạy mới, bộ tài liệu được biên soạn phù hợp với tình hình thực tế ở các đơn vị sự nghiệp y tế và chức danh nghề nghiệp Bên cạnh đó, cơ quan luôn tạo điều kiện về công tác chuyên môn, dành thời gian cho việc học tập đã giúp tôi tiếp thu tốt nội dung khóa học
Trong quá trình tham gia học tập 5 chuyên đề phần I gồm:
Chuyên đề 1: Nhà nước trong hệ thống chính trị
Chuyên đề 2: Pháp luật và thực hiện pháp luật trong nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Chuyên đề 3: Tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp Bác sĩ chính và đường lối chiến lược phát triển ngành y tế Việt Nam
Chuyên đề 4: Chính phủ điện tử và hệ thống thông tin bệnh viện
Chuyên đề 5: Động lực và tạo động lực làm việc cho bác sĩ
Đồng thời qua các buổi thảo luận trong chương trình đã giúp tôi sáng tỏ thêm nhiều vấn đề đặt ra trong thực tế, đồng thời bổ sung thêm nhiều kiến thức và kỹ năng qua đó vận dụng vào thực tế công tác mang lại hiệu quả cao trong hoạt động nghề nghiệp càng tốt hơn
Thực hiện quy định của chương trình bồi dưỡng, tôi xin lựa chọn chuyên đề
“Động lực và tạo động lực làm việc cho bác sĩ” để trình bày chuyên đề báo cáo kiến thức về chính trị, quản lý nhà nước và các kỹ năng chung của mình
Do thời gian và điều kiện nghiên cứu còn hạn chế nên có thể một số nội dung trong báo cáo còn chưa thật sự được đầy đủ Mong được sự quan tâm của các thầy
cô và nhà trường để giúp tôi được hoàn thiện hơn trong khóa học
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 4NỘI DUNG
1 CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHUYÊN ĐỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO BÁC SĨ VÀ NHÂN VIÊN Y TẾ
1.1 Động lực và tạo động lực làm việc
1.1.1 Khái niệm động lực và động lực làm việc
Động lực được hiểu là “cái thúc đẩy, làm cho phát triển Ví du: xuất khẩu tăng là một động lực chính để thúc đẩy sự phát triển kinh tế” (Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học, NXB Đà Nẵng 2008, tr.438)
Đối với con người, động lực chính là sự khao khát, yếu tố thúc đẩy bên trong con người, kích thích con người nỗ lực để đạt đến mục tiêu hay kết quả mong muốn trong điều kiện cho phép, làm cho con người phát triển
Động lực không phải là đặc điểm, tính cách cá nhân Điều đó có nghĩa là không có người có động lực và người không có động lực
Mỗi việc làm của chúng ta đều có mục đích Trong mỗi hành động lại có những suy nghĩ khác nhau và mức độ đạt được những kết quả cũng khác nhau Những hành động của chúng ta đều được có những động lực thúc đẩy
Do vậy có thể hiểu: “Động lực là những yếu tố tạo ra lý do hành động cho con người và thúc đẩy con người hành động một cách tích cực, có năng suất, chất lượng, hiệu quả, có khả năng thích nghi và sáng tạo cao nhất trong tiềm năng của họ”
Động lực làm việc được hiểu là cái thúc đẩy con người tích cực làm việc, hăng say làm việc; giúp cho các cá nhân, tập thể phát huy được sức mạnh bên trong
cá nhân và sức mạnh bên trong tập thể; nó kích thích cá nhân và tập thể nỗ lực đạt mục tiêu mong muốn và hiệu quả cao trong công việc trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể; nó làm cho cá nhân đó, tập thể đó phát triển
Động lực làm việc không phải là hiệu quả công việc Động lực làm việc chỉ
là một yếu tố trong nhiều yếu tố quyết định đến hiệu quả công việc Nói cách khác, hiệu quả công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực làm việc, mà còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau
Trang 5Động lực làm việc không đồng nghĩa với sự hài lòng về công việc Một cá nhân có thể hài lòng với công việc của mình nhưng vẫn có thể có rất ít động lực để làm việc Từ đó có thể hiểu động lực làm việc là sự thúc đẩy khiến cho con người
nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép để tạo ra năng suất, hiệu quả cao Động lực làm việc luôn gắn liền với mục tiêu của tổ chức
1.1.2 Khái niệm và vai trò của tạo động lực làm việc
- Khái niệm: Tạo động lực cho viên chức và người lao động được hiểu là tất
cả các biện pháp của nhà quản lý áp dụng đối với các cá nhân trong tổ chức nhằm tạo ra động lực làm việc cho họ Với khái niệm về động lực như đã nói ở trên, thì tạo động lực là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của viên chức và người lao động trong thực thi công việc để đạt được các mục tiêu của tổ chức đề ra
- Vai trò của tạo động lực làm việc cho người lao động:
Mục đích quan trọng nhất của tạo động lực là sử dụng một cách hợp lý nguồn lao động, khai thác một cách hiệu quả nguồn lực con người nhằm không ngừng nâng cao năng suất lao động của tổ chức Bên cạnh đó, tạo động lực còn nhằm mục đích thu hút và gắn bó các cá nhân với tổ chức bởi vì khi người lao động
có động lực làm việc thì họ sẽ hăng say với công việc, với tổ chức Tạo động lực làm việc cho viên chức và người lao động trong tổ chức của nhà nước vì thế có ý nghĩa rất lớn
Vai trò của tạo động lực làm việc trong các tổ chức nói chung và tổ chức của nhà nước nói riêng thể hiện ở vai trò của động lực làm việc đối với cá nhân và đối với tổ chức
Với cá nhân viên chức và người lao động: Việc có được động lực sẽ giúp viên chức và người lao động đạt được mục tiêu của bản thân, có cơ hội để thành công trong công việc và cuộc sống Nếu có động lực làm việc viên chức và người lao động sẽ hài lòng với công việc và có ý thức tự phát triển và hoàn thiện mình
Với cơ quan, tổ chức: cán bộ, viên chức và người lao động có động lực làm việc làm tăng hiệu quả công việc, năng suất lao động được nâng cao, góp phần đạt mục tiêu tổ chức Thêm nữa, tạo động lực làm việc còn giúp tổ chức thu hút, giữ
Trang 6chân cán bộ, viên chức và người lao động và nâng cao vị thế, uy tín trên thị trường lao động cũng như trong xã hội
Làm thế nào để nhân viên cung cấp dịch vụ tốt hơn cho khách hàng, công dân; làm thế nào để nhân viên không ngừng đổi mới, sáng tạo hơn và làm việc với kết quả cao hơn ? luôn là câu hỏi được đặt ra đối với các cơ quan tham mưu và các đơn vị sự nghiệp công Muôn có được điều đó, thì nhân tố quyết định vẫn là các cá nhân phải mong muốn đạt kết quả cao trong công việc Nói cách khác, cá nhân cần
“muốn làm” công việc đó với kết quả cao
Tạo động lực làm việc cho viên chức và người lao động là một trong những chức năng quan trọng của nhà lãnh đạo, quản lý Nó là yếu tố mang tính quyết định hiệu quả làm việc và khả năng cạnh tranh của cơ quan, tổ chức
- Vai trò của việc tạo động lực làm việc cho bác sĩ nói riêng:
Tạo động lực làm việc sẽ giúp làm tăng năng suất làm việc cho bác sĩ: Bởi, khi có động lực làm việc thì người bác sĩ sẽ thấy yêu thích công việc và làm việc hăng say hơn, năng suất lao động cá nhân vì thế mà được nâng cao rõ rệt Bản thân người bác sĩ sẽ cảm thấy yêu nghề hơn, tự nguyện thực hiện các công việc nghề nghiệp của mình hơn
Tạo động lực làm việc sẽ giúp làm tăng sự gắn bó với công việc và với cơ quan, tổ chức: con người ta, khi đã cảm thấy yêu thích và say mê công việc thì sẽ hình thành bên trong họ sự gắn bó với cơ quan, tổ chức hiện tại của mình
Trên cơ sở yêu thích công việc và gắn bó với cơ quan, người bác sĩ sẽ nhận thức được ý nghĩa của nghề nghiệp, từ đó thấy được vai trò của bản thân trong mối quan hệ với nghề nghiệp Nói cách khác, tạo động lực làm việc chính là yếu tố giúp người bác sĩ ý thức được vai trò, vị trí của mình trong xã hội Từ đó giúp họ ý thức hơn về sự hoàn thiện bản thân Điều này giúp họ ngày càng không ngừng phát triển
và hoàn thiện chính mình
Trang 71.2 Một số lý thuyết cơ bản về tạo động lực làm việc
1.2.1 Học thuyết về nhu cầu của Maslow
Năm 1943, Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908 - 1970) đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Đó là Lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người Ông chia hệ thống nhu cầu thành 5 nhóm khác nhau theo thứ tự từ nhu cầu bậc thấp đến nhu cầu bậc cao như sau [4]:
- Nhu cầu sinh lý: là các nhu cầu cơ bản nhất của con người để tồn tại như không khí, nước, lương thực, Như vậy, có thể thấy việc trả công lao động tối thiểu cần đủ để đáp ứng những nhu cầu này giúp đảm bảo cuộc sống cho người lao động và gia đình
- Nhu cầu an toàn: nhu cầu an toàn là nhu cầu được ổn định, chắc chắn, muốn được bảo vệ an toàn thân thể Trong lao động, người lao động muốn có công việc ổn định, môi trường an toàn, đảm bảo về y tế sức khỏe
- Nhu cầu xã hội: là một trong những nhu cầu bậc cao của con người Nhu cầu xã hội bao gồm nhu cầu giao tiếp, được thể hiện và chấp nhận tình cảm, nhu cầu được chia sẻ sự yêu thương, Để đáp ứng nhu cầu này, tổ chức cần tạo điều kiện cho người lao động làm việc theo nhóm, tổ chức giao lưu, sinh hoạt tập thể ngoài giờ làm việc
- Nhu cầu được tôn trọng: con người muốn mọi người kính trọng, vị nể mình, thừa nhận vị trí của mình trong xã hội Tổ chức có thể đáp ứng nhu cầu này bằng sự khen ngợi, ghi nhận thành tích, vinh danh người lao động
- Nhu cầu tự hoàn thiện: là cấp độ cao nhất, là nhu cầu được phát triển, tự khẳng định mình Họ mong muốn được biến năng lực của mình thành hiện thực, mong muốn làm các công việc có tính thách thức, đòi hỏi bản thân phải nỗ lực để đạt được mục tiêu, được tự chủ trong công việc Tổ chức cần tạo cơ hội cho người lao động phát triển, thăng tiến, giao cho họ các nhiệm vụ mang tính thách thức
Theo Maslow, khi mỗi nhu cầu trong số các nhu cầu đó được thỏa mãn thì nhu cầu tiếp theo sẽ trở nên quan trọng Sự thỏa mãn nhu cầu đi theo thứ tự từ thấp đến cao Mặc dù thực tế thì chẳng nhu cầu nào được thỏa mãn hoàn toàn nhưng các
Trang 8nhu cầu khi được được thỏa mãn cơ bản thì không còn tạo ra động lực Vì thế, theo Maslow, muốn tạo động lực cho nhân viên thì trước hết nhà quản lý phải hiểu được nhân viên đó đang ở đâu trong hệ thống thứ bậc nào và hướng sự thỏa mãn vào nhu cầu ở thứ bậc đó
Như vậy, đẻ tạo động lực cho người lao động nhà quản lý cần xác định nhu cầu của người lao động và đưa ra các biện pháp nhằm thỏa mãn nhu cầu đó của họ
để chính sách tạo động lực đạt được kết quả cao nhất
1.2.2 Học thuyết hệ thống hai yếu tố của Fedric Herzberg
Học thuyết này được phân ra làm hai yếu tố có tác dụng tạo động lực [3]:
- Nhóm yếu tốt thúc đẩy: Các yếu tố thúc đẩy là các yếu tốt thuộc bên trong công việc đó là các nhân tố tạo nên sự thỏa mãn, sự thành đạt, sự thừa nhận thành tích, bản thân công việc của người lao động, trách nhiệm và chức năng lao động, sự thăng tiến Đây chính là 6 nhu cầu cơ bản của người lao động khi tham gia làm việc Đặc điểm của nhóm này là nếu không được thỏa mãn thì dẫn đến bất mãn, nếu được thỏa mãn thì sẽ có tác dụng tạo động lực
- Nhóm yếu tố duy trì: Đó là các yếu tố thuộc về môi trường làm việc của người lao động, các chính sách chế độ quản trị của doanh nghiệp, tiền lương, sự hướng dẫn công việc, các quan hệ với con người, các điều kiện làm việc Các yếu tố này khi được tổ chức tốt thì có tác dụng ngăn ngừa sự không thỏa mãn đối với công việc của người lao động
1.2.3 Học thuyết xác lập mục tiêu của Edwin A Locke
Học thuyết đạt mục tiêu của Edwin A Locke (1960) đã xác định mục tiêu là nguồn gốc chủ yếu của động lực làm việc.Các nghiên cứu của Edwin A.locke đã chỉ
ra rằng: quá trình làm việc hướng tới mục tiêu là nguồn gốc chủ yếu của động lực lao động Khi một người có mục tiêu rõ ràng sẽ giúp họ tập trung nỗ lực vào thực hiện công việc Để tạo động lực cho người lao động: trước hết các nhà quản trị phải xác định được các mục tiêu của tổ chức một cách cụ thể, rõ ràng, có thể lưỡng hóa được và mang tính thách thức; thứ hai, cần tuyên truyền giải thích cho người lao động hiểu, nhận thức rõ ràng các mục tiêu của tổ chức, chấp nhận mục tiêu một cách tự nguyện và coi mục tiêu của tổ chức cũng là mục tiêu của chính bản thân họ;
Trang 9thứ ba người quản lý cần quan sát để tìm hiểu các phản ứng của các cá nhân với mục tiêu đã giao, sự tác động của các yếu tố môi trường tới thực hiện mục tiêu; cuối cùng, cần cho người lao động thấy rõ quan hệ trực tiếp giữa nổ lực và kết quả thực hiện công việc; giữa phần thưởng cá nhân với các nỗ lực bản thân để đạt mục tiêu
Mỗi học thuyết đều có những ý nghĩa vận dụng nhất định trong tạo động lực làm việc Do vậy, để tạo động lực cho người lao động, tổ chức cần phải xác định các nhu cầu của người lao động, thiết lập các yếu tố thúc đẩy và duy trì để từ đó đưa
ra các biện pháp nhằm thỏa mãn các nhu cầu hợp lý của người lao động trên cơ sở đảm bảo tính công bằng
1.3 Các công cụ trong tạo động lực làm việc cho bác sĩ
- Tạo động lực làm việc thông qua phân công công việc:
+ Phân công, bố trí công việc một cách hợp lý và khoa học: việc phân công,
bố trí công việc đúng với chuyên môn, nghiệp vụ (đúng người, đúng việc) thì đội ngũ sẽ thực thi nhiệm vụ có hiệu quả và đạt được mục tiêu mong muốn của cơ quan; còn ngược lại sẽ khiến cho bản thân người lao động cảm thấy nản chí, mất hứng thú, không nỗ lực, thiếu trách nhiệm vì không được cấp trên tin tưởng trong công việc
+ Sự ổn định trong công việc: được làm việc trong môi trường có tính ổn định cao sẽ giúp con người gắn bó và xác định trách nhiệm của mình đối với tổ chức cao hơn Tuy nhiên, đối với khu vực nhà nước thì sự ổn định trong công việc đôi khi lại là một điều kiện để một số đối tượng thiếu động lực làm việc không có
nỗ lực để thay đổi và người quản lý thiếu các biện pháp mang tính chất mạnh mẽ để thúc đẩy người lao động thay đổi và làm việc chăm chỉ hơn đạt hiệu suất cao hơn
+ Phát triển bản thân từ công việc: Thông qua công việc, người lao động được nâng cao các kỹ năng làm việc, kỹ năng giải quyết tình huống, năng lực công tác, tích lũy kinh nghiệm từ đó người lao động được phát triển bản thân từ công việc
- Tạo động lực làm việc thông qua bằng tài chính:
Trang 10+ Tiền lương là động lực khi và chỉ khi nó đáp ứng đủ nhu cầu vật chất tối thiểu cho người bác sĩ, tạo cho họ yên tâm về khoản thu nhập của mình Tiền lương quá thấp không đủ để bác sĩ trang trải cho cuộc sống cá nhân và gia đình thì nó không thể trở thành động lực cho người bác sĩ được, thậm chí nó còn có tác dụng ngược lại Đối với người bác sĩ thì tiền lương chính là khoản thu nhập chính trong
hệ thống thù lao mà người lao động nhận được Khoản tiền này sẽ giúp cho bác sĩ trang trải các chi tiêu, sinh hoạt cần thiết Nó có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người bác sĩ cũng như cuộc sống gia đình họ Nếu tiền lương cao, xứng đáng thì
sẽ là nguồn động lực lớn nhất giúp người bác sĩ nâng cao hiệu quả làm việc của mình
+ Tiền thưởng: Tiền thưởng là khoản tiền bổ sung thêm ngoài tiền lương nhằm khuyến khích người bác sĩ mà tiền lương không làm được Tiền thưởng có ý nghĩa bù đắp một phần nhỏ nhu cầu vật chất nhưng lại có ý nghĩa to lớn trong sự đáp ứng nhu cầu tinh thần vì tiền thưởng nhằm vào tâm lý thích được khen thưởng, được đề cao trước tập thể
+ Phúc lợi: Phúc lợi là phần thù lao gián tiếp được trả dưới dạng hỗ trợ về cuộc sống của người bác sĩ Phúc lợi là khoản ngoài tiền lương, tiền thưởng và các khuyến khích tài chính, bao gồm 2 loại: phúc lợi bắt buộc như ốm đau, thai sản, hưu trí, tử tuất, và phúc lợi tự nguyện như tham quan, du lịch, trợ cấp khó khăn
- Tạo động lực làm việc thông qua chính sách đào tạo, bồi dưỡng: Công tác đào tạo thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo tới người lao động từ đó tạo được niềm tin gắn kết người lao động với tổ chức tạo cho họ động lực để phát huy khả năng của mình và tạo điều kiện để áp dụng những tiến bộ kỹ thuật quản lý và tổ chức
- Tạo động lực làm việc thông qua môi trường làm việc: là một biện pháp rất quan trọng trong hệ thống biện pháp tạo động lực cho bác sĩ thông qua kích thích tinh thần Trong đơn vị luôn duy trì được môi trường làm việc thân thiện, mọi người tôn trọng nhau, thường xuyên giúp đỡ lẫn nhau, quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới không quá căng thẳng, chắc chắn sẽ tạo tâm lý làm việc thoải mái cho bác sĩ Mỗi bác sĩ sẽ luôn có nỗ lực phấn đấu không ngừng và luôn duy trì được không khí vui