Nhận thấy được tầm quan trọng của pháp luật về bảo vệ môi trường, cũng như thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật đối với hoạt động bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay, với thự
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
KỶ YẾU HỘI NGHỊ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2019
Tiểu ban 5: Luật học
Lâm Đồng, ngày 07 tháng 06 năm 2019
Trang 2DANH SÁCH TRÌNH BÀY BÁO CÁO TẠI HỘI NGHỊ NGHIÊN CỨU KHOAHỌC
SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2019 S
Tra ng
Tiểu ban 5: Luật học
1 Nghiên cứu một số giải
pháp về pháp lý nhằm
kiểm soát ô nhiễm
nguồn nước do hoạt
động sản xuất, sinh hoạt
đối với Hồ
Xuân Hương - Đà Lạt
Trần Nguyễn Tố Uyên
(Chủ nhiệm)
Nguyễn Thùy Trinh Lê Đăng Dũng
LHK40B/
Khoa Luật học
LHK40B/
Khoa Luật học
ThS.
Nguyễn Văn
3 Hình sự hóa các vụ án
dân sự về tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản lạm
Duy Thanh
LHK39A/
Khoa Luật học
ThS Nguyễn Thị Thanh
Trang 3Nguyễn Thuỳ Trinh
Lê Đăng Dũng
Đà Lạt, tháng 6 năm 2019
Trang 4Đề tài “Nghiên cứu một số giải pháp về pháp lý nhằm kiểm soát ô nhiễm nguồn nước
do hoạt động sản xuất, sinh hoạt đối với hồ Xuân Hương Đà Lạt” là công trình nghiên cứu của
riêng nhóm tác gỉả chúng tôi, hoàn toàn không có sự sao chép, giả mạo của tác giả khác Các nguồn tài liệu trích dẫn, số liệu sử dụng và nội dung đề tài nghiên cứu khoa học trung thực.
Đồng thời cam kết kết quả quá trình nghiên cứu của đề tài nghiên cứu khoa học này chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào.
Chúng tôi xin cam đoan và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước trường về vấn đề này.
Đà Lạt, ngày 29 tháng 5 năm 2019
Nhóm tác giả
Trần Nguyễn Tố Uyên Nguyễn Thuỳ Trinh Lê Đăng Dũng
Trang 51 Lý do chọn đề tài.
Ô nhiễm môi trường tại Việt Nam nói chung, ô nhiễm nguồn nước tại tỉnh Lâm Đồng nói riêng là một vấn đề không còn quá mới mẻ Vấn đề này đã được rất nhiều tác giả, nhà nghiên cứu, giới báo chí đề cập đến và cũng đã được đăng tải trên các phương tiện truyền thông Thời gian gần đây, báo chí cũng rất quan tâm về vấn đề ô nhiễm nguồn nước của hồ Xuân Hương – thành phố Đà Lạt, thực trạng ô nhiễm này đã được đăng tải trên những trang báo điện tử uy tín
như: vtv.vn với tiêu đề “Ô nhiễm hồ Xuân Hương (Đà Lạt) ngày càng nghiêm trọng” hay “Du khách ngán ngẩm hồ Xuân Hương Đà Lạt đầy rác, xác cá chết bốc mùi” được đăng tải trên baomoi.com Hay “Sau cơn mưa lớn, rác thải và cá chết nổi trắng mặt hồ Xuân Hương ở Đà Lạt” được đăng tải trên kenh14.vn Bên cạnh những bài viết trên còn nhiều bài viết khác của các
nhà nghiên cứu Tuy các đề tài trên đều được viết dưới nhiều góc độ nhưng vẫn lột tả được thực trạng ô nhiễm nặng nề và những vướng mắc trong quá trình thực hiện giải pháp bảo vệ nguồn nước; kiểm soát ô nhiễm do hoạt động sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt đối với hồ Xuân Hương.
Dưới góc độ của những sinh viên luật và những hiểu biết của mình, nhóm tác giả muốn tiếp cận vấn đề theo hướng đa chiều nhằm kiểm soát ô nhiễm nguồn nước do hoạt động sản xuất, sinh hoạt tại khu vực hồ Xuân Hương thành phố Đà Lạt Từ những kiến thức của bản thân kết hợp với việc tìm hiểu, nghiên cứu thực tiễn, theo quan điểm của mình, nhóm tác giả tiến hành đưa ra một số giải pháp pháp lý mà nhóm tác giả cho rằng phù hợp với thực tiễn áp dụng tại địa phương, với mong muốn kiểm soát ô nhiễm nguồn nước do hoạt động sản xuất, sinh hoạt tại khu vực hồ Xuân Hương thành phố Đà Lạt.
Nhận thấy được tầm quan trọng của pháp luật về bảo vệ môi trường, cũng như thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật đối với hoạt động bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay,
với thực trạng nguồn nước tại Hồ Xuân Hương, nhóm tác giả đã chọn đề tài “Nghiên cứu một số giải pháp về pháp lý nhằm kiểm soát ô nhiễm nguồn nước do hoạt động sản xuất, sinh hoạt đối với hồ Xuân Hương Đà Lạt” làm đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên của mình.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài.
Đề tài “Nghiên cứu một số giải pháp về pháp lý nhằm kiểm soát ô nhiễm nguồn nước do hoạt động sản xuất, sinh hoạt đối với hồ Xuân Hương Đà Lạt” hiện đang là một đề tài rất mới
mẻ Mặc dù đã có nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức đề cập và tiến hành nghiên cứu vấn đề ô nhiễm nguồn nước tại hồ Xuân Hương, tuy nhiên kết quả vẫn chưa được tối ưu hoá và vấn đề ô nhiễm vẫn chưa được giải quyết triệt để Chính vì thế, trước sự cấp thiết, nhóm tác giả cho rằng
đề tài có thể mang đến giá trị thiết thực – vừa là tài liệu phục vụ cho quá trình học tập nghiên cứu vừa mang tính thực tiễn cao khi áp dụng vào thực tế đời sống sinh hoạt cho người dân cũng
Trang 6như việc quản lý của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với vấn đề ô nhiễm nguồn nước tại hồ Xuân Hương.
Cho đến nay, các vấn đề liên quan đến quản lý môi trường nước nói chung và môi trường nước tại hồ Xuân Hương, thành phố Đà Lạt nói riêng vẫn còn là một đề tài mới mẻ trong nghiên cứu khoa học pháp lý không chỉ riêng ở tỉnh Lâm Đồng mà còn trên phạm vi cả nước.
Khi thực hiện gõ từ khoá “Ô nhiễm nguồn nước hồ Xuân Hương Đà Lạt” ngay lập tức trong
vòng 0,46 giây đã có 601.000 kết quả Điều này cho thấy đã có không ít hững bài báo, bài nghiên cứu về ô nhiễm nguồn nước tại hồ Xuân Hương đã được đăng tải, ví dụ như:
Bài báo có tiêu đề “Ô nhiễm hồ Xuân Hương (Đà Lạt) ngày càng nghiêm trọng” được đăng
tải trên trang https://vtv.vn
Bài báo có nhan đề “Hàng trăm khối bùn nạo vét hồ Xuân Hương tràn xuống, suối Prenn đục ngầu” được đăng tải trên báo Tuổi Trẻ Online:
http://www dulich.tuoitre.org.vn
Bài viết: “Dự án nạo vét hồ Xuân Hương, Đà Lạt - Cố gắng làm xong trong tháng 5” được
đăng tải trên trang Sài Gòn giải phóng http://www.sggp.org.vn.
Bài viết có nhan đề: “Xử lý ô nhiễm hồ Xuân Hương bằng cách nào?” đăng tải trên
http://www.tinmoitruong.vn.
Đặc biệt là bài viết “Lâm Đồng: Tảo lam nổi trên mặt hồ Xuân Hương bốc mùi hôi thối”
đăng tải trên trang báo https://laodong.vn
Ngoài ra một số sáng kiến khoa hoc đã được nghiên cứu, áp dụng và đưa vào thực tế nhằm giải quyết ô nhiễm nước hồ Xuân Hương Điển hình như:
1 Đề tài nghiên cứu của tác giả Phạm Thế Anh (Khoa Khoa học Môi trường, Đại học Yersin Đà
Lạt) đã thực hiện đề tài "Ứng dụng năng lượng gió vào quá trình tự làm sạch của môi trường nước mặt hồ Xuân Hương." Được đăng tải trên trang http://vea.gov.vn
2 Dự án nạo vét hồ Xuân Hương Đà Lạt được khởi công từ tháng 5 năm 2010 do Ban Quản lý khai thác công trình thuỷ lợi thành phố Đà Lạt làm chủ đầu tư với tổng vốn đầu tư lên đến 45
tỷ đồng Tuy nhiên, tiến độ thi công chậm, khối lượng thực hiện toàn dự án chỉ đạt 63,91% Địa chỉ website: http://www.sggp.org.vn/du-an-nao-vet-ho-xuan-huong-da-lat-co-gang-lam- xong-trong-thang-5-19367
3 Năm 2014 Uỷ ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã đưa ra văn bản thống nhất chủ trương cho thành phố Đà Lạt tiến hành thử nghiệm hệ thống Jet Streamer (máy tạo luồng nước), do công
ty TNHH Thái Bình Dương, Nhật Bản, tài trợ, để xử lý ô nhiễm hồ Xuân Hương.
4 Năm 2015 tác giả Nguyễn Thuỳ Lan Chi, Hoàng Khánh Hà, Trương Văn Hiếu thuộc Khoa Môi trường và Bảo hộ lao động Đại học Tôn Đức Thắng đã có đề tài nghiên cứu mang tên:
“Đề xuất giải pháp ngăn chặn hiện tượng tảo nở hoa ở hồ Xuân Hương thành phố Đà Lạt”.
Trang 7Nhưng đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu về giải pháp pháp lý nhằm kiểm soát
ô nhiễm nguồn nước do hoạt động sản xuất, sinh hoạt tại hồ Xuân Hương, thành phố Đà Lạt
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài.
Đề tài được nghiên cứu nhằm đạt được ba mục đích sau:
Tìm hiểu những nguyên nhân dẫn tới ô nhiễm nguồn nước hồ Xuân Hương và đánh giá các tác
động môi trường khi nước lưu vực hồ bị ô nhiễm.
Đánh giá thực trạng tình hình kiểm soát ô nhiễm nguồn nước lưu vực hồ Xuân Hương của địa
phương.
Đưa ra các giải pháp về mặt pháp lý, quản lý nhằm kiểm soát ô nhiễm nguồn nước tại hồ Xuân
Hương, thành phố Đà Lạt.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến vấn đề quản lí
nguồn nước thải ra lưu vực hồ Xuân Hương, thành phố Đà Lạt Luật Bảo vệ môi trường năm
2014, Luật Tài nguyên nước năm 2012 và các văn bản thực thi do cơ quan nhà nước ở địa
phương ban hành.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài có phạm vi nghiên cứu về quản lí nguồn nước trong lưu vực hồ
Xuân Hương, thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận.
5 Phương pháp nghiên cứu.
Trong bài làm ngoài việc phân tích các điều luật thì tác giả còn kết hợp sử dụng một số các phương pháp:
+ Phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác- Lê Nin để làm rõ thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật trong việc nghiên cứu một số giải pháp về pháp lý nhằm kiểm
soát ô nhiễm nguồn nước do hoạt động sản xuất, sinh hoạt đối với hồ Xuân Hương Đà Lạt
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, liệt kê để tìm hiểu và làm rõ các quy định trong nghiên cứu một số giải pháp về pháp lý nhằm kiểm soát ô nhiễm nguồn nước do hoạt động
sản xuất, sinh hoạt đối với hồ Xuân Hương Đà Lạt theo các văn bản, quy định về bảo vệ nguồn
nước tại hồ Xuân Hương của địa phương.
6 Ý nghĩa của đề tài.
Đề tài được nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực sau:
Thứ nhất, việc nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa lớn nhằm giúp mọi người hiểu rõ hơn tầm quan trọng của pháp luật
đối với hoạt động bảo vệ môi trường mà cụ thể ở đây là việc bảo vệ nguồn nước tại hồ Xuân Hương thành phố Đà Lạt Dựa trên thực trạng của địa phương sẽ giúp tổ chức, cá nhân nhận thức được trách nhiệm của mình, thấy được những hạn chế để khắc phục, tìm
Trang 8ra phương hướng giải quyết; bảo vệ nguồn nước hồ Xuân Hương cũng như cảnh quan xung quanh hồ.
Thứ hai, nhóm tác giả đi sâu vào thực tiễn để tìm ra những vấn đề còn tồn đọng trong việc
quản lí nguồn nước tại khu vực hồ Xuân Hương, từ đó tìm ra hướng khắc phục thực trạng trên.
Thứ ba, nhóm tác giả sưu tầm, tổng hợp từ các văn bản pháp luật, chỉ đạo, hướng dẫn thi
hành về vấn đề quản lí nguồn nước tại hồ Xuân Hương nhằm đánh giá có hệ thống các quy định,
cơ sở pháp luật chi tiết, cụ thể, rõ ràng và mang tính chặt chẽ để áp dụng hiệu quả vào việc thực hiện các quy định đó trên thực tế.
Thứ tư, nhóm tác giả mạnh dạn đưa ra một số giải pháp pháp lý nhằm quản lí nguồn nước
tại hồ Xuân Hương một cách hiệu quả và sát với thực tế hơn Đồng thời góp phần cải thiện tốt hơn chất lượng nguồn nước hồ Xuân Hương nhằm cải thiện đời sống và phát triển du lịch bền vững.
7 Bố cục của đề tài.
Đề tài ngoài phần lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì được kết cấu thành ba chương như sau:
Chương 1 Những vấn đề chung về quản lí ô nhiễm nguồn nước và pháp luật bảo vệ môi trường về tài nguyên nước.
Chương 2 Thực trạng ô nhiễm nguồn nước tại hồ Xuân Hương hiện nay.
Chương 3 Các giải pháp pháp lý nhằm kiểm soát vấn đề ô nhiễm nguồn nước tại lưu vực
hồ Xuân Hương, thành phố Đà Lạt.
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC VÀ PHÁP
LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC
1.1.Khái niệm tài nguyên nước:
Tài nguyên nước được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau bao gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển Ngoài ra, còn có những nguồn nước khác thuộc phạm vi điều chỉnh của các văn bản pháp luật khác như nước khoáng và nước nóng thiên nhiên thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật khoáng sản Nước biển, nước dưới đất thuộc vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa - được quy định trong các văn bản pháp luật về bảo vệ tài nguyên và môi trường biển Nước trong không khí được bảo vệ theo quy chế bảo vệ không khí 1
Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biển thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo Nước dưới đất là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới đất Nguồn nước
1 Theo Wikipedia
Trang 9là các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác, sử dụng bao gồm sông, suối, kênh, rạch, hồ, ao, đầm, phá, biển, các tầng chứa nước dưới đất; mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác 2
1.2. Ô nhiễm nguồn nước:
Ô nhiễm nguồn nước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học và thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật 3
Là hiện tượng các vùng nước như sông hồ, biển , nước ngầm bị các hoạt động của con người làm nhiễm các chất độc hại như chất có trong thuốc bảo vệ thực vật, chất thải công nghiệp chưa được xử lý, tất cả có thể gây hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên.
Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước không đáp ứng được cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật.
Nước trong tự nhiên tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: nước cống, nước ở các sông
hồ, tồn tại ở thể hơi trong không khí Nước bị ô nhiễm nghĩa là thành phần của nó tồn tại các chất khác, mà các chất này có thể gây hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên Nước ô nhiễm thường là khó khắc phục mà phải phòng tránh từ đầu.
Trong quá trình sinh hoạt hàng ngày, dưới tốc độ phát triển như hiện nay con người vô tình làm ô nhiễm nguồn nước bằng các hóa chất , chất thải từ các nhà máy, xí nghiệp Các đơn vị cá nhân sử dụng nước ngầm dưới hình thức khoan giếng , sau khi ngưng không sử dụng không bịt kín các lỗ khoan lại làm cho nước bẩn chảy lẫn vào làm ô nhiễm nguồn nước ngầm Các nhà máy
xí nghiệp xả khói bụi công nghiệp vào không khí làm ô nhiễm không khí, khi trời mưa, các chất
ô nhiễm này sẽ lẫn vào trong nước mưa cũng góp phần làm ô nhiễm nguồn nước Ô nhiễm nước
là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hoá học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất.4
Ô nhiễm nước xảy ra khi nước bề mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, nước rác công nghiệp, các chất ô nhiễm trên mặt đất, rồi thấm xuống nước ngầm Hiện tượng ô nhiễm nước xảy ra khi các loại hoá chất độc hại, các loại vi khuẩn gây bệnh, virut, ký sinh trùng phát sinh từ các nguồn
2 Điều 2 – Luật Tài nguyên nước 2012
3 Điều 2 – Luật Tài nguyên nước 2012
4 Từ điển Wikipedia
Trang 10thải khác nhau như chất thải công nghiệp từ các nhà máy sản xuất, các loại rác thải của các bệnh viện, các loại rác thải sinh hoạt bình thường của con người hay hoá chất, thuốc trừ sâu, phân bón hữu cơ sử dụng trong sản xuất nông nghiệp được đẩy ra các ao, hồ, sông, suối hoặc ngấm xuống nước dưới đất mà không qua xử lý hoặc với khối lượng quá lớn vượt quá khả năng tự điều chỉnh và tự làm sạch của các loại ao, hồ, sông, suối.
1.2.1.Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước:
Nước bị ô nhiễm là do sự phủ dưỡng xảy ra chủ yếu ở các khu vực nước ngọt và các vùng ven biển, vùng biển khép kín Do lượng muối khoáng và hàm lượng các chất hữu cơ quá dư thừa làm cho các quần thể sinh vật trong nước không thể đồng hoá được Kết quả làm cho hàm lượng ôxy trong nước giảm đột ngột, các khí độc tăng lên, tăng độ đục của nước, gây suy thoái thủy vực.
1.2.1.1 Ô nhiễm tự nhiên:
Là do mưa, tuyết tan, lũ lụt, gió bão… hoặc do các sản phẩm hoạt động sống của sinh vật, kể cả xác chết của chúng Cây cối, sinh vật chết đi, chúng bị vi sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ Một phần sẽ ngấm vào lòng đất, sau đó ăn sâu vào nước ngầm, gây ô nhiễm hoặc theo dòng nước ngầm hòa vào dòng lớn Lụt lội có thể làm nước mất sự trong sạch, khuấy động những chất dơ trong hệ thống cống rãnh, mang theo nhiều chất thải độc hại từ nơi đổ rác và cuốn theo các loại hoá chất trước đây đã được cất giữ Nước lụt có thể bị ô nhiễm do hoá chất dùng trong nông nghiệp, kỹ nghệ hoặc do các tác nhân độc hại ở các khu phế thải Công nhân thu dọn lân cận các công trường ky ̃ nghệ bị lụt có thể bị tác hại bởi nước ô nhiễm hoá chất Ô nhiễm nước do các yếu tố tự nhiên (núi lửa, xói mòn, bão, lụt, ) có thể rất nghiêm trọng, nhưng không thường xuyên, và không phải là nguyên nhân chính gây suy thoái chất lượng nước toàn cầu
1.2.1.2 Ô nhiễm nhân tạo:
Từ sinh hoạt Nước thải sinh hoạt (domestic wastewater): là nước thải phát sinh từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, cơ quan trường học, chứa các chất thải trong quá trình sinh hoạt, vệ sinh của con người Thành phần cơ bản của nước thải sinh hoạt là các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học (cacbohydrat, protein, dầu mỡ), chất dinh dưỡng (photpho, nitơ), chất rắn và vi trùng Tùy theo mức sống và lối sống mà lượng nước thải cũng như tải lượng các chất có trong nước thải của mỗi người trong một ngày là khác nhau Nhìn chung mức sống càng cao thì lượng nước thải và tải lượng thải càng cao.
Từ các chất thải công nghiệp
Trang 11Nước thải công nghiệp (industrial wastewater): là nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải Khác với nước thải sinh hoạt hay nước thải đô thị, nước thải công nghiệp không có thành phần cơ bản giống nhau, mà phụ thuộc vào ngành sản xuất công nghiệp cụ thể Ví dụ: nước thải của các xí nghiệp chế biến thực phẩm thường chứa lượng lớn các chất hữu cơ; nước thải của các xí nghiệp thuộc da ngoài các chất hữu cơ còn có các kim loại nặng, sulfua, Người ta thường sử dụng đại lượng PE (population equivalent) để so sánh một cách tương đối mức độ gây ô nhiễm của nước thải công nghiệp với nước thải đô thị Đại lượng này được xác định dựa vào lượng thải trung bình của một người trong một ngày đối với một tác nhân gây ô nhiễm xác định Các tác nhân gây ô nhiễm chính thường được sử dụng để
so sánh là COD (nhu cầu oxy hóa học), BOD5 (nhu cầu oxy sinh hóa), SS (chất rắn lơ lửng) Ngoài các nguồn gây ô nhiễm chính như trên thì còn có các nguồn gây ô nhiễm nước khác như
từ y tế hay từ các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp của con người…
Pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước là một bộ phận quan trọng của pháp luật bảo vệ môi trường Cũng như nội dung của pháp luật về bảo vệ các yếu tố khác của môi trường, pháp luật bảo vệ tài nguyên nước có nội dung chủ yếu sau:
- Pháp luật xác định quyền, nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia các quan hệ phát sinh từ việc phát sinh sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước
- Pháp luật quy định quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý và bảo vệ tài nguyên nước
- Pháp luật quy định các tiêu chuẩn về nước sạch để trên cơ sở đó xác định mức độ ô nhiễm, suy thoái môi trường nước, trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức trong việc bồi thường thiệt hại, khôi phục hiện trạng môi trường
Toàn bộ nội dung kể trên của pháp luật bảo vệ tài nguyên nước được thể hiện trong các văn bản pháp luật chủ yếu sau:
Hiến pháp 2013, Bộ luật Hàng hải 2015, Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2016, Luật Bảo
vệ môi trường 2014, Luật tài nguyên nước 2012, Luật thủy sản 2017 và các văn bản của chính phủ liên quan đến các tài nguyên nước.5
1.2.2 Đặc điểm của ô nhiễm nguồn nước:
1.2.2.1 Màu sắc:
Nước tự nhiên sạch thường không màu, cho phép ánh sáng mặt trời chiếu tới các tầng sâu Khi nước chứa nhiều chất rắn lơ lửng, các loại tảo, các chất hữu cơ… Nó trở nên kém thấu
5 Theo Wikipedia
Trang 12quang với ánh sáng mặt trời Các sinh vật sống ở đáy hoặc ở các tầng sâu phải chịu điều kiện thiếu sáng, trở nên hoạt động kém linh hoạt Các chất rắn chứa trong môi trường nước làm cho hoạt động của sinh vật trong nước trở nên khó khăn hơn.6
1.2.2.4 Nhiệt độ:
Nhiệt độ nước tự nhiên phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, thời tiết của lưu vực hoặc môi trường khu vực Nhiệt độ cao của nước thải làm thay đổi nhiệt độ nước ở các lưu vực nước, làm cho các quá trình sinh, hóa, lí bình thường của hệ sinh thái nước bị biến đổi Một số loại sinh vật không chịu được sự thay đổi sẽ chết hoặc di chuyển đi nơi khác, một số loài khác thì phát triển mạnh mẽ Sự thay đổi nhiệt độ nước thông thường không có lợi cho sự cân bằng tự nhiên của hệ sinh thái 9
1.2.2.5 Chất rắn lơ lửng:
Chất rắn lơ lửng là các hạt chất rắn vô cơ hoặc hữu cơ, kích thước bé, rất khó lắng trong nước như khoáng sét, bụi than, mùn,v.v Sự có mặt của chất rắn lơ lửng trong nước gây nên độ đục, màu sắc và các tính chất khác Để xác định nồng độ chất rắn lơ lửng người ta thường để lắng các bình chứa mẫu nước, sau đó lấy ra phần chất lắng, sấy khô và cân.10
1.2.2.6 Độ cứng:
Độ cứng của nước gây ra do muối Ca và Mg trong nước Độ cứng của nước được gọi là tạm thời khi có mặt muối cacbonat hoặc bicacbonat Ca, Mg Độ cứng vĩnh cửu của nước do các loại muối sunfat hoặc clorua Ca, Mg tạo ra Độ cứng vĩnh cửu của nước thường rất khó xử lý và tạo
6 Cơ sở khoa học môi trường 7 Cơ sở khoa học môi trường 8 Cơ sở khoa học môi trường 9 Cơ sở khoa học môi trường 10 Cơ sở khoa học môi trường
Trang 13ra nhiều hậu quả kinh tế cho việc sử dụng chúng Độ cứng của nước được xác định bằng phương pháp chuẩn độ hoặc tính toán theo hàm lượng Ca, Mg trong nước.11
1.2.2.7 Nồng độ oxy tự do trong nước (DO):
Oxy tự do trong nước cần thiết cho sự hô hấp của các sinh vật nước (cá, lưỡng thể, thuỷ sinh, côn trùng, ) thường được tạo ra cho sự hoà tan từ khí quyển hoặc do quang hợp của tảo Nồng độ oxy tự do trong nước nằm trong khoảng 8- 10 ppm, và dao động mạch phụ thuộc vào nhiệt độ, sự phân huỷ hoá chất, sự quang hợp của tảo, v.v Khi nồng độ DO thấp, các loại sinh vật nước giảm hoạt dộng hoặc bị chết Do vậy, DO là một chỉ số quan trọng để đánh giá sư ô nhiễm nước của các thuỷ vực Có nhiều phương pháp xác định giá trị DO của các mẫu như phương pháp iot của Winkler và phương pháp điện cực.12
1.2.2.8 Kim loại nặng:
Kim loại nặng không tham gia hoặc ít tham gia vào quá trình sinh hoạt của các thể sinh vật
và thường tích luỹ trong cơ thể chúng Vì vậy, chúng là các nguyên tố độc hại đối với sinh vật Kim loại nặng có mặt trong môi trường nước từ nhiều nguồn như: nước thải công nghiệp và sinh hoạt, giao thông, y tế, nông nghiệp, khai thác khoáng sản Một số các nguyên tố như: Hg, Cd, As rất độc với sinh vật thể cả ở nồng độ thấp Do vậy, trong các tiêu chuẩn chất lượng nước, nồng
độ các nguyên tố kim loại nặng được quan tâm hàng đầu Để xác định nồng độ kim loại nặng trong nước, người ta có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau như phân tích hoá học, phân tích quang phổ nguyên tử hấp thụ, phân tích kích hoạt hoặc phân tích cực phổ.13
1.2.2.9 Thuốc bảo vệ thực vật:
Thuốc bảo vệ thực vật là những chất độc có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp hoá học, được dùng để phòng và trừ sinh vật có hại cho cây trồng và nông sản với các tên gọi khác nhau: thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ bệnh,v.v Thuốc bảo vệ thực vật là các hợp chất hoá học rất bền vững trong tự nhiên với thời gian phân huỷ dài, có độ đục cao đối với người và động vật Các chất trong thuốc bảo vệ thực vật rơi vào môi trường nước gây ô nhiễm môi trường nước.14
1.2.2.10 Sinh vật gây bệnh:
Sinh vật có mặt trong môi trường nước ở nhiều dạng khác nhau Bên cạnh các sinh vật có ích, có nhiều nhóm sinh vật gây bệnh hoặc truyền bệnh cho người và sinh vật Trong số này, đáng chú ý là các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn và ký sinh trùng gây bệnh như các loại ký sinh
11 Cơ sở khoa học môi trường 12 Cơ sở khoa học môi trường 13 Cơ sở khoa học môi trường 14 Cơ sở khoa học môi trường
Trang 14trùng bệnh tả, lỵ, thương hàn, sốt rét, siêu vi khuẩn viêm gan B, siêu vi khuẩn viêm não nhật bản, giun đỏ, trứng giun, v v…
Nguồn gây ô nhiễm sinh học cho môi trường nước, chủ yếu là phân, rác, nước thải sinh hoạt, xác chết sinh vật, nước thải của các bệnh viện v v…Ô nhiễm nước được xác định theo các giá trị- tiêu chuẩn môi trường.15
1.2.3 Hậu quả của ô nhiễm nguồn nước:
Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá nhưng không phải vô tận Mặc dù lượng nước chiếm hơn 97% bề mặt trái đất nhưng lượng nước có thể dùng cho sinh hoạt và sản xuất rất ít, chỉ chiếm khoảng 3% Nhưng hiện nay nguồn nước này đang bị ô nhiễm trầm trọng do nhiều nguyên nhân mà nguyên nhân chính là do hoạt động sản xuất và ý thức của con người, nước thải
từ quá trình sản xuất và sinh hoạt của con người thải ra không xử lý mà thải thẳng vào môi trường tự nhiên dẫn đến gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng Việc khan hiếm nguồn nước ngọt đã và đang gây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng đến môi trường, hệ sinh thái, các loài sinh vật, trong đó có con người ,tiềm ẩn nguy cơ xung đột dẫn tới chiến tranh….Do những hậu quả nghiêm trọng như vậy nên chúng ta cần phải đề ra biện pháp giải quyết, kêu gọi mọi người chung tay bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này, cũng chính là bảo vệ chúng ta và thế hệ mai sau.
1.2.3.1.Gây ảnh hưởng đến môi trường:
● Nước:
Nước ngầm: Ngoài việc các cặn lơ lửng trong nước mặt, các chất thải nặng lắng xuống đáy, sau khi phân huỷ, 1 phần lượng chất được các sinh vật tiêu thụ, 1 phần thấm xuống mạch nước bên dưới (nước ngầm) qua đất, làm biến đổi tính chất của loại nước này theo chiều hướng xấu (do các chất chứa nhiều chất hữu cơ, kim loại nặng…)
Nước mặt: Do nhiều nguyên nhân khác nhau, gây ra sự mất cân bằng giữa lượng chất thải ra môi trường nước (rác thải sinh hoạt, các chất hữu cơ,…) và các sinh vật tiêu thụ lượng chất thải này (vi sinh vật, tảo,…) làm cho các chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng,… không được phân huỷ, vẫn còn lưu lại trong nước với khối lượng lớn, dẫn đến việc nước dần mất đi sự tinh khiết ban đầu, làm chất lượng nguồn nước bị suy giảm nghiêm trọng.16
● Sinh vật nước:
Ô nhiễm nước ảnh hưởng trực tiếp đến các sinh vật nước, đặc biệt là vùng đáy, do nước chịu tác động của ô nhiễm nhiều nhất Nhiều loài thuỷ sinh do hấp thụ các chất độc trong nước,
15 Cơ sở khoa học môi trường
16 Cơ sở khoa học môi trường
Trang 15thời gian lâu ngày gây biến đổi trong cơ thể nhiều loài thuỷ sinh, một số trường hợp gây đột biến.17
1.2.3.2 Gây ảnh hưởng đến con người:
Khi nguồn nước mặt, nước ngầm bị ô nhiễm, con người bị ảnh hưởng rất lớn Con người sống ở những khu vực có nguồn nước ô nhiễm rất dễ bị các bệnh ung thư, đột biến gen, các bệnh
lây nhiễm do vi khuẩn, bệnh về phổi, …tỉ lệ người mắc các bệnh cấp và mãn tính liên quan đến ô nhiễm nước như viêm màng kết, tiêu chảy, ung thư… ngày càng tăng Người dân sinh
sống quanh khu vực ô nhiễm ngày càng mắc nhiều loại bệnh do dùng nước bẩn trong mọi sinh hoạt.18
Ngoài ra ô nhiễm nguồn nước còn gây tổn thất lớn cho các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ Gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh hoạt, học tập và làm việc.
1.3.Pháp luật bảo vệ môi trường về tài nguyên nước:
1.3.1. Những khái niệm cơ bản về quản lý môi trường nước:
Quản lý môi trường nước là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật,
xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường nước và phát triển bền vững kinh tế - xã hội của địa phương.
Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý nhà nước về môi trường nước:
Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường nước phát sinh trong hoạt động sống của con người.
Phát triển bền vững kinh tế - xã hội của địa phương Các khía cạnh của phát triển bền vững bao gồm: phát triển bền vững kinh tế, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là nguồn tài nguyên nước, không tạo ra ô nhiễm và suy thoái chất lượng môi trường sống, nâng cao sự văn minh và công bằng xã hội.
Xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường nước Các công cụ đó phải thích hợp với từng ngành, phù hợp với tình hình địa phương và cộng đồng dân cư.
Các nguyên tắc chủ yếu của công tác quản lý môi trường nước:
17 Cơ sở khoa học môi trường
Trang 16 Hướng công tác quản lý môi trường nước tới mục tiêu phát triển bền vững kinh tế - xã hội địa
phương, giữ cân bằng giữa phát triển và bảo vệ môi trường nước.
Kết hợp các mục tiêu quốc gia – vùng lãnh thổ - cộng đông dân cư trong việc quản lý môi trường
nước.
Quản lý môi trường nước cần được thực hiện bằng nhiều biện pháp và công cụ tổng hợp thích
hợp.
Phòng chống, ngăn ngừa tai biến và suy thoái môi trường nước cần được ưu tiên hơn việc phải
xử lý, hồi phục môi trường nước nếu để gây ra ô nhiễm.
Người gây ra ô nhiễm phải trả tiền cho các tổn thất do ô nhiễm môi trường nước gây ra và các
chi phí xử lý, hồi phục môi trường nước đã bị ô nhiễm Người sử dụng các thành phần môi
trường nước phải trả tiền cho việc sử dụng gây ra ô nhiễm đó.19
1.3.2. Nội dung công tác quản lý Nhà nước về môi trường nước:
Ban hành và tổ chức việc thực hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường nước, ban hành hệ
thống tiêu chuẩn môi trường nước.
Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo môi trường nước, kế hoạch phòng
chống, khắc phục suy thoái môi trường nước, ô nhiễm môi trường nước, sự cố môi trường nước.
Xây dựng, quản lý các công trình bảo vệ môi trường nước, các công trình có liên quan đến bảo
vệ môi trường nước.
Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường nước, dự
báo diễn biến môi trường nước.
Thẩm định các báo cáo đánh giá tác động môi trường nước của các dự án và các cơ sở sản xuất
kinh doanh.
Cấp và thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường nước.
Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, giải quyết các khiếu
nại, tố cáo, tranh chấp về bảo vệ môi trường nước, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
Đào tạo cán bộ về khoa học và quản lý môi trường.
Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Thiết lập quan hệ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nước.
Công tác quản lý môi trường nước có thể phân loại theo phạm vi thành quản lý môi trường nước theo khu vực, theo ngành Theo tính chất quản lý có thể phân ra quản lý chất lượng môi
Trang 17trường nước, quản ý kỹ thuật môi trường nước, quản lý kế hoạch môi trường nước Trong quá trình thực hiện, các nôi dung quản lý trên sẽ đan xen lẫn nhau Cơ sở pháp lý cho công tác quản
lý môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng được trình bày trong các văn bản như hiến pháp, luật pháp cũng như các công ước và luật pháp quốc tế Tổ chức thực hiện công tác quản lý môi trường nói chung và quản lý môi trường nước nói riêng là nhiệm vụ quan trọng nhất của ngành môi trường ở mỗi quốc gia.20
1.3.3.Cơ sở khoa học của công tác quản lý môi trường nước:
1.3.3.1 Cơ sở lý luận của quản lý môi trường nước:
Nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới gắn tự nhiên, con người và xã hội thành một hệ thống rộng lớn “Tự nhiên – Con người – Xã hội”, trong đó yếu tố con người giữ vai trò rất quan trọng Sự thống nhất của hệ thống trên được thực hiện trong các chu trình sinh địa hoá của 5 thành phần cơ bản:
Sinh vật sản xuất (tảo và cây xanh) có chức năng tổng hợp chất hữu cơ từ các chất vô cơ dưới tác động của quá trình quang hợp.
Sinh vật tiêu thụ là toàn bộ động vật sử dụng chất hữu cơ có sẵn, tạo ra các chất thải.
Sinh vật phân huỷ (vi khuẩn, nấm) có chức năng phân huỷ các chất thải, chuyển chúng thành các chất vô cơ đơn giản.
Con người và xã hội loài người.
Các chất vô cơ và hữu cơ cần thiết cho sự sống của sinh vật và con người với số lượng ngày một tăng.
Tính thống nhất của hệ thống “Tự nhiên – Con người – Xã hội” đòi hỏi việc giải quyết vấn
đề môi trường và thực hiện công tác quản lý môi trường phải toàn diện và hệ thống Con người nắm bắt cội nguồn sự thống nhất đó, phải đưa ra các phương sách thích hợp để giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong hệ thống đó Chính con người đã góp phần quan trọng vào việc phá vỡ tất yếu khách quan là sự thống nhất giữa tự nhiên – con người – xã hội Sự hình thành những chuyên ngành khoa học như quản lý môi trường, sinh thái nhân văn là sự tìm kiếm của con người nhằm nắm bắt và giải quyết các mâu thuẫn, tính thống nhất của hệ thống “Tự nhiên – Con người
Xã hội”.
Trang 18Quan hệ giữa con người và tự nhiên phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội loài người Với sự xuất hiện nền văn minh trí tuệ, sự thống nhất giữa quan hệ con người – tự nhiên và con người – xã hội được đảm bảo bởi hoạt động trí tuệ của con người Môi trường tự nhiên và môi trường xã hội sẽ được duy trì cân bằng một cách hợp lý Như vậy, để bảo vệ môi trường sống cần giữ hài hoà quan hệ con người – tự nhiên và con người – xã hội bằng cách đưa thêm vào nền sản xuất vật chất của con người chức năng tái sản xuất tài nguyên thiên nhiên Mặt khác, cần phải tạo công nghệ mới, công nghệ sạch để chuyển sản xuất của con người thành một mắt xích của tự nhiên và xã hội Để đánh giá chất lượng môi trường sống, cần phải xét đến tiêu chuẩn môi trường, trạng thái các hệ sinh thái tự nhiên và sức khoẻ của dân cư sống trong khu vực Như vậy, phải kết hợp mục tiêu kinh tế với mục tiêu môi trường trong việc hoạch định các chính sách kinh
tế.21
1.3.3.2.Cơ sở khoa học – kỹ thuật – công nghệ của quản lý môi trường nước:
Quản lý môi trường là việc thực hiện tổng hợp các biện pháp khoa học, kỹ thuật, kinh tế, luật pháp xã hội nhằm bảo vệ môi trường sống nói chung và môi trường nước nói riêng; phát triển bền vững kinh tế - xã hội Các nguyên tắc quản lý môi trường nước, các công cụ thực hiện giám sát chất lượng môi trường , các phương pháp xử lý môi trường ô nhiễm được xây dựng trên
cơ sở sự hình thành và phát triển ngành khoa học môi trường Nhờ kỹ thuật và công nghệ môi trường, các vấn đề ô nhiễm do hoạt động sẩn xuất của con người đang được nghuên cứu, xử lý hoặc phòng tránh ngăn ngừa Các kỹ thuật phân tích, đo đạc giám át chất lượng môi trường như kỹ thuật viễn thám, tin học được phát triển ở nhiều nước phát triển trên thế giới.22
1.3.3.3 Cơ sở kinh tế của quản lý môi trường nước:
Quản lý môi trường được hình thành trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và thực hiện điều tiết xã hội thông qua các công cụ kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động phát triển
và sản xuất của cải vật chất đều diễn ra dưới sức ép của sự trao đổi hàng hoá theo giá trị Loại hàng hoá có chất lượng tốt và giá thành rẻ sẽ được tiêu thụ nhanh Trong khi đó, loại hàng hoá kém chất lượng và đắt sẽ không có chỗ đứng Vì vậy, chúng ta có thể dùng các phương pháp và công cụ kinh tế để đánh giá và định hướng hoạt động phát triển sản xuất có lợi cho công tác bảo
vệ môi trường Các công cụ kinh tế rất đa dạng gồm: các loại thuế, phí và lệ phí, cota ô nhiễm, quy chế đóng góp có bồi hoàn, trợ câp kinh tế, nhãn sinh thái, hệ thống các tiêu chuẩn ISO.
1.3.3.4 Cơ sở luật pháp của quản lý môi trường nước:
21 Cơ sở khoa học môi trường
Trang 19Cơ sở luật pháp của quản lý môi trường nước là các văn bản về Luật quốc tế và Luật quốc gia về lĩnh vực môi trường.
Luật quốc tế về môi trường là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm quốc tế điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia, giữa quốc gia và tổ chức quốc tế trong việc ngăn chặn, loại trừ thiệt hại gây ra cho môi trường của từng quốc gia và môi trường ngoài phạm vi tàn phá quốc gia Các văn bản Luật quốc tế về môi trường được hình thành một cách chính thức từ thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, giữa các quốc gia châu Âu, châu Mỹ, châu Phi Tư hội nghị quốc tế về “Môi trường con người” tổ chức vào năm 1972 tại Thuỵ Điển và sau Hội nghị thượng đỉnh Rio 92 có rất nhiều văn bản về luật quốc tế được soạn thảo và ký kết Cho đến nay đã có hàng nghìn các văn bản luật luật quốc tế về môi trường, trong đó có nhiều văn bản đã được chính phủ Việt Nam tham gia ký kết.
Trong phạm vi quốc gia, vấn đề môi trường được đề cập trong nhiều bộ luật, trong đó Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 là văn bản quan trọng nhất Hàng loạt các thông tư, quy định, quyết định của các ngành chức năng về thực hiện luật môi trường đã được ban hành Một số tiêu chuẩn môi trường chủ yếu được soạn thảo và thông qua Nhiều khía cạnh bảo vệ môi trường được đề cập trong các văn bản khác như Luật Khoáng sản, Luật Dầu khí, Luật Hàng hải, Luật Lao động, Luật Đất đai,…
Các văn bản trên cùng với các văn bản về luật quốc tế được Nhà nước Việt Nam phê duyệt
là cơ sở quan trọng để thực hiện công tác quản lý Nhà nước về môi trường.
1.3.4. Các công cụ quản lý môi trường nước:
1.3.4.1 Khái niệm chung về công cụ quản lý môi trường nước:
Công cụ quản lý môi trường nước là các biện pháp hành động thực hiện công tác quản lý môi trường nước của địa phương các tổ chức khoa học và sản xuất Công cụ quản lý môi trường nước rất đa dạng, mỗi một công cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và
hỗ trợ lẫn nhau Mỗi một địa phương, tuỳ theo điều kiện cụ thể có thể lựa chọn các công cụ thích hợp cho từng hoạt động cụ thể Bên cạnh việc sử dụng, các công cụ quản lý môi trường nước đòi hỏi phải được nghiên cứu và hoàn thiện thường xuyên với xu hướng ngày càng tinh vi hơn, hiệu lực hơn.
Công cụ quản lý môi trường nước có thể phân loại theo chức năng thành công cụ điều chỉnh vĩ mô, công cụ hành động và công cụ hỗ trợ Công cụ điều chỉnh vĩ mô là luật pháp và chính
Trang 20sách Công cụ hành động là các công cụ có tác động trực tiếp tới hoạt động kinh tế xã hội như các quy định hành chính, quy định xử phạt, vv… và công cụ kinh tế Công cụ hành động là vũ khí quan trọng nhất của các tổ chức môi trường trong việc thực hiện công tác quản lý môi trường nước các công cụ phụ trợ dùng để quan sát, giám sát chất lượng môi trường, giáo dục ý thức môi tường Công cụ phụ trợ có tác dụng hỗ trợ và hoàn chỉnh hai loại công cụ đã nói ở trên Thuộc về loại này gồm có các công cụ kỹ thuật như GIS, mô hình hoá, đánh giá môi trường nước, kiểm toán môi trường nước, quan trắc môi trường nước Công cụ quản lý môi trường nước có thể phân loại theo bản chất thành ba loại cơ bản sau:
Công cụ luật pháp chính sách: Bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật quốc gia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch và chính sách môi trường quốc gia, các ngành kinh tế, địa phương.
Các công cụ kinh tế: gồm các loại thuế, phí, vv….đánh vào thu nhập bằng tiền của hoạt động sản xuất kinh doanh Các công cụ này chỉ áp dụng có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường.
Các công cụ kỹ thuật quản lý: Thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường nước, về sự hình thành và phân bố chất ô nhiễm trong môi trường nước Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể gồm các đánh giá môi trường nước, minitoring môi trường nước, xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụng chất thải Các công cụ ký thuật quản lý có thể được thực hiện thành công trong bất kỳ nền kinh tế phát triển như thế nào.
1.3.4.2 Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường nước:
Các công cụ kinh tế được sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của
tổ chức kinh tế để tạo ra các tác động tới hành vi ứng xử của nhà sản xuất có lợi cho môi trường nước.
Thuế và phí môi trường:
Thuế và phí môi trường là các nguồn thu ngân sách do các tổ chức và cá nhân sử dụng môi trường đóng góp Khác với thuế, phần thu về phí môi trường chỉ được chi cho các hoạt động bảo
vệ môi trường Dựa vào đối tượng đánh thuế và phí có thể phân ra các loại sau:
Thuế và phí chất thải;
Thuế và phí rác thải;
Thuế và phí nước thải;
Thuế và phí ô nhiễm nước;
Trang 21 Phí đánh vào người sử dụng;
Thuế và phí đánh vào sản phẩm mà quá trình sử dụng và sau sử dụng gây ra ô nhiễm;
Thuế và phí hành chính nhằm đóng góp tài chính cho việc cấp phép, giám sát và quản lý hành chính đối với môi trường nước;23
Giấy phép chất thải có thể mua bán được (cota ô nhiễm):
Mục đích của cota ô nhiễm là tăng cường hiệu quả kinh tế của công tác quản lý chất ô nhiễm
và đầu tư công nghệ xử lý ô nhiễm Bản chất của cota ô nhiễm là công nhận về pháp luật quyền được gây thiệt hại về môi trường của nhà sản xuất và cho phép họ trao đổi quyền đó dưới dạng giấy phép chất thải Trong điều kiện đảm bảo tổng nguồn chất thải khu vực không thay đổi, các
xí nghiệp có thể trao đổi mua bán giấy phép chất thải mà không làm gia tăng ô nhiễm Nhờ vậy chất lượng môi trường nước được đảm bảo, nhưng chi phí xã hội của các nhà sản xuất giảm.24
Ký quỹ môi trường:
Ký quỹ môi trường là công cụ kinh tế áp dụng cho các ngành kinh tế dễ gây ra ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm môi trường nước nói riêng Nội dung chính của ký quỹ môi trường
là yêu cầu các doanh nghiệp trước khi đầu tư phải đặt cọc tại ngân hàng một khoản tiền nào đó
đủ lớn để đảm bảo cho việc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ và công tác bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường nước nói riêng Số tiền ký quỹ phải lớn hơn hoặc xấp xỉ với kinh phí cần để khắc phục môi trường nước nếu doanh nghiệp gây ra ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường nước trong quá trình thực hiện đầu tư và sản xuất, nếu cơ sở có các biện pháp chủ động khắc phục, không để xảy ra ô nhiễm hoặc suy thoái ra môi trường đúng như cam kết, thì số tiền ký quỹ
sẽ được hoàn trả lại cho xí nghiệp Nếu xí nghiệp không thực hiện đúng cam kết hoặc phá sản, số tiền trên sẽ được rút ra từ tài khoản ngân hàng chi cho công tác khắc phục sự cố ô nhiễm đồng thời với việc đóng cửa xí nghiệp
Ký quỹ môi trường tạo ra lợi ích đối với nhà nước không phải đầu tư kinh phí khắc phục môi trường từ ngân sách, khuyến khích xí nghiệp hoạt động, bảo vệ môi trường nước Xí nghiệp sẽ
có lợi ích do lấy lại vốn khi không để xảy ra ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường.25
Trợ cấp môi trường:
Trợ cấp môi trường là công cụ kinh tế quan trọng Chức năng chính của trợ cấp là giúp đỡ các ngành công nghiệp, nông nghiệp và các ngành khác khắc phục ô nhiễm môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng trong điều kiện khi tình trạng ô nhiễm môi trường quá nặng
nề hoặc khả năng tài chính của doanh nghiệp không chịu đựng được đối với việc phải xử lý ô nhiễm môi trường Trợ cấp này chỉ là biện pháp tạm thời, nếu vận dụng không thích hợp hoặc
23 Cơ sở khoa học môi trường 24 Cơ sở khoa học môi trường 25 Cơ sở khoa học môi trường
Trang 22kéo dài có thể dẫn đến không có hiệu quả kinh tế, vì trợ cấp đi ngược với nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền.
Nhãn sinh thái:
Nhãn sinh thái là một danh hiệu của nhà nước cấp cho các sản phâmr không gây ra ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất ra sản phẩm hoặc quá trình sử dụng các sản phẩm đó Nhãn sinh thái có tác động thúc đẩy các hoạt động hướng tới việc bảo vệ môi trường.
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC TẠI HỒ XUÂN HƯƠNG HIỆN
NAY 2.1 Giới thiệu về Hồ Xuân Hương:
2.1.1.Vị trí địa lí, diện tích:
Hồ Xuân Hương là một hồ nước đẹp nằm giữa trung tâm thành phố Đà Lạt Hồ mang tên Xuân Hương với nghĩa là hương của mùa Xuân.
Xung quanh hồ có rừng thông và các bãi cỏ, vườn hoa Đây là địa điểm du khách ưa thích đi dạo
bộ hoặc xe ngựa khi đến tham quan thành phố Đà Lạt.
Hồ Xuân Hương là hồ nhân tạo, có chu vi chừng 5 km, rộng 25ha Hồ Xuân Hương là một điểm đến du lịch nổi tiếng khi nhắc đến thành phố Đà Lạt.
Trang 232.1.2.Vai trò của hồ Xuân Hương:
2.1.2.1 Trong đời sống sinh hoạt:
Hồ Xuân Hương được biết đến đầu tiên là danh lam thắng cảnh cấp quốc gia, là một điểm
du lịch nổi tiếng và đặc trưng của thành phố Đà Lạt, bất kì ai đến Đà Lạt đều mong muốn đi dạo một vòng quanh Hồ Xuân Hương để trải nghiệm sự yên bình của thành phố Hồ Xuân Hương được biết đến với vai trò là hồ chứa nước từ các mạch nước chảy về để điều tiết nước sau đó chảy theo dòng về lưu vực sông Đồng Nai Hồ Xuân Hương là một biểu tượng thắng cảnh của thành phố, là niềm tự hào du lịch của người dân bản địa.
2.1.2.2 Trong phát triển kinh tế:
Hồ Xuân Hương – Trái tim du lịch của thành phố Đà Lạt, chính vì vậy có rất nhiều hoạt động dịch vụ được diễn ra xung quanh khu vực này như: buôn bán hàng rong, kinh doanh quán cafe, nhà nghỉ, kinh doanh dịch vụ vận tải du lịch…
2.1.3. Thống kê mức độ ô nhiễm nguồn nước tại Hồ Xuân Hương:
Căn cứ đánh giá chất lượng Hồ Xuân Hương của Báo cáo công tác bảo vệ môi trường năm 2018 tỉnh Lâm Đồng số 101/BC-STNMT ngày 05/02/2019 Các vị trí quan trắc chất lượng nước hồ Xuân Hương, theo chương trình quan trắc tiến hiện nay mục đích là đánh giá chất lượng nước từ các nguồn vào hồ: cống xả khu vực Vườn hoa thành phố (đối diện vườn hoa), cầu Amsue (khu dân cư Phường 10), phía cuối hồ Đội Có, cầu sắt Sương Nguyệt Ánh; đánh giá chất lượng nước trong hồ: vị trí giữa hồ (khu vực gần nhà hàng Thủy Tạ) So sánh kết quả với QCVN 08-MT:2015/BTNMT (mức B1) cho thấy:
V ị
t r í
xả Vườn hoa thành phố
Hồ
Đội Có
Giữa
hồ Xuâ
n Hươ ng
Trang 24bao gồm các ram số DO (2/6 lượt), COD (3/6 lượt),
BOD5 (1/6 lượt),
2 2 /66 lượt thông
số vượt QCV N;
bao gồm các ram
29/66 lượt thông
số vượt QCV N;
bao gồm các ram
2 1/66 lượt thông
số vượt QCV N
; bao
Trang 25(6/6 lượt), PO43—P (2/6 lượt), Fe
tổng (1/6
lượt), coliform
(5/6 lượt).
số COD (3/6 lượ t), BO D5 (2/
6 lượt), NH4+-N (6/6 lượt), NO2
—N (5/6 lượt),
Fe tổng (1/6 lượt), colifo
rm (5/6 lượt).
số TSS (3/6 lư ợt) , C O D (6/
6 lượ t), BO D5 (6/
6 lượt), NH4+-N (6/6 lượt), NO2
—N (1/6 lượt), PO43
—P (2/6 lượt),
Fe tổng (2/6 lượt), colifo
gồm các ram
số CO
D (3/6 lượ t), BO D5 (1/ 6 lượt), NH4+- N (6/6 lượt), NO2
— N (5/6 lượt), colif
or m (6/6 lượt).
Trang 26rm (4/6 lượt).
Trang 272.2 Hiện trạng rác trôi theo dòng nước:
2.2.1. Hiện trạng:
Hiện nay trên mặt hồ Xuân Hương có hiện tượng tràn ngập rác bao gồm: bao bì nilong, chai
lọ nhựa, bao bì thuốc bảo vệ thực vật, bao bì thuốc trừ sâu, rác thải sinh hoạt hàng ngày, rác thải
rắn, rác thải từ các hoạt động kinh doanh, buôn bán xung quanh hồ gây ô nhiễm môi trường, ảnh
hưởng xấu đến cảnh quan hồ Xuân Hương Bên cạnh đó đã có nhiều phản ánh không tốt về chất
lượng nguồn nước cũng như mỹ quan của hồ Xuân Hương từ người dân sinh sống ở khu vực
xung quanh, lân cận.
2.2.2. Nguyên nhân:
- Trước tiên là do ý thức xả rác bừa bãi của người dân song song với đó là hậu quả của việc chưa
xử lý tốt các nguồn rác thải sinh hoạt Xuất phát từ ý thức thiếu trách nhiệm trong việc bảo vệ
môi trường, bảo vệ nguồn nước từ đó các hành vi xả rác bừa bãi không có dấu hiệu thuyên giảm.
Mặc dù chính quyền địa phương, các hội, đoàn, tổ chức đã phát động nhiều phong trào, các buổi
meeting, tuyên truyền, phổ biến nhằm thay đổi ý thức và khuyến khích người dân tích cực bảo vệ
môi trường, bảo vệ nguồn nước cho hồ Xuân Hương Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng xả thải bừa
bãi, vô ý thức và thậm chí vi phạm một cách liên tục và công khai của một số người dân.
Cơ quan chức năng chưa có phương án xử lý tốt rác thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng
và các hoạt động kinh doanh buôn bán xung quanh hồ Công tác quản lý về môi trường, đặc biệt là môi trường nước tại hồ Xuân Hương còn chưa sát sao, chưa
Trang 28quyết liệt trong xử lý vi phạm hoặc đã xử lý nhưng chưa đủ sức răn đe đối với các hành vi xả rác thải.
-Cơ chế xử lý rác thải đầu nguồn chưa thật sự hiệu quả và vấn đề xử lý vi phạm còn nhiều bất cập chưa phù hợp với thực tiễn áp dụng dẫn tới tình trạng xả rác thải tại đầu nguồn ngày càng gia tăng và chưa có dấu hiệu giảm sút Chính vì thế, đây là một trong những nguyên nhân gây nên hiện tượng rác trôi nổi trên bề mặt hồ
-Chưa có kế hoạch xử lý rác thải từ quá trình sản xuất nông nghiệp ở đầu nguồn, đặc biệt là chưa có hệ thống quy hoạch phân vùng canh tác nông nghiệp hợp lý Tình trạng bao bì, vỏ, chai
lọ thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu sử dụng trong việc trồng trọt, xác động vật hôi thối, bốc mùi, trong quá trình sản xuất, chăn nuôi chưa được xử lý mà đã được vứt bỏ trực tiếp ra các kênh rạch, mương máng, nguồn nước tại đầu nguồn, trong quá trình lưu thông dòng chảy đã trôi nổi xuống khu vực hồ Xuân Hương gây nên tình trạng rác trôi nổi trên bề mặt hồ, nước hồ bị ô nhiễm nghiêm trọng, không khí xung quanh hồ bị ô nhiễm nặng nề, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân địa phương nơi đây và ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng sản xuất, dịch vụ và du lịch – vốn là một thế mạnh của thành phố Đà Lạt nói riêng và tỉnh Lâm Đồng nói chung.
2.2.3. Hậu quả:
- Gây ô nhiễm nước mặt, mất cảnh quan sinh thái hồ Xuân Hương.
- Cản trở lưu lượng nước của dòng chảy.
- Tắc nghẽn cống rãnh tạo nước tù, đọng.
- Ảnh hưởng đến các sinh vật sinh sống trong hồ, một trong những nguyên nhân gây nên hiện tượng cá chết hàng loạt trôi nổi trên mặt hồ, gây nên hiện tượng tảo lam sinh sôi với số lượng lớn bốc mùi hôi thối trên mặt hồ làm ô nhiễm không khí.
- Ảnh hưởng xấu đến ngành dịch vụ, du lịch của thành phố Đà Lạt.
2.3 Hiện trạng nước sủi bọt:
2.3.1. Hiện trạng:
Hiện nay trên mặt hồ có tình trạng sủi bọt, bốc mùi hôi thối gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảnh quan, không khí và gây ra tình trạng cá chết nổi lênh bềnh trên mặt hồ.
Nguyên nhân:
Trang 29Nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất nuông nghiệp chưa qua xử lý được xả trực tiếp ra
hồ Thời gian gần đây tảo lam nổi lên trên mặt Hồ Xuân Hương tạo thành từng thảm lớn, nổi đặc
quánh, sủi bọt và bốc mùi hôi thối gây ô nhiễm Vị trí tảo lam xuất hiện nhiều nhất là từ khu vực
bến du thuyền kéo dài tới cầu Ông Đạo Hiện nay, nước hồ Xuân Hương Đà Lạt đang bị ô nhiễm
nghiêm trọng.
2.3.2.Hậu quả:
Ảnh hưởng nghiêm trọng đến động thực vật sinh sống trong hồ Hiện tượng Cá chết trôi nổi trên mặt hồ ngày càng nhiều.
Cảnh quan môi trường bị hủy hoại Đe dọa sức khỏe con người Gây ra nhiều loại bệnh như:
Viêm màng kết, tiêu chảy, tả, kiết lỵ, các bệnh về da, ung thư… và các bệnh đường tiêu hóa và
da liễu Nguồn nước sinh hoạt và ăn uống của người dân ở dưới hạ nguồn bị ô nhiễm nghiêm
trọng Đây được coi tác nhân chính khiến nhiều người dân ở dưới hạ nguồn (khu vực phường 4
thành phố Đà Lạt, xã Tà Nung…) mắc nhiều căn bệnh nguy hiểm, đặc biệt là bệnh ung thư.
Hiện tượng nước sủi bọt trên mặt hồ có dấu hiệu gây thiệt hại đối với hoạt động du lịch, dịch vụ Gây ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách cho thành phố Đà Lạt nói riêng, tỉnh Lâm Đồng nói chung.
Trang 30BẢNG KHẢO SÁT NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG XÃ TÀ NUNG THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG SINH HOẠT
Khu vực
tiến hành
khảo sát
ST T
Đ
ộ t u ổ i
GIỚ I tính
Nội dung khảo sát Nguồn
nước đang sử dụng
Bản thân hoặc gia đình, bạn
bè mắc các căn bệnh nào không?
(nếu có ghi rõ)
Sử dụng
đồ bảo
hộ lao động hay không?
Tự đánh giá chất lượng nguồn nước đang sử dụng
Ý kiến đón g góp về giải phá p ngă n chặ
n ô nhiễ m ngu ồn nướ c
Giếng khoan
Giế
ng kho an
Có (Un
g Thư )
hơn trước
Xây dựng trạm lọc nước từ khu vực thác Cam Ly chảy xuốn
g Tà Nu ng
Trang 313 2
6
Na m
Giế
ng kho an
Có (Bện
h về da)
Khô ng
Nước hơi có mùi nhưng vẫn sạch
Khôn g
2
N ữ
Giến g khoa n+
nước máy
Nước máy
Nước máy
ng
Tương đối sạch
Khôn g
6
N ữ
Nước máy
đối sạch
Khôn g
8
N ữ
Giến g khoa n+
nước máy
Có (đa
u mắt )
Khô ng
Tươ
ng đối sạch
Khôn g
Trang 329 2
9
N ữ
Giến g khoa n+
nước máy
ng
Tươ
ng đối sạch
Khôn g
9
Na m
Giếng khoan + nước máy
hơn trước
Khôn g
0
N ữ
Giếng khoan + nước máy
Có (Ung thư)
hơn trước
Khôn g
7
Na m
Nước máy
Có (Viêm gan B)
Khô ng
Nước máy chưa sạch, còn mùi clo
và đục vàng
Khôn g
4
Na m
Giếng khoan + nước máy
máy đục, nước giếng tương đối sạch
Khôn g
4
N ữ
Giếng khoan + nước máy
Có (Ung thư)
giến g sạch, Nướ c máy bị cặn đục
Khôn g
0
N ữ
Giếng khoan + nước máy
máy đục, không sạch, nước giếng khoan tương đối sạch
Khôn g
Trang 3316 2
8
N ữ
Giếng khoan + nước máy
Có (ung thư)
giếng và nước máy hơi đục
Khôn g
6
N ữ
Giến g khoa n+
nước máy
ng
Nước máy chưa thật sạch
Khôn g
5
Na m
Giếng khoan + nước máy
Giếng khoan
Giếng khoan
ng
Nước có mùi tanh
Khôn g
Trang 34Kết luận: Qua quá trình khảo sát tại khu vực xã Tà Nung thành phố Đà Lạt về chất lượng nguồn
nước, nhóm tác giả tiến hành đánh giá:
- Trong vòng 1 năm trở lại đây, số lượng người dân được sử dụng nước máy nhiều hơn trước, tuy
nhiên nước máy vẫn chưa thật sự sạch để đảm bảo nhu cầu cho người dân Bên cạnh đó việc sử
dụng nước giếng khoan vẫn được duy trì nhưng số lượng ít hơn trước.
- Đa số người dân đánh giá nước giếng vẫn tương đối sạch, nước máy chưa thật sự sạch.
- Qua số liệu đã thống kê cho thấy tỉ lệ mắc các căn bệnh liên quan đến nguồn nước ở khu vực Tà
Nung đã giảm đáng kể so với trước đây Tỉ lệ căn bệnh Ung thư và các căn bệnh về da liễu và
đường tiêu hóa có sự giảm mạnh nhưng vẫn còn tồn tại.
- Người dân còn chưa mạnh dạn đưa ra các ý kiến đóng góp về giải pháp ngăn ngừa ô nhiễm
nguồn nước tại khu vực mình sinh sống.
CÁC GIẢI PHÁP PHÁP LÝ NHẰM KIỂM SOÁT VẤN ĐỀ Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC
TẠI HỒ XUÂN HƯƠNG.
3.1 Các giải pháp pháp lý nhằm hướng dẫn và điều chỉnh vấn đề ô nhiễm nguồn nước tại hồ
Xuân Hương đã được thực hiện:
3.1.1 Hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường nước tại hồ Xuân Hương hiện nay:
Vấn đề bảo vệ nguồn nước hiện nay nói chung và bảo vệ nguồn nước hồ Xuân Hương nói riêng đang được quan tâm và dành nhiều ưu tiên trong hoạch định chính sách phát triển kinh tế,
xã hội Bởi lẽ, bảo vệ nguồn nước hồ Xuân Hương là một hoạt động tất yếu bảo đảm cho sự phát
triển về kinh tế và xã hội của địa phương Vì vậy, các cơ quan chức năng có thẩm quyền đã và
đang tiến hành hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường nước hồ Xuân Hương Cụ
thể, ưu điểm của hệ thống bảo vệ môi trường của nguồn nước hồ Xuân Hương như sau:
Thứ nhất, Luật bảo vệ môi trường năm 2014 đã có các quy định về vấn đề bảo vệ môi trường các nguồn nước (từ Điều 56 đến Điều 58), các quy định chung về quản lý chất thải, nước thải( từ Điều 85 đến Điều 101); các quy định
về xử lý ô nhiễm, phục hồi và cải thiện môi trường (từ Điều 104 đến Điều 112); quy định về quan trắc môi trường (từ Điều 121 đến Điều 127); các quy định về trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về quản lý môi trường (từ Điều 139 đến Điều 143), các quy định về trách nhiệm của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Tổ chức chính trị - xã hội, tổ
về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố
Trang 35cáo về môi trường cùng với đó là vấn đề bồi thường thiệt hại về môi trường (từ Điều 159 đến
Điều 167).
Thứ hai, ngày 25 tháng 4 năm 2016 Bộ tài nguyên và Môi trường ra quyết định số BTNMT về việc thành lập đường dây nóng tiếp nhận thông tin phản ánh, kiến nghị về tiêu cực
931/QĐ-trong hoạt động quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường Số điện thoại đường dây nóng:
043.774.1918 tiếp nhận phản ánh, kiến nghị trong giờ hành chính; địa chỉ thư điện tử đường dây
nóng: thanhtrabtnmt@monre.gov.vn tiếp nhận phản ánh, kiến nghị tại các thời điểm trong ngày.
Thứ ba, ngày 19 tháng 4 năm 2017, UBND tỉnh Lâm Đồng ra quyết định ban hành kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 11/11/2016 của Tỉnh ủy và phát triển nông
nghiệp toàn diện, bền vững và hiện đại giai đoạn 2016 – 2020 và định hướng đến năm 2025.
Theo đó quy định về việc điều chỉnh lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển các khu, vùng sản
xuất nông nghiệp công nghệ cao, đẩy mạnh ứng dụng các biện pháp canh tác tiên tiến, canh tác
không dùng đất, ứng dụng kỹ thuật canh tác, ưu tiên phát triển những thế mạnh của Lâm Đồng
trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, đặc biệt là ứng dụng công nghệ sinh học, phát triển
công nghệ thông tin, công nghệ sau thu hoạch, ứng dụng vật liệu mới; công nghệ kiểm soát chất
lượng,… gắn với việc thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Lạt; hình
thành các vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao gắn với phát triển du lịch canh nông, làng
hoa, làng nghề truyền thống, làng đô thị xanh để kết nối với các đô thị vệ tinh, đô thị trung tâm,
tiến tới hình thành không gian nông nghiệp sạch trong đô thị xanh; sử dụng hợp lý tài nguyên,
bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, chủ động phòng chống thiên tai, dịch bệnh.
Cùng với đó dự toán nguồn kinh phí cho việc thực hiện kế hoạch Sở Tài nguyên và môi trường
phối hợp với Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện các giải pháp tích tụ đất đai, rà
soát quỹ đất để lập quy hoạch các khu nông nghiệp công nghệ cao tập trung để thu hút, tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp thực hiện các dự án đầu tư sản xuất, chế biến nông sản.
Thứ tư, UBND tỉnh Lâm Đồng đã đưa ra quyết định ban hành kế hoạch, triển khai thực hiện Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 16/11/2016 của tỉnh Lâm Đồng về phát triển nền kinh tế mũi nhọn, về phát triển du lịch chất lượng cao giai đoạn 2016-2020 định hướng 2025 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng Theo đó, với mục tiêu đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt các Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành nền kinh tế mũi nhọn và xây dựng các chương trình nội dung cụ thể nhằm triển khai thực cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật ngành du lịch cần : “Tập trung mọi nguồn lực để đầu tư đường bộ, hiện đại hệ thống hạ tầng phục vụ phát triển du lịch như thoát nước và xử lý nước thải, rác thải.” Vận động các đơn vị kinh doanh du lịch, vận dụng các công
Trang 36nghệ “xanh, sạch, tiết kiệm năng lượng” trong các khách sạn, khu du lịch nhằm góp phần bảo vệ
môi trường và phát triển du lịch bền vững Văn bản nêu ra yêu cầu một cách cụ thể về phân công
trách nhiệm cho các cấp các ngành và các địa phương trong việc chủ trì và phối hợp triển khai
thực hiện kế hoạch trên.
Thứ năm, quyết định về việc tăng cường thu gom, xử lý bao gói thuốc bảo vệ thực vật do UBND tỉnh Lâm Đồng ban hành số 780 ngày 18 tháng 02 năm 2019, văn bản này được ban hành
dựa trên tình hình thực tế của địa phương đưa ra các phương án thu gom, vận chuyển và xử lý
thuốc bảo vệ thực vật sau khi sử dụng Tại đây cũng nêu rõ các quy định về thẩm quyền và trách
nhiệm đối với vấn đề thu gom, xử lý bao thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng là do Sở Tài nguyên
và môi trường cùng UBND thành phố Đà Lạt và Bảo Lộc cùng chịu trách nhiệm Văn bản cũng
nêu rõ cần phải đẩy mạnh triển khai thực hiện, hướng dẫn hỗ trợ và đôn đốc các địa phương thực
hiện phương án thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải trên địa bàn.
Thứ sáu, năm 2017 UBND tỉnh Lâm Đồng ra công văn số 1996 về việc triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý Tài nguyên và môi trường năm 2017 trên địa bàn tỉnh.
Trong văn bản đã nêu rõ, trong công tác bảo vệ môi trường thì Sở Tài nguyên và môi trường,
UBND các huyện, thành phố Đà Lạt và Bảo lộc (đặc biệt là các cơ sở có xả nước thải), ban quản
lý các khu công nghiệp yêu cầu khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung thực hiện
lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động liên tục và truyền số liệu trực tiếp về Sở Tài nguyên
và môi trường để theo dõi giám sát.
Thứ bảy, năm 2016 UBND tỉnh Lâm Đồng ra quy định về quản lý hoạt động thoát nước trên địa bàn tỉnh số 26/2016/QĐ-UBND, ngày 06/4/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng
về quản lý hoạt động thoát nước và xử lý nước thải tại các khu công nghiệp và khu dân cư nông
thôn tập trung như hố kiểm tra, quản lý chất lượng, khối lượng nước thải xả vào điểm đấu nối với
việc xác định khối lượng nước thải Theo đó, quyết định quy định rõ ràng về trách nhiệm quản lý
hoạt động thoát nước và xử lý nước thải của các Sở, ban ngành, UBND các cấp.
Thứ tám, ngày 07 tháng 4 năm 2017 UBND tỉnh Lâm Đồng triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý tài nguyên và môi trường năm 2017 trên địa bàn tỉnh Về công
tác bảo vệ môi trường, Sở Tài nguyên và môi trường và UBND các huyện, thành phố Đà Lạt và
Bảo Lộc tăng cường công tác kiểm ta, giám sát các cơ sở ô nhiễm môi trường (đặc biệt là các cơ
sở có xả nước thải) ban quản lý các khu công nghiệp yêu cầu khu công nghiệp có hệ thống xử lý
nước thải tập trung thực hiện các hệ thống quan trắc nước thải tự động liên tục và truyền số liệu
trực tiếp về Sở Tài nguyên và môi trường để theo dõi, giám sát.
Thứ chín, Ủy ban nhân dân cấp phường (phường 8, phường 9, phường 12) cũng đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm cải thiện chất lượng nguồn nước ở các kênh rạch chảy ra hồ Xuân Hương cũng như các hoạt động thu gom rác thải, bao bì nilong xung quanh hồ nhằm tôn tạo cảnh
Trang 37quan, làm sạch môi trường nước và phát động phong trào mọi người chung tay góp sức bảo vệ nguồn tài nguyên nước tạo môi trường xanh sạch đẹp.
Thứ mười, đầu năm 2019 Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Lạt lập tổ công tác liên ngành để thực hiện mạnh tay xử lý các gánh buôn bán hàng rong và xả rác quanh khu vực thắng cảnh quốc gia hồ Xuân Hương Tổ công tác này gồm hơn 50 người thuộc các cơ quan đơn vị của thành phố
Đà Lạt do lãnh đạo Uỷ ban nhân dân phường 10 là tổ trưởng và lãnh đạo phòng văn hoá thông tin làm tổ phó thường trực Nhiệm vụ này đã một phần nào hạn chế được tình trạng xả rác bừa bãi quanh khu vực hồ Xuân Hương Địa chỉ website: https://thanhnien.vn/thoi-su/da-lat-manh- tay-xu-ly-hang-rong-va-xa-rac-quanh-ho-xuan-huong-1074972.html
3.1.1.1 Những vấn đề còn tồn tại:
Có thể nói, các cơ quan có thẩm quyền đã xây dựng một thống các văn bản pháp luật tương đối hoàn chỉnh Tuy nhiên vấn đề ô nhiễm môi trường chưa được kiểm soát , phần lớn do việc giám sát thực thi thiếu hiệu quả và việc xử lí hành vi vi phạm còn thiếu tính răn đe Các văn bản còn thiếu khả năng thích ứng với các biến động xảy ra điều này dẫn đến việc các cơ quan có chức năng lúng túng trong nhiều trường hợp vì thiếu các quy định của pháp luật về quy định pháp luật để xử lý Các cơ quan hoạch định chính sách bị động trong việc lập kế hoạch ban hành văn bản để quản lí và kiểm soát tình trạng ô nhiễm nguồn nước Bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì việc ô nhiễm nguồn nước hồ Xuân Hương vẫn còn tái diễn và lên án cho thấy vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế nhất Nhóm tác giả mạnh dạn đưa ra quan điểm về những hạn chế còn tồn tại như sau:
Thứ nhất: Hệ thống các quy định còn mang tính chung chung, chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa các quy định về phát triển kinh tế vối các văn bản bảo vệ môi trường nước khu vực hồ Xuân Hương Ví dụ Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 07- NQ/TU ngày 16/11/2016 của tỉnh Lâm Đồng về phát triển nền kinh tế mũi nhọn, về phát triển du lịch chất lượng cao giai đoạn 2016-2020 định hướng 2025 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có đề cập đến vấn đề Tập trung mọi nguồn lực để đầu tư đường bộ, hiện đại hệ thống hạ tầng phục vụ phát triển du lịch như thoát nước và xử lý nước thải, rác thải.”, tuy nhiên lại chưa nhấn mạnh đến việc bảo vệ nguồn tại hồ Xuân Hương và chưa hệ thống hoá các khu vực nước đầu nguồn để kiểm soát lượng nước, rác thải đổ về hồ Xuân Hương – Khu vực trọng điểm trong phát triển du lịch.
Thứ hai: Các văn bản được ban hành còn mang tính cục bộ, chưa có sự truyền thông rộng rãi đối với người dân, thậm chí là cơ quan có nghĩa vụ Nhiều kế hoạch còn thực hiện bằng lời nói, chưa có sự chỉ đạo bằng văn bản một cách mạch lạc, rõ ràng, đúng quy định người dân vì vậy mà còn chủ quan, thiếu hiểu biết về các quy định về pháp luật và tầm quan trọng của các nội dung mà pháp luật đề ra.
Trang 38Bảng số liệu khảo sát thực tế sự hiểu biết của người dân địa phương về quy định sử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường trên địa bàn thành phố Đà Lạt.
BIẾT VỀ NGHỊ ĐỊNH 155/2016/NĐ-
CP VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
BIẾT VỀ CÁC VĂN BẢN LIÊN QUAN ĐẾN LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG
BIẾT VỀ CÁC VỤ VIỆC BỊ
XỬ LÍ VI PHẠM
VỀ MÔI TRƯỜN G
ĐỀ XU ẤT GIẢ I PH ÁP
N G
C Ó
KHÔN G
gom bao bì thuố c bảo vệ thực vật, khô ng bỏ rác ra suối 3
5
Kinh
doanh
Phườ ng 12
gom bao bì thuố c bảo vệ thực vật, làm sạch
Trang 39dòn g kênh , suối
thêm nhiề u thùn
g rác hơn
vì ít quá 4
lại hệ thốn g
Trang 40kê nh nư ớc sa u vườn 3
0
Làm
thuê
Phườ ng 10