Đề cương Tư tưởng Hồ Chí Minh HK221 HỒNG ĐỨC LINH 1 MỤC LỤC I CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 1 1 Cơ sở thực tiễn 2 1 2 Cơ sở lý luận 5 1 3 Nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh 9 II TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH.
Cơ sở thực tiễn
1.1.1 THỰC TIỄN VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX – ĐẦU THẾ KỶ XX
Từ 1858, Pháp bắt đầu xâm lược VN Nhà Nguyễn ký hiệp ước đầu hàng, trở thành tay sai của Pháp
Từ 1858 – cuối XIX, các phong trào chống Pháp nổ ra
Miền Nam: Trương Định, Nguyễn Trung Trực
Miền Trung: Trần Tấn, Đặng Như Mai, Phan Đình Phùng
Miền Bắc: Nguyễn Thiện Thuật, Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Nguyễn Quang Bích, Hoàng Hoa Thám,
Các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới ngọn cờ “ Cần Vương” đều thất bại
=> Tư tưởng phong kiến lỗi thời
Pháp khai thác thuộc địa ở Việt Nam biến nước ta từ một nước phong kiến thành một xã hội thuộc địa và phong kiến, đồng thời làm thay đổi sâu sắc cơ cấu giai cấp và tầng lớp trong xã hội Quá trình khai thác này tạo ra sự phân hóa xã hội rõ rệt, hình thành các tầng lớp bị áp bức và các nhóm quản lý thực dân, để lại nhiều hệ quả về kinh tế và đời sống người dân Việt Nam.
Pháp vẫn duy trì nền kinh tế nông nghiệp, 95% dân số là nông dân, bổ sung địa chủ, điền chủ người Pháp và người nước ngoài
Tư sản Tiểu tư sản
Nông dân và địa chủ phong kiến
Mới: { Công nhân VN và tư sản
Toàn thể nhân dân Vn và thực dân Pháp
Đầu thế kỉ XX, sự ảnh hưởng của các phong trào cải cách và cách mạng dân chủ tư sản ở Trung Quốc, cùng với Duy Tân ở Nhật Bản, đã tác động sâu sắc tới Việt Nam và dẫn tới sự xuất hiện của các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản Những phong trào này hướng tới tự do dân chủ, cải thiện đời sống xã hội và tiến tới độc lập dân tộc, đồng thời thúc đẩy sự hình thành nhận thức chính trị và sự chuẩn bị cho các cuộc đấu tranh dân tộc ở Việt Nam trong thế kỷ XX.
Đông Du – Phan Bội Châu – 1905-1909
Duy Tân – Phan Châu Trinh – 1906-1908
Đông Kinh – Lương Văn Can, Nguyễn Quyền và một số nhân sĩ khác – Tháng 3-11/1907
Chống sưu thuế ở Trung Kỳ (1908),
Mọi thất bại của phong trào đều xuất phát từ hai nguyên nhân: nguyên nhân sâu xa là giai cấp tư sản còn non yếu, và nguyên nhân trực tiếp là các tổ chức, người lãnh đạo phong trào chưa có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn.
Sự ra đời của giai cấp công nhân và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam đánh dấu những tín hiệu của một thời đại mới sắp ra đời trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Đầu thế kỷ XX, công nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ và trở thành một giai cấp có tổ chức, mở đường cho các phong trào cách mạng trước và trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918).
Công nhân VN chịu 3 tầng áp bức bóc lột:
Hình thức đấu tranh chống lại giới chủ: đốt lán trại, bỏ trốn tập thể, đình công, bãi công
Phong trào công nhân và phong trào yêu nước tạo điều kiện thuận lợi cho chủ nghĩa Mác – Lênin xâm nhập, truyền bá
Hồ Chí Minh là người truyền bá, chuẩn bị về lý luận, chính trị, tư tưởng và tổ chức, sáng lập Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhân tố góp phần bổ sung, phát triển tư tưởng:
Đảng lãnh đạo Cách mạng tháng tám thành công
Lãnh đạo kháng chiến chống Pháp thắng lợi
Lãnh đạo đất nước vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa chống Mỹ
1.1.2 THỰC TIỄN THẾ GIỚI CUỐI THẾ KỶ XIX – ĐẦU THẾ KỶ XX
Chủ nghĩa tư bản phát triển từ tự do cạnh tranh sang đế quốc chủ nghĩa
Một số nước đế quốc chi phối toàn bộ tình hình thế giới
Phần lớn các nước Châu Á, Châu Phi và khu vực Mỹ Latinh trở thành thuộc địa và phụ thuộc của các nước đế quốc
Làm sâu sắc thêm mâu thuẫn vốn có trong lòng chủ nghĩa tư bản:
Tư sản với vô sản ở các nước tư bản
Các nước đế quốc với nhau
Các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa Đế quốc
=> Thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới phát triển
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác-Lênin, mở đường cho sự chuyển giao lịch sử từ chế độ tư bản sang xã hội chủ nghĩa Sự kiện này lật đổ giai cấp tư sản và địa chủ phong kiến, đặt nền móng cho một xã hội mới do giai cấp công nhân lãnh đạo Thành tựu này đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đấu tranh vì quyền lợi của người lao động và nông dân, đồng thời xác lập nền tảng cho một xã hội công bằng và phát triển kinh tế theo con đường chủ nghĩa xã hội.
Mở ra một kỷ nguyên mới nhờ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, con đường giải phóng cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới được mở rộng, hướng tới một xã hội công bằng, dân chủ và bền vững với quyền tự quyết và phúc lợi cho mọi người.
2/3/1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập tại Matxcơva, trở thành nền tảng lãnh đạo phong trào cách mạng thế giới Dưới sự lãnh đạo của Lê Nin, tổ chức này đẩy mạnh truyền bá chủ nghĩa M–L và kinh nghiệm Cách mạng Tháng Mười Nga ra khắp thế giới, thúc đẩy sự hình thành và hoạt động mạnh mẽ của các đảng Cộng sản ở nhiều nước.
Những nhân tố ảnh hưởng tới Hồ Chí Minh trên hành trình tìm mục tiêu và con đường cứu nước:
Ra đời của Nhà nước Xô Viết, Quốc tế Cộng sản
Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô
Sự phát triển phong trào cộng sản, công nhân và giải phóng dân tộc trên thế giới
Cơ sở lý luận
1.2.1 GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Là động lực, sức mạnh
Là nền tảng tư tưởng, điểm xuất phát
Động lực thúc đẩy Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước và tìm thấy ở chủ nghĩa
Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển tinh thần đấu tranh anh dũng, bất khuất
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, không có gì quý giá hơn độc lập và tự do; đó là chân lý vĩ đại của thời đại mà Người khẳng định và xem như nền tảng cốt lõi cho mọi hoạt động cách mạng Độc lập và tự do không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực quyết định, định hình nhận thức và hành động của dân tộc Việt Nam theo con đường mà Hồ Chí Minh đã vạch ra.
Trong lãnh đạo nhân dân VN xây dựng và bảo vệ đất nước, Hồ Chí Minh chú trọng kế thừa, phát triển:
Yêu nước gắn liền với yêu dân, có tinh thần đoàn kết, nhân ái, khoan dung trong cộng đồng và hòa hiếu với
Các dân tộc lân bang
Tinh thần cần cù, dũng cảm, sáng tạo, lạc quan, vì nghĩa, thương người của dân tộc VN
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh:
Con người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định thành công của cách mạng
Dân là gốc của nước
Nước lấy dân làm gốc
Gốc có vững cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân
Đoàn kết dân tộc gắn liền với đoàn kết quốc tế là một nguyên tắc chiến lược quyết định thắng lợi của cách mạng VN
1.2.2 TINH HOA VĂN HÓA NHÂN LOẠI
Kết tinh trong 3 học thuyết:
Tư tưởng dùng nhân trị, đức trị để quản lý xã hội
Xây dựng một xã hội lý tưởng trong đó công bằng, bác ái, nhân, nghĩa, trí, dũng, tín, liêm được coi trọng
Đặc biệt là tinh thần trọng đạo đức trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của con người, trong công tác xây dựng Đảng về đạo đức b) Phật giáo:
Tư tưởng từ bi, vị tha, yêu thương con người, khuyến khích làm việc thiện, chống lại điều ác
Đề cao quyền bình đẳng của con người và chân lý
Khuyên con người sống hòa đồng, gắn bó với đất nước
Tư tưởng nhân bản, đạo đức tích cực vào việc xây dựng xã hội mới, con người mới c) Lão giáo (Đại giáo):
Tư tưởng của Lão Tử: khuyên con người sống gắn bó, hòa đồng với thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống => Kêu gọi nhân dân trồng cây, tổ chức “ Tết trồng cây”
Tư tưởng thoát mọi ràng buộc của vòng danh lợi
Khuyên cán bộ, đảng viên:
Ít lòng tham muốn về vật chấn
Thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Hành động theo đạo lý với ý nghĩa là hành động đúng với quy luật tự nhiên, xã hội d) Trường phái khác:
Các nhà tư tưởng phương Đông cổ đại như Mặc Tử, Hàn Phi Tử, Quản Tử,
Trào lưu tư tưởng tiến bộ thời cận hiện đại ở Ấn Độ và Trung Quốc nổi bật với các hệ tư tưởng tiêu biểu như chủ nghĩa Gandhi và Tam dân của Tôn Trung Sơn Gandhi với nguyên tắc phi bạo lực và tự lực xã hội, cùng Tam dân với ba nguyên tắc Dân tộc, Dân chủ và Dân sinh là những khuôn mẫu được phân tích nhằm hiểu rõ sự phát triển của các xã hội cận hiện đại Bài viết đề xuất cách vận dụng những giá trị này phù hợp với Việt Nam, nhằm đóng góp vào tiến bộ xã hội, phát triển dân chủ và thịnh vượng.
Quan điểm của Tôn Trung Sơn về dân tộc, dân quyền và dân sinh thể hiện quá trình hình thành một hệ tư tưởng chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang con đường cách mạng vô sản Ông nhấn mạnh sự đoàn kết của dân tộc, quyền tự quyết và ý thức tự do cho toàn dân, hướng tới độc lập và tự do của đất nước Dân quyền được hiểu là quyền tham gia quản lý nhà nước, bình đẳng trước pháp luật và quyền liên minh, vận động chính trị của mọi lớp người Dân sinh tập trung cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội, tiến bộ kinh tế và phúc lợi chung cho toàn xã hội Dưới ánh sáng của ba nguyên lý ấy, mục tiêu Độc lập – Tự do – Hạnh phúc được hình thành như một khung giá trị để đoàn kết các tầng lớp trong xã hội và thúc đẩy sự chuyển hóa cách mạng theo hướng hiện đại và tiến bộ Nhìn rộng, quan điểm của Tôn Trung Sơn có ảnh hưởng sâu đậm đến các phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á và các nước Đông Nam Á, đồng thời để lại dấu ấn trong cách tiếp cận dân tộc, dân quyền và dân sinh trong các cuộc đấu tranh và xây dựng đất nước sau này, bao gồm Việt Nam.
Kế thừa và phát triển những tinh hoa trong tư tưởng và văn hóa phương Đông nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam trong thời đại hiện đại Việc kết nối các giá trị truyền thống với thực tiễn xã hội đương đại giúp tăng cường tính sáng tạo và hiệu quả của các đường lối đổi mới, đồng thời giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Đây là cơ sở để vận dụng linh hoạt các nguyên lý phương Đông vào những thách thức của đất nước hiện nay.
Khẩu hiệu của Đại Cách mạng Pháp: Tự do – Bình đẳng – Bác ái
Kế thừa và phát triển những quan điểm nhân quyền và dân quyền từ Tuyên ngôn độc lập Mỹ (1776) và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp (1791), bài viết đề xuất quan điểm về quyền mưu cầu độc lập, tự do và hạnh phúc của các dân tộc; từ sự giao thoa giữa hai văn bản kinh điển này, quyền tự quyết và sự tôn trọng nhân phẩm được khẳng định như nền tảng cho sự bình đẳng và tham gia của mọi người vào đời sống xã hội, chính trị và kinh tế; qua đó nhấn mạnh mối liên hệ giữa quyền được quyết định vận mệnh và quyền được hưởng các quyền tự do cơ bản, đóng vai trò trọng yếu đối với sự phát triển bền vững của các quốc gia và cộng đồng dân tộc trên thế giới.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, con người sống và hoạt động thực tiễn, đồng thời nghiên cứu lý luận tại các trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa lớn của các cường quốc trên thế giới Việc phân tích tình hình chính trị, kinh tế và văn hóa của nhân loại ở những địa bàn này giúp nhận diện xu hướng phát triển, thách thức và cơ hội toàn cầu Các trung tâm quyền lực ấy đóng vai trò định hình quá trình xã hội, từ quyết sách chính sách công đến diễn biến thị trường và sự giao thoa văn hóa, mang lại cái nhìn sâu sắc về nhịp độ đổi mới và sự đa dạng của các nền văn hóa trên thế giới.
Nghiên cứu tư tưởng nhân văn, dân chủ và nhà nước pháp quyền của các nhà khai sáng phương Tây như Vonte, Rutxo, Mongtetxkio
Tìm hiểu chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn
Thích đọc sách văn học của William Shakespeare, Lỗ Tấn, Hugo, Zola, 2 nhà văn Anatole France và Léon Tolstoi
Năm 1917 chứng kiến Chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành cơ sở lý luận của thời đại mới, quyết định bước phát triển mới về chất của cách mạng Việt Nam Nhờ đó, nó đã giải quyết được cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước và xác định vai trò của người lãnh đạo cách mạng ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX.
Là thế giới quan, phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động cách mạng
Kế thừa, đổi mới và phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, được kết hợp với thực tiễn cách mạng trong nước và trên thế giới để hình thành hệ thống quan điểm cơ bản và toàn diện về cách mạng Việt Nam Hệ thống này gắn kết lịch sử và hiện tại, vận dụng sáng tạo các bài học kinh nghiệm vào điều kiện thực tiễn, định hướng phát triển xã hội và bảo đảm độc lập, tự do và hạnh phúc cho nhân dân.
Là tiền đề lý luận quan trọng nhất, có vai trò quyết định trong việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhận định của Hồ Chí Minh:
Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân
Tôn giáo Jesu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả
Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng
Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách phù hợp với điều kiện nước ta
=> Đều mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội
Nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh
1.3.1 PHẨM CHẤT HỒ CHÍ MINH
Có lý tưởng cao cả và hoài bão lớn cứu dân, cứu nước thoát khỏi cảnh lầm than, cơ cực
Có ý chí kiên cường và nghị lực to lớn, người ấy dám một mình ra nước ngoài khảo sát thực tế các nước và các dân tộc thuộc địa Dù chỉ với hai bàn tay trắng, họ vẫn kiên cường đối mặt với thử thách để thu thập thông tin và hiểu rõ thực tế của thế giới.
Có bản lĩnh tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, giàu tính phê phán, đổi mới và cách mạng
Vận dụng đúng quy luật chung của xã hội loài người và các nguyên lý của cách mạng thế giới vào hoàn cảnh riêng của Việt Nam, bài viết đề xuất tư tưởng và đường lối cách mạng mới nhằm đáp ứng đầy đủ đòi hỏi thực tiễn Việc liên kết các chuẩn mực toàn cầu với điều kiện địa phương giúp xác lập một định hướng đổi mới có tính khả thi, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và thúc đẩy sự tiến bộ bền vững của đất nước.
Có năng lực tổ chức biến tư tưởng, đường lối thành hiện thực
Có tầm nhìn chiến lược, bao quát thời đại
Có năng lực tỏng kết thực tiễn, dự báo tương lai chính xác
Suốt đời tận trung với nước, tận hiếu với dân
Suốt đời đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản VN và của cách mạng thế giới
Là nhân tố quyết định những thành công của Hồ Chí Minh trong hoạt động lý luận và hực tiễn cho dân tộc VN và nhân loại
1.3.2 TÀI NĂNG HOẠT ĐỘNG, TỔNG KẾT THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN
Có vốn sống và thực tiễn cách mạng phong phú, phi thường
Đặc biệt xác định rõ bản chất, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc, thực dân
Thấu hiểu tình cảnh người dân ở nhiều nước thuộc địa
Thấu hiểu phong trào giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và công tác xây dựng Đảng Cộng sản được thể hiện qua nghiên cứu lý luận và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp; hoạt động ở Trung Quốc và tham gia phong trào cộng sản quốc tế tại nhiều nước cho thấy sự gắn kết giữa lý luận với thực tiễn cách mạng Nghiên cứu đời sống xã hội ở Liên Xô củng cố cái nhìn về quá trình hình thành chủ nghĩa xã hội và vai trò của các đảng Cộng sản trong lịch sử Từ những trải nghiệm ấy có thể hiểu rõ mối quan hệ giữa phong trào giải phóng dân tộc, chủ nghĩa xã hội và sự phát triển của các đảng Cộng sản trên trường quốc tế.
Là nhà tổ thức vĩ đại của cách mạng VN
Việc cụ thể hóa và hiện thực hóa tư tưởng, lý luận cách mạng thành hành động và hiện thực sinh động cho thấy sức sống của hệ tư tưởng cách mạng; đồng thời tổng kết thực tiễn cách mạng, rút ra bài học quý báu và từ đó bổ sung, phát triển lý luận và tư tưởng cách mạng, làm cho chúng ngày càng sâu sắc, toàn diện và phù hợp với yêu cầu của thời đại.
Sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất
Sáng lập Quân đội nhân dân VN
Khai sinh Nhà nước kiểu mới ở VN
Là nhân tốc chủ quan hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC
2.1 VẤN ĐỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC
2.1.1 ĐỘC LẬP, TỰ DO LÀ QUYỀN THIÊNG LIÊNG, BẤT KHẢ XÂM PHẠM CỦA TẤT
Khát vọng to lớn của dân tộc ta là luôn mong muốn có được nền độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân; đây không chỉ là mục tiêu chính trị mà còn là một giá trị tinh thần thiêng liêng và bất diệt của dân tộc Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng độc lập và tự do là nền tảng để đất nước Việt Nam phát triển, bảo đảm phẩm giá và cuộc sống tự chủ cho mỗi người dân.
Minh là hiện thân cho tinh thần ấy
Năm 1919, Hồ Chí Minh đã gửi tới Hội nghị Vécxây (Pháp) bản Yêu sách của nhân dân An Nam, bao gồm 8 điểm với hai nội dung chính:
Đòi quyền bình đẳng về mặt pháp lý
Đòi các quyền tự do, dân chủ của người dân Đông Dương
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền của các dân tộc thuộc địa mà trước hết là quyền bình đẳng và tự do đã hình thành
Khẳng định những giá trị thiêng liêng, bất biến về quyền dân tộc
Quyền tự do, bình đẳng và quyền con người được xem là nền tảng không thể xâm phạm của mọi xã hội; chúng được khẳng định rõ trong Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1791) Những văn kiện này khẳng định con người sinh ra có các quyền tự nhiên, bất khả xâm phạm, bao gồm quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, cũng như quyền tham gia vào đời sống chính trị và quản lý nhà nước, đồng thời nhấn mạnh nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật Chúng đặt nền tảng cho giới hạn quyền lực của nhà nước bằng hiến pháp và hệ thống pháp lý, nhằm bảo vệ quyền lợi cá nhân và tôn trọng nhân quyền như một chuẩn mực toàn cầu Từ đó, quyền con người trở thành nền tảng của nền dân chủ hiện đại và pháp quyền, ảnh hưởng sâu sắc đến cách hiểu và thực thi quyền tự do, an toàn và sự công bằng trên toàn cầu.
Khẳng định này nhấn mạnh rằng tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra bình đẳng và mỗi dân tộc đều có quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc và quyền tự do Những quyền cơ bản này là những lẽ phải không ai có thể phủ nhận hay chối bỏ Tuyên bố nhấn mạnh tính phổ quát của quyền con người, bất kể nguồn gốc hay địa vị, và kêu gọi tôn trọng quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do của mọi người Trong bối cảnh toàn cầu, nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng quyền cơ bản đóng vai trò nền tảng cho một xã hội công bằng và tiến bộ.
Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng (năm 1930), Hồ Chí Minh xác định mục tiêu chính trị của Đảng là:
Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến
Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập
Tuyên ngôn độc lập năm 1945 khẳng định nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và từ đó đã thực sự trở thành một nước tự do và độc lập Toàn thể dân Việt Nam quyết tâm dùng mọi tinh thần, lực lượng, mạng sống và của cải để bảo vệ và giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.
12 Ý chí và quyết tâm trên còn được thể hiện trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược
Trong lời kêu gọi Liên hợp quốc năm 1946, Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng nhân dân Việt Nam thành thật mong muốn hòa bình và an ninh cho đất nước Tuy nhiên, hòa bình ấy không phải là sự thụ động; nhân dân ta sẵn sàng kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước Ý chí bảo vệ chủ quyền và độc lập được thể hiện bằng hành động, chứ không chỉ bằng lời nói.
Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam lần thứ hai và ngày 19/12/1946, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến đã nêu cao tinh thần kiên quyết của người Việt bằng câu nói nổi tiếng: “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.” Tuyên bố này thể hiện ý chí bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và sự đoàn kết của nhân dân trước áp lực thực dân, đồng thời đánh dấu bước chuyển biến của phong trào kháng chiến từ khu vực sang quy mô toàn dân và chuẩn bị cho cuộc đấu tranh lâu dài vì tự do và chủ quyền của đất nước.
Trong năm 1966, đế quốc Mỹ tăng cường mở rộng chiến tranh ở Việt Nam bằng cách điều động quân viễn chinh và sự hỗ trợ của các nước đồng minh vào miền Nam, nhằm thực hiện chiến lược 'chiến tranh cục bộ' Đồng thời, Mỹ tiến hành các hoạt động phá hoại ở miền Bắc để gây áp lực và làm suy yếu hậu cần của phong trào cách mạng Sự leo thang này đánh dấu bước mở rộng quy mô xung đột và làm cuộc chiến tại Việt Nam trở nên gay gắt hơn trên cả hai miền đất nước.
Đây là một chân lý thời đại và một tuyên ngôn bất hủ của các dân tộc khao khát nền độc lập, tự do trên toàn thế giới Câu nói 'Không có gì quý hơn độc lập, tự do' đã trở thành kim chỉ nam cho hành động, là biểu tượng của ý chí tự chủ và phẩm giá con người trên mọi quốc gia Nội dung này nhấn mạnh rằng độc lập và tự do là nền tảng để xây dựng xã hội công bằng, phát triển và thịnh vượng, đồng thời gợi mở trách nhiệm của mỗi dân tộc trong việc bảo vệ quyền tự quyết trên trường quốc tế.
Buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pari, cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, rút quân Mỹ về nước
Độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do và hạnh phúc của nhân dân Việc đánh giá cao học thuyết Tam dân của Tôn Trung Sơn giúp làm rõ mục tiêu chung: độc lập của quốc gia đi đôi với dân quyền tự do và dân sinh được bảo đảm Dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc là ba trụ cột liên kết chặt chẽ, tạo nền tảng cho một xã hội công bằng và thịnh vượng, nơi mọi người có cơ hội phát triển và đóng góp vào sự phát triển chung.
Trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp, mọi người được khẳng định sinh ra đã tự do và bình đẳng về quyền lợi, và quyền tự do, bình đẳng ấy phải được bảo toàn và thực thi suốt đời Tuyên ngôn nhấn mạnh rằng quyền con người không thể bị tước bỏ, và mọi hình thức phân biệt đối xử phải bị loại bỏ trong khuôn khổ pháp lý Tài liệu kêu gọi thiết lập một hệ thống pháp lý bảo vệ quyền tự do và bình đẳng, đồng thời đảm bảo sự tham gia của công dân vào đời sống chính trị và xã hội, đặt nền tảng cho một nhà nước có trách nhiệm chăm lo quyền lợi của mọi thành viên.
Khẳng định dân tộc Việt Nam đương nhiên cũng phải được tự do và bình đẳng về quyền lợi
“Đó là lẽ phải không ai chối cãi được”
Năm 1930, trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, mục tiêu của cách mạng được nêu rõ là giành độc lập hoàn toàn cho nước Nam và mang lại tự do cho nhân dân; đồng thời xóa bỏ mọi hình thức áp bức và bóc lột, tịch thu ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa để biến thành của công và phân phối cho nông dân nghèo, bỏ sưu thuế cho người nông dân nghèo, và thi hành luật ngày làm 8 giờ.
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC 2.1 Vấn đề độc lập dân tộc
Về cách mạng giải phóng dân tộc
2.2.1 CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC MUỐN THẮNG LỢI PHẢI ĐI THEO CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN
Từ thời thực dân Pháp xâm lược, vấn đề sống còn của dân tộc được đặt ra là phải đấu tranh để giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị đế quốc, biến thách thức lịch sử thành động lực dân tộc Cuộc đấu tranh này trở thành nền tảng cho sự tự chủ và độc lập của đất nước, thể hiện ý chí đoàn kết, kiên cường của toàn dân trước mọi áp bức và thách thức, đồng thời mở đường cho quá trình giành lại quyền tự quyết và xây dựng một tương lai tự do cho tổ quốc.
Rất nhiều phong trào yêu nước nổ ra nhưng đều chưa đạt được mục tiêu mong muốn, cho thấy rõ sự khủng hoảng và bế tắc của giai cấp lãnh đạo cũng như đường lối cách mạng ở thời kỳ đó Những thất bại này phản ánh sự thiếu đồng thuận và thiếu sự chuẩn bị về tổ chức, khiến phong trào khó duy trì nhịp lực và thiếu khả năng chuyển hóa thành bước tiến bền vững Thành công của phong trào phụ thuộc vào sự đoàn kết của giai cấp lãnh đạo, một đường lối cách mạng nhất quán và sự chuẩn bị chiến lược phù hợp với hoàn cảnh lịch sử.
Một người đã nói rằng họ muốn ra nước ngoài để được tận mắt trải nghiệm nước Pháp và các nước khác, quan sát cách họ làm việc và vận hành xã hội để học hỏi Sau khi đã tiếp thu được những bài học từ các mô hình thành công ấy, họ sẽ trở về quê hương và nỗ lực giúp đỡ đồng bào chúng ta, mang theo kinh nghiệm và kiến thức để cải thiện cuộc sống của người dân.
Người ấy cho rằng con đường cách mạng tư sản không mang lại tự do thật sự cho công nông; dù Cách mạng Pháp và Cách mạng Mỹ được coi là dân chủ và cộng hòa, kỳ thực chúng tước đoạt quyền lợi công nông và áp bức thuộc địa Cách mạng đã trải qua bốn lần, nhưng công nông Pháp vẫn phải tìm kiếm một cuộc cách mạng mới để thoát khỏi vòng áp bức.
Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã để lại ảnh hưởng sâu sắc lên nhận thức và phong trào ở khắp nơi, khiến nhiều người cho rằng thế giới lúc ấy chứng kiến sự thành công của cách mạng Nga và mang lại cho dân chúng sự tự do, bình đẳng thực sự, khác với tự do và bình đẳng giả dối mà các nước đế quốc như Pháp từng khoe khoang ở An Nam Nói ngắn gọn, sau sự kiện này nhiều người cho rằng phải theo chủ nghĩa Mác-Khắc-Tư và Lênin.
Vào năm 1920, sau khi đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, Hồ Chí Minh nhận ra con đường cứu nước và giải phóng dân tộc chính là con đường cách mạng vô sản; đây là con đường triệt để nhất, phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại.
Bài viết "Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin" kể về con đường đến với chủ nghĩa Lênin và sự tin tưởng tuyệt đối vào Lênin, cùng với Quốc tế thứ ba Học thuyết cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác-Lê Nin được Người vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện cách mạng Việt Nam.
Giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp, trong đó giải phóng dân tộc là trước hết, trên hết
CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN :
Ở châu Âu: giải phóng giai cấp - giải phóng dân tộc - giải phóng xã hội - giải phóng con người
Ở Việt Nam và các nước thuộc địa, do hoàn cảnh lịch sử và chính trị khác nhau, quá trình đấu tranh giải phóng diễn ra trên nhiều bình diện: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Chánh cương vắn tắt của Đảng năm 1930 nêu rõ phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam: tập trung lực lượng tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để tiến tới xã hội cộng sản.
Cách mạng tư sản dân quyền trước hết là phải đánh đổ đế quốc và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập…
NHIỆM VỤ CHỐNG ĐẾ QUỐC VÀ PHONG KIẾN:
Theo Quốc tế cộng sản: phải được thực hiện đồng thời, khăng khít với nhau, nương tựa vào nhau, nhưng xuất phát từ một nước thuộc địa
Theo Hồ Chí Minh, không nhất thiết phải thực hiện các nhiệm vụ cách mạng đồng thời; nhiệm vụ đầu tiên là chống đế quốc và giải phóng dân tộc, còn nhiệm vụ chống phong kiến và mang lại ruộng đất cho nông dân sẽ được thực hiện từng bước Trong khuôn khổ đó, quan điểm về thâu hồi ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa để biến thành của công và chia cho dân cày nghèo được nêu như một mục tiêu cụ thể, dù hiện văn bản chưa nêu rõ chủ trương và lộ trình thực hiện.
2.2.2 CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, TRONG ĐIỀU KIỆN CỦA VIỆT NAM, MUỐN THẮNG LỢI PHẢI DO ĐẢNG CỘNG SẢN LÃNH ĐẠO Đảng cộng sản là nhân tố chủ quan để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình
Giai cấp công nhân được cho là cần thành lập một chính đảng, đảng đó có nhiệm vụ thuyết phục, giác ngộ và tập hợp đông đảo quần chúng, tổ chức huấn luyện và dẫn dắt quần chúng tham gia đấu tranh Đảng Cộng Sản được nêu như một ví dụ về mục tiêu và cơ cấu của quá trình ấy.
Là đội tiên phong của giai cấp công nhân
Là đội tiên phong của nhân dân lao động kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc
Là Đảng của cả dân tộc Việt Nam
17 Đây là một luận điểm quan trọng của Hồ Chí Minh có ý nghĩa bổ sung, phát triển lý luận mácxít về đảng cộng sản
2.2.3 CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC PHẢI DỰA TRÊN LỰC LƯỢNG ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, LẤY LIÊN MINH CÔNG - NÔNG LÀM NỀN TẢNG
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân
Quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sử
Theo Hồ Chí Minh, có dân là có tất cả: trên đời này không gì quý báu hơn dân, được lòng dân thì mọi mục tiêu và nguồn lực đều có thể thành công, còn mất lòng dân thì mọi thành tựu sẽ tan biến Vì vậy, sự ủng hộ của nhân dân là yếu tố quyết định đối với sự thịnh vượng và ổn định của quốc gia; lãnh đạo cần đặt lợi ích và nguyện vọng của dân lên hàng đầu, lắng nghe và chăm lo đời sống nhân dân để giữ vững sự đồng thuận và đoàn kết.
Người khẳng định: “cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”
Trong một dân tộc đang hướng tới cách mạng mà chưa phân giai cấp, các tầng lớp sĩ, nông, công, thương đều đồng lòng chống lại cường quyền Vì thế cần tập hợp và đoàn kết toàn dân để cuộc cách mạng có thể thành công.
Lực lượng cách mạng bao gồm toàn dân: Đảng phải thu phục đại bộ phận giai cấp công nhân, tập hợp đại bộ phận dân cày và dựa vào nông dân nghèo làm thổ địa cách mạng; liên lạc với tiểu tư sản, trí thức và trung nông để lôi kéo họ về phía vô sản giai cấp; còn đối với phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản Việt Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít ra cũng làm cho họ trung lập.
“Công nông là chủ cách mệnh…là gốc cách mệnh”
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 3.1 Tính tất yếu và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng phải trong sạch, vững mạnh
3.2.1 ĐẢNG LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH
Coi đạo đức là gốc, là nền tảng của người cách mạng ĐẠO ĐỨC CỦA ĐẢNG THỂ HIỆN TRÊN NHỮNG QUAN ĐIỂM SAU ĐÂY:
Mục đích hoạt động là lãnh đạo đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp và giải phóng con người; nhằm xây dựng đất nước độc lập, và nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc thật sự, đồng thời phát huy đoàn kết hữu nghị với các dân tộc trên thế giới.
Cương lĩnh, đường lối, chủ trương và mọi hoạt động thực tiễn của Đảng được xác định nhằm mục tiêu chung là làm cho đất nước hùng cường, tiến lên xã hội chủ nghĩa và mang lại lợi ích cho nhân dân Đảng luôn trung thành với lợi ích toàn dân và không có lợi ích riêng; sự ra đời và phát triển của Đảng chỉ nhằm phục vụ đất nước và nhân dân, thúc đẩy sự nghiệp xã hội chủ nghĩa và nâng cao đời sống nhân dân.
Phải luôn luôn thấm nhuần đạo đức cách mạng, ra sức tu dưỡng, rèn luyện, suốt đời phấn đấu cho lợi ích của dân, của nước
Phải là những người có lòng nhân ái, “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”
Trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân
có bốn đức: Cần, Kiệm,Liêm, Chính và luôn luôn Chí công vô tư
Đảng mang tinh thần quốc tế trong sáng và là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động—những người thợ thuyền, dân cày và lao động trí óc kiên quyết nhất, trong sạch nhất, tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân Những người ấy có đặc tính: giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể lay chuyển, uy vũ không thể khuất phục.
XÂY DỰNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM THÀNH MỘT ĐẢNG VĂN MINH:
Đảng văn minh là một Đảng tiêu biểu cho lương tâm, trí tuệ và danh dự của dân tộc
Đảng ra đời là một tất yếu, phù hợp với quy luật văn minh tiến bộ của dân tộc và của nhân loại
Đảng luôn giữ trong sạch và vững mạnh để làm tròn sứ mệnh lịch sử: lãnh đạo giành độc lập cho Tổ quốc và mang lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Đồng thời, Đảng chú trọng phòng ngừa và chống các tiêu cực trong Đảng nhằm duy trì sự đoàn kết, liêm khiết và nâng cao hiệu lực lãnh đạo.
Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, Đảng không phải là tổ chức đứng trên dân tộc
Đội ngũ đảng viên phải là những chiến sĩ tiên phong, gương mẫu trong công tác và cuộc sống hàng ngày
Quan hệ quốc tế trong sáng được xem là nền tảng cho không chỉ lợi ích dân tộc Việt Nam mà còn cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia khác; đồng thời đóng góp vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và cùng phát triển của các dân tộc trên thế giới.
Giữ một tấm lòng trong sáng là điều quyết định để ngày hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi Khi tâm trí và tấm lòng còn thanh sạch, ta có thể duy trì sự tin cậy và lan tỏa những giá trị tích cực đến cộng đồng Ngược lại, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân và mất đi sự trong sáng, sự yêu mến ấy sẽ phai nhạt vì lòng ích kỷ làm tổn thương niềm tin và danh tiếng của chính mình.
Đây là một nội dung đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam và là bước sáng tạo của Người khi vận dụng lý luận của V I Lênin về đảng kiểu mới của giai cấp vô sản Qua sự kết hợp này, Hồ Chí Minh xây dựng nguyên lý lãnh đạo đảng gắn kết chặt chẽ với nhân dân và mục tiêu cách mạng, hình thành một Đảng mạnh, đoàn kết và có khả năng dẫn dắt xã hội tiến lên chủ nghĩa xã hội.
3.2.2 NHỮNG VẤN ĐỀ NGUYÊN TẮC TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẢNG a) Lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động
Đảng muốn vững mạnh thì phải có một chủ nghĩa làm cốt lõi, mọi đảng viên đều hiểu rõ và theo đuổi nó Đảng mà thiếu chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam Hiện nay có nhiều học thuyết và nhiều chủ nghĩa, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất vẫn là chủ nghĩa Lênin.
Phải trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin, nhưng đồng thời luôn sáng tạo và vận dụng cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, từng lúc, từng nơi, không được phép giáo điều; đồng thời thực hiện tập trung dân chủ, kết hợp lãnh đạo tập thể với ý kiến đóng góp của mọi thành viên để quyết định đúng đắn và phát huy sức mạnh đoàn kết.
Nguyên tắc cơ bản và xuyên suốt bao trùm quá trình tồn tại và phát triển của Đảng là sự kết hợp chặt chẽ giữa tập trung và dân chủ; đây là hai mặt của một nguyên tắc, luôn tương tác và bổ sung cho nhau: tập trung đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn và thống nhất, trong khi dân chủ thúc đẩy sự tham gia của đảng viên và quần chúng, tăng cường đoàn kết, trách nhiệm và hiệu lực hoạt động của Đảng trên mọi lĩnh vực.
Tập trung trên nền tảng dân chủ, dân chủ dưới sự chỉ đạo của tập trung
Tập trung là thiểu số phải phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, mọi đảng viên phải chấp hành vô điều kiện Nghị quyết của Đảng
Chế độ của ta là chế độ dân chủ, nơi tư tưởng được tự do phát huy Tự do ở đây là quyền và nghĩa vụ đối với mọi vấn đề: mọi người được tự do bày tỏ ý kiến, tham gia đóng góp để cùng nhau tìm ra chân lý Khi mọi người đã lên tiếng và cùng nhau nhận diện chân lý, quyền tự do tư tưởng sẽ chuyển hóa thành nghĩa vụ phục tùng chân lý Trong khuôn khổ đó, tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách đóng vai trò dẫn dắt, phân công trách nhiệm và chịu trách nhiệm thực thi các quyết định dựa trên chân lý được xác định.
Cần nhiều người tham gia lãnh đạo
Lãnh đạo không tập thể dễ rơi vào biện minh, độc đoán và chủ quan, khiến công việc bị hỏng Phụ trách không do cá nhân đảm nhận sẽ dẫn đến bừa bãi, lộn xộn và vô chính phủ.
Trong cơ chế quản lý hiệu quả, tập thể lãnh đạo được thực hiện theo nguyên tắc dân chủ, nơi mọi ý kiến và quyết định được tham khảo và xem xét tập thể; đồng thời cá nhân phụ trách đảm nhận trách nhiệm một cách tập trung, đảm bảo sự quyết đoán và trách nhiệm rõ ràng trong thực thi Sự kết hợp giữa tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách tạo nên mô hình dân chủ tập trung, vừa giữ được sự đồng thuận và đoàn kết, vừa bảo đảm hiệu quả và tính kỷ luật trong hành động Bên cạnh đó, d) Tự phê bình và phê bình là yếu tố then chốt để nhận diện khuyết điểm, điều chỉnh sai lệch và cải thiện chất lượng lãnh đạo và quy trình làm việc.
Mục đích là làm cho phần tốt trong con người nảy nở như hoa hoa mùa xuân, phần xấu bị mất dần đi để hướng tới giá trị chân, thiện, mỹ
Thái độ, phương pháp phê bình – tự phê bình: Phải được tiến hành thường xuyên như người ta rửa mặt hàng ngày, phải kiên quyết, thẳng thắn, không nể nang, phải trung thực, thành khẩn, phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau Người cũng phê phán hiện tượng bao che, lẩn tránh khuyết điểm hoặc dĩ hòa vi quý hoặc lợi dụng phê bình để nói xấu, trù dập người khác e) Kỷ luật nghiêm minh, tự giác:
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC 4.1 Vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc
Lực lượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
4.2.1 CHỦ THỂ CỦA KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC
Là con người Việt Nam cụ thể
Là một tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân
Cả hai đều là chủ thể của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Đại đoàn kết toàn dân tộc là tập hợp và đoàn kết tất cả mọi người vào một khối thống nhất, không phân biệt dân tộc, giai cấp, tầng lớp, đảng phái, tôn giáo, lứa tuổi, giới tính hay nghề nghiệp, ở trong nước hay ở nước ngoài, cùng hướng tới một mục tiêu chung.
Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc:
Phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân
Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa giai cấp, dân tộc để tập hợp lực lượng 4.2.2 NỀN TẢNG CỦA KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC
Là công nhân, nông dân và trí thức
Việc củng cố nền tảng vững chắc của khối đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ giúp đoàn kết mở rộng và lan tỏa khắp mọi miền đất nước Khi nền tảng này được duy trì kiên cố, sức mạnh của khối đại đoàn kết sẽ càng tăng và vượt qua mọi thách thức Lúc ấy, không có thế lực nào có thể làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trong khối đại đoàn kết toàn dân, cần đặc biệt chú trọng yếu tố hạt nhân là sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng, vì đó là điều kiện then chốt để hình thành và duy trì sự đoàn kết ngoài xã hội Nội bộ Đảng vững mạnh sẽ lan tỏa sự đồng thuận và hợp tác, tạo nền tảng vững chắc cho khối đại đoàn kết và sự ổn định, phát triển của toàn dân.
Điều kiện để xây dựng khối đoạn đoàn kết toàn dân tộc
Kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa và đoàn kết của dân tộc là nền tảng bền vững thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm và tâm hồn mỗi người Việt Nam; truyền thống ấy là cội nguồn sức mạnh vô địch để cả dân tộc chiến đấu và chiến thắng thiên tai, địch họa, từ đó làm cho đất nước trường tồn và bản sắc dân tộc được giữ vững.
Thứ hai, phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người
Ba yếu tố quyết định là niềm tin vào nhân dân Dân là chỗ dựa vững chắc đồng thời cũng là nguồn sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyết định thắng lợi của cách mạng.
Hình thức tổ chức của khối đại đoàn kết toàn dân tộc – Mặt trận dân tộc thống nhất
4.4.1 MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT
Khối đại đoàn kết toàn dân tộc chỉ trở thành lực lượng to lớn và có sức mạnh khi được tập hợp và tổ chức lại thành một khối vững chắc Chính sự tập hợp và tổ chức ấy làm cho khối trở nên liên kết, kiên cố và có khả năng thể hiện sức mạnh của toàn dân Đó là Mặt trận dân tộc thống nhất, khối đại đoàn kết được tập hợp thành một tổ chức liên kết chặt chẽ, đại diện cho toàn dân và hành động vì mục tiêu chung.
Mặt trận Dân tộc Thống nhất là nơi quy tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu nước, tập hợp mọi người dân Việt Nam ở trong nước và kiều bào ở nước ngoài để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc Đây là diễn đàn liên kết các lực lượng yêu nước, giúp tập hợp trí tuệ, tinh thần và nguồn lực của toàn dân nhằm mục tiêu phát triển đất nước, bảo vệ độc lập và chủ quyền Mặt trận đóng vai trò quan trọng trong việc thống nhất ý chí và hành động của các tầng lớp nhân dân, đồng thời lan tỏa phong trào yêu nước và các hoạt động xã hội ở cả trong nước lẫn kiều bào ở nước ngoài.
Mặt trận dân tộc thống nhất có những tên gọi khác nhau như:
Hội Phản đế đồng minh (1930)
Mặt trận nhân dân phản đế(1939)
Mặt trận dân tộcgiải phóng miền Nam Việt Nam (1960)
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955,1976)…
4.4.2 NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT
Thứ nhất, Mặt trận phải được xây dựng trên nền tảng liên minh công nhân - nông dân - trí thức và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Đây là nguyên tắc cốt lõi để mở rộng Mặt trận, làm cho Mặt trận thực sự quy tụ được toàn dân và kết thành một khối vững chắc trong Mặt trận đại đoàn kết.
Lấy liên minh công-nông làm nền tảng, vì họ là người trực tiếp sản xuất tất cả tài phú nuôi sống xã hội; họ đông đảo nhất và cũng bị áp bức bóc lột nặng nề nhất Chính từ chí khí cách mạng của họ—mạnh mẽ và bền bỉ hơn mọi tầng lớp khác—mà xã hội có thể dựa vào để đổi mới và phát triển.
Cần nhận thức rõ vai trò và sự cần thiết của liên minh với các giai cấp khác, đặc biệt là với đội ngũ trí thức, và thực hiện liên kết ấy dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên vừa là lực lượng lãnh đạo của đất nước; Đảng không có lợi ích riêng mà gắn liền với lợi ích toàn xã hội và toàn dân tộc.
Đảng lãnh đạo mặt trận bằng cách nắm bắt thực tiễn và nhận diện các quy luật khách quan của sự vận động của lịch sử, từ đó đề ra đường lối và phương pháp cách mạng phù hợp với điều kiện thực tiễn và yêu cầu của thời đại.
Mặt trận đóng vai trò lãnh đạo với nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, đồng thời kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội nhằm xây dựng một xã hội vừa tự do vừa công bằng và tiến bộ.
THỨ HAI: Phải xuất phát từ mục tiêu vì nước, vì dân
Mục đích chung của Mặt trận được xác định rõ ràng, phù hợp với từng giai đoạn cách mạng, nhằm tập hợp tối đa lực lượng dân tộc vào khối đại đoàn kết Đại đoàn kết phải xuất phát từ mục tiêu vì nước, vì dân, trên cơ sở yêu nước, thương dân và chống áp bức bóc lột, nghèo nàn lạc hậu Đoàn kết phải lấy lợi ích tối cao của dân tộc và lợi ích căn bản của người lao động làm mục tiêu phấn đấu, nhằm xây dựng một khối đại đoàn kết toàn diện và bền vững.
Là nguyên tắc bất di bất dịch
Là ngọn cờ đoàn kết
Là mẫu số chung để quy tụ các tầng lớp, giai cấp, đảng phái, dân tộc và tôn giáo vào trong Mặt trận
THỨ BA: phải hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ
Mặt trận Dân tộc thống nhất là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của cả dân tộc, quy tụ nhiều giai cấp, tầng lớp, đảng phái, dân tộc và tôn giáo khác nhau với lợi ích đa dạng Do vậy, hoạt động của Mặt trận phải dựa trên nguyên tắc hiệp thương dân chủ, nhằm tăng cường sự đồng thuận và đoàn kết giữa các thành phần, đồng thời đại diện cho nguyện vọng của nhân dân.
Mọi vấn đề của Mặt trận được đưa ra công khai để tất cả thành viên cùng nhau bàn bạc và đi đến sự nhất trí, từ đó loại bỏ mọi sự áp đặt và mọi hình thức dân chủ hình thức.
Những lợi ích riêng chính đáng, phù hợp với lợi ích chung của đất nước và dân tộc, cần được tôn trọng; những gì riêng biệt, chưa phù hợp sẽ dần được điều chỉnh bằng lợi ích chung của dân tộc, thông qua nhận thức ngày càng đúng đắn của mỗi người và mỗi bộ phận về mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng.
THỨ TƯ: phải đoàn kết lâu dài, chặt chẽ, đoàn kết thật sự, chân thành, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ
Cần có sự bàn bạc để đi đến nhất trí
Phương châm cầu đồng tồn dị nhấn mạnh việc dựa vào cái chung để hạn chế cái riêng và sự khác biệt, nhằm xây dựng sự đoàn kết trên nền tảng tôn trọng sự đa dạng Đoàn kết thực sự là sự kết hợp giữa đồng thuận và đấu tranh, học hỏi ưu điểm của nhau và phê bình những sai sót của nhau trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân Thực hành nguyên tắc này giúp các bên tôn trọng sự khác biệt, đồng thời tăng cường sức mạnh tập thể qua phê bình mang tính xây dựng và hành động vì lợi ích chung của đất nước và nhân dân.
4.5 PHƯƠNG THỨC XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC
Một là, cần làm tốt công tác vận động quần chúng (Dân vận) để hiện thực hóa đoàn kết và đại đoàn kết như mục tiêu và nhiệm vụ hàng đầu của Đảng; để đạt được mục tiêu đó, công tác dân vận phải được đẩy mạnh nhằm tập hợp mọi người và tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa Để phát huy đầy đủ vai trò, trí tuệ và khả năng to lớn của quần chúng nhân dân, Đảng và Nhà nước cùng mọi cán bộ, đảng viên phải tăng cường dân vận, khơi dậy tinh thần sáng tạo và sự tham gia của nhân dân vào các hoạt động của đất nước.
Biết thực hiện tốt công tác giáo dục, tuyên truyền, hướng dẫn, giúp đỡ và vận động quần chúng nhân dân để thực hiện đầy đủ mọi chủ trương, đường lối của Đảng, cũng như các chính sách và pháp luật của Nhà nước Công tác này được triển khai một cách có hệ thống và đồng bộ, kết nối chặt chẽ giữa giáo dục công dân, tuyên truyền thông tin và hỗ trợ thiết thực, nhằm nâng cao nhận thức và hành động của người dân phù hợp với đường lối của Đảng và pháp luật Nhà nước Qua đó, tăng cường sự đồng thuận và tham gia của cộng đồng vào việc thực hiện các chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước.