CHUYÊN ĐỀ SỬ THI ANH HÙNG TÂY NGUYÊN PHÂN TÍCH SỬ THI ANH HÙNG TÂY NGUYÊN I Thực trạng vấn đề Sử thi là loại hình văn học dân gian ra đời khi xã hội đã thoát thai bầy đàn nguyên thủy, nó có cách tư du.
Trang 1CHUYÊN ĐỀ
SỬ THI ANH HÙNG TÂY NGUYÊN PHÂN TÍCH SỬ THI ANH HÙNG TÂY NGUYÊN
I Thực trạng vấn đề
Sử thi là loại hình văn học dân gian ra đời khi xã hội đã thoát thai bầy đàn nguyên thủy, nó có cách
tư duy và xây dựng lại hình tượng nhân vật khác với các loại hình văn học dân gian ra đời sau này
Trong chương trình Ngữ văn THPT, các em học sinh được học văn bản sử thi Đăm Săn thuộc sử
thi Tây Nguyên Và có thể nói, đó là một việc tiếp cận vô cùng khó khăn để đọc- hiểu văn bản Vì các lí do sau đây:
- Kiến thức văn hóa các em vẫn chưa sâu sắc, đặc biệt là sự hiểu biết về các phong tục, tập quán các vùng miền để có sự thẩm định nội dung sử thi
- Học sinh không hiểu được cảm hứng của sử thi là gì dẫn đến các thái độ tiếp cận khác nhau Kể cả nội dung và cách xây dựng nhân vật sử thi cũng gây khó khăn cho các em
- Nghệ thuật của sử thi như yếu tố ngôn từ, kết cấu, phương thức diễn xướng là một trong những trở ngại khiến các em không thích đọc một tác phẩm sử thi
- Đối với các giáo viên giảng dạy, tài liệu để tham khảo về mảng sử thi Tây Nguyên rất hạn chế Vì thế rất khó khăn trong công tác truyền đạt kiến thức, khiến cho các em say mê các tác phẩm sử thi là rất khó Theo đó, việc cần nắm và cung cấp cho học sinh biết những kiến thức nào , trang bị cho học sinh những gì để các em hiểu trọn vẹn về sử thi Tây Nguyên cũng là một biện pháp giúp các em thêm yêu một trong những loại hình văn học dân gian
Để nhằm khắc phục khó khăn, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, phát huy được tính chủ động, tích cực của học sinh và đặc biệt nâng cao được chất lượng bộ môn của riêng học sinh khối lớp 10 Chuyên, tôi xin nêu ra một số vấn đề cần lưu ý trong việc tiếp cận các tác
phẩm sử thi anh hùng Tây Nguyên trong chuyên đề “Sử thi anh hùng Tây Nguyên” Mục đích
chuyên đề nhằm phần nào giải quyết được những khó khăn của học sinh khi tiếp cận các văn bản sử thi Tây Nguyên nói riêng và sử thi thế giới nói chung, đồng thời chuyên đề cũng đưa ra cách hiểu và phân tích một tác phẩm sử thi anh hùng Tây Nguyên
Trang 2II VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ SỞ VĂN HÓA XÃ HỘI
Tây Nguyên, địa danh quen thuộc, chỉ một vùng dân tố ít người cư trú ở cao nguyên miền tây Việt Nam
1 Điều kiện địa lí
Vùng cao nguyên được cấu tạo từ chất đất đỏ, chạy dài từ bắc xuống nam, phân thành các cao nguyên nhỏ chạy dài từ bắc xuống nam, phân thành các cao nguyên nhỏ như Kom Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng với diện tích tự nhiên là 54.474 km2 chiếm 16,8% diện tích tự nhiên cả nước
2 Thành phần dân tộc
Tây Nguyên chủ yếu có hai nhóm dân tộc Nhóm nói tiếng Môn-khơme, gồm các dân tộc: Xơđăng, Bana, Brâu, Rơmăm (vùng Bắc Tây Nguyên), Mơ Nông, Cơho, Xtiêng (ơ nam Tây Nguyên)… Nhóm nói tiếng Malayo- Pôlinêdiêng có các dân tộc: Giarai, Êđê, Churu, Raglai
Các thành phần dân tộc ở Tây Nguyên không chỉ nằm trong phạm vi nước Việt nam mà còn phổ biến hầu khắp các lục địa như Lào, Campuchia, Mianma, Thái Lan, Malaixia, Indonexia, Philippin Chính những tộc người gần gũi nhau đó dã sáng tạo nên các nền văn hóa vật chất và tinh thần có nhiều cơ bản gần gũi nhau (văn hóa Nam Á) Những nét gần gũi nhau đó bao gồm hàng loạt các dặc trưng về các mặt như:
- Về sản xuất nông nghiệp: Thạo nghề trồng lúa nước từ khá sớm (kể cả lúa nương rẫy và lúa nước)
- Về cư trú: quen ở nhà sàn
- Về giao thông: Thông thạo nghề đi lại trên sông nước bằng thuyền gỗ, thuyền nan
- Về chế độ xã hội: Vẫn còn tàn dư của chế độ mẫu hệ
- Về tôn giáo: Thờ nhiều thần theo tín ngưỡng vạn vật hữu linh
-Về văn học dân gian: có nhiều môtip thần thoại, truyện cổ rất gần gũi nhau (rồng rắn, chim, quả bầu…) nhiều thể lội VHDG gần gũi nhau
3 Chế độ xã hội
- Đơn vị cộng đồng xã hội là các pơlây (người Xơ đăng, Bana) hay buôn (người Ê đê, Mơ nông).
Biểu hiện nổi bật là ngôi nhà công cộng của làng (nhà rông) Nhàcông cộng được cả làng góp công, góp tranh, tre, gỗ xây nên Là nơi diễn ra các sự kiện quan trọng như: già làng tiếp khách, xử kiện, tiến hành các nghi lễ thờ cúng
Trang 3- Tiêu biểu cho quyền lực tập thể ở các làng là vai trò của các tù, tộc trưởng Họ là những người có
uy tín tuyệt đối với cộng đồng Thường họ là những người gìa có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, hiểu biết về các phong tục tập quán hay các nghi lễ từ xưa truyền lại Họ cũng chính là người chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, bảo vệ trật tự, điều hành quy chế sinh hoạt trong buôn làng
- Quyền sở hữu đất đai: Tính chất cộng đồng rất rõ nét Đất đai, rừng núi là sở hữu tập thể của cả buôn làng Điều này còn thể hiện rõ trong tập quán sản xuất Đến mùa phát nương hoặc săn bắt, dân làng vai mang gùi, tay cầm xà gạc, ná lũ lượt kéo lên nương phát rẫy
4 Sinh hoạt văn hóa vật chất
- Về nhà ở: Các dân tộc ở Tây Nguyên hầu như ở cùng một loại nhà được cấu tạo theo cùng một
kiểu: nhà sàn Bên cạnh chức năng sinh hoạt vật chất, ngôi nhà còn mang biểu tượng văn hóa lịch sử
Ngôi nhà người Ê Đê, các yếu tố cấu thành tạo nên một tổng thể thể hiện nguồn gốc hải đảo: toàn
bộ ngôi nhà phỏng theo hình thuyền (bên trên loa ra, bên dưới thắt lại), cầu thanh lên nhà, tấm gỗ dài kê dọc theo phên vách ở gian khách cũng được đẽo vát hai đầu, phỏng theo hình thuyền
Trong các ngôi nhà của người Tây Nguyên, đặc biệt phải kể tới ngôi nhà rông (Bana) Ngôi nhà rông thường được dựng ở giữa làng, vị trí cao ráo So với các ngôi nhà thường, mái dốc đứng và cao hơn, mang hình đang lưỡi riều hơi cong ở trên nóc Cây gỗ, tranh… làm nhà đều do toàn thể thành viên trong cộng đồng góp công làm, chọn những vật liệu đẹp, tinh xảo nhất
- Rượu cần: Đây chính là biểu trưng của nền văn hóa cộng đồng Rượu được dùng trong nghi lễ
cúng thần, lễ hội vui chơi, tiếp khách Rượu được uống bằng cần trúc và tửu lượng được đo bằng các sừng trâu, sừng bò
- Về phương diện ăn mặc: Đàn ông đóng khố ở trần; đàn bà mặc váy, ở trần hoặc mặc áo chui qua
cổ Tất cả các áo và khố đều do phụ nữ các dân tộc tự dệt lấy hoặc trao đổi với nhau Ngoài ra, trang sức họ cũng gần giống nhau: đàn ông vấn khăn nhiễu màu xanh, màu đỏ, cài thêm lông chim trong những ngày lễ Cổ tay đeo cong đồng Ngoài ra họ còn mang ná, đeo dao, hoặc cầm lao dài Phụ nữ thì tai xỏ những vật trang sức bằng lồ ô, ngà voi, cổ đeo kiềng bạc…
5 Sinh hoạt văn hóa tinh thần
Do trình độ sản xuất còn thấp kém, lệ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên họ nhận thức rất hạn chế các quy luật hoạt động của thiên nhiên cũng như xã hội Trước những hiện tượng bí ẩn chưa lí giải được, người ta thường quy cho đấy là do các lực lượng siêu nhiên, tức là các vị thần tạo ra
Trang 4- Tín ngưỡng: Trong suy nghĩ của họ, các vị thần giám sát khắp mọi nơi Hoặc ban phúc hoặc ban
họa Vì thế họ thường cầu viện đến nhiều vị thần: từ các thần lớn như thần rừng, núi, sông, suối, đến mưa gió, sấm sét…cho đến những thần nhỏ như ngọn cây, hòn đá, vũng nước Đó là điểm xuất phát của tín ngưỡng đa thần theo chủ nghĩa vạn vật hữu linh Những tín ngưỡng đó dẫn đến nghi lễ thờ cúng phổ biến trong đời sống hàng ngày của các dân tộc Chính vì để bảo vệ nghi lễ thờ cúng đó mà các từ trưởng đã sáng tạo ra các bài lễ ca, hệ thống các câu chuyện thần thoại được học diễn xướng trong dịp ấy Kèm theo lời khấn, câu ca, còn có các điệu múa, các bản nhạc chiêng, còng vừa để làm vui lòng các vị thần, đồng thời phục vụ công việc vui chơi của buôn làng Những bài lễ ca đó ít nhiều mang màu sắc thần kì của tôn giáo nguyên thủy, nhưng đồng thời lại chứa đựng niềm tự hào theo một triết lí bản hồn nhiên tươi trẻ, những mầm mống đầu tiên của các hình tượng nghệ thuật
Các dân tộc ở Tây Nguyên sinh sống trong một khu vực địa lí mênh mông nhưng lại thống nhất cấu tạo về địa hình và địa chất: chất đất đỏ ba dan màu mỡ hứa hẹn cho cuộc sống ấm no Xã hội truyền thống cơ bản là xã hội cộng đồng cuối thời kì nguyên thủy, vào buổi bình minh của loài người, hầu như chưa phải nếm trải nhiều cay dắng của xã hội có giai cấp Họ xây dựng một nền văn hóa tươi trẻ, giàu sức sống Chính từ những điều kiện địa lí xã hội đó, sử thi anh hùng cổ đại ở các dân tộc Tây Nguyên đã ra đời- một thể loại văn học dân gian vừa mang những nét hoang sơ, kì
vĩ gần gũi với thần thoại, vừa mang khí thế hào hùng của những thiên sử thi ngợi ca những biến chuyển lớn lao trong cuộc sống của các dân tộc ở đây
Đối với việc nghiên cứu một tác phẩm văn học, điều kiện xã hội văn hóa lịch sử là rất quan trọng người đọc không thể nào hiểu được một cách toàn vẹn, hoàn chỉnh tác phẩm nếu tách nó ra khỏi bối cách văn hóa mà nó ra đời Thậm chí có thể gây ra cách hiểu khiên cưỡng, áp đặt đối với nội dung hình tượng, chi tiết nghệ thuật.Có thể nói, đây chính là điều kiện cần thiết để giáo viên và học sinh có thể bước vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm, một thế giới nghệ thuật đầy bí ẩn của vùng đất đầy màu sắc huyền thoại- vùng đất Tây Nguyên
Như vậy, khi phân tích một tác phẩm thuộc sử thi anh hùngTây Nguyên, giáo viên cần dành vài phút để giới thiệu về bối cảnh lịch sử văn hóa xã hội của vùng đất này Đây là bước chuẩn bị tâm thế cho các em hiểu tường tận hơn về tác phẩm Vượt qua khỏi sự bỡ ngỡ về văn hóa thẩm mĩ, các
em sẽ dễ dàng tiếp cận những lớp nghĩa sâu hơn của tác phẩm, phần nào hiểu được các chi tiết trong tác phẩm sử thi
Trang 5III SƠ LƯỢC THI PHÁP SỬ THI ANH HÙNG TÂY NGUYÊN
1 Nhân vật anh hùng
Trong sử thi anh hùng ca, nhân vật trung tâm bao giờ cũng là người anh hùng toàn thiện toàn mỹ
và các nhân vật khác chỉ giữ vai trò phụ, mờ nhạt và quy tụ làm tôn thêm vẻ đẹp cho người anh hùng Nhân vật anh hùng mang tính khái quát, mang tính lý tưởng xã hội và lý tưởng thẩm mỹ của thời đại đã sản sinh ra nó
Tất cả được thể hiện qua những hành động cao cả, dũng cảm của người anh hùng với những chiến công hiển hách Nhân vật anh hùng sử thi không thể tồn tại nếu không vượt qua được mọi khó khăn thử thách để giành chiến thắng Người anh hùng phải có những khát vọng lớn lao, những lý tưởng cao cả và lý tưởng ấy cũng là đại diện cho lý tưởng của cộng đồng dân tộc Những vẻ đẹp về sức mạnh thể chất, tinh thần, tài năng và những phẩm giá ưu tú của cộng đồng được thể hiện qua nhân vật người anh hùng trong mối quan hệ với tự nhiên, xã hội
2.1 Vẻ đẹp về ngoại hình
- Nhân vật anh hùng trước hết là nhân vật phải đẹp cả hình dáng bên ngoài lẫn phẩm chất bên trong.
Đó là hình tượng chàng Đăm Tiông, khi mới sinh ra đã đứng dậy chạy ra khỏi nhà lấy cối giả gạo ném lên sàn nhà rồi chạy nhảy long nhông như thần Briêng Trông chàng như một dũng sĩ oai
hùng “Bộ mặt hồng như say men rượu hồng…dáng người thật oai nghiêm như kẻ giàu người sang Chàng cầm cái khiên trên tay, cái dao đeo bên hông, bầu nước có eo quàng sau lưng, chén ăn cơm
bỏ túi áo, bước đi khoan thai…”
Còn Đăm Săn là một chàng trai khỏe mạnh và có tài năng xuất chúng Chàng có vẻ đẹp khiến mọi người nhìn trộm không chán, tiếng nói cười như sét đánh với bước đi thoăn thoắt như rắn Prao
Huê “Ngồi giữa nhà giống như con hùm trên bờ suối”, “uống rượu thì suốt một ngày đêm chẳng say” Khi chuẩn bị đón khách quý, “Đăm San lại bỏ khố, lấy một cái khố khác, bỏ áo này vì cho là chưa đẹp, lấy áo khác Đăm San quấn vào người một cái khố màu sặc sỡ như hoa kơn, chích trên đầu một cái khăn ême, mặc cái áo ông trời thả xuống cho” Trong trang phục ấy, Đăm Săn có dáng điệu của một tù trưởng trẻ tuổi rất oai hùng Rồi chàng đi ra phòng khách, “trăm người đi trước, nghìn người đi sau”.
Trang 6Chàng có hình dáng phi thường, vạm vỡ, khoẻ đẹp, đậm chất tự nhiên Tây Nguyên Tóc chàng dài thả xuống đầy cái nong hoa; bắp chân to bằng cây xà ngang, bắp đùi to bằng ống bễ, sức ngang sức voi đực, hơi thở ầm ầm tựa sấm, mắt long lanh như chim ghếch ăn hoa tre
Đăm Săn tràn đầy sức trai được đồng bào Tây Nguyên ca ngợi " là một dũng tướng chắc chết mười ươi cũng không lùi bước Ngực quấn tréo một tấm mền chiến, mình khoác một tấm áo chiến sát bên mình nghênh ngang đủ giáo gươm
2.2 Về vẻ đẹp phẩm chất - sức mạnh, tài năng, trí tuệ, đức hạnh
Nhân vật anh hùng đều có quyền năng ngang tầm hoặc vượt cả các thế lực siêu nhiên Đăm
Săn khi lên trời “liền chụp ngay búi tóc Trời”
Nhân vật anh hùng luôn có hành động phi thường, kỳ diệu Ngoài những việc làm đời thường thì con người anh hùng được dân gian tô vẽ lên những kỳ tích mà người thường khó lòng làm được như chặt cây thần linh, chinh phục thần mặt trời trong sử thi Đăm Săn
Họ luôn hướng tới khát vọng muốn trở thành một tù trưởng hùng mạnh, nên Đăm Săn mới
chịu lấy hai chị em Hơ Nhí và Hơ Bhí, muốn đi bắt nữ thần mặt trời: “Tôi muốn đi bắt nữ thần mặt trời Như vậy mới trở thành tù trưởng hết sức giàu mạnh…trên đời không ai bì kịp…Tôi đến đâu núi sẽ vỡ, suối tan”.
Hình tượng người anh hùng lý tưởng trong khan Ê-đê càng đẹp hơn khi họ xông pha trên chiến trận tiêu diệt kẻ thù, đem lại sự bình yên cho cộng đồng Có thể nói các dũng sĩ Đăm Săn, Đăm Di, Xinh Nhã, Đăm Tiông… lúc tham gia chiến trận thì tính cách và bản chất của người anh hùng càng bộc lộ một cách toàn diện
Nhân vật anh hùng là nhân vật trung tâm trong chiến trận Nhân vật anh hùng phải có khả năng chiến đấu với mọi kẻ thù Họ xông pha chiến trận tiêu diệt kẻ thù, đem lại sự bình yên cho cộng đồng , mục đích bảo vệ bình yên cho buôn làng và đem lại sự cường thịnh, giàu có
Cuộc đọ khiên giữa Đăm Săn với Mtao Mxây “Đăm Săn múa cao cây khiên Tiếng múa giống như gió vù Anh múa thấp cây khiên Tiếng múa như bão”;
“Xing Nhã bước tới chỗ chiếc khiên của mình Chàng cầm chiếc khiên nhẹ như diều gặp gió Chàng giơ khiên lên trời, nhún mình múa liền Xing Nhã múa phía trước một mái tranh bay theo gió, múa phía sau một mái nứa bay theo bão”
Trang 7Cảnh tượng người anh hùng Khinh Dú giao chiến với kẻ thù Đăm Phu: “Mỗi lần Khinh
Dú vung dao, múa khiên, dao nổi sáng như làn chớp đông, khiên xoay chiều nghe như sét đánh đầu mùa Khinh Dú nhảy múa nhẹ nhàng như gió thổi mảnh bông lau lách”
Người anh hùng trong suy nghĩ của người Êđê phải được kỳ vĩ hóa, vẻ đẹp và sức mạnh phải sánh ngang tầm trời đất và thần thánh, nhưng mặt khác, họ vẫn không thiếu vẻ gần gũi, bình
dị, vẫn mang hơi thở của cuộc đời thực Đó chính là chỗ tạo nên vẻ độc đáo, sự rung động và hấp dẫn mạnh mẽ của hình tượng nhân vật anh hùng trong khan Người anh hùng trong sử thi còn mang một đời sống tâm hồn đầy tình cảm bên cạnh một ý chí kiên cường:
Đăm Săn táo bạo, dũng cảm ngang tàng chặt đứt cây linh hồn của H’nhí và H’bhí, vậy mà, khi
hai người vợ ngã gục xuống thì Đăm Săn oà lên khóc: “Anh vừa chạy về vừa khóc Đăm Săn khóc
từ sáng đến tối, từ tối suốt sáng Anh khóc nước mắt chảy ròng đầy một bát, chẩy ngập một chiếc chiếu”
Người anh hùng Xing Nhã lại rớt nước mắt khi biết được nỗi oan trái và mối thâm thù của cha
mẹ chàng thuở trước: “Xing Nhã vội vàng chạy đến đống tranh mục, tìm xương sọ cha, kêu khóc thảm thiết”
Hình tượng người anh hùng càng đẹp hơn, khi họ dám một mình đứng ra chống lại uy quyền của chế độ mẫu hệ
Đăm Săn đã dám cả gan chống lại tục chuê nuê của cộng đồng Chàng cương quyết từ chối lời cầu hôn của hai nàng Hơ Nhí và Hơ Bhí Đến khi bị sức ép của ông trời, sức ép của cộng đồng chàng mới chịu lấy hai nàng Hơ Nhí và Hơ Bhí làm vợ Nhưng rồi bằng cách này hay cách khác chàng vẫn cương quyết chống lại chế độ nghiêm ngặt ấy ( vào rừng chặt cây Smuk (cây linh hồn) của hai nàng Hơ Nhí và Hơ Bhí) Chàng đã bất chấp cả uy quyền và sự ràng buộc của chế độ mẫu
hệ, một mình dám xông pha nơi núi rừng hiểm trở quyết đi bắt nữ thần Mặt Trời về làm vợ Đăm Săn phải chết trên đường từ nhà nữ thần Mặt Trời trở về buôn làng Cái chết của chàng chứng tỏ lúc bấy giờ con người chưa phải đã hoàn toàn chiến thắng trong cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên Tuy vậy, đó vẫn là ý chí, là khát vọng của con người luôn luôn vươn lên khám phá và chinh phục thiên nhiên
Đăm Di cũng dám cả gan chống lại tập tục của chế độ mẫu quyền Chàng cương quyết không lấy nàng Hơ Bia Điết Luốc làm vợ, mặc dù hai người mẹ của họ đã hứa hẹn gã con cho nhau khi còn mang thai
Trang 8Đăm Tiông đã tự chọn người mình thương là nàng Hơ Bli Đăng Guê và Kbuê Hrah xinh đẹp nhất buôn làng về làng vợ Tuy sau này chàng bị ông trời trừng phạt và nàng Hơ Bia Điết Luốc trả thù, nhưng chàng vẫn cương quyết chống lại sự khắc nghiệt đó của cộng đồng
Tóm lại, các anh hùng dũng sĩ được mô tả trong khan Ê-đê là những mẫu người lí tưởng: có vẻ đẹp và sức khỏe, có trí thông minh, lòng dũng cảm, ý chí kiên cường bất khuất Họ không chỉ biết giành chiến thắng trên chiến trận mà còn biết lao động sản xuất, chinh phục núi rừng thiên nhiên
Họ có vai trò quan trọng là thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng, đem lại hạnh phúc cho mọi thành viên trong xã hội
3 Không gian, thời gian
3.1 Không gian sử thi
Không gian sinh hoạt lao động, xây dựng buôn làng
Không gian chiến trận, hoành tráng Đó là không gian của các cuộc chiến tranh bảo vệ cộng đồng hay trừng phạt và chinh phục các công xã thù địch
3.2 Thời gian sử thi:
Thời gian tuyến tính: thời gian trong sử thi thường là thời gian của cuộc đời nhân vật anh hùng Nó kéo dài từ quá khứ đến hiện tại và tương lai
Thời gian trì hoãn (trì hoãn sử thi): Sử thi có một đặc điểm là khi kể về các trận chiến đấu giữa nhân vật anh hùng và kẻ đối địch (nhất là kẻ thù chính), người kể chuyện thường kéo dài thời gian ra bằng cách thêm vào đó nhiều chi tiết: nhân vật vừa đánh vừa trò chuyện, hút thuốc, vừa nói những câu châm chọc, khiêu khích, mô tả về trang phục, hành động hoặc xen vào đó những lời nhận xét, lời bình của người kể chuyện…
Thủ pháp trì hoãn thời gian trong sử thi cũng góp phần thực hiện chức năng của thể loại: mô
tả được mọi mặt của đời sống cộng đồng Dường như các nghệ nhân hát kể có sự nhấn nhá, từ tốn,
họ không vội vàng diễn kể hết tác phẩm, đi đến đích cuối cùng của sự kiện và chiến công của người anh hùng Họ muốn tạo ra khoảng thời gian ngừng nghỉ giữa các sự kiện để có thể mô tả các phương diện phong tục, nghi lễ, đời sống của cộng đồng
Ví dụ: Trong sử thi Đăm Noi, Đăm Noi đánh nhau với Drang Hạ - Drang Hơm -> 3 ngày -> hai
bên về nghỉ chỗ bóng cây đa cao, bóng cây sung thấp và hút thuốc -> đánh tiếp -> nghỉ và trò chuyện -> đánh nhau -> vừa đánh vừa trò chuyện : ta đánh từ từ, ta đánh thong thả -> Đăm Noi lăn
ra chết -> được cứu sống -> giết chết Drang Hạ - Drang Hơm
Trang 9Thời gian trong sử thi có tính ước lệ Người kể chuyện sử thi thường sử dụng mệnh đề
“nghỉ một ngày, ngơi một đêm, ở không thêm một chiều một sáng” như một dấu hiệu để chuyển
tiếp các sự kiện, hành động, biến cố liên quan đến nhân vật Thời gian trong sử thi Đăm Săn thay đổi nhanh chóng như chính sự thay đổi trong cuộc đời của nhân vật anh hùng Đăm Săn vừa mới là
“Thằng bé còn đang vọc đất, còn đang tuổi bám thang, mới biết đi biết chạy”, bỗng chốc vừa
“nghỉ một ngày, ngơi một đêm, ở không thêm một chiều một sáng” đã là một tù trưởng giàu mạnh.
Chính tính ước lệ nên thời gian trong sử thi không thể hiện cụ thể bằng ngày giờ năm tháng mà tính bằng sự kiện, bằng khoảng thời gian nào đó của hoạt động
4 Ngôn ngữ sử thi
4.1 Ngôn ngữ sử thi anh hùng Tây Nguyên rất giàu hình ảnh, cách nói ví von tràn ngập tác phẩm
- Ngôn ngữ giàu hình ảnh
Khi tả chàng trai thì: “chàng là một tù trưởng trẻ, có cái lưng to như một tảng đá, gió thổi chàng không ngã, bão xô chàng không đổ Chàng có một đôi bắp chân nhẵn và dẻo như mây song mây pông, có một cặp mắt nằm dưới đôi lông mày hình lưỡi mác Đôi mắt đó sáng rực như đã uống cạn hết một chum rượu, làm lu mờ đi ánh nắng mặt trời sắp dạo qua nương…Giọng nói của chàng cất lên nghe như sấm giật đằng đông, chớp giật đằng tây ”
Còn khi mô tả cô gái: “Búi tóc trứng chim của nàng bỏ xoã sau chiếc cổ cao, màu tóc đen ánh như đôi mắt của một con diều, lóng lánh như chỉ khua…Mắt nàng là chớp nắng buổi ban mai Đôi chân nàng lườn lượn như đi trên cỏ ”
Khi mô tả những cảnh lớn như cảnh sinh hoạt rộn rịp của buôn làng, cảnh hội hè đông vui với
tiếng chiêng ngân không ngớt : “Trâu bò nhi nhúc như bầy mối bầy kiến Đường từ bên trái qua bên phải rộng đến nỗi hai người đứng hai bên đường,một người giơ thẳng tay lên một cái lao và một người thẳng tay giơ lên một con dao dài cũng chưa chạm nhau Dấu chân ngựa voi trên đường giống như một sợi dây đánh”.
Khi diễn đạt lối nói giao tiếp hàng ngày: Như lời Y Dhing nói với chị Đăm Săn, khi đến hỏi Đăm
Săn về làm chồng cho Hơ Nhí: “ Chúng tôi tới đây như ong tìm hoa, như trai tìm gái Chúng tôi tới nói chuyện trầu chuyện thuốc”…
- Ngôn ngữ sử thi giàu hình ảnh bởi đã vận dụng một cách đắc địa các biện pháp phóng đại, so sánh, trùng điệp, điệp ngữ
Trang 10 Thủ pháp phóng đại là cách nói cường điệu, gây ấn tượng rất mạnh Khi Đăm Săn đi cứu vợ về,
nghe tiếng lục lạc ngựa: “chó sủa ầm ĩ, làm đất động nhà rung, nước chứa trong nồi bảy, nồi ba bắn lên đến tận cây xà dọc, xà ngang” Còn tiếng cười của người đẹp thì “con tê giác rớt sừng, con voi rớt ngà” Nhất là tiếng chiêng, thủ pháp phóng đại ở đây như có ma lực: “Nghe tiếng chiêng quạ quên mớm mồi cho con nhỏ, thỏ chồn quên ăn cỏ, ma quỷ quên việc hạ người, chuột sóc quên ăn lúa bắp,…”.
Cách so sánh thật hồn nhiên, chất phác nhưng giàu hình tượng: “Nhà dài như tiếng chuông”,
“Hiên nhà dài bằng sức bay một con chim”, “Ngựa chạy như tiếng sông than, tiếng nước thở”
Đây là lối tả trùng điệp, điệp ngữ : “Hãy đánh lên các chiêng có âm vang, những chiêng có tiếng đồng, tiếng bạc! Hãy đánh lên tất cả cho ở dưới vỡ toác các cây đòn ngạch, cho ở trên gãy nát các cây xà ngang ”, “Thế là bà con xem, nhà Đăm Săn đông nghẹt khách, tôi tớ chật ních cả nhà ngoài Bà con xem, chàng Đăm Săn uống không biết say, ăn không biết no, chuyện trò không biết chán Rõ ràng là tù trưởng Đăm Săn đang giàu lên, chiêng lắm la nhiều Rõ ràng là Đăm Săn có chiêng đống, voi bầy, có bè bạn như nêm như xếp ”.
4.2 Ngôn ngữ giàu nhạc điệu Dùng cách nói có vần điệu, tạo âm hưởng hài hòa, nhịp nhàng
trong hình tượng Dùng kết cấu đối xứng, tạo nên sự hài hòa, nhịp nhàng trong hình tượng
Cảnh ăn chơi hội hè trong tiếng chiêng: “Đánh chiêng kêu nhất, chiêng ấm tiếng nhất! Đánh dần dần tiếng nó lan khắp xứ Đánh bên dưới nó luồng qua sàn, đánh bên trên, nó vọng lên trời”.
Cảnh lao động: “Một trăm người vạch luống - Hai ngàn người moi lỗ ”.
Cảnh đánh nhau ác liệt nơi chiến trường: “Một lần xốc tới, một lần xốc tới nữa, chàng vượt một đồi lồ ô Chàng chạy vun vút qua phí đông, vun vút qua phía tây Còn Mtao Mxây thì bước cao bước thấp chạy hết bãi tây sang bãi đông ”…
Cách diễn đạt ngôn từ đó tạo nên một hiệu quả đặc biệt rõ ràng: đó là âm hưởng uyển chuyển, nhịp nhàng của một bản nhạc và kết cấu chặt chẽ của một mạch văn xuyên suốt bản sử thi
4.3 Ngôn ngữ mang tính kịch
Đăm Săn - Mau xuống ta đánh nhau.
Mtao Grư – Ơ bạn, lên đây tôi lễ một con trâu.
Đăm Săn – Sao còn lễ trâu cho ta Vợ tao mày đã bắt, cũng như mày chặt chân tao, lôi tim tao khỏi bụng Tao chặt hiên nhà mày tao gọt đĩa, tao đốt cầu thang, đốt nhà mày đây.