1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Tập bài giảng môn Khoa học quản lý đại cương

93 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khoa học quản lý đại cương
Chuyên ngành Khoa học quản lý
Thể loại Tập bài giảng
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: QUẢN LÝ VÀ MÔI TRƯỜNG QUẢN LÝ (5)
    • 1.1. Khái luận về quản lý (5)
      • 1.1.1. Tiếp cận và quan niệm khác nhau về quản lý (5)
      • 1.1.1. Bản chất của quản lý (6)
      • 1.1.2. Vai trò của quản lý (10)
      • 1.1.3. Phân loại quản lý (11)
    • 1.2. Môi trường quản lý (13)
      • 1.2.1. Khái niệm Môi trường quản lý (13)
      • 1.2.2. Phân loại môi trường quản lý (13)
      • 1.2.3. Một số nhân tố cơ bản của môi trường vĩ mô tác động tới quản lý (14)
  • CHƯƠNG 2: QUẢN LÝ VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT KHOA HỌC (17)
    • 2.1. Điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề lý luận cho sự ra đời của khoa học quản lý (17)
      • 2.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội (17)
      • 2.1.2. Tiền đề lý luận (18)
    • 2.2. Đối tượng của khoa học quản lý (29)
      • 2.2.1. Chủ thể quản lý (30)
      • 2.2.2. Đối tượng quản lý (31)
      • 2.2.3. Quan hệ quản lý và Quy luật quản lý (32)
    • 2.3. Phương pháp của Khoa học quản lý (33)
      • 2.3.1. Các phương pháp chung (33)
      • 2.3.2. Các phương pháp cụ thể (35)
    • 2.4. Đặc điểm và ý nghĩa của Khoa học quản lý (35)
      • 2.4.1. Đặc điểm của khoa học quản lý (35)
      • 2.4.2. Ý nghĩa của Khoa học quản lý (37)
  • CHƯƠNG 3: NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ (38)
    • 3.1. Khái luận về nguyên tắc quản lý (38)
      • 3.1.1. Các tiếp cận khác nhau về nguyên tắc quản lý (38)
      • 3.1.2. Định nghĩa nguyên tắc và nguyên tắc quản lý (39)
      • 3.1.3. Đặc trưng của nguyên tắc quản lý (40)
      • 3.1.4. Vai trò của nguyên tắc quản lý (41)
    • 3.2. Một số nguyên tắc quản lý cơ bản (41)
      • 3.2.1. Nguyên tắc sử dụng quyền lực hợp lý (41)
      • 3.2.2. Nguyên tắc quyền hạn tương xứng với trách nhiệm (41)
      • 3.2.3. Nguyên tắc thống nhất trong quản lý (42)
      • 3.2.4. Nguyên tắc thực hiện quy trình quản lý (42)
      • 3.2.5. Nguyên tắc kết hợp hài hoà các lợi ích (42)
      • 3.2.6. Nguyên tắc kết hợp các nguồn lực (42)
      • 3.2.7. Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả (43)
  • CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ (44)
    • 4.1. Khái niệm phương pháp quản lý (44)
      • 4.1.1. Định nghĩa Phương pháp quản lý (44)
      • 4.1.2. Đặc trưng của phương pháp quản lý (44)
    • 4.2. Những phương pháp quản lý cơ bản (45)
      • 4.2.1. Nhóm phương pháp quản lý căn cứ vào việc sử dụng quyền lực (45)
      • 4.2.2. Nhóm phương pháp quản lý dựa vào việc sử dụng các công cụ có tính vật chất (47)
      • 4.2.3. Nhóm phương pháp quản lý dựa vào việc sử dụng các công cụ có tính phi vật chất (48)
  • CHƯƠNG 5: LẬP KẾ HOẠCH VÀ RA QUYẾT ĐỊNH QUẢN LÝ (51)
    • 5.1. Lập kế hoạch (51)
      • 5.1.1. Khái niệm “Lập kế hoạch” và “Kế hoạch” (51)
      • 5.1.2. Đặc điểm của kế hoạch (52)
      • 5.1.3. Vai trò của kế hoạch (53)
      • 5.1.4. Phân loại kế hoạch (54)
      • 5.1.5. Nội dung các bước lập kế hoạch (54)
      • 5.1.6. Phương pháp và yêu cầu lập kế hoạch (57)
    • 5.2. Quyết định quản lý (60)
      • 5.2.1. Khái niệm quyết định quản lý (60)
      • 5.2.2. Đặc điểm của quyết định quản lý (61)
      • 5.2.3. Phân loại quyết định (62)
      • 5.2.4. Xây dựng quyết định quản lý (62)
      • 5.2.5. Những yêu cầu để ra quyết định quản lý hiệu quả (64)
  • CHƯƠNG 6: CHỨC NĂNG TỔ CHỨC (66)
    • 6.1. Khái niệm và vai trò của chức năng tổ chức (66)
      • 6.1.1. Khái niệm (66)
      • 6.1.2. Vai trò của chức năng tổ chức (67)
    • 6.2. Nội dung chức năng tổ chức (67)
      • 6.2.1. Thiết kế mô hình cơ cấu tổ chức (67)
      • 6.2.2. Phân công công việc (73)
      • 6.2.3. Quyền hạn và giao quyền (74)
  • CHƯƠNG 7: CHỨC NĂNG LÃNH ĐẠO (78)
    • 7.1. Khái niệm lãnh đạo và chức năng lãnh đạo (78)
      • 7.1.1. Khái niệm lãnh đạo (78)
      • 7.1.2. Khái niệm chức năng lãnh đạo (79)
    • 7.2. Nội dung và phương thức của chức năng lãnh đạo (79)
      • 7.2.1. Nội dung của chức năng lãnh đạo (79)
      • 7.2.2. Phương thức thực hiện chức năng lãnh đạo (80)
    • 7.3. Những yêu cầu nhằm nâng cao hiệu quả của chức năng lãnh đạo (81)
      • 7.3.1. Những yêu cầu để có nội dung tác động hiệu quả tới nhân viên (81)
      • 7.3.2. Những yêu cầu để có phương thức tác động hiệu quả (81)
  • CHƯƠNG 8: CHỨC NĂNG KIỂM TRA VÀ THÔNG TIN TRONG (82)
    • 8.1. Chức năng kiểm tra (82)
      • 8.1.1. Định nghĩa (82)
      • 8.1.2. Đặc điểm và vai trò của kiểm tra (82)
      • 8.1.3. Phân loại kiểm tra (83)
      • 8.1.4. Quy trình, phương pháp và yêu cầu kiểm tra (84)
    • 8.2. Khái niệm thông tin và thông tin quản lý (87)
      • 8.2.1. Định nghĩa thông tin và thông tin quản lý (87)
      • 8.2.2. Đặc trưng của thông tin quản lý (88)
      • 8.2.3. Vai trò của thông tin trong quản lý (88)
      • 8.2.4. Phân loại thông tin quản lý (89)

Nội dung

Tập bài giảng Khoa học quản lý đại cương gồm có 3 phần, cung cấp cho người học những kiến thức như: Tổng quan về Khoa học quản lý; Nguyên tắc và phương pháp quản lý; Các chức năng của quy trình quản lý. Mời các bạn cùng tham khảo!

QUẢN LÝ VÀ MÔI TRƯỜNG QUẢN LÝ

Khái luận về quản lý

1.1.1 Tiếp cận và quan niệm khác nhau về quản lý

Quản lý là một hoạt động đặc biệt quan trọng của con người, đóng vai trò then chốt trong việc điều hành và tổ chức các hoạt động Nội dung quản lý rất đa dạng, phong phú và ngày càng phức tạp, luôn biến đổi và phát triển theo thời gian Vì vậy, nhận thức về quản lý có nhiều cách tiếp cận khác nhau, phản ánh sự đa dạng trong quan niệm và phương pháp thực hiện.

F.W Taylor (1856-1915) là một trong những người đầu tiên khai sinh ra khoa học quản lý và là “ông tổ” của trường phái “quản lý theo khoa học”, tiếp cận quản lý dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật đã cho rằng: Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.

H Fayol (1886-1925) là người đầu tiên tiếp cận quản lý theo quy trình và là người có tầm ảnh hưởng to lớn trong lịch sử tư tưởng quản lý từ thời kỳ cận - hiện đại tới nay, quan niệm rằng: Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra.

M.P Follet (1868-1933) tiếp cận quản lý dưới góc độ quan hệ con người, khi nhấn mạnh tới nhân tố nghệ thuật trong quản lý đã cho rằng: Quản lý là một nghệ thuật khiến cho công việc của bạn được hoàn thành thông qua người khác.

C I Barnarrd (1866-1961) tiếp cận quản lý từ góc độ của lý thuyết hệ thống, là đại biểu xuất sắc của lý thuyết quản lý tổ chức cho rằng: Quản lý không phải là công việc của tổ chức mà là công việc chuyên môn để duy trì và phát triển tổ chức Điều quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của một tổ chức đó là sự sẵn sàng hợp tác, sự thừa nhận mục tiêu chung và khả năng thông tin.

H Simon (1916) cho rằng ra quyết định là cốt lõi của quản lý Mọi công việc của tổ chức chỉ diễn ra sau khi có quyết định của chủ thể quản lý Ra quyết định quản lý là chức năng cơ bản của mọi cấp trong tổ chức.

Paul Hersey và Ken Blanchard chủ trương quản lý theo tình huống, nhấn mạnh rằng không có phương pháp quản lý hay lãnh đạo duy nhất phù hợp cho mọi hoàn cảnh Họ cho rằng người quản lý cần linh hoạt chọn lựa cách thức quản lý phù hợp dựa trên đặc điểm và tình hình cụ thể của từng tình huống Phương pháp này giúp nâng cao hiệu quả lãnh đạo bằng cách phù hợp hóa phong cách quản lý với từng đối tượng và hoàn cảnh khác nhau Quản lý theo tình huống khẳng định vai trò của sự linh hoạt và thích ứng trong quá trình lãnh đạo để đạt được thành công tối ưu.

J.H Donnelly, James Gibson và J.M Ivancevich trong khi nhấn mạnh tới hiệu quả sự phối hợp hoạt động của nhiều người đã cho rằng: Quản lý là một quá trình do một người hay nhiều người thực hiện nhằm phối hợp các hoạt động của những người khác để đạt được kết quả mà một người hành động riêng rẽ không thể nào đạt được.

Stephan Robbins định nghĩa quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các hoạt động của thành viên trong tổ chức Quản lý còn bao gồm việc sử dụng hiệu quả tất cả các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu đã đề ra Đây là quá trình liên tục giúp tổ chức vận hành hiệu quả và đạt thành công trong hoạt động kinh doanh.

Harold Koontz, Cyril Odonnell và Heinz Weichrich đã nhóm gộp các tiếp cận về quản lý thành các loại:

- Tiếp cận theo kinh nghiệm hoặc theo trường hợp

- Tiếp cận theo hành vi quan hệ cá nhân

- Tiếp cận theo hành vi nhóm

- Tiếp cận theo hệ thống hợp tác xã hội

- Tiếp cận theo hệ thống kỹ thuật - xã hội

- Tiếp cận theo lý thuyết quyết định

- Tiếp cận toán học hoặc “ khoa học quản lý”

- Tiếp cận theo điều kiện hoặc theo tình huống

- Tiếp cận theo các vai trò quản lý

Harold Koontz và các đồng sự đặc biệt ủng hộ tiếp cận tác nghiệp, hay còn gọi là trường phái quy trình quản lý, vì nó khẳng định sự tồn tại của một trung tâm khoa học quản lý cùng các lý thuyết đặc thù, đồng thời đóng góp quan trọng từ các trường phái và cách tiếp cận khác Họ nhận định rằng bản chất của quản lý là phối hợp nỗ lực của con người thông qua các chức năng lập kế hoạch, tổ chức, xác định biên chế, lãnh đạo và kiểm tra Các tác giả của “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” cũng nhấn mạnh rằng, trong hơn hai mươi năm qua, lĩnh vực lý thuyết quản lý đã không ngừng phát triển và trở nên phong phú hơn gấp đôi so với trước đây.

Những tiếp cận và quan niệm đa dạng về quản lý đã tạo nên một bức tranh phong phú, góp phần mở rộng hiểu biết và nhận thức đúng đắn hơn về lĩnh vực quản lý Việc khai thác các phương pháp và góc nhìn khác nhau giúp thúc đẩy sự phát triển toàn diện trong quản lý doanh nghiệp và tổ chức Nhờ đó, chúng ta có thể xây dựng các chiến lược quản lý phù hợp hơn với từng hoàn cảnh và mục tiêu cụ thể Sự đa dạng trong quan điểm quản lý càng làm nổi bật tầm quan trọng của việc liên tục cập nhật kiến thức và áp dụng các phương pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả công việc.

Các tiếp cận và quan niệm truyền thống về quản lý chỉ tập trung vào một số góc độ nhất định và chưa xem quản lý như một hệ thống hoàn chỉnh với các mối quan hệ cơ bản Do đó, chúng chưa phản ánh chính xác bản chất thực sự của quản lý, khiến việc hiểu và vận dụng quản lý còn hạn chế Để phát triển hiệu quả, cần nghiên cứu quản lý như một chỉnh thể toàn diện, nhận diện các quan hệ cốt lõi bên trong hệ thống này.

Sở dĩ có những sự khác nhau trong tiếp cận và quan niệm như vậy là do các nguyên nhân sau:

Quản lý là lĩnh vực rộng lớn, phong phú, đa dạng, có tính phức tạp cao và luôn không ngừng biến đổi theo sự thay đổi của các điều kiện kinh tế - xã hội trong các giai đoạn khác nhau.

Nhu cầu thực tiễn quản lý thay đổi qua các giai đoạn lịch sử, đòi hỏi phải xây dựng các quan niệm và lý thuyết quản lý phù hợp làm cơ sở lý luận Các lý thuyết này giúp giải quyết hiệu quả các vấn đề thực tiễn khác nhau theo từng thời kỳ phát triển của quản lý Việc áp dụng những quan niệm phù hợp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý trong các hoàn cảnh đa dạng và thay đổi liên tục.

Sự phát triển vượt bậc của các khoa học và khả năng ứng dụng thành tựu của chúng vào lĩnh vực quản lý đã thúc đẩy sự hình thành của các trường phái mới với lý thuyết tiên tiến Những tiến bộ này mang lại phương pháp quản lý hiện đại và phù hợp hơn với yêu cầu của thời đại, góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu suất hoạt động của tổ chức Các lý thuyết mới trong quản lý phản ánh sự đổi mới trong cách tiếp cận, giúp doanh nghiệp thích nghi nhanh chóng với biến đổi của môi trường kinh doanh Nhờ đó, các nhà quản lý có thêm công cụ để ra quyết định chính xác, thúc đẩy sự phát triển bền vững của tổ chức trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.

- Vị thế, chỗ đứng, lập trường giai cấp của các nhà tư tưởng quản lý là không giống nhau.

1.1.1 Bản chất của quản lý Để làm rõ bản chất của quản lý, trước hết cần phải xác định điểm xuất phát khi nghiên cứu về quản lý.

Môi trường quản lý

Quản lý tồn tại với nhiều hình thức và cấp độ khác nhau, có thể xem là các hệ thống quản lý xác định rõ ràng Mỗi hệ thống quản lý gồm các nhân tố bên trong và bên ngoài, liên quan và ảnh hưởng lẫn nhau Các mối quan hệ và tương tác giữa các nhân tố này sẽ được trình bày chi tiết trong các phần tiếp theo Trong phần này, bài viết tập trung vào khái quát các vấn đề về môi trường quản lý, đồng thời phân tích những nhân tố cơ bản và chung nhất của môi trường này, nhằm hiểu rõ tác động của chúng đối với quá trình quản lý ở mọi hình thức và cấp độ.

1.2.1 Khái niệm Môi trường quản lý

Môi trường quản lý gồm các yếu tố bên ngoài tác động mạnh mẽ đến sự vận hành và phát triển của hệ thống quản lý Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình biến đổi và cải tiến hệ thống, đòi hỏi các tổ chức phải chú trọng phân tích và thích nghi để duy trì hiệu quả hoạt động Hiểu rõ môi trường quản lý giúp doanh nghiệp xác định các yếu tố ngoại sinh có thể ảnh hưởng đến chiến lược và quyết định quản lý, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Môi trường quản lý có những đặc trưng cơ bản:

Môi trường quản lý là các yếu tố hoặc tập hợp các yếu tố bên ngoài hệ thống quản lý, tồn tại một cách khách quan mà không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà quản lý Những yếu tố này ảnh hưởng đáng kể đến quá trình quản lý và ra quyết định trong tổ chức, đòi hỏi nhà quản lý phải liên tục phân tích và thích nghi để đạt được hiệu quả tối ưu Hiểu rõ môi trường quản lý giúp các nhà lãnh đạo đưa ra các chiến lược phù hợp, nâng cao khả năng cạnh tranh và thích ứng với các thay đổi từ bên ngoài.

Môi trường tổ chức đa dạng và phụ thuộc vào loại hình tổ chức cũng như hệ thống quản lý cụ thể Các yếu tố hoặc tập hợp các yếu tố môi trường phù hợp sẽ khác nhau tùy theo từng loại hình tổ chức, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động và chiến lược phát triển của doanh nghiệp Đánh giá đúng các yếu tố môi trường này là chìa khóa giúp tổ chức thích nghi và cạnh tranh hiệu quả trên thị trường.

- Môi trường quản lý không phải là tĩnh tại mà luôn vận động biến đổi Sự biến đổi có thể là:

+ Liên tục, thường xuyên, đột biến

+ Tuần tự, tương đối ổn định, ngắt quãng.

- Môi trường quản lý có tác động tới hệ thống quản lý Sự tác động này có thể diễn ra theo hai hướng:

+ Tác động tích cực (thuận lợi)

+ Tác động tiêu cực (khó khăn)

Chủ thể quản lý cần hiểu rõ quy luật biến đổi của môi trường để xây dựng các biện pháp ứng phó phù hợp như thiết kế “rào chắn” hoặc “bước đệm” Điều này giúp hạn chế các tác động tiêu cực, đồng thời phát huy các mặt tích cực của môi trường Nhờ đó, tổ chức có thể duy trì sự phát triển ổn định và bền vững trong bối cảnh thay đổi liên tục.

1.2.2 Phân loại môi trường quản lý

Có thể phân chia môi trường quản lý thành các loại hình cơ bản sau:

- Căn cứ vào phạm vi, quy mô tác động tới hệ thống quản lý, môi trường quản lý có thể được phân chia thành:

Môi trường vĩ mô gồm các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các cấp độ và loại hình quản lý, góp phần định hình chiến lược và hoạt động của các hệ thống quản lý Các nhân tố của môi trường vĩ mô bao gồm nhiều yếu tố khác nhau, tác động toàn diện đến doanh nghiệp Hiểu rõ môi trường vĩ mô giúp các tổ chức dự báo xu hướng, điều chỉnh chiến lược phù hợp để duy trì cạnh tranh và phát triển bền vững.

Trong các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý, nhân tố kinh tế đóng vai trò quan trọng, tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh và phát triển bền vững của doanh nghiệp Ngoài ra, nhân tố văn hóa - xã hội cũng góp phần định hình môi trường làm việc và ảnh hưởng đến các quyết định quản lý Môi trường trung mô, bao gồm các yếu tố bên ngoài hệ thống quản lý như các yếu tố kinh tế và xã hội, là tập hợp các yếu tố tác động đến nhiều loại hình và mức độ quản lý khác nhau, góp phần hình thành bối cảnh vận hành của tổ chức.

+ Môi trường vi mô: là các yếu tố ở bên ngoài một hệ thống quản lý có tác động tới hệ thống quản lý đó

Bất cứ một hệ thống quản lý nào cũng chịu sự tác động của môi trường vĩ mô, trung mô và vi mô.

- Căn cứ vào mức độ và tính chất tác động tới hệ thống quản lý, môi trường quản lý có thể được phân chia thành:

+ Môi trường trực tiếp: là các yếu tố có liên quan mật thiết tới hệ thống quản lý xác định và luôn tác động tới hệ thống đó.

Môi trường gián tiếp bao gồm các yếu tố tác động đến hệ thống quản lý ở mức độ nhất định, tuy nhiên ảnh hưởng này xảy ra không thường xuyên và không trực tiếp Các yếu tố này có thể ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp theo thời gian, đòi hỏi hệ thống quản lý phải linh hoạt và thích nghi phù hợp Hiểu rõ môi trường gián tiếp giúp các tổ chức dự đoán và ứng phó hiệu quả với các biến động không rõ ràng trong môi trường kinh doanh Việc phân tích môi trường gián tiếp đóng vai trò quan trọng trong xây dựng chiến lược phát triển bền vững cho doanh nghiệp.

- Căn cứ vào tính chất ổn định hay bất ổn định, môi trường quản lý có thể được chia thành:

+ Môi trường ổn định: là những yếu tố hoặc tập hợp các yếu tố ít có sự biến đổi.

+ Môi trường bất định: là những yếu tố hoặc tập hợp các yếu tố thường xuyên biến đổi.

- Căn cứ vào phạm vi hoạt động của các hệ thống quản lý, môi trường quản lý có thể được chia thành:

Ngoài các loại hình môi trường quản lý đã được phân loại trước đó, còn có các dạng môi trường khác như môi trường thuận lợi, môi trường khó khăn, môi trường thường xuyên và môi trường nhất thời, giúp quản lý phù hợp với từng hoàn cảnh và đặc điểm cụ thể.

Tuy nhiên, sự phân loại về môi trường quản lý như trên chỉ mang tính chất tương đối, vì giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau.

1.2.3 Một số nhân tố cơ bản của môi trường vĩ mô tác động tới quản lý

Trong môn học Quản lý, việc phân tích môi trường quản lý giúp làm rõ các yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới quá trình quản lý Khoa học quản lý đại cương tập trung vào các yếu tố cơ bản của môi trường vĩ mô, bao gồm yếu tố kinh tế, chính trị và văn hóa - xã hội Những nhân tố này tác động tới tất cả các loại hình và cấp độ quản lý, đóng vai trò then chốt trong việc hình thành các chiến lược quản lý phù hợp và hiệu quả.

Kinh tế là lĩnh vực rộng lớn chứa đựng nội dung đa dạng và có nhiều cách tiếp cận khác nhau Trong phạm vi tổng quát, kinh tế được định nghĩa là tất cả các hoạt động sản xuất vật chất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng của con người Đây chính là khái niệm về sản xuất vật chất trong nghĩa rộng, phản ánh quá trình phát triển và vận hành của nền kinh tế.

Sản xuất vật chất là quá trình con người tác động vào tự nhiên qua công cụ và phương tiện để biến đổi tự nhiên nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu của con người Nguyên lý này là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, thể hiện nguyên nhân cơ bản của sự thay đổi trong lịch sử xã hội Sự phát triển của các phương thức sản xuất vật chất chính là động lực thúc đẩy sự tiến bộ và chuyển đổi từ nấc thang này sang nấc thang khác trong quá trình lịch sử.

Phương thức sản xuất là cách con người tạo ra của cải vật chất dựa trên những quan hệ với tự nhiên và xã hội trong một giai đoạn lịch sử cụ thể Nó phản ánh cách thức sản xuất và quan hệ sản xuất, ảnh hưởng đến các mối quan hệ xã hội và sự phát triển kinh tế của từng thời kỳ Hiểu rõ về phương thức sản xuất giúp nhận diện quá trình phát triển của xã hội và các hình thái kinh tế-xã hội qua các thời kỳ lịch sử.

Phương thức sản xuất là một chỉnh thể bao gồm hai mặt thống nhất biện chứng với nhau. Đó là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

Lực lượng sản xuất là một thể thống nhất hữu cơ giữa tư liệu sản xuất, đặc biệt là công cụ sản xuất, và con người với kinh nghiệm, kỹ năng và tri thức lao động Đây là yếu tố cốt lõi thúc đẩy quá trình sản xuất và phát triển kinh tế của xã hội Việc cải thiện và nâng cao lực lượng sản xuất góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy sự tiến bộ của công nghiệp và kinh tế quốc gia.

Quan hệ sản xuất là những mối quan hệ cơ bản giữa con người với con người trong quá trình sản xuất, bao gồm quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm Đây là yếu tố quyết định cách thức sản xuất diễn ra và phân phối lợi ích trong nền kinh tế Hiểu rõ quan hệ sản xuất giúp phân tích các quá trình kinh tế xã hội và phát triển bền vững.

QUẢN LÝ VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT KHOA HỌC

Điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề lý luận cho sự ra đời của khoa học quản lý

2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội

Ngành khoa học quản lý ra đời cùng với sự phát triển của xã hội loài người, phản ánh sự tiến bộ trong tư duy về quản lý Khoa học quản lý chính thức hình thành vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đạt đến trình độ phát triển cao Sự ra đời của thuyết “Quản lý theo khoa học” của F.W Taylor được xem là bước ngoặt đánh dấu sự khởi đầu của khoa học quản lý Những tiến bộ này mở ra một kỷ nguyên mới, thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực khoa học quản lý và góp phần quan trọng vào sự phát triển của xã hội công nghiệp.

Sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa diễn ra dựa trên nhu cầu thực tiễn và sự phát triển của các khoa học độc lập, chấm dứt thời kỳ nhà khoa học vừa là nhà “bách khoa toàn thư” vừa là nhà thần học Tuy nhiên, khoa học quản lý không xuất hiện cùng lúc với sự hình thành phương thức sản xuất này, mà phát triển từ thực tiễn sản xuất kinh doanh của các giai đoạn tích luỹ nguyên thủy tư bản và công trường thủ công, dựa trên phương pháp truyền thống và công cụ thủ công sơ khai nhằm khai thác lao động và tạo ra giá trị thặng dư Chính vì vậy, năng suất lao động trong giai đoạn này rất thấp do giới chủ áp đặt chế độ cai trị nhằm bóc lột giá trị thặng dư từ công nhân Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhờ ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, lực lượng sản xuất của xã hội tư bản phát triển vượt bậc, với công nhân trở thành lực lượng lao động chủ yếu, yêu cầu trình độ chuyên môn cao, tổ chức và kỷ luật chặt chẽ, đồng thời công cụ sản xuất cũng được cơ khí hoá, dẫn đến sự biến đổi rõ rệt của quan hệ sản xuất trong nền kinh tế công nghiệp.

Sự biến đổi của quan hệ sản xuất thể hiện rõ qua ba khía cạnh chính là sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối sản phẩm Trước đây, giới chủ hoặc giai cấp tư sản vừa là chủ sở hữu tư liệu sản xuất, vừa là người quản lý quá trình sản xuất, dẫn đến mâu thuẫn giữa mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và phương tiện đạt được lợi nhuận đó Giai cấp tư sản không tự giác nhận ra vấn đề này, mà chính lôgic của nền sản xuất tự thúc đẩy hướng giải quyết, như các Mác đã nhận định về việc ban đầu nhà tư bản trực tiếp giám sát sản xuất Khi tư bản đạt quy mô nhất định, quản lý công việc chuyển giao cho những “sỹ quan” và “hạ sỹ quan” công nghiệp, thể hiện sự biến đổi trong tổ chức quản lý sản xuất.

Sỹ quan và hạ sỹ quan chính là đội ngũ những người quản lý chuyên nghiệp trong tổ chức Họ đảm nhận vai trò điều hành và chỉ huy quá trình sản xuất nhân danh các nhà tư bản, đóng vai trò chủ chốt trong việc quản lý và vận hành hệ thống sản xuất.

Quá trình phát triển của sản xuất dẫn đến việc quản lý ngày càng cần được tách riêng thành một lĩnh vực chuyên môn hóa Quản lý sản xuất trở thành một nghề nghiệp độc lập và chuyên nghiệp, đóng vai trò cốt lõi trong quá trình phát triển kinh tế Việc tách quản lý ra khỏi quá trình sản xuất giúp nâng cao hiệu quả và tối ưu hoá hoạt động kinh doanh, phù hợp với xu hướng lao động chuyên môn hóa trong nền kinh tế hiện đại.

Chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả sản xuất, khiến quản lý trở thành yếu tố không thể thiếu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội hiện đại Nhà kinh tế học Keney nhấn mạnh rằng, thế kỷ XIX là thời kỳ của công nghiệp, trong khi thế kỷ XX lại là thời kỳ của hành chính, mặc dù công nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo; đồng thời, “đế quốc bàn giấy” đã chiếm lĩnh lĩnh vực kỹ thuật, thể hiện sự chuyển biến trong mô hình quản lý và kỹ thuật của thời kỳ này.

Trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thực tiễn đời sống kinh tế xã hội đã thúc đẩy sự phát triển của quản lý, ban đầu trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp rồi mở rộng sang các lĩnh vực khác Nhu cầu thực tiễn này đã đặt ra yêu cầu về một hệ thống tri thức quản lý nhằm làm nền tảng lý luận cho hoạt động quản lý hiệu quả hơn Sự ra đời của khoa học quản lý trở thành một bước tất yếu trong quá trình phát triển xã hội thời cận - hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản lý và thúc đẩy sự tiến bộ của nền kinh tế và xã hội.

Khoa học quản lý ra đời trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định và là sự kế thừa những giá trị của quá trình nhận thức trong lịch sử Các quan niệm và tư tưởng quản lý đã xuất hiện từ rất sớm, song các học thuyết quản lý cận - hiện đại mới là tiền đề lý luận trực tiếp cho sự hình thành của khoa học quản lý.

Các học thuyết quản lý cận - hiện đại đa dạng về cách tiếp cận, quan niệm và nội dung Những lý thuyết quản lý cổ điển, tâm lý - xã hội, theo văn hoá và tổng hợp - thích nghi hình thành nên nền tảng lý luận cho sự phát triển của khoa học quản lý.

* Các học thuyết Quản lý cổ điển

Các lý thuyết quản lý cổ điển ra đời cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của quản lý hiện đại Những lý thuyết này đã đưa ra cách tiếp cận khoa học trong quản lý, thay thế quan điểm dựa trên kinh nghiệm, thói quen và ý muốn chủ quan bằng các phương pháp phân tích và tổ chức dựa trên nghiên cứu có hệ thống Phát triển các nguyên tắc quản lý khoa học giúp nâng cao hiệu quả và năng suất trong doanh nghiệp, mở ra kỷ nguyên mới cho sự quản lý hiệu quả và chuyên nghiệp.

Các lý thuyết quản lý cổ điển đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của quản lý hiện đại, bằng cách tiếp cận từ các góc độ kinh tế - kỹ thuật, tổ chức và hành chính Những đóng góp nổi bật của các lý thuyết này đã giúp xây dựng nền tảng vững chắc cho các phương pháp quản lý hiệu quả ngày nay.

Những tác gia tiêu biểu của nó là: Frederick W Taylor, Henry Fayol, Max Weber, Chester I Barnard.

Frederick W Taylor là một trong những đại biểu xuất sắc của trường phái “quản lý theo khoa học” với những đóng góp mang tính đột phá cho khoa học quản lý hiện đại Ông nổi bật với việc áp dụng các phương pháp khoa học để nâng cao hiệu quả làm việc và tối ưu hoá quá trình quản lý lao động Các đóng góp của ông bao gồm việc phân tích công việc, thiết lập tiêu chuẩn làm việc và thúc đẩy quản lý dựa trên dữ liệu, giúp tổ chức hoạt động hiệu quả hơn Nhờ những sáng kiến này, Taylor đã góp phần xây dựng nền tảng vững chắc cho các phương pháp quản lý tiên tiến ngày nay.

Trong bài viết này, tác giả nhấn mạnh rằng mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý không phải là đối lập mà là sự hòa hợp và hợp tác, điều được xem là "một cuộc cách mạng tinh thần vĩ đại" Để đạt được sự hòa hợp này, cần phân định rõ công việc và trách nhiệm của các quản lý với nhau cũng như giữa người quản lý và người bị quản lý, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và thúc đẩy sự phát triển bền vững.

Trong nguyên lý phân định công việc, ông nhấn mạnh rõ ràng về sự tách bạch giữa chức năng lập kế hoạch và chức năng điều hành để đảm bảo hiệu quả công việc Việc phân chia trách nhiệm này giúp các nhà quản lý tập trung vào nhiệm vụ chiến lược, từ đó nâng cao năng suất và sự phối hợp trong tổ chức Chức năng lập kế hoạch đảm nhận vai trò xác định mục tiêu và chiến lược phát triển, trong khi chức năng điều hành thực thi các kế hoạch đó một cách hiệu quả Áp dụng nguyên tắc này sẽ giúp tổ chức vận hành trơn tru, rõ ràng trong vai trò và trách nhiệm của từng người quản lý.

Trong bài viết, ông nhấn mạnh rằng việc phân định rõ ràng công việc và trách nhiệm giữa người quản lý và người bị quản lý là yếu tố then chốt để đảm bảo hiệu quả làm việc Điều này giúp giảm thiểu xung đột, nâng cao năng suất và tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp Việc xác định rõ ràng vai trò giữa lao động quản lý và lao động cụ thể cũng thúc đẩy trách nhiệm cá nhân, từ đó phát huy tối đa năng lực của từng nhân viên.

- Xây dựng những nội dung quản lý cụ thể

+ Chuyên môn hoá lao động, đặc biệt là đối với lao động cụ thể.

Đối tượng của khoa học quản lý

Việc xác định đúng đối tượng của khoa học quản lý (quản lý học) là yếu tố then chốt giúp phân biệt rõ ràng với các khoa học quản lý chuyên ngành, đặc biệt là quản lý kinh tế Điều này góp phần xây dựng hệ thống tri thức và cấu trúc của môn khoa học quản lý đúng với vai trò và vị trí vốn có của nó trong lĩnh vực nghiên cứu và thực hành quản lý.

Quản lý là hoạt động tất yếu và phổ biến trong mọi lĩnh vực và cấp độ hoạt động của con người Để đạt hiệu quả cao, quản lý dựa trên cơ sở khoa học và phải có khoa học quản lý phù hợp với từng lĩnh vực cụ thể Các khoa học quản lý chuyên ngành như quản lý kinh tế, hành chính, văn hóa nghiên cứu thực tiễn quản lý để xác định các quy luật đặc thù của từng lĩnh vực.

Khoa học quản lý là lĩnh vực tổng quát, nghiên cứu lý thuyết chung về quản lý, có mối quan hệ hữu cơ với các khoa học quản lý chuyên ngành Nó không đồng nhất với các ngành quản lý chuyên ngành nhưng đóng vai trò nền tảng, cung cấp cơ sở lý luận chung để phát triển các lĩnh vực quản lý cụ thể Khoa học quản lý giúp hình thành các nguyên tắc và phương pháp chung, thúc đẩy sự hợp nhất và thống nhất trong các hoạt động quản lý của các lĩnh vực khác nhau.

Khoa học quản lý nghiên cứu thực tiễn quản lý trong mọi lĩnh vực và cấp độ để phát hiện các quy luật chung, những điểm giống nhau và các mẫu lặp lại trong hoạt động quản lý Để hiểu rõ đối tượng của khoa học quản lý, cần phân tích các nhân tố cơ bản của hệ thống quản lý như chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, mối quan hệ quản lý và quy luật quản lý Những nội dung này giúp làm rõ đặc điểm và nguyên tắc của hoạt động quản lý trên mọi lĩnh vực.

Trong mọi hoạt động quản lý và hệ thống quản lý, chủ thể quản lý đóng vai trò đặc biệt quan trọng, bởi vì họ là yếu tố quyết định thành công hay thất bại của quy trình quản lý Các đặc trưng cơ bản của chủ thể quản lý bao gồm khả năng lập kế hoạch, ra quyết định, điều phối và kiểm soát các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đề ra Hiểu rõ về đặc điểm này giúp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý và xây dựng hệ thống quản lý vững mạnh hơn.

- Chủ thể quản lý là nhân tố tạo ra các tác động quản lý.

Các tác động quản lý xuất hiện dưới nhiều hình thức và cấp độ khác nhau, bao gồm mục tiêu, nội dung, phương thức quản lý, nguyên tắc, phương pháp, phong cách và nghệ thuật quản lý, cũng như quyết định quản lý Hiệu quả của các tổ chức phụ thuộc lớn vào chất lượng của các tác động này, vốn được hình thành dựa vào điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan Cách thức tạo ra các tác động quản lý quyết định tính chất và mô thức quản lý, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đạt được mục tiêu tổ chức.

- Chủ thể quản lý có một quyền lực nhất định.

Quyền lực là sức mạnh được thừa nhận, đóng vai trò là công cụ thiết yếu của chủ thể quản lý Nhờ có quyền lực, nhà quản lý mới có khả năng tạo ra các tác động quản lý nhằm điều khiển và điều chỉnh hành vi của nhân viên Tuy nhiên, cách sử dụng quyền lực đóng vai trò quyết định trong việc hình thành văn hóa quản lý và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động quản lý của tổ chức.

- Chủ thể quản lý tồn tại ở nhiều quy mô và tầng nấc khác nhau.

Chủ thể quản lý có thể là một người, một nhóm người hoặc một tổ chức, tồn tại ở nhiều cấp độ khác nhau như cao, trung và thấp Trong các tổ chức nhỏ, chủ thể quản lý thường là một cá nhân, trong khi các tổ chức lớn hơn có thể có nhóm người đảm nhận vai trò này Đối với quy mô quốc gia hoặc khu vực, chủ thể quản lý thường là một tổ chức chuyên trách Việc xác định rõ chủ thể quản lý ở các cấp độ khác nhau là yếu tố quan trọng để đảm bảo hoạt động quản lý hiệu quả và phù hợp với từng mô hình tổ chức.

Các hình thức và cấp độ tồn tại của chủ thể quản lý thể hiện qua các tuyến quyền lực ngang - dọc, trên - dưới, tạo nên tính phức tạp của cơ chế quản lý Việc thiết lập mối quan hệ quyền lực hợp lý và phối hợp hoạt động giữa các tuyến quyền lực này đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ chế quản lý khoa học Như vậy, các mối quan hệ quyền lực thiện chí và sự phối hợp hiệu quả sẽ tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của tổ chức.

- Chủ thể quản lý phải có những năng lực và phẩm chất nhất định.

Chủ thể quản lý bao gồm ba cấp độ chính: quản lý cấp cao, cấp trung và cấp thấp Dù ở cấp độ nào, các nhà quản lý đều cần có những năng lực và phẩm chất cơ bản để thực hiện hiệu quả trách nhiệm của mình Các kỹ năng quản lý cần thiết giúp các chủ thể quản lý điều hành tổ chức một cách chuyên nghiệp, linh hoạt Việc phát triển năng lực và phẩm chất phù hợp ở từng cấp độ quản lý đóng vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức.

Năng lực chuyên môn: Đó là những tri thức cơ bản về chuyên môn liên quan tới lĩnh vực mà người quản lý phụ trách.

Năng lực làm việc với con người là khả năng tập hợp, quy tụ và quản lý nhân lực hiệu quả, biết bố trí, sắp xếp và sử dụng nguồn lực con người phù hợp với khả năng của họ Khả năng này còn bao gồm việc thừa nhận và tôn trọng sự khác biệt về giá trị, giúp xây dựng môi trường làm việc hài hòa và sáng tạo.

Năng lực tư duy, bản lĩnh và phương pháp tổ chức công việc khoa học là những yếu tố then chốt giúp quản lý phát triển chiến lược hiệu quả và thực hiện mục tiêu rõ ràng Khả năng nhìn xa trông rộng, có tầm nhìn chiến lược, cùng với khả năng hiện thực hóa các kế hoạch vào thực tiễn, tạo nên sự khác biệt trong quản lý và lãnh đạo Chủ thể quản lý cần phải có tính quyết đoán và dám chịu trách nhiệm để đưa ra các quyết định đúng đắn, thúc đẩy tổ chức phát triển bền vững.

Các nhóm năng lực và phẩm chất không phải bẩm sinh mà hình thành qua quá trình học tập, nghiên cứu và thực tiễn Để đào tạo nhà quản lý có tâm và tầm, cần chú trọng đến các lĩnh vực tri thức khoa học phù hợp và nhấn mạnh vai trò của thực tiễn quản lý trong việc phát triển các phẩm chất này.

- Chủ thể quản lý có lợi ích xác định.

Lợi ích của chủ thể quản lý có thể phù hợp hoặc đối lập với lợi ích của đối tượng quản lý, tùy thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể Tính chất của mối quan hệ lợi ích quyết định sự hình thành và hiệu quả của hoạt động quản lý Khi lợi ích của chủ thể đối lập với lợi ích của đối tượng, hoạt động quản lý dễ bị biến dạng thành hoạt động cai trị hoặc thống trị Ngược lại, khi lợi ích hai bên thống nhất, hoạt động quản lý mới phát huy đúng chức năng của nó Để đạt được sự đồng thuận về lợi ích, quá trình này cần trải qua quá trình vận động, biến đổi và phát triển lâu dài của xã hội.

Là những con người thực tế và nhân tố chủ chốt trong hệ thống quản lý, đối tượng quản lý sở hữu những đặc trưng cơ bản quan trọng.

Phương pháp của Khoa học quản lý

Khoa học quản lý, với tư cách là một khoa học xã hội, cần vận dụng các phương pháp nghiên cứu chung và cụ thể để hiểu rõ đối tượng của mình một cách chính xác Việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp giúp nâng cao nhận thức về các yếu tố ảnh hưởng và quy trình quản lý hiệu quả Điều này đảm bảo rằng các nhà quản lý có thể đưa ra quyết định chính xác dựa trên dữ liệu và phân tích khoa học Như vậy, nghiên cứu trong khoa học quản lý đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phát triển lý thuyết và ứng dụng thực tiễn.

2.3.1 Các phương pháp chung Để làm rõ quy luật và tính quy luật của quản lý, Khoa học quản lý phải vận dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản Đó là các phương pháp:

C h ủ q u an h oá t ác đ ộn g q u ản l ý C h ủ q u an h o á ti ếp n h ậ n c ác t á c đ ộ n g Q L

- Phương pháp biện chứng duy vật

- Phương pháp logic - lịch sử

- Phương pháp trừu tượng hoá

Các phương pháp nghiên cứu này được các ngành khoa học khác nhau áp dụng để nhận thức bản chất của đối tượng, giúp tăng cường hiểu biết khoa học Tuy nhiên, mỗi lĩnh vực khoa học đều có cách tiếp cận riêng phù hợp với đặc điểm và mục tiêu nghiên cứu của mình, góp phần làm rõ hơn các vấn đề phức tạp trong nghiên cứu khoa học.

* Phương pháp biện chứng duy vật

Phương pháp biện chứng duy vật là cách tiếp cận xem xét các sự vật, hiện tượng và quá trình của thế giới khách quan dựa trên mối liên hệ tác động qua lại và sự vận động biến đổi không ngừng Phương pháp này nhấn mạnh rằng mọi hiện tượng đều phát triển theo quy luật khách quan của chuyển dịch và phát triển, giúp hiểu rõ bản chất và quá trình vận động của thực tại Áp dụng phương pháp biện chứng duy vật giúp phân tích sâu sắc các mối liên hệ trong thế giới, từ đó xây dựng các nhận thức chính xác và toàn diện về các vấn đề khoa học và thực tiễn.

Quản lý là một hiện tượng và quá trình không thể tách rời khỏi thế giới thực, đóng vai trò trọng yếu trong sự vận hành của các hệ thống xã hội và kinh tế Để hiểu rõ bản chất và quy luật của quản lý, Khoa học quản lý cần áp dụng phương pháp biện chứng duy vật, giúp phân tích các mâu thuẫn và sự phát triển liên tục của các hiện tượng quản lý Việc sử dụng phương pháp này giúp nhận diện các yếu tố liên quan, từ đó đề ra các giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao hiệu suất và thích nghi với sự thay đổi của môi trường.

Quản lý là một dạng hoạt động hoặc lao động đặc trưng của con người, nhưng không tồn tại độc lập mà liên quan chặt chẽ đến điều kiện kinh tế xã hội trong các giai đoạn phát triển nhất định Hoạt động quản lý phát sinh khi có sự tham gia của nhiều người và gắn liền với các hoạt động cụ thể của con người Trong số các hoạt động của con người, hoạt động sản xuất vật chất đóng vai trò quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, đồng thời ảnh hưởng sâu sắc đến tính chất của hoạt động quản lý.

Quản lý là một hoạt động có tính độc lập tương đối, gắn kết chặt chẽ với một tổ chức hoặc hệ thống xác định Hệ thống quản lý bao gồm các yếu tố nội bộ và chịu ảnh hưởng từ các yếu tố bên ngoài, tạo thành quy luật vận động và phát triển của quản lý Sự tương tác giữa các yếu tố này thể hiện rõ mối liên hệ nội bộ của hệ thống quản lý cũng như sự liên kết giữa hệ thống quản lý với môi trường bên ngoài.

Mối quan hệ quản lý là sự tác động qua lại giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý thông qua các công cụ, phương tiện quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra Thông qua mối quan hệ này, quy luật quản lý được hình thành và phản ánh tính quy luật của quá trình quản lý.

Quy luật quản lý thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa mục tiêu quản lý, nội dung và phương thức quản lý Tính quy luật này được thể hiện qua việc xây dựng và thực thi các nguyên tắc, quy trình, phương pháp, phong cách và nghệ thuật quản lý hiệu quả.

Quy luật quản lý là kết quả của “quy luật hoàn cảnh”, phản ánh sự kết hợp giữa các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan Nhận thức chính xác và vận dụng sáng tạo các quy luật quản lý trong thực tiễn là yếu tố then chốt quyết định sự thành công và phát triển của công tác quản lý.

* Phương pháp logic - lịch sử

Phương pháp logic - lịch sử còn được gọi là phương pháp kết hợp giữa logic với lịch sử, hoặc là phương pháp thống nhất giữa logic với lịch sử.

Phương pháp logic tập trung vào việc xem xét các sự vật, hiện tượng trong thế giới dựa trên mối liên hệ nội tại và quy luật tất yếu của chúng Nó phân tích các đặc điểm chung, những điểm giống nhau và tính lặp lại trong quá trình vận động, biến đổi và phát triển của các sự vật Phương pháp này giúp hiểu rõ sự vật trong tính đồng đại và tính không gian của chúng, từ đó làm rõ bản chất và quy luật tồn tại của các hiện tượng tự nhiên.

Phương pháp lịch sử là phương pháp phân tích các sự vật, hiện tượng thế giới qua các giai đoạn phát sinh, hình thành, phát triển và tiêu vong, giúp hiểu rõ quá trình lịch sử của chúng Để nắm bắt bản chất và quy luật vận động, biến đổi của sự vật, cần kết hợp phương pháp logic và phương pháp lịch sử thành phương pháp logic - lịch sử Phương pháp lịch sử tập trung vào việc xem xét sự vật về mặt thời gian và quá trình phát triển của chúng qua các thời kỳ khác nhau.

Các phương pháp phân tích dựa trên lý luận lịch sử và khoa học quản lý cho thấy mỗi loại hình và cấp độ quản lý đều trải qua quá trình hình thành, phát triển và thoái trào, đồng thời các loại quản lý như quản lý kinh tế, hành chính, nhân lực đều có mối liên hệ và những điểm chung nhất định Tính quy luật của quản lý thể hiện qua việc bất kỳ loại hình nào cũng cần xác định và thực hiện mục tiêu phù hợp, nội dung quản lý đúng đắn, phương thức hợp lý và xây dựng các nguyên tắc, quy trình, phong cách cùng nghệ thuật quản lý Tuy nhiên, mặc dù có những đặc điểm chung, các loại hình quản lý cụ thể lại mang những nét đặc thù riêng biệt, đòi hỏi sự linh hoạt và phù hợp trong thực hiện.

* Phương pháp trừu tượng hoá

Phương pháp trừu tượng hoá giúp xem xét các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan một cách tập trung vào những yếu tố cốt lõi và điển hình, loại bỏ các đặc điểm ngoại lệ và yếu tố ngẫu nhiên để làm nổi bật bản chất của sự vật Đây là phương pháp quan trọng nhằm xác định các cấp độ và bản chất thực sự của các hiện tượng trong thế giới xung quanh.

Phương pháp trừu tượng hoá là sức mạnh của tư duy khoa học khi được vận dụng đúng cách, giúp hiểu rõ bản chất và quy luật vận động của hiện thực Đúng hướng, phương pháp này không làm xa rời thực tế mà ngược lại, nâng cao khả năng nhận thức về các quy luật cốt lõi mà cảm giác cảm tính không thể nhận biết.

Đặc điểm và ý nghĩa của Khoa học quản lý

2.4.1 Đặc điểm của khoa học quản lý

Với đối tượng và phương pháp nghiên cứu như đã trình bày ở trên, khoa học quản lý có những đặc điểm cơ bản sau.

Khoa học quản lý là hệ thống tri thức phản ánh thực tiễn quản lý trong một giai đoạn phát triển xã hội nhất định, đồng thời kế thừa các tư tưởng quản lý qua các thời kỳ lịch sử Phát triển trong điều kiện kinh tế – xã hội cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, khoa học quản lý ra đời đáp ứng nhu cầu tách hoạt động quản lý thành một lĩnh vực độc lập để phù hợp với sự phát triển của xã hội.

Các tư tưởng quản lý đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử kinh tế và quản trị, tuy nhiên để hiểu rõ và đúng đắn về quản lý cần trải qua một quá trình nghiên cứu và nhận thức đúng đắn Các lý thuyết quản lý ra đời vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX đóng vai trò quan trọng làm nền tảng lý luận cho sự hình thành hệ thống kiến thức hiện đại về quản lý.

Nhu cầu thực tiễn quản lý và nhận thức của con người về quản lý cần đạt đến một trình độ nhất định Điều này là điều kiện tiên quyết để khoa học quản lý ra đời và phát triển.

Thứ hai , hệ thống tri thức của khoa học quản lý mang tính khái quát hoá, trừu tượng hoá.

Các khoa học quản lý chuyên ngành như quản lý kinh tế và quản lý hành chính tập trung nghiên cứu thực tiễn quản lý trong các lĩnh vực và cấp độ nhất định Hệ thống tri thức do chúng xác lập liên quan chặt chẽ đến những lĩnh vực cụ thể và phản ánh các quy luật cũng như tính quy luật đặc thù của quản lý.

Khoa học quản lý là lĩnh vực nghiên cứu thực tiễn quản lý trên mọi lĩnh vực và cấp độ Nó xây dựng hệ thống tri thức cơ bản về quản lý, tập trung vào các quy luật và tính quy luật chung trong quản lý Điều này giúp nâng cao hiệu quả quản lý và đảm bảo phát triển bền vững trong các tổ chức và doanh nghiệp.

Tính khái quát hoá và trừu tượng hoá của khoa học quản lý thể hiện ở hệ thống tri thức về:

- Các chức năng quản lý

Thứ ba , khoa học quản lý là khoa học xã hội - hành vi.

Khoa học quản lý tập trung vào nghiên cứu về con người và mối quan hệ tác động giữa họ, đặc biệt quan tâm đến cơ sở và động lực thúc đẩy hành vi của con người trong tổ chức.

Khoa học quản lý nghiên cứu về chủ thể quản lý để xác định những phẩm chất và năng lực cần thiết của một nhà quản lý Bằng việc phân tích các đặc điểm và kỹ năng của người quản lý, ngành học này giúp chúng ta hiểu rõ cách phát triển và nâng cao phẩm chất, năng lực để đảm bảo hiệu quả công việc Các phương pháp và chiến lược được đề xuất nhằm tạo lập các phẩm chất và năng lực này, góp phần nâng cao năng lực quản lý và thúc đẩy sự thành công của tổ chức.

Khoa học quản lý nghiên cứu về đối tượng quản lý để làm rõ đời sống tâm lý cá nhân, tâm lý nhóm và tâm lý xã hội Điều này giúp hiểu rõ nhu cầu, lợi ích cũng như động cơ thúc đẩy hành vi của các đối tượng quản lý Nghiên cứu này góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của cá nhân cũng như cộng đồng trong môi trường tổ chức.

Trong quản lý, phẩm chất và năng lực của chủ thể quản lý đóng vai trò then chốt để đưa ra quyết định và hướng dẫn hoạt động Đồng thời, đặc điểm của đối tượng quản lý cũng ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định, đòi hỏi người quản lý phải hiểu rõ điều kiện kinh tế-xã hội hiện tại để phù hợp hóa chiến lược và hoạt động quản lý Việc xem xét các yếu tố này trong bối cảnh kinh tế xã hội nhất định giúp nâng cao hiệu quả quản lý và đạt được mục tiêu đề ra.

Khoa học quản lý cần thiết phải vận dụng kiến thức từ các lĩnh vực khoa học xã hội, đặc biệt là tâm lý học, tâm lý nhóm, tâm lý hành vi, xã hội học và chính trị học để nâng cao hiệu quả quản lý Việc tích hợp những tri thức này giúp hiểu rõ hơn về hành vi con người trong tổ chức và môi trường xã hội, từ đó đưa ra các quyết định quản lý chính xác và phù hợp hơn Do đó, sự liên kết giữa quản lý và các khoa học xã hội cụ thể là yếu tố then chốt để phát triển các phương pháp quản lý hiệu quả trong thực tiễn.

Thứ tư , khoa học quản lý vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật.

Hoạt động quản lý phải dựa trên cơ sở những tri thức khách quan, thể hiện tính khoa học rõ ràng Những quyết định và nguyên tắc quản lý không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm hay thói quen, mà phải tuân theo các quy luật khách quan của đời sống xã hội Điều này đảm bảo tính chính xác, khách quan và hiệu quả trong quá trình quản lý.

Tính nghệ thuật trong quản lý thể hiện ở khả năng vận dụng linh hoạt và sáng tạo ngoài việc thực thi một cách khoa học, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý phù hợp với các hàm biến số xác định.

Tính khoa học và tính nghệ thuật không loại trừ nhau mà ngược lại, chúng có mối quan hệ cộng sinh, cộng trưởng chặt chẽ Trong quản lý, tính khoa học thể hiện rõ qua các nguyên tắc và quy trình, đảm bảo tính chính xác và hệ thống Trong khi đó, tính nghệ thuật thể hiện qua phương pháp, phong cách và nghệ thuật quản lý, góp phần tạo nên sự linh hoạt và sáng tạo trong công việc Cả hai yếu tố này hợp nhất tạo nên một hệ thống quản lý hoàn chỉnh, hiệu quả.

Thứ năm , khoa học quản lý là sự kết hợp giữa tính lý luận và tính thực tiễn.

Hệ thống tri thức về quản lý mang tính khái quát hoá và trừu tượng hoá, giúp chưng cất những nguyên lý và quy luật từ thực tiễn phong phú để hình thành các khái niệm về quản lý Mặc dù vậy, khoa học quản lý không chỉ là sản phẩm của ý thức thuần túy, mà còn dựa trên hệ thống tri thức chung để phát triển tư duy quản lý Tư duy quản lý là công cụ sắc bén giúp các nhà quản lý vận dụng hiệu quả kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hiệu quả trong quá trình thực thi chức năng và nhiệm vụ của mình.

Thứ sáu , khoa học quản lý có quan hệ với nhiều lĩnh vực tri thức của các khoa học khác.

Khoa học quản lý dựa trên các khoa học chung như triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học, đóng vai trò là nền tảng lý luận và phương pháp luận chính Những lĩnh vực này cung cấp các nguyên tắc cơ bản giúp hình thành tư duy quản lý và phân tích các vấn đề trong quản trị tổ chức và xã hội Việc áp dụng các kiến thức từ các khoa học chung này giúp nâng cao hiệu quả và khả năng giải quyết các thách thức quản lý hiện đại.

Khoa học quản lý có quan hệ mật thiết và hữu cơ với khoa học tự nhiên, khoa học xã hội - nhân văn và các khoa học hành vi.

NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ

PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ

LẬP KẾ HOẠCH VÀ RA QUYẾT ĐỊNH QUẢN LÝ

CHỨC NĂNG TỔ CHỨC

CHỨC NĂNG LÃNH ĐẠO

CHỨC NĂNG KIỂM TRA VÀ THÔNG TIN TRONG

Ngày đăng: 17/12/2022, 05:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm