Về quan hệ hôn nhân: Bà Hảo trình bày do tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống được nữa nên yêu cầu ly hôn với ông Nguyệt.. Về nợ chung : Vào khoản năm 2014 bà Hảo và ông Ngu
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn : Kỹ năng cơ bản của Luật sư khi tham gia giải
quyết các vụ,việc dân sự
Mã hồ sơ : LS.DS 07 B3.TH2-DA1/HNGĐ
Diễn lần : 1
Ngày diễn: 08/10/2022
Giáo viên hướng dẫn: LS Nguyễn Thị Hằng
Họ và tên: NGUYỄN THỊ NHƯ ĐIỂM
Lớp: LS24.1E
Số báo danh: 097
Vai diễn: Hội thẩm nhân dân
TP Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 10 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC (HS07)
I TÓM TẮT NỘI DUNG TRÔNG CHẤP VÀ YÊU CẦU CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
II CÁC CHỨNG CỨ CHỨNG MINH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÍ CƠ BẢN
1 Các chứng cứ chứng minh
2 Những vấn đề pháp lí cơ bản
III KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỚI TƯ CÁCH LÀ LUẬT SƯ CỦA NGUYÊN ĐƠN
1 Câu hỏi cho Bị đơn
2 Câu hỏi cho Nguyên đơn
3 Câu hỏi để hỏi người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
IV LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGUYÊN ĐƠN
V NHẬN XÉT BUỔI DIỂN ÁN ( Không nhận xét do đóng vai Hội thẩm nhân dân) DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Bộ luật Tố tụng dân sự : BLTTDS
Quyền sử dụng đất : QSDĐ
Tòa án nhân dân tối cao : TANDTC
Tài nguyên và Môi trường : TNMT
Hôn nhân gia đình : HNGĐ
I TÓM TẮT NỘI DUNG TRÔNG CHẤP VÀ YÊU CẦU CỦA CÁC ĐƯƠNG
SỰ 1.1 TÓM TẮT NỘI DUNG TRANH CHẤP
Bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là thành phố Hải Dương ngày 26/3/1999 Ngỳ 02/01/2016 bà Hảo nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương yêu cầu được ly hôn với ông Nguyệt; yêu cầu được nuôi cả 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi (Sinh ngày 04/01/2001) và cháu Nguyễn Đức Ông (Sinh ngày 13/06/2007) ; yêu cầu chia đôi tài sản chung là nhà đất thửa số 496, tờ bản đồ số
01, diện tích 216 m2 tại xxa Thượng Đạt, Thành phố Hải Dương
Về quan hệ hôn nhân: Bà Hảo trình bày do tình cảm vợ chồng không còn, không thể
chung sống được nữa nên yêu cầu ly hôn với ông Nguyệt
Về con chung : Vợ chồng có 02 con là cháu Nguyễn Thị Nhi ( sinh ngày 04/1/2001) và
cháu Nguyễn Đức Ông ( sinh ngày 13/6/2007) Bà Hảo muốn nuôi cả 02 cháu Nhi và
Trang 3Đức Ông còn ông Nguyệt có nguyện vọng nuôi cháu Đức Ông để cháu Nhi ở với bà Hảo.( cháu Đức Ông hiện tại đang ở với ông Nguyệt còn Cháu Nhi đang ở với bà Hảo
Cả Nhi và Đức Anh điều có mong muốn được ở với bà Hảo
Về tài sản chung : Trong quá trình chung sống bà Hảo và ông Nguyệt có tạo lập được
01 ngôi nhà lợp ngói diện tích 18m 2 và một số công trình phụ , nằm trên Thửa đất số
496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 đất tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Thửa đất trên có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 382972 , số vào sổ cấp GCN CH497 Do UBND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp ngày 31/12/2005 mang tên ông Nguyệt và bà Hảo Đối với phần tài sản trên đất ông thống nhất chia đôi
và nhận bằng hiện vật, trả lại tiền cho bà Hảo Còn phần đất ông cho rằng đó là đất của
bố mẹ và ông em ông, không phải là tài sản chung của ông và bà Hảo, đề nghị không chia đất cho bà Hảo và yêu cầu Tóa án hủy Giấy chứng nhận và cấp lại cho hộ gia đình
bà Nguyễn Thị Thoa và ông Nguyễn Văn Cang
Về nợ chung : Vào khoản năm 2014 bà Hảo và ông Nguyệt có thế chấp tài sản chung
của vợ chồng là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên để vay 30.000.000 đồng tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn – chi nhánh Nam Sách Hiện nay, ông Nguyệt đã trả được 10.000.000 đồng, số tiền nợ còn lại là 20.000.000 đồng Trong quá trình giải quyết vụ việc, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn – chi nhánh Nam Sách cũng đưa ra ý kiến là yêu cầu ông Nguyệt và bà Hảo thanh toán số tiền nợ còn lại và số tiền lãi phát sinh cho đến khi tất toán hợp đồng Tính đến ngày 28/06/2016 ông Nguyệt đã thanh toán hết (cả gốc
và lãi ), Ngân hàng cũng đã xuất trả ông cho Nguyệt Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 382972 , số vào sổ CH497 do UBND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp ngày 31/12/2005
1.2 YÊU CẦU CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử bà Hảo có trình bày và yêu cầu như sau.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Hảo giữ nguyên yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố
Hải Dương giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyệt
Về con chung: Yêu cầu được nuôi 02 con chung là cháu Nhi và Đức Ông mà
không yêu cầu ông Nguyệt cấp dưỡng
Về tài sản chung: Bà Hảo và ông Nguyệt có khối tài sản chung hình thành
trong thời kì hôn nhân là đất và tài sản trên đất có số thửa 496 tờ bản đồ số 01 đã được cấp GCN QSDĐ đứng tên bàHhảo và ông Nguyệt từ năm 2005 Bà Hảo không yêu cầu chia tài sản trên đất mà chỉ yreu cầ chia một nửa diện tích trên đất bằng hiện vật và xin được lấy phần không có tài sản và không đồng ý với yêu cầu hủy GCN QSDĐ của ông Nguyệt
Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử ông Nguyệt có trình bày và yêu cầu như
sau Về quan hệ vợ chồng: Ông Nguyệt nhất trí ly hôn với bà Hảo,
Về nuôi con: Ông Nguyệt không đồng ý cho bà Hảo nuôi 02 con chung, đề nghị giao
cháu Đức Ông cho ông Nguyệt trực tiếp nuôi dưỡng vì ông Nguyệt đang trực tiếp nuôi cháu Đức Anh, bà Hảo nuôi cháu Nhi, không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai
Về tài sản chung: Đối với phần tài sản trên đất ông Nguyệt thống nhất chia đôi, ông
xin nhận hiện vật, trả tiền cho bà Hảo, còn đất là của bố mẹ anh em của ông Nguyệt, ông không đồng ý yêu cầu chia đất cho bà Hảo, đề nghị không chia đất cho bà Hảo, Bà
Trang 4Hảo không có một chút công sức nào trong việc tôn tạo, bồi đắp thửa đất mặc dù bà Hảo sống từ năm 1999 đến năm 2014 khi bà Hảo bỏ đi, ông yêu cầu hủy GCN QSDĐ tên ông và bà Hảo, cấp lại cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị Thoa và ông Nguyễn Văn Cang
II CÁC CHỨNG CỨ CHỨNG MINH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÍ CƠ BẢN
1 Các chứng cứ chứng minh.
- Về quan hệ hôn nhân: GCN đăng kí kết hôn số 09 Quyển số 01/1999 do
UBND xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, tinmhr Hải Dương cấp ngày 26/03/1999; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Về con chung: Giấy khai sinh của cháu Nguyễn Thị Nhi và cháu Nguyễn Đức
Anh, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Về tài sản chung: GCN QSDĐ mang tên nguyên Văn Nguyệt và Hoàng Thị
Hảo, Án lệ số 03/20416/AL về vụ việc ly hôn được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 04 năm 2016 và được ông bố theo quyết định 220/QĐ-CA ngày
06 tháng 04 năm 2016 của chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
2 Những vấn đề pháp lí cơ bản.
- Quan hệ pháp luật tranh chấp : Tranh chấp về ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
- Thẩm quyền giải quyết : Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương có thẩm quyền giải quyết (Căn cứ khoản 1, khoản 2 điều 28; điểm a, khoản 1 điều 35 của Bộ luật tố tụng dân
sự 2015)
- Các đương sư trong vụ án:
+ Nguyên Đơn : bà Hoàng Thị Hảo, sinh năm 1978, Địa chỉ : Thôn Nam Giàng, xã
Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
+ Bị đơn : ông Nguyễn Văn Nguyệt, sinh năm 1976, Địa chỉ : Thôn Thượng Triệt I, xã
Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
+ Người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan:
Cháu Nguyễn Thị Nhi, cháu Nguyễn Đức Anh
UBND thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
Bà Nguyễn Thị Thoa, ông Nguyễn Văn Cang cùng địa chỉ: Khu dân cư số 2 thôn
Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
Ông Nguyễn Văn Quyết, ông Nguyễn Văn Chuyển
III KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỚI TƯ CÁCH LÀ LUẬT SƯ CỦA NGUYÊN ĐƠN
1 Câu hỏi cho Bị đơn ông Nguyễn Văn Nguyệt.
- Theo như thông tin Chị Hảo cung cấp anh có hành vi đánh chị Hảo, lý do vì sao?
- Vậy anh có thường xuyên chơi bài, uống rượu không? Đây có phải là lý do khiên hai vợ chồng xích mích làm chị Nguyệt bỏ về nhà mẹ đẻ hay không? Anh chỉ cần trả lời có hoặc không?
Trang 5- Trong thời gian cháu Đức Anh sống với anh, anh có cho cháu Đức Anh gặp mẹ không?
- Từ khi cháu Nhi về sống với chị Hảo, anh đã về gặp con lần nào chưa?
- Công vệc của ông hiện nay là gì? Thu nhập bình quân hàng tháng của ông là bao nhiêu? Có căn cứ nào thể hiện điều này không?
- Anh cho biết ai là người đăng ý kê khai QSDĐ đối với thửa đất 496 tờ abnr đồ
số 01 tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương?
- Ai là người đóng thuế sử dụng đất hàng năm đối với thửa đất nói trên
- Trước khi anh và chị Nguyệt đến đó ở, hiện trạng đất ở đó như thế nào?
- Việc bồi đắp, san lấp đất và xây nhà được thực hiện trong thời gian ông và bà Hảo đã kết hôn đúng không?
- Anh cho rằng UBND Thành phố Hải Dương cấp GCN QSDĐ nói trên cho anh
là sai Vậy tại sao thời điểm nhận GCN QSDĐ là từ năm 2005 anh không khiếu nại hay yêu cầu cấp lại?
- Anh cho rằng thửa đất trên là của bố mẹ an hem ông, chỉ cho vợ chồn ông ở nhờ, vậy tại sao anh lại đem GCN QSDĐ để thế chấp vay 30.000.000 ở Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn?
- Gia đình ông có biết việc 2 vợ chồng ông đem GCN QSDĐ của thửa đất nói trên
đi thế chấp vay vốn tại Ngân hàng hay không?
2 Câu hỏi nguyên đơn bà Hoàng Thị Hảo.
- Vì sao chị Hảo lại quyết định ly hôn?
- Trong thời gian cháu Đức Anh sống với ông Nguyệt, ông Nguyệt có cho ba gặp cháu thường xuyên hay không?
- Nếu cháu Nhi và Đức Anh ở với chị, có ảnh hưởng gì đến việc học tập của các cháu không? Ai là người đưa đón các cháu đi học? Nếu giành được quyền nuôi con, chị có người phụ giúp không?
- Cháu Đức Anh có nói gì về thời gian cháu sống với bố? Mỗi lần gặp chị, cháu Đức Anh bị bố đánh, vì sao chị biết được thông tin này?
- Khi biết vợ chồng chị được cấp GCNQSDĐ, gia đình bên nhà anh Nguyệt có ai
có ý kiến gì không?
- Việc vợ chồng anh chị sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đi vay tiền có ai biết không? Có ai phản đối gì không?
- Bà có thực hiện việc kê khai và nộp thuế QSDĐ thì đối với thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01 tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương hay không?
3 Câu hỏi người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
- Hỏi người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thoa
+ Thời điểm thửa đất số 496 , tờ bản đồ số 1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Bà có ở địa phương không ?
Trang 6+ Có phải bà đã cho vợ chồng anh Nguyệt chị Hảo thửa đất số 496 tờ bản đồ số 01 nên mới để cho anh Nguyệt và chị Hảo đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không?
+ Tại sao vào thời điểm biết vợ chồng ông Nguyệt bà Hảo được cấp giấy chứng nhận ông/bà không phản đổi, mà bây giờ lại có yêu cầu đòi lại đất?
+ Tại sao lúc trước Bà quyết định cho ông Nguyệt và bà Hảo sống trên thửa đất số 496,
tờ bản đồ số 01 ?
+ Trong quá trình bà Hảo còn chung sống với ông Nguyệt, bà Hảo có thực hiện tốt trách nhiệm làm vợ và làm dâu hay không?
- Hỏi người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: vị đại diện UBND thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
+ Ông có thể nói cho Tôi biết hộ gia đình cá nhân được cấp Giấy chứng nhận quyền sửn dụng đất có những quyền gì không ?
+ Theo ông/ bà thì việc UBND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyệt và bà Hảo có đúng quy định của pháp luật không ?
+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho thửa đất 469, tờ bản đồ số 1 thuộc xã Thượng Đạt, TP.Hải Dương do ai đứng tên? Và từ năm nào?
+ Từ lúc cấp giấy chứng nhận mang tên ông Nguyệt và bà Hảo có bị khiếu nại hay khởi kiện gì hay không?
IV LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGUYÊN ĐƠN Kính thưa:
– Hội đồng xét xử
– Vị đại diện Viện Kiểm sát
– Thưa luật sư đồng nghiệp và Toàn thể quý vị đang có mặt tại phiên tòa ngày hôm nay Tôi là luật sư Nguyễn Thị Như Điểm – Thuộc văn phòng Luật sư X, Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh Tôi được mời tới tham gia phiên tòa ngày hôm nay với tư cách
là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn là bà Hoàng Thị Hảo trong
vụ án “ Tranh chấp về ly hôn, nuôi con, chia tài sản” với bị đơn là ông Nguyễn Văn Nguyệt Hôm nay, trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ vụ án và qua phần xét xử công khai tại phiên tòa ngày hôm nay, tôi xin phép HĐXX được trình bày luận cứ bảo vệ cho nguyên đơn như sau:
Thứ nhất, về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu ly hôn của bà Hảo là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật, cụ thể là quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình năm
2014 Cụ thể:
Chị Nguyễn Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt đã kết hôn hợp pháp với nhau trên cơ
sở tự nguyện theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 26/03/1999
Theo như lời trình bày của cả hai bên thì quan hệ hôn nhân của vợ chồng anh Nguyệt và chị Hảo đã mâu thuẫn đến mức đỉnh điểm, không còn tình cảm vợ chồng, không thể hòa giải được Hai anh chị đã ly thân từ ngày 14/12/2014 Vì vậy chị Hảo yêu cầu được ly
Trang 7hôn với anh Nguyệt và anh Nguyệt đồng ý Điều này thể hiện rõ trong biên bản lấy lời khai của anh Nguyễn Văn Nguyệt vào các ngày 18/01/2016 (BL 18) và bản tự khai 20/01/2016 (BL 24) cùng với việc xét hỏi tại phiên tòa hôm nay Hơn nữa, ông Nguyệt cũng xác nhận không còn tình cảm vợ chồng và đồng ý yêu cầu ly hôn của bà Hảo Do vậy, tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử chấp thuận cho thân chủ tôi được ly hôn với ông Nguyễn Văn Nguyệt
Thứ hai, Về việc nuôi con chung:
Cháu Nguyễn Thị Nhi sinh ngày 04/01/2000 và cháu Nguyễn Đức Anh sinh ngày 13/6/2007, là con chung của anh Nguyệt và chị Hảo trong thời kì hôn nhân, tính đến thời điểm hiện tại cháu Nhi và cháu Đức Anh đều đã trên 07 tuổi Căn cứ Luật hôn nhân
và Gia đình năm 2014 thì nếu con từ đủ 07 tuổi trở kleen thì phải xem xét nguyện vọng của các con
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyệt và chị Hảo đã đạt được thỏa thuận về việc chị Hảo tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nhi, thể hiện tại các biên bản hòa giải (BL 148 – 152,
175 – 177) Đồng thời, cháu Nhi cũng có đề nghị được ở với mẹ thông qua đơn đề nghị (BL 30)
Xét nguyện vọng của cháu Đức Anh, theo đơn đề nghị ngày 20/018/2016 (BL 31) và Biên bản lấy lời khai (BL 167 – 168 “nếu hai bố mẹ ly hôn, cháu muốn được ở với mẹ”
Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì
phải xem xét nguyện vọng của con” Căn cứ vào Đơn đề nghị viết tay của cháu Nhi và
cháu Đức Anh, cùng biên bản lấy lời khai cháu Đức Anh tại Tòa án nhân dân Thành phố Hải Dương ngày 05/07/2016 (có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Thoa – bà nội của cháu) theo Bút lục 167 - 168 thì cả hai cháu đều thể hiện mong muốn được ở với mẹ.Trong bối cảnh cha mẹ ly hôn, việc cháu được ở cùng mẹ và chị gái sẽ tốt hơn cho cháu và bản thân cháy cũng thể hiện nguyện vọng được ở với mẹ
Về vấn đề chăm sóc con sau khi ly hôn
Căn cứ vào mọi mặt quyền lợi của con thì bà Hảo sẽ chăm soc và dạy dỗ con tốt hơn về mọi mặt:
+ Xét về mặt tài chính, hiện tại chị Hảo là công nhân tại công ty Trấn An, đường Ngô Quyền, thành phốHhải Dương Chị Hảo đã làm công việc tại đây nhiều năm, công việc ổn định và có thu nhập bình quân là 5-6 triệu đồng/tháng Mức thu nhập này là phù hợp với mức chi tiêu hàng tháng ở địa phương, còn anh Nguyệt chỉ là lao động tự do, công việc không ổn định lâu dài
+ Chị Hảo đang sống tại nhà mẹ đẻ - nơi ở ổn định và lâu dài, hơn nữa mẹ chị Hảo cũng thường xuyên giúp đỡ, chăm sóc và quan tâm các cháu
+ Xét về mặt tinh thần, cháu Nhi và Đức Anh đang ở độ tuổi nhạy cảm, cảm xúc, suy nghĩ
và hành động có nhiều thay đổi Do đó, các cháu cần sự quan tâm, chia sẻ và gần gũi của người
mẹ dể tâm sự và giải bày, chỉ dạy các cháu nên người Điều này thể hiện ở phần xét hỏi tại phiên tòa ngày hôm nay, tại biên bản lấy lời khai của chị Hảo (BL 108
– 109) Nói cách khác, chị Hảo hoàn toàn đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu Đức Anh Đồng thời với công việc trên bà Hảo làm 8 tiếng/ngày, giờ giấc cố định Chính vì vậy,
bà Hảo sẽ có thời gian chăm sóc cho con tốt hơn nhất là các cháu đang trong giai đoạn phát triển tâm sinh lý thì việc quan tâm, gần gũi của một người mẹ là cần thiết và thực
tế cho thấy mẹ là người tâm sự, sẻ chia với các con nhiều hơn người cha
Trang 8Ngoài ra, trong thời gian qua khi cháu Đức Anh ở với bố, anh Nguyệt đã không cho chị Hảo gặp cháu, nếu chị Hảo gặp thì anh Nguyệt cũng sẽ đánh cháu Điều này chính quyền địa phương và bà con hang xóm láng giềng đều biết Ông Đỗ Văn Tư – cán bộ tư pháp xã Thượng Đạy cũng đã xác nhận thực tế này thông qua biên bản xác minh ngày 09/03/2016 (BL 73 – 74) Có thể nói hành vi này là hành vi trái với đạo đức xã hội, vi phạm nguyên tắc quyền của cha, mẹ trong chăm sóc và nuôi dưỡng con Bên cạnh đó, điều này vi phạm nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ hợp pháp của chị Hảo Nếu anh Nguyệt có được quyền nuôi hai cháu hoặc một trong hai cháu, hoàn toàn có cơ sở để tôi khẳng định rằng anh Nguyệt có thể sẽ không cho các cháu được gặp mẹ của mình, hoặc hành hạ khi các cháu gặp mẹ, không đảm bảo được cuộc sống an toàn, lành mạnh cho
sự phát triển của một đứa trẻ Do đó, có căn cứ cho rằng nếu anh Nguyệt được giao nuôi cháu Đức Anh sau khi ly hôn, quyền được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đức Anh của chị Hảo theo khoản 2 Điều 83 Luật HNGĐ 2014 không được đảm bảo
Hơn nữa, ông Nguyệt hay nhậu nhẹt và đánh bài, nóng tính và có khuynh hướng bạo lực Điều đó sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình trưởng thành và phát triển tâm lý của các cháu
Điều 15 Luật trẻ em quy định: “Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát
triển toàn diện” vì vậy tôi khẳng định chị Hảo yêu cầu nuôi cả 02 con chung là cháu
Nhi và Đức Anh, không cần cấp dưỡng từ anh Nguyệt là hoàn toàn phù hợp với các quy định của pháp luật cũng như điều kiện thực tế hiện tại, trên cơ sở xem xét nguyện vọng của cháu Nhi và Đức Anh
Vì các lý do trên, xét đến quyền lợi về mọi mặt đối với con chung của nguyên đơn và bị đơn, tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 81 Luật HNGĐ 2014 để giao cả 02 cháu Nhi và Đức Anh cho nguyên đơn nuôi dưỡng và chăm sóc
Thứ ba, Về tài sản chung:
Theo đơn khởi kiện của bà Hảo, đối với tài sản chung, bà Hảo yêu cầu chia đôi tài sản chung là nhà đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 Theo các biên bản hòa giải tại tòa án nhân dân thành phố Hải Dương ngày 19/5/2016, ngày 17/6/2016 và ngày 12/7/2016, bà Hảo chỉ đề nghị chia một nửa diện tích đất trên và xin được lấy phần không có tài sản trên đất, không đề nghị chia tài sản trên đất
Thửa đất số 496 tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, có địa chỉ tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương là tải sản chung trong thời kỳ hôn nhân của anh Nguyệt và chị Hảo Yêu cầu chia đôi thửa đất số 496 và nhận phần đất trống
Căn cứ tất cả tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như qua lời khai của các bên trong quá trình tố tụng, tôi xin khẳng định với yêu cầu chia tài sản chung là đất thửa đất số 496 tờ bản đồ số 01 là hoàn toàn có căn cứ Bởi
Thứ nhất, GCN QSDĐ được cấp trong thời kỳ hôn nhân của ông Nguyệt và bà Hảo cụ thgeer là vào ngày 31/12/2005 đứng tên chủ sử dụng đất là bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt
Chị Hảo và anh Nguyệt đều thống nhất rằng anh chị đã được bố mẹ chồng là bà Nguyễn Thị Thoa và ông Nguyễn Văn Cang cho vợ chồng xây dựng nhà và công trình phụ để ra
ở riêng từ năm 1999 sau khi kết hôn Điều này cũng đã thể hiện qua Biên bản lấy lời khai của ông Đỗ Văn Tỏ (BL 69 – 70), là anh em trong họ với anh Nguyệt xác nhận cùng với Biên bản lấy lời khai của ông Nguyễn Văn Giới (BL 67 – 68) và một số thợ
Trang 9khác đã xây dựng và công trình phụ cho hai vợ chồng năm 1999 Theo bà Hảo trình bày thì gia đình ông Nguyệt trước đây cũng tuyên bố cho vợ chồng ông bà nhưng không làm giấy tờ
Đồng thời, ông Nguyệt, bố mẹ ông Nguyệt cũng như anh chị em trong gia đình ông Nguyệt đều thừa nhận vào năm 1999 gia đình ông Nguyệt cho ông Nguyệt bà Hảo làm nhà để sống trên thửa đất này Thêm vào đó, bà Hảo và ông Nguyệt được cấp GCN QSDĐ trên vào ngày 31/12/2005 và không ai có ý kiến phản đối về điều này Sauk hi được cấp GCN QSDĐ, vợ chồng ông Nguyệt bà Hảo xây dựng nhà sinh sống ổn định ở đây cho đến nay, không phát sinh bất kỳ tranh chấp, cũng như không cói ai khiếu kiện, khiếu nại về việc cấp GCN QSDĐ đối với thửa đất số 496 tờ abnr đồ số 01 Việc này được ông Nguyễn Văn Bích – cán bộ địa chính xã Thượng Đạt xác nhận tại Biên bản xác minh ngày 09/03/2016 và Biên bản xác minh ngày 06/05/2016
Về trình tự, thủ tục cấp GCN QSDĐ cho ông bà cũng là hoàn toàn hợp pháp (thể hiện trong biên bản xác minh ngày 06/05/2016 và ngày 23/06/2016 của UBND xã Thượng Đạt) Hơn nữa, khi thực hiện các thủ tục kê khai chuẩn bị hồ sơ xin cấp GCN QSDĐ ông Nguyệt hoan toàn đồng ý cho bà Hảo đứng ra kê khai nộp thuế và đứng tên trên GCN QSDĐ Điều này được thể hiện trong hồ sơ cấp GCN QSDĐ mà cả ông Nguyệt,
bà hảo đều ký tên trên đó Thêm vào đó, phái gia đình ông Nguyệt cũng biết điều này tuy nhiên hkoong có ai phản đối
Thứ hai, trong thời gian sinh sống trên thửa đất số 496, chị Hảo đã góp công tôn tạo thửa đất cùng anh Nguyệt
Lúc ban đầu thửa đất này là đất thùng vũng sâu (đất ao) mới chỉ được san lấp được một phần để xây nhà và công trình phụ Hai vợ chồng chị Hảo và anh Nguyệt hàng năm đã
bỏ công sức và tiền của ra tôn tạo mảnh đất mới như hiện nay Tại bản xác minh của quý tòa ngày 9/3/2016 (BL 75 – 76), ông Nguyễn Văn Bích cán bộ địa chính xã Thượng Đạt đã xác nhận rằng thửa đất này trước đây là vùng trũng
Và tại biên bản lấy lời khai của Quý Tòa ngày 09/3/2016 (BL 71 – 72), ông Đỗ Văn Tạo
là hàng xóm của hai vợ chồng đã nêu rõ tại thời điểm năm 2002 chị Nguyệt và anh Hảo
đã ở trên thửa đất một thời gian và khi đó diện tích vũng chiếm khoảng ¾ thửa đất, đến năm 2004 hai vợ chồng anh Nguyệt chị Hảo có đắp thêm cho thửa đất này Điều này cho thấy thửa đất số 496 có được như ngày hôm nay là do công xây dựng, tôn tạo của hai vợ chồng anh Nguyệt và chị Hảo
Thứ ba, thửa đất này đã được cấp GCNQSDĐ cho hai vợ chồng chị Hảo và anh Nguyệt
từ năm 2005 một cách hợp pháp và trong suốt thời gian đó đến nay không hề phát sinh bất kì tranh chấp nào
+ Ngày 31/12/2005, UBND huyện Nam Sách, tình Hải Dương đã cấp cho anh Nguyễn Văn Nguyệt và chị Nguyễn Thị Hảo GCNQSDĐ đối với thửa đất số 496, tờ bản đồ số 1, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt Công văn ngày 10/6/2016 của Phòng Tài nguyên và Môi
trường UBND TP Hải Dương (BL 133 - 134) đã xác nhận với quý tòa “Căn cứ theo Điều
135 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai
2003 về trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ cho thửa đất số 496 nói trên cho anh Nguyệt và chị Hảo trong khuôn khổ cấp đồng loạt cho cả 30 hộ dân trong xã Thượng Đạt là đúng thẩm quyền quy định của pháp luật đất đai”, không chấp nhận yêu cầu hủy GCNQSDĐ này của
anh Nguyệt, bà Thoa và ông Cang
+ Tại buổi hòa giải ngày 19/5/2016 do quý tòa thực hiện (BL 115 – 120), bà Thoa nêu rằng đã biết việc anh Nguyệt và chị Hảo được cấp GCNQDĐ từ năm 2006 đến nay là
Trang 10hơn 10 năm nhưng bà Thoa cùng mọi người trong gia đình không ai có ý kiến phản đối hay tranh chấp gì xảy ra Bên cạnh đó, tại biên bản xác minh ngày 23/6/2016 (BL 163 – 164) ông Bích cán bộ địa chính xã Thượng Đạt xác nhận kể từ khi được cấp GCNQSDĐ đến nay anh Nguyệt và chị Hảo sử dụng đất ổn định không có tranh chấp với các
hộ giáp danh cũng như với ông Cang, bà Thoa và các thành viên khác trong gia đình anh Nguyệt
+ Công văn ngày 10/6/2016 (BL 133 – 134) nói trên của Phòng tài nguyên và Môi trường cũng đã nêu rõ ông Cang, bà Thoa đã biết việc anh Nguyệt chị Hảo được cấp GCNQSDĐ nhưng tất cả các thành viên trong gia đình đều không có ý kiến về việc cấp GCNQSDĐ nêu trên, không có tranh chấp xảy ra
+ Theo án lệ số 03/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06/4/2016 và được công bố theo Quyết định 220/QĐ-CA ngày 06/4/2016 của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao khái quát nội dung của án lệ: “Trường hợp cha mẹ đã cho
vợ chồng người con một diện tích đất và vợ chồng người con đã xây dựng nhà kiên cố trên diện tích đất đó làm nơi ở,… được cấp GCNQSDĐ thì phải xác định vợ chồng người con đã được tặng cho quyền sử dụng đất”.
Như vậy, các tài liệu và chứng cứ nêu trên cho thấy rõ ràng rằng bà Thoa và ông Cang
đã giao lại toàn bộ thửa đất số 496 cho vợ chồng anh Nguyệt chị Hảo sau khi hai người kết hôn năm 1999 Hai vợ chồng cũng thừa nhận đã xây dựng một nhà 18m2 lợp ngói kiên cố, 1 gian bếp và nhà vệ sinh, 1 giếng khơi và 1 bể xây gạch xi măng trên thửa đất này Vợ chồng bà Thoa và các thành viên trong gia đình khi biết về việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 216m2 đứng tên anh Nguyệt, chị Hảo từ năm 2006 (năm 2006 anh Chuyển - em trai anh Nguyệt nhờ vợ chồng anh Nguyệt Chị Hảo thế chấp nhà đất
để vay số tiến 10 triệu đồng - Bút lục số 86) nhưng không ai có ý kiến phản đối; không
có đơn khiếu nại về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, điều đó đã thể hiện ý chí của các thành viên trong gia đình bà Thoa là đã công nhận việc cho vợ chồng anh Nguyệt - chị Hảo diện tích đất nêu trên
Do đó, việc bà Thoa, anh Nguyệt khai rằng đất là của bà Thoa, bà không cho vợ chồng anh Nguyệt vì vợ chồng ly hôn là không có căn cứ pháp lý Diện tích đất và tài sản trên đất nêu trên đều thuộc tài sản chung của hai vợ chồng chị Hảo, anh Nguyệt Anh Nguyệt phải chấp thuận yêu cầu của chị Hảo là chia đôi diện tích đất này, chị Hảo không lấy phần có tài sản trên đất và không yêu cầu gì đối với tài sản trên đất
Từ những phân tích trên, tôi kính đề nghị HĐXX xem xét, áp dụng:
Khoản 1 Điều 56, Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Điều 50 Luật Đất đai 2003 và các tình tiết trong án lệ 03/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016; Điều 10 Diện tích tối thiểu được tách thửa đối với thửa đất ở trên địa bàn tỉnh Hải Dương theo Quyết định số 24/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh Hải Dương ban hành ngày 21/11/2014:
1 Chấp nhận yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn Nguyệt;
2 Về tài sản chung và nghĩa vụ chung:
a) Tài sản chung:
Yêu cầu chia đôi bằng hiện vật thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2
có địa chỉ tại xã Thượng Đạt huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương đã được bởi UBND Huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 31/12/2005