ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TIỂU LUẬN CUỐI KÌ HỌC PHẦN: NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG HỌC KÌ I, NĂM HỌC 2021-2022 Đề tài: Văn bản quy phạm pháp l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ HỌC PHẦN: NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
(HỌC KÌ I, NĂM HỌC 2021-2022)
Đề tài: Văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam: khái niệm, các loại văn bản quy phạm pháp luật, phân biệt văn bản quy phạm pháp luật với văn bản áp dụng pháp luật Một số ví dụ về văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực giáo dục.
Họ tên: Nguyễn Thị Quỳnh Anh Ngày tháng năm sinh: 15-04-2002
Mã sinh viên: 20031005 Khoa: Ngôn ngữ học Giảng viên: Nguyễn Thị Thanh
HÀ NỘI, 2021
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 4
1 Tình hình nghiên cứu 4
2 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật 4
3 Đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật 5
4 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật 7
CHƯƠNG 2 VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM 7
1 Các loại văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam 7
2 Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam 9
3 Phân biệt văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng pháp luật 10
4 Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực giáo dục 12
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM 12
1 Nguyên nhân dẫn đến hạn chế về văn bản quy phạm pháp luật 12
2 Giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật 13
TỔNG KẾT 14
Tài liệu tham khảo 15
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Xây dựng và hoàn thiện bộ máy pháp luật là nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân ta
Hiện nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta còn nhiều điểm hạn chế, chưa thực sự phát huy được hiệu lực, hiệu quả Vì vậy, cần phải có cái nhìn chính xác, toàn diện, thống nhất về các văn bản quy phạm pháp luật để có thể đưa ra những giải pháp thiết thực nhất để nâng chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam Trên cơ sở nghiên cứu đó rút ra cái nhìn đúng đắn, khách quan, chân thực về văn bản quy phạm pháp luật
và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam Đề tài còn đưa ra sự so sánh giữa văn bản quy phạm pháp luật với văn bản áp dụng pháp luật để phân biệt hai loại văn bản này dễ dàng hơn trong quá trình sử dụng
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Bài tiểu luận tập trung nghiên cứu cơ sở lí luận về văn bản quy phạm pháp luật
và và các vấn đề thực tiễn về văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích cơ sở lý luận về văn bản quy phạm pháp luật
- Phân tích khái niệm, các loại văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam
- Phân tích, đánh giá thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam
- Tiến hành so sánh, phân biệt văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng pháp luật
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam
Trang 45 Phương pháp nghiên cứu
Bài tiểu luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu như nghiên cứu tài liệu, phân tích, so sánh, v.v
CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
1 Tình hình nghiên cứu
Tính đến thời điểm hiện nay, ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình, đề tài nghiên cứu liên quan đến văn bản quy phạm pháp luật Ở bài tiểu luận này xin dẫn ra một số công trình nghiên cứu sau:
1 "Văn bản quy phạm pháp luật - Những vấn đề lí luận và thực tiễn", Luận văn Thạc sĩ Luật học của Trần Thanh Vân, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
2 "Kiểm tra xử lí văn bản quy phạm pháp luật ở Bộ Nội vụ", Luận văn Thạc sĩ Luật học Trần Văn Khiêm, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
3 "Đánh giá tác động dự thảo văn bản quy phạm pháp luật", Luận văn Thạc sĩ Cao Phan Long, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Ngoài ra vẫn còn rất nhiều các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác từ khắp mọi nơi trên Tổ quốc
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đều đáp ứng được một yêu cầu nào
đó về các vấn đề liên quan đến văn bản quy phạm pháp luật Các công trình đều thể hiện được cách nhìn độc đáo, mới mẻ của các tác giả và có giá trị tham khảo cao đối với người học
2 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật
- Văn bản quy phạm pháp luật (Legal normative documents) là văn bản có chứa đựng các quy phạm pháp luật do các chủ thể có thẩm quyền ban hành, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng nhiều lần và được Nhà nước bảo đảm thực hiện [2] Trong
đó, quy phạm pháp luật là một loại quy phạm xã hội có tính chuẩn mực, quy tắc của hành vi mang tính phổ biến, bắt buộc chung và có mối liên hệ với quyền lực nhà nước Quy phạm pháp luật được áp dụng lặp đi lặp lại đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân,
Trang 5do người có thẩm quyền hoặc cơ quan Nhà nước ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện
- Trong luật pháp, khái niệm văn bản quy phạm pháp luật được đề cập đầu tiên trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 Luật này nêu khái niệm
văn bản quy phạm pháp luật như sau: "Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa" [10] Trong Luật ban hành văn bản
quy phạm pháp luật năm 2015, văn bản quy phạm pháp luật được định nghĩa như sau:
“Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này” [13].
Cũng theo khái niệm này, các văn bản chứa quy phạm pháp luật mà ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục thì không phải văn bản quy phạm pháp luật
Các khái niệm trên tuy có phần khác nhau về câu chữ nhưng nhìn chung đều có nội dung giống nhau Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng những quy tắc
xử sự chung, gọi là quy phạm pháp luật Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Thứ ba, văn bản quy phạm pháp luật phải được ban hành theo đúng trình tự luật định
3 Đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật
- Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản được ban hành theo đúng thẩm quyền,
do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, các chủ thể có thẩm quyền ban hàn văn bản quy phạm pháp luật bao gồm: Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Hội đồng thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Uỷ ban Nhân dân, Hội đồng Nhân dân Đối với mỗi chủ thể có thẩm quyền khác nhau thì sẽ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau tương ứng với thẩm quyền Ví dụ, Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định; Quốc hội ban hành Hiến pháp, bộ luật, luật, nghị quyết Bên cạnh đó,
Trang 6pháp luật cũng quy định Đoàn Chủ tịch ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ, các chủ thể phối hợp với nhau để ban hành thông tư liên tịch [14]
- Văn bản quy phạm pháp luật chứa các quy phạm pháp luật được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần, có tính bắt buộc chung Các quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật định hướng hành vi cho các cá nhân, tổ chức, trong đó quy định những việc được làm và không được làm Bất cứ ai chịu tác động của văn bản quy phạm pháp luật thì đều phải thực hiện theo các quy định pháp luật Tính bắt buộc chung quy định hiệu lực pháp lí của văn bản quy phạm pháp luật Chẳng hạn, văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành sẽ có hiệu lực trên phạm vi cả nước, còn văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban Nhân dân ở địa phương ban hành thì sẽ có hiệu lực ở địa phương đó Cần lưu ý rằng, những quy tắc ứng xử nội bộ không phải là quy phạm pháp luật vì không có tính bắt buộc chung với tất cả cá nhân, tổ chức mà chỉ bắt buộc với cá nhân, đơn vị trực thuộc cơ quan đó
- Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật Về hình thức, văn bản quy phạm pháp luật phải được trình bày đúng loại tên văn bản, thể thức và kĩ thuật trình bày Ngôn ngữ trong văn bản quy phạm pháp luật phải chính xác, phổ thông, dễ hiểu Nội dung quy định phải cụ thể, không được chung chung [13] Về trình tự, thủ tục ban hành, văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo trình tự sau: lập chương trình xây dựng văn bản; soạn thảo; lấy ý kiến đóng góp; tiếp thu chỉnh lí; thẩm định, thẩm tra; thông qua, kí chứng thực và ban hành [13]
- Văn bản quy phạm pháp luật được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế Các trường hợp thực hiện hành vi trái với quy định của pháp luật thì phải chịu hậu quả pháp lý tương ứng Như Lênin đã từng nói: "Pháp luật sẽ không là
gì hết nếu thiếu bộ máy đảm bảo thực hiện" [1] Nhà nước thể hiện sức mạnh cưỡng chế thông qua các chủ thể như toà án, công an, quân đội, Ngoài biện pháp cưỡng chế, nhà nước cũng sử dụng các biện pháp như tuyên truyền, giáo dục pháp luật v.v
Trang 74 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
- Theo Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bao gồm: 1 Hiến pháp; 2 Bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc hội; 3 Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy
ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; 4 Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; 5 Nghị định của Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; 6 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; 7 Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; 8 Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước; 9 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; 10 Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; 11 Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; 12 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương 13; Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện; 14 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn; 15 Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã
CHƯƠNG 2 VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Ở VIỆT
NAM 1 Các loại văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam
Căn cứ vào tính chất và hiệu lực pháp lí, văn bản quy phạm pháp luật được chia thành 2 loại: văn bản luật và văn bản dưới luật
- Văn bản luật là là những văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành, có hiệu lực pháp lí cao hơn các văn bản dưới luật Văn bản luật là cơ sở để ban hành các văn bản dưới luật, các văn bản dưới luật không được trái với văn bản luật [3] Dựa vào khái niệm này, văn bản luật bao gồm Hiến pháp và luật (bộ luật, luật)
Trang 8Hiến pháp là luật cơ bản của một quốc gia, có hiệu lực pháp lí cao nhất trong
hệ thống các văn bản pháp luật Theo luật pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, "Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất" [11] Hiến pháp năm 2013 cũng quy định mọi văn bản pháp luật không được trái với Hiến pháp, nếu vi phạm thì đều bị xử lí Hiến pháp giữ vị trí tối cao trong hệ thống pháp luật Việt Nam bởi vì trong đó phản ánh sâu sắc nhất quyền của nhân dân và phải do nhân dân thông qua Phạm vi điều chỉnh của Hiến pháp rất rộng, liên quan đến tất cả lĩnh vực của một quốc gia và mang tính định hướng chung, không đi vào chi tiết Trong lịch sử lập hiến của nước ta, cho đến nay, nước ta đã ban hành 5 bản Hiến pháp, đó là: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001), Hiến pháp năm 2013 Đây là văn
kiện chính trị - pháp lí đặc biệt quan trọng, "là nhân tố bảo đảm sự ổn định chính trị,
xã hội và chủ quyền của quốc gia, thể hiện bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước và chế độ" [7] Xét về bản chất, Hiến pháp vừa là văn bản pháp lí của nhà nước vừa là
bản khế ước mang ý chí chung của xã hội [4]
Bộ luật, luật do Quốc hội quy định gồm các vấn đề cơ bản như kinh tế, xã hội, quốc phòng an ninh, tài chính, tiền tệ, đối nội, đối ngoại, v.v Nếu như Hiến pháp là những quy định chung thì bộ luật, luật là sự cụ thể hoá của Hiến pháp Ở nước ta có nhiều bộ luật khác nhau, trong đó có thể kể đến các bộ luật: Bộ luật Hình sự, Bộ Luật Lao động, Luật Hôn nhân và gia đình, v.v Cả bộ luật và đạo luật đều được gọi là đạo luật trong khoa học pháp lí, bộ luật là "xương sống" của một ngành luật [8]
- Văn bản dưới luật là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lí thấp hơn văn bản luật Giá trị pháp lí của từng văn bản dưới luật phụ thuộc vào thẩm quyền của
cơ quan ban hành Văn bản dưới luật không được trái với văn bản luật và do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo đúng quy định của pháp luật Văn bản dưới luật bao gồm nghị định, thông tư, quyết định, v.v
Nghị định là một hình thức văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu được chính phủ sử dụng với tư cách cơ quan hành chính nhà nước cao nhất [5] Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết về điều, khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết, pháp lệnh, lệnh và quy định các biện pháp để thực hiện luật, Hiến pháp, v.v Việc ban
Trang 9hành nghị định phải được sự đồng ý của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Nghị định là văn bản quy phạm pháp luật duy nhất thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ Điều
96 Hiến pháp 2013 nêu nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ như sau: "Tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban
thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước" [11] Một số nghị định đã
được ban hành ở nước ta: Nghị định 35/2003/NĐ-CP - Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy, Nghị định 102/2009/NĐ-CP - Nghị định về quản lí đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, v.v
Thông tư là hình thức văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang Bộ ban hành hướng dẫn thực hiện các quy phạm pháp luật của cơ quan cấp trên ban hành [6] Thông tư được chia thành hai loại là thông tư do Bộ, Ngành ban hành và thông tư liên tịch do hai hay nhiều Bộ, Ngành phối hợp ban hành Ví dụ: Thông tư 04/2021/TT-BXD - Thông tư hướng dẫn xuất khẩu khoáng sản làm vật liệu xây dựng do Bộ Xây dựng ban hành; Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP - Thông tư hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân
và gia đình do Bộ Tư pháp, Toà án Nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành, v.v Ngoài Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, thông tư còn được ban hành bởi Chánh án Toà án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Tùy thuộc vào chủ thể ban hành mà thông tư hướng đến những nội dung khác nhau Ví dụ, thông tư do Bộ trưởng ban hành sẽ quy định biện pháp để thực hiện chức năng quản lí nhà nước của Bộ đó Còn thông tư do Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành quy định về những vấn đề đã được Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Luật khác có liên quan yêu cầu thực hiện
2 Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam
- Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội ban hành lần đầu tiên vào năm 1996 Từ khi ban hành Luật đến nay, nước ta đã xây dựng được một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật tương đối hoàn chỉnh, đáp ứng nhu cầu của xã hội Các văn bản được xây dựng theo hướng ngày càng chủ động, linh hoạt, dân chủ
Trang 10- Các văn bản quy phạm pháp luật có sự thay đổi theo hướng tích cực, phản ánh nhu cầu và lợi ích của quốc gia Sự thay đổi tích cực của hoạt động lập pháp đã điều chỉnh sâu sắc hơn các quan hệ xã hội, khắc phục được những lỗ hổng trong các văn bản luật trước đây, hủy bỏ những quy định đã lạc hậu, lỗi thời [16]
- Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều vấn đề hạn chế xung quanh hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta Chất lượng của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam có thể gói gọn trong "9 không": không đầy đủ, không rõ ràng, không cụ thể,
không tương thích, không minh bạch, không tiên liệu trước, không hợp lí, không hiệu quả và không hiệu lực [18] Kết quả rà soát cho thấy, hệ thống pháp luật nước ta vẫn còn cồng kềnh, phức tạp với số lượng lớn các văn bản dưới luật, một số quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn, ngôn ngữ trong văn bản pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu chính xác, phổ thông dẫn đến việc hiểu sai, áp dụng không thống nhất [17]
3 Phân biệt văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng pháp luật
- Văn bản áp dụng pháp luật là văn bản cá biệt mang tính quyền lực do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội được nhà nước trao quyền ban hành trên cơ sở những quy phạm pháp luật, nhằm xác định các quyền
và nghĩa vụ pháp lí cụ thể của các cá nhân, tổ chức hoặc xác định các biện pháp trách nhiệm pháp lí đối với chủ thể vi phạm pháp luật Văn bản áp dụng pháp luật luôn áp dụng cho một cá nhân, tổ chức cụ thể xác định quyền, nghĩa vụ, chỉ áp dụng một lần
Ví dụ: Quyết định của cảnh sát giao thông xử phạt người đi xe máy vượt đèn đỏ
- Trong thực tiễn, việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng pháp luật vẫn còn nhầm lẫn Giữa hai loại văn bản này có nhiều điểm giống và khác nhau, được so sánh với nhau dựa trên nhiều tiêu chí
Về điểm giống nhau: Văn bản quy phạm và áp dụng pháp luật đều là những văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền ban hành Nhà nước đảm bảo thực hiện các văn bản này bằng biện pháp mang tính quyền lực của nhà nước Những chủ thể có liên quan bắt buộc phải thực hiện theo quy định trong văn bản Các quy định đó được thể hiện dưới hình thức văn bản nhằm mục đích chung là điều chỉnh hành vi xã hội