1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) vấn đề 1 THỰC HIỆN CÔNG VIỆC KHÔNG có ủy QUYỀN

25 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề 1 Thực Hiện Công Việc Không Có Ủy Quyền
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 349,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trả lời: Căn cứ theo Điều 574 BLDS 2015 thì: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó, vì

Trang 1

VẤN ĐỀ 1 THỰC HIỆN CÔNG VIỆC KHÔNG CÓ ỦY

QUYỀN Nghiên cứu:

- Khoản 3 Điều 275, Điều 574 đến Điều 578 BLDS 2015 (khoản 3 Điều 281, Điều 594 đến Điều 598 BLDS 2005) và các quy định liên quan (nếu có);

- Tình huống: Chủ đầu tư A lập Ban quản lý dự án B để tiến hành xây dựng một công

trình công cộng Khi triển khai, B đã ký hợp đồng với nhà thầu C mà không nêu rõ tronghợp đồng B đại diện A và cũng không có ủy quyền của A trong khi đó, theo quy định, Bkhông được tự ký hợp đồng với C vì đây là công việc của chủ đầu tư A (thực tế Ban quản

lý dự án B không có nhiều tài sản để thanh toán cho C)

Và cho biết:

Câu 1 Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền?

Trả lời:

Căn cứ theo Điều 574 BLDS 2015 thì: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là

việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó, vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.”

Như vậy, ta có thể hiểu, theo quy định của pháp luật thì thực hiện công việc không

có ủy quyền là việc một người tự ý thực hiện công việc của người khác, vì lợi ích củangười khác mà không dựa trên cơ sở hợp đồng thực hiện công việc đó Người được thựchiện công việc không biết hoặc biết nhưng không phản đối

Ví dụ: Ông C và ông D là hàng xóm của nhau Một hôm, sau khi ông C phơi đồ

ngoài sân thì phải đi ra ngoài do có việc gấp cần phải giải quyết, không có nhà Nhưnghôm đó đột nhiên trời mưa, ông D thấy vậy, chạy qua sân nhà ông C đem đồ của ông Cvào nhà để tránh đồ của ông C bị ướt

Câu 2 Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ là phát sinh nghĩa vụ dân sự?

Trả lời:

Căn cứ làm phát sinh quan hệ nghĩa vụ dân sự là những sự kiện xảy ra trong thực tế,được pháp luật dân sự dự liệu, thừa nhận là có giá trị pháp lý, làm phát sinh quan hệnghĩa vụ dân sự

Việc quy định chế định này tạo nên sự ràng buộc pháp lý giữa người thực hiện côngviệc và người có công việc được thực hiện; nâng cao tinh thần trách nhiệm, đảm bảoquyền lợi của người thực hiện công việc cũng như đối với người có công việc được thựchiện

Do đó, thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ làm phát sinh Nghĩa vụdân sự Và trong thực tế cũng có các trường hợp thực hiện công việc không có ủy quyền,

BLDS 2005 đã dự liệu điều này tại:

Trang 2

- Chương XIX: Thực hiện công việc không có ủy quyền;

- Khoản 7 Điều 13: Căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự là thực hiện không có ủy quyền;

- Khoản 3 Điều 281: Căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là thực hiện công việc không có ủy quyền.

BLDS 2015 quy định điều này tại:

- Chương XVIII: “Thực hiện công việc không có ủy quyền”;

- Khoản 3 Điều 275: “Căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là Thực hiện không có ủy quyền”.

Ví dụ: Bà A và bà B là hàng xóm Một hôm, bà C đến mua rau nhà bà A nhưng bà

A do có công việc đột xuất nên không có mặt ở nhà Do đó, bà B đã thay mặt bà A báncho bà C bó rau:

Trường hợp 1: Việc bà B thực hiện công việc không có ủy quyền cho bà A (bán

rau) không gây phương hại và làm phát sinh lợi ích cho bà A Bởi thế, việc bà A có nghĩa

vụ trả công cho bà B bằng tài sản hay bất cứ hình thức nào khác đều phù hợp với quy

định của pháp luật Chiếu theo Khoản 1 Điều 576 BLDS 2015.

Trường hợp 2: Bà B bán bó rau cho bà C với giá thấp hơn bà A dự tính Do đó, gây thiệt hại cho bà A Vì vậy, bà B phải bồi thường cho bà A theo Điều 577 BLDS 2015.

Câu 3 Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền”.

Trang 3

Nhận xét:

Điều 574 BLDS 2015 đã kế thừa gần như toàn bộ quy định tại Điều 594

BLDS 2005 chỉ có khác biệt là quy định tại Điều 574 BLDS 2015 bỏ đi từ “hoàn toàn” để mở rộng phạm vi điều chỉnh của Điều 574 BLDS 2015.

BLDS 2005 quy định thực hiện công việc không có uỷ quyền là “hoàn toàn

vì lợi ích của người có công việc được thực hiện” – “hoàn toàn” có nghĩa nhấn

mạnh là vì lợi ích của một người Cho nên việc thực hiện công việc đó phải hoàntoàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện, không có mục đích khác

Trong khi đó, BLDS 2015 lại quy định: “Thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện”, “vì lợi ích” của người có công việc được thực hiện không còn là “hoàn toàn” như được quy định trong BLDS 2005, nên có

thể hiểu vì lợi ích của người có công việc được thực hiện nhưng cũng có thể vì mụcđích khác Tuy nhiên việc thực hiện công việc này không được làm trái với lợi íchcủa người có công việc được thực hiện và các chủ thể khác

CHỦ THỂ

Khoản 3 Điều 595 BLDS 2005:

“Người thực hiện công việc không có ủy Khoản 3 Điều 575 BLDS 2015:

quyền phải báo cho người có công việc “Người thực hiện công việc không có ủy được thực hiện về quá trình, kết quả quyền phải báo cho người có công việc thực hiện công việc nếu có yêu cầu, trừ được thực hiện về quá trình, kết quả trường hợp người có công việc đã biết thực hiện công việc nếu có yêu cầu, trừ hoặc người thực hiện công việc không trường hợp người có công việc đã biết

có ủy quyền không biết nơi cư trú của hoặc người thực hiện công việc không người đó” có ủy quyền không biết nơi cư trú hoặc

Khoản 4 Điều 595 BLDS 2005 : trụ sở của người đó.”

“Trong trường hợp người có công việc Khoản 4 Điều 575 BLDS 2015:

được thực hiện chết thì người thực hiện “Trường hợp người có công việc được công việc không có ủy quyền phải tiếp thực hiện chết, nếu là cá nhân hoặc

Trang 4

tục thực hiện công việc cho đến khi chấm dứt tồn tại, nếu là pháp nhân thì

người thừa kế hoặc người đại diện của

người có công việc được thực hiện đã

tiếp nhận”

người thực hiện công việc không có ủy quyền phải tiếp tục thực hiện công việc cho đến khi người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện đã tiếp nhận”

Nhận xét:

BLDS 2005 không quy định rõ người có công việc là cá nhân hay pháp nhân

nhưng với việc các nhà lập pháp sử dụng từ “chết” ở Khoản 4 Điều 595 BLDS

2005, chúng ta có thể ngầm hiểu rằng chủ thể được nhắc đến trong chế định này chỉ

là cá nhân Trong khi đó, BLDS 2015 đã cụ thể hóa chủ thể, bao gồm cả cá nhân và

pháp nhân, được bổ sung ở Khoản 3 Điều 575 BLDS 2015 với cụm từ “nếu là cá

nhân hoặc chấm dứt tồn tại, nếu là pháp nhân”.

Sự bổ sung này là hợp lý vì người có công việc có thể là cá nhân hoặc pháp

nhân Hơn nữa, đối với pháp nhân, khái niệm “chết” không tồn tại mà thay vào đó

là “chấm dứt tồn tại” Điều này làm rõ hơn nghĩa vụ thực hiện công việc không

được ủy quyền, đảm bảo được quyền của của chủ thể có công việc được thực hiệnhơn so với BLDS 2005 cũng như mở rộng phạm vi chủ thể Đây là một sự thay đổiphù hợp với thực tiễn giải quyết tranh chấp

Ngoài ra, với một pháp nhân thì sẽ không tồn tại khái niệm “nơi cư trú” như

ở Khoản 3 Điều 595 BLDS 2005 mà là khái niệm “trụ sở”, tức nơi đặt cơ quan điều

hành của pháp nhân đó, nên Khoản 3 Điều 575 BLDS 2015 phải bổ sung thêm cụm từ

Nhận xét:

Trang 5

Phần 7 BLDS 2005 trước đây không quy định xung đột pháp luật (có nghĩa là ấn

định luật pháp nước nào cần áp dụng để giải quyết các quan hệ dân sự có yếu tố

Trang 6

nước ngoài mỗi khi có sự kiện pháp lý phát sinh cụ thể) đối với quan hệ nghĩa vụphát sinh từ việc thực hiện công việc không có ủy quyền có yếu tố nước ngoài.

BLDS 2015 đã mở rộng phạm vi áp dụng nguyên tắc thoả thuận chọn luật đối với

quan hệ thực hiện công việc không có uỷ quyền Việc mở rộng phạm vi áp dụngcủa nguyên tắc thoả thuận chọn luật áp dụng là phù hợp với xu thế phát triển của tưpháp quốc tế Việt Nam trong giai đoạn sắp tới, bởi lẽ nguyên tắc này đã được ghinhận rất rộng rãi trong pháp luật ở nhiều nước, đặc biệt là những nước đã ban hànhđạo luật riêng về tư pháp quốc tế

Câu 4 Các điều kiện để áp dụng chế định “Thực hiện công việc không có ủy quyền” theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện.

Trả lời:

Cơ sở pháp lý: Điều 574 BLDS 2015: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là

việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.”

Căn cứ Điều 574 BLDS 2015 cần phải thỏa mãn các điều kiện sau mới được áp

dụng quy định pháp luật về thực hiện công việc không có ủy quyền:

(1) Người thực hiện là người không có nghĩa vụ thực hiện công việc đó Nghĩa vụ

có mối quan hệ pháp lý nào về công việc thực hiện Công việc được thực hiện trong quan

hệ này không phải là một nghĩa vụ pháp lý có tính chất bắt buộc Tức họ có thực hiện haykhông thực hiện công việc đó thì cũng không phải gánh chịu bất kỳ chế tài nào Trướcthời điểm thực hiện công việc, giữa hai bên không có bất kỳ ràng buộc pháp lý hay thỏa

thuận nào Trong BLDS 2015 hiện tại không quy định rõ về năng lực hành vi của người

thực hiện công việc nhưng trên thực tế người đó phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sựphù hợp để thực hiện công việc không được ủy quyền mà không gây bất lợi có người cócông việc được thực hiện hoặc chủ sở hữu Khi đã thực hiện thì người thực hiện phải cóthiện chí và phải tuân thủ quy định về Nghĩa vụ thực hiện công việc không có ủy quyền

Trang 7

Ví dụ: Đang vụ mùa thu hoạch, thóc lúa phơi trên sân nhà anh A chưa kịp dọn vào

nhà, trời lại sắp mưa, và anh A hiện không có ở nhà Trong hoàn cảnh đó, anh B là hàngxóm của A đã sang nhà thu dọn thóc giúp anh A

Trong ví dụ này, A hoàn toàn không hề biết rằng B đã thu dọn thóc lúa cho A Acũng không hề nhờ vả, hay thuê mướn B làm công việc trên, mà B đã tự nguyện thựchiện công việc để bảo vệ vật chất của A không bị mất mát

(2) Người thực hiện công việc hoàn toàn tự nguyện khi thực hiện công việc.

Điều kiện này có thể được hiểu rằng, việc thực hiện công việc đó không phải lànghĩa vụ bắt buộc của người thực hiện công việc Người thực hiện công việc đã tựnguyện thực hiện công việc dù pháp luật không quy định và chủ công việc không yêucầu Nói cách khác, việc thực hiện công việc đối với người thực hiện công việc không có

ủy quyền hoàn toàn không phải là nghĩa vụ do các bên thỏa thuận cũng như do pháp luậtquy định

Ví dụ: A mượn tiền B, đến hạn A phải trả đủ tiền cho B Tuy nhiên, A không có đủ

khả năng chi trả số nợ mà A đã nợ B; B cũng đã nhiều lần đến nhà đòi và yêu cầu A phảinhanh chóng trả tiền, nếu không sẽ kiện ra tòa C là bạn của A đã đứng ra thay A trả số

nợ đó cho B, vì nếu không A sẽ chịu sự trừng trị của pháp luật, đồng thời ảnh hưởng đếndanh dự Vậy, mặc dù C không có nghĩa vụ phải trả nợ thay A nhưng vì lợi ích của A, C

đã tự nguyện thực hiện công việc đó

(3) Việc thực hiện công việc phải vì lợi ích của người có công việc.

Trước khi tiến hành công việc, người thực hiện công việc phải ý thức được nếucông việc đó không có ai thực hiện có thể gây thiệt hại cho chủ sở hữu hoặc người cócông việc Chủ sở hữu hoặc người có công việc sẽ mất đi một số lợi ích vật chất nhấtđịnh Người thực hiện công việc phải xuất phát từ lợi ích của người có công việc để thựchiện những hành vi phù hợp Tuy nhiên, khi thực hiện công việc mà biết trước hoặc đoánđược ý định của người có công việc thì phải thực hiện đúng ý định đó

BLDS 2015 đã bỏ cụm từ “hoàn toàn” khi quy định về thực hiện công việc không

có ủy quyền: “Thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện”.

Nên có thể hiểu bên cạnh vì lợi ích của người có công việc, người thực hiện công việccũng có thể vì mục đích khác

Ví dụ: Trong kì nghỉ hè, ông Hiếu đã tranh thủ thời gian đến thăm nhà con cháu và

ở lại 1 tháng Trong thời gian ông Hiếu vắng nhà thì có bão về, chính quyền địa phương đãban hành thông báo mọi người nhanh chóng thực hiện các biện pháp phòng chống bão

Trang 8

Ông Nguyên là hàng xóm nhà ông Hiếu để ý cây nhãn nhà ông Hiếu tán rộng chum quađường dây điện của cả xóm Ông Nguyên sợ bão to nếu cành nhãn gãy có thể làm đứt dâyđiện gây nguy hiểm nên ông Nguyên đành phải chặt hộ cành nhãn ở nhà ông Hiếu đểtránh nguy cơ cành nhãn gãy làm đứt dây điện Nếu ông Nguyên không chặt cành nhãnnhà ông Hiếu, khi cành nhãn làm đứt dây điện không chỉ gây nguy hiểm cho nhà ôngHiếu mà còn cho nhà ông Nguyên và các nhà hàng xóm xung quanh.

(4) Người có công việc không biết hoặc biết mà không phản đối về việc thực hiện công việc

Bản chất của việc thực hiện công việc không có ủy quyền là sự giúp đỡ người khácvượt qua những khó khăn, tránh những thiệt hại không đáng có Trong đó, người có côngviệc có thể rơi vào hai trường hợp:

- Không có mặt tại nơi thực hiện công việc nên không thể thực hiện công việc đó

- Có mặt và biết việc người khác thực hiện công việc có lợi cho họ – mà ngay tại thời điểm đó họ không thể tự thực hiện công việc, thì phần lớn có thể sẽ không phản đối.Tuy nhiên, trong trường hợp người có công việc phản đối, thì người thực hiện côngviệc không được tiếp tục thực hiện nữa Nếu cố tình thực hiện sẽ bị coi là vi phạm và phải

chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật tại Khoản 1 Điều 577 BLDS 2015.

(5) Việc thực hiện công việc phải thực sự cần thiết.

Thông thường, công việc được thực hiện mà không có ủy quyền là những công việc

có tính chất khẩn cấp và cần thiết cho việc bảo toàn các quyền lợi của người có công việcđược thực hiện

“Sự cần thiết” thể hiện ở chỗ: Trước khi tiến hành công việc, người thực hiện công

việc phải ý thức được nếu công việc đó không có ai thực hiện có thể gây thiệt hại cho chủ

sở hữu hoặc người có công việc Chủ sở hữu hoặc người có công việc sẽ mất đi một sốlợi ích vật chất nhất định Người thực hiện công việc coi đó là bổn phận của mình và phảixuất phát từ lợi ích của người có công việc để thực hiện những hành vi phù hợp

Trên thực tế, có nhiều trường hợp chủ thể thực hiện công việc mà người có côngviệc không biết và làm phát sinh các chi phí mà người có công việc phải thanh toán,nhưng chính bản thân người có công việc không đồng ý vì họ không có mong muốn đểchủ thể khác thực hiện công việc thay mình Do đó, chủ thể chỉ được thực hiện công việckhông có ủy quyền khi cảm thấy việc thực hiện đó thực sự cần thiết

Trang 9

Kết luận: Nếu thỏa mãn được năm điều kiện trên đây sẽ được áp dụng chế định

thực hiện công việc không có ủy quyền Nếu vi phạm một trong năm điều kiện trên thìkhông được áp dụng chế định này

Câu 5 Quy định về “thực hiện công việc không có ủy quyền” của một hệ thống pháp luật nước ngoài.

Điều kiện:

Quan hệ thực hiện công việc không có ủy quyền được xác lập khi có một công việcđược thực hiện (chứ không chỉ đơn giản là có một ý định thực hiện công việc hình thànhtrong đầu một người) Người có lợi ích trong việc người khác thực hiện công việc đó cóthể biết hoặc không biết sự việc; nhưng quan trọng là người này không phản đối việcngười khác thực hiện công việc cho mình Người thực hiện công việc, về phần mình, phải

1 Nguồn: https://amilawfirm.com/wp-content/uploads/2020/03/Lu%E1%BA%ADt-La-M%C3%A3-C

%E1%BA%A7n-Th%C6%A1-2009.pdf

Trang 10

thực hiện công việc với ý thức làm phát sinh một nghĩa vụ của người có lợi ích trong việcthực hiện công việc đó, nghĩa vụ đối với mình Nếu người thực hiện công việc hoàn toàn

vì lòng hảo tâm, thì không có quan hệ thực hiện công việc không có ủy quyền

Người có công việc được thực hiện phải hoàn trả cho người thực hiện công việc cácchi phí, mà người này đã bỏ ra để thực hiện công việc và phải đảm nhận tất cả nhữngnghĩa vụ, mà người thực hiện công việc đã xác lập trong quá trình thực hiện công việcphù hợp với lợi ích của mình

GIẢI THÍCH THÊM NẾU CẦN

Luật La Mã là hệ thống luật cổ, được xây dựng cách đây khoảng hơn 2000 năm (năm 449 trước Công Nguyên), đánh dấu sự ra đời và phát triển của Nhà nước La Mã cổ đại Đây là hệ thống pháp luật hoàn chỉnh nhất của nhà nước chiếm hữu nô lệ Do vậy, Luật La Mã, đặc biệt là các chế định pháp luật về dân sự của Luật La Mã đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của pháp luật và các học thuyết pháp lý của các nước châu Âu lục địa.

Gắn liền với việc hình thành và phát triển Nhà nước là sự ra đời của Luật La Mã Ở La Mã, Luật dân sự (jus civile) là luật áp dụng đối với các công dân La Mã, phân biệt với Luật chung (jus gentium) áp dụng cho tất cả những ai không có tư cách công dân La Mã Cả Luật dân sự và Luật chung đều tập trung giải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh trong quan hệ giữa người và người Luật dân sự và Luật chung được bổ sung bởi các quy tắc được các thẩm phán rút ra từ hoạt động xét

xử và các quy tắc này tạo thành một hệ thống gọi là Luật thực hành (jus praetorium) Đến thời Justinian (Hoàng đế Đông La Mã) khi mà những người không phải là công dân La Mã hoàn toàn bình đẳng với công dân La Mã về phương diện dân sự, thì jus civile và jus gentium được hợp nhất thành một hệ thống duy nhất gọi là Luật dân sự La Mã.

Luật dân sự có nguồn từ luật 12 Bảng, luật cổ xưa nhất của La Mã, được ban hành vào khoảng năm 451 đến 449 trước công nguyên Đó là Bộ luật do các pháp quan xây dựng và được khắc trên 12 bảng bằng đồng, là văn bản luật đầu tiên của Nhà nước La Mã Luật 12 Bảng tập hợp một cách hệ thống

Trang 11

So sánh với quy định “Thực hiện công việc không có ủy quyền” theo Điều 574,

575 BLDS 2015 đang hiện hành ở Việt Nam hiện nay Ta có thể thấy như sau:

- Dù có khác nhau về điều kiện và hoàn cảnh lịch sử, kinh tế - xã hội nhưng cả haichế định đều có một số điểm tương đồng như: điều kiện phát sinh, nghĩa vụ thực hiện,hậu quả pháp lý…

- Có thể nói Luật La Mã ảnh hưởng sâu sắc đến pháp luật Việt Nam hiện nay Tuynhiên, những nhà làm luật của chúng ta không tiếp nhận hoàn toàn một cách thụ động,rập khuôn máy móc mà là tiếp thu có chọn lọc Bên cạnh đó, luôn tích cực bổ sung, đổimới một cách cụ thể và rõ ràng hơn để phù hợp với tình hình thực tiễn của xã hội ViệtNam Bằng chứng là BLDS 2015 đã của ta đã có sự mở rộng phạm vi chủ thể bao gồm cả

cá nhân và pháp nhân, so với Luật La Mã và cả BLDS 2005 trước đó

 Xuất phát nguồn gốc của các nhà làm luật xưa các luật gia Việt Nam sẽ điều chỉnh

và phát triển hơn cho phù hợp với tình hình của Quốc gia Hơn hết, thông qua việc tìmhiểu hệ thống pháp luật La Mã, một điều mà ta có thể luôn khẳng định là sự tiến bộ củacác luật gia trong hành trình lập pháp lúc bấy giờ

Các quy định về việc “thực hiện công việc không có ủy quyền” thường được biết tớitrong các hệ thống pháp luật nước ngoài bằng cụm từ “Negotiorum gestio”, hay ở bộ luật Dân sự Nhật Bản (1986) 1 , các điều luật mang tính chất “thực hiện công việc không có

ủy quyền” được quy định tại phần III, chương III, từ Điều 697 tới Điều 702 với cái tên

“事務管”, nghĩa là “Quản lý công việc kinh doanh”

Chapter 3 Negotiorum Gestio (Management of

Business)) Chương III Quản lý công việc kinh doanh

(事務管理)

(Negotiorum Gestio (Management of Business))

第六百九十七条 義務なく他人のために事務の管理を始めた者(以下この章にお 義務なく他人のために事務の管理を始めた者(以下この章にお他人のために事務の管理を始めた者(以下この章におのために事務の管理を始めた者(以下この章にお事務の管理を始めた者(以下この章にお始めた者(以下この章におめた者(以下この章におこの章におに事務の管理を始めた者(以下この章におおいて「管理 者」という。)は、その事務の性質に従い、最も本人の利益に適合管理 者」という。)は、その事務の性質に従い、最も本人の利益に適合に事務の管理を始めた者(以下この章にお従い、最も本人の利益に適合い、最も本人の利益に適合も本人の利益に適合本人のために事務の管理を始めた者(以下この章におの利益に適合に事務の管理を始めた者(以下この章にお適合する方法によって、その事 務の管理(以下「事務管理」という。)をしなけれ方法によって、その事 務の管理(以下「事務管理」という。)をしなけれに事務の管理を始めた者(以下この章におよって、その事 務の管理(以下この章にお「管理 者」という。)は、その事務の性質に従い、最も本人の利益に適合事務管理」という。)を始めた者(以下この章におしなければならない。

Article 697

(1) A person who commences the management of a business for another

person without being obligated to do so (hereinafter in this Chapter referred to as

"Manager") must manage that business (hereinafter referred to as "Management of

Trang 12

Business") in accordance with the nature of the business, using the method that be

st conforms to the interests of that another person (the principal)

Điều 697

(1) Một người bắt đầu quản lý công việc kinh doanh cho người khác mà không có nghĩa vụ thực hiện công việc (sau đây gọi tắt trong chương này là “người quản lý”) phải quản lý công việc kinh doanh đó một cách phù hợp với bản chất của công việc, sử dụng các phương pháp mang lại lợi ích tốt nhất cho bên còn lại (sau đây gọi tắt là “người ủy quyền”)

(管理者の通知義務)

(Obligation of Managers to Give Notice)

第六百九十九条 義務なく他人のために事務の管理を始めた者(以下この章にお 管理者は、事務管理を始めた者(以下この章にお始めた者(以下この章におめたことを始めた者(以下この章にお遅滞なく本人に通知しなけなく他人のために事務の管理を始めた者(以下この章にお本人のために事務の管理を始めた者(以下この章におに事務の管理を始めた者(以下この章にお通知しなければならな

い。ただし、本人のために事務の管理を始めた者(以下この章におが既にこれを知っているときは、この限りでない。既にこれを知っているときは、この限りでない。に事務の管理を始めた者(以下この章におこれを始めた者(以下この章にお知っている方法によって、その事 務の管理(以下「事務管理」という。)をしなけれときは、この限りでない。りでない。

Article 699

A Manager must notify the principal that the Manager has commenced the

Management of Business; provided, however, that this shall not apply if the

principal already knows of the same

Điều 699 (Nghĩa vụ thông báo của người thực hiện)

Người thực hiện phải thông báo cho người ủy quyền ngay lập tức việc người thực hiện tựnguyện tham gia vào công việc kinh doanh của người ủy quyền; Tuy nhiên điều lệ trên

sẽ không được không áp dụng nếu người ủy quyền đã biết về việc thực hiện đó

Ngày đăng: 17/12/2022, 05:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w