1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt tiếng việt: Không gian sáng tạo trong đời sống văn hóa đô thị (qua nghiên cứu một số không gian sáng tạo tại Hà Nội).

26 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Không gian sáng tạo trong đời sống văn hóa đô thị (qua nghiên cứu một số không gian sáng tạo tại Hà Nội)
Tác giả Phạm Thị Hương
Người hướng dẫn PGS.TS. Bùi Hoài Sơn, TS. Đào Thế Đức
Trường học Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Chuyên ngành Văn hóa đô thị
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 624,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không gian sáng tạo trong đời sống văn hóa đô thị (qua nghiên cứu một số không gian sáng tạo tại Hà Nội).Không gian sáng tạo trong đời sống văn hóa đô thị (qua nghiên cứu một số không gian sáng tạo tại Hà Nội).Không gian sáng tạo trong đời sống văn hóa đô thị (qua nghiên cứu một số không gian sáng tạo tại Hà Nội).Không gian sáng tạo trong đời sống văn hóa đô thị (qua nghiên cứu một số không gian sáng tạo tại Hà Nội).Không gian sáng tạo trong đời sống văn hóa đô thị (qua nghiên cứu một số không gian sáng tạo tại Hà Nội).Không gian sáng tạo trong đời sống văn hóa đô thị (qua nghiên cứu một số không gian sáng tạo tại Hà Nội).Không gian sáng tạo trong đời sống văn hóa đô thị (qua nghiên cứu một số không gian sáng tạo tại Hà Nội).Không gian sáng tạo trong đời sống văn hóa đô thị (qua nghiên cứu một số không gian sáng tạo tại Hà Nội).Không gian sáng tạo trong đời sống văn hóa đô thị (qua nghiên cứu một số không gian sáng tạo tại Hà Nội).

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ HƯƠNG

KHÔNG GIAN SÁNG TẠO TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA ĐÔ THỊ (QUA NGHIÊN CỨU

MỘT SỐ KHÔNG GIAN SÁNG TẠO TẠI HÀ NỘI)

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

HÀ NỘI - 2022

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Bùi Hoài Sơn

2 TS Đào Thế Đức

Phản biện 1: PGS.TS Trần Thị An

Phản biện 2: PGS.TS Vũ Thị Phương Hậu

Phản biện 3: PGS TS Phạm Thị Thu Hương

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại

………

……… Vào hồi …… giờ…… phút, ngày…… tháng…… năm……

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Những năm gần đây, đời sống văn hóa tại Việt Nam nói chung, thủ đô Hà Nội nói riêng chứng kiến sự “bùng nổ”, không khí hứng khởi, sôi động của các KGST Không chỉ ngày càng nhiều về mặt số lượng mà các KGST còn đa dạng trong cách thức tổ chức, phong phú về mô hình hoạt động Từ Zone 9 (phố Trần Thánh Tông) năm 2015 - một trong những KGST ban đầu, ra đời một cách ngẫu hứng, tự phát và tự do, như “một giấc

mơ bùng nổ”, dù tồn tại ngắn ngủi nhưng đã là một sân chơi nghệ thuật đầy thăng hoa và

tạo cảm hứng cho nhiều không gian khác về sau như Hanoi Creative City (phố Lương Yên), Heritage Space (phố Trần Bình), Manzi (phố Phan Huy Ích), Bar 98 (phố Ngô Văn Sở), Ơ kìa Hà Nội (phố Hoàng Hoa Thám), Cà phê thứ Bảy (phố Ngô Quyền), Tổ chim xanh (phố Đặng Dung)… Các KGST vẫn đang hình thành, duy trì và phát triển như những

không gian dành cho nghệ thuật, nơi của tự do sáng tạo, tự do học thuật, nơi kết nối những suy nghĩ, trao đổi xoay quanh các câu chuyện trong xã hội, về giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo… qua đó hình thành nên những cộng đồng chia sẻ với nhau nhiều điểm chung trong sở thích, cá tính, quan điểm, lối sống Nhiều không gian mở ra nhưng cũng nhanh chóng khép lại trong lặng lẽ sau nhiều chật vật, khó khăn xoay xở để tồn tại Nhiều không gian vẫn đang nỗ lực tìm cách duy trì, nhiều KGST được kiến tạo mới đáp ứng nhu cầu của nhiều nhóm người trong đô thị Các KGST có nhiều biến động, thay đổi về số lượng, cách thức hoạt động và chính thực hành văn hóa tại các KGST cũng đang tạo nên nhưng tác động lớn trong đời sống xã hội Sự xuất hiện, duy trì tồn tại và phát triển của các KGST gợi lên nhiều câu hỏi: KGST được kiến tạo nên như thế nào và có ý nghĩa gì với các nhóm chủ thể? Điều gì làm nên sức hấp dẫn, sự lôi cuốn của các KGST? Tại sao

nó lại thu hút được nhiều tầng lớp trong xã hội? Trong bối cảnh nào các KGST xuất hiện

và được nói đến nhiều như vậy, nó phản ánh những động thái nào trong xã hội đương đại?

1.2 Những thảo luận gần đây tại Việt Nam cũng như trên thế giới đã coi KGST như

là một mô hình kinh doanh mới nhằm hướng tới mục tiêu phát triển công nghiệp sáng tạo, thành phố sáng tạo, nơi cung cấp không gian trưng bày và kinh doanh nhằm hỗ trợ cho những người trẻ khởi nghiệp trong lĩnh vực sáng tạo, nơi đáp ứng nhu cầu về không gian giải trí, tạo dựng bản sắc đô thị từ việc cải tạo các không gian cũ trở thành KGST… Đây là những luận điểm được đưa ra để lý giải về sự phát triển mạnh mẽ của các KGST Tuy nhiên, các lí do này dường như chưa thể giải thích hết được nét riêng biệt của các thực hành trong KGST cũng như chủ đích của người kiến tạo nên KGST Từ một khái niệm được Hội đồng Anh tiên phong đưa vào Việt Nam nhằm hỗ trợ và thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp sáng tạo nhưng khi được “nhúng” trong bối cảnh đô thị Việt Nam hiện đại, nó đã được cấp thêm những lớp nghĩa mới Nếu xem KGST như một mô hình kinh doanh với mục tiêu chính là tạo ra lợi nhuận, thúc đẩy sự sáng tạo để phát triển công nghiệp văn hóa thì dường như mới chỉ phản ánh một phần những chiều cạnh ý nghĩa của các KGST Vậy ngoài những ý nghĩa đã được đề cập trên đây, KGST còn có những ý nghĩa nào khác? Thực hành văn hóa tại các không gian đó tại sao lại quan trọng với các nhóm chủ thể? Thông qua những thực hành văn hóa tại các không gian đó các nhóm chủ thể mong muốn thể hiện điều gì và mở rộng ra, nó biểu trưng cho nhu cầu gì của xã hội? Trong luận án này, từ góc nhìn văn hóa, đặt KGST trong bối cảnh đô thị đương đại, tôi

Trang 4

muốn tìm hiểu các thực hành văn hóa trong các KGST cũng như nhìn nhận rõ hơn những động lực sâu xa và chủ đích của việc kiến tạo nên các KGST trong bối cảnh đương đại

Với những lí do đã trình bày ở trên, nghiên cứu sinh (NCS) chọn “Không gian sáng tạo trong đời sống văn hóa đô thị (qua nghiên cứu một số không gian sáng tạo tại Hà Nội)” làm đề tài nghiên cứu cho luận án

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu: Luận án tập trung vào sự phát triển của KGST tại Hà Nội, khám phá các thực hành văn hóa và các chiều kích nghĩa đa dạng của KGST trong bối cảnh đô thị đương đại

- Nhiệm vụ nghiên cứu: 1 Hệ thống các khía cạnh lý thuyết quan trọng trong nghiên cứu về không gian đô thị, KGST; 2 Phân tích, lý giải các yếu tố tác động đến sự hình thành, tồn tại và phát triển của các KGST gắn với bối cảnh đô thị đương đại; 3 Phân tích

các thực hành văn hóa trong hai KGST tại Hà Nội: Giấc mơ nhỏ và Cà phê Văn; 4 Phân

tích ý nghĩa của các thực hành văn hóa trong KGST

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: các thực hành văn hóa tạo nghĩa cho các không gian để trở thành KGST, nói cách khác là cách thức kiến tạo KGST của các nhóm chủ thể Luận án

lựa chọn nghiên cứu trường hợp hai KGST tại Hà Nội: Giấc mơ nhỏ và Cà phê Văn

- Khách thể nghiên cứu: Trong trường hợp hai không gian được nói đến trong luận

án này là những người trẻ tại KGST Giấc mơ nhỏ và các trí thức tại KGST Cà phê Văn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung vào những thực hành văn hóa của các nhóm chủ thể kiến tạo Luận án chú ý tới ý nghĩa của các thực hành trong KGST, đặt các thực hành đó trong mối tương tác với bối cảnh văn hóa, chính trị, kinh tế của đô thị đương đại, xem KGST như là nơi phản ánh những mối bận tâm, trăn trở của con người đối với những vấn đề đang xảy ra trong xã hội

Về thời gian nghiên cứu: luận án được thực hiện từ giữa năm 2017 đến cuối năm

2020

Về không gian nghiên cứu: Các KGST được nói đến trong luận án đều ở Hà Nội

4 Phương pháp nghiên cứu

NCS xác định đây là một nghiên cứu định tính Những phương pháp chính được sử dụng trong luận án bao gồm: Tổng hợp, phân tích các tài liệu thứ cấp; Quan sát tham dự; Phương pháp phỏng vấn sâu; Tư liệu của luận án còn từ những ghi chép về suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân NCS sau mỗi sự kiện với vai trò người tham dự

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Luận án là công trình đầu tiên tìm hiểu những chiều kích văn hóa của các KGST

- Luận án khám phá các thực hành văn hóa và ý nghĩa của các thực hành văn hóa đó với các nhóm chủ thể trong xã hội, những người bằng cách này hay cách khác tham gia kiến tạo nên các KGST

- Luận án cung cấp những luận giải về căn nguyên và động lực của các thực hành văn hóa tại các KGST, từ đó chỉ ra tác động xã hội của các KGST cũng như những thay đổi trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay

Trang 5

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Ý nghĩa lý luận: Thứ nhất, từ việc phân tích thực hành văn hóa tại các KGST, luận

án mở rộng những chiều kích ý nghĩa của KGST, nhìn nhận KGST như là những nơi chốn quan trọng đối với các nhóm chủ thể trong thành phố, góp phần kiến tạo bản sắc nhóm, bản sắc cá nhân, nơi trí thức bày tỏ mối quan tâm với nhiều vấn đề quan trọng của đời sống xã hội, nơi thể hiện những nỗ lực nới rộng biên độ của tự do biểu đạt trong bối cảnh hạn hẹp của các không gian công trong đô thị Thứ hai, luận án đóng góp một quan điểm học thuật về một loại hình không gian đặt trong bối cảnh không gian đô thị đương đại: không gian sáng tạo, bổ sung thêm vào bức tranh nghiên cứu về không gian đô thị vốn đã rất bề bộn và đa dạng tại Việt Nam

- Ý nghĩa thực tiễn: Qua việc nghiên cứu các thực hành văn hóa, ý nghĩa của các thực hành văn hóa trong các KGST đối với các nhóm chủ thể, luận án chỉ ra rằng KGST ngày càng giữ vai trò quan trọng trong đời sống đô thị, phản ánh mong muốn nới rộng biên độ của sự tự do, như một diễn đàn cho các thảo luận mở, là nơi thể hiện nguyện vọng của công dân, nơi thực hiện quyền tham gia của người dân với xã hội KGST như là những không gian xã hội, không gian văn hóa, nơi cùng lúc đảm nhiệm nhiều vai trò đối với đời sống hàng ngày: cung cấp thông tin, nâng cao vốn hiểu biết, mang lại cơ hội thưởng thức

và sáng tạo nghệ thuật, nơi gặp gỡ, trò chuyện kết nối và hơn hết là môi trường lý tưởng cho phép người dân thể hiện những mong muốn, nhu cầu của mình về nhiều vấn đề đang diễn ra trong xã hội Với ý nghĩa đó, luận án là tư liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu văn hóa, những người làm chính sách liên quan đến KGST, các cơ quan quản lý về văn hóa, cũng như chính quyền đô thị

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 4 chương:

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 2: Bối cảnh xã hội tại các đô thị và sự ra đời của các không gian sáng tạo Chương 3: Thực hành văn hóa tại các không gian sáng tạo

Chương 4: Không gian sáng tạo: tự do biểu đạt và kiến tạo bản sắc

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu về không gian đô thị

Các nghiên cứu về không gian đô thị đa phần thường tập trung vào hai chiều cạnh

cơ bản của không gian đô thị: không gian chức năng và không gian xã hội Trong luận án này, để xây dựng cơ sở lý luận cho những phân tích sau về KGST, NCS chỉ lựa chọn tổng quan một số nghiên cứu dưới góc độ tiếp cận thứ hai, coi không gian đô thị như một không gian xã hội

Với lý thuyết kiến tạo không gian xã hội (the social production of space), công trình

kinh điển The production of space (Sự sản xuất không gian) của Henri Lefebvre

(1901-1991) - nhà xã hội học và triết gia người Pháp - được viết năm 1974, bản dịch tiếng Anh năm 1991, đã đóng góp quan trọng cho lý thuyết không gian đô thị, tạo nên một “bước ngoặt về không gian” (the spatial turn), mở ra một mối quan tâm mới về không gian Theo

Trang 6

Lefebvre, không gian không phải là một cấu trúc tĩnh mà là sản phẩm mang tính xã hội do con người tạo ra, được kiến tạo và tái kiến tạo bởi con người, được định hình bởi ý tưởng, niềm tin, giá trị và nguyên tắc, từ sở thích và những mối bận tâm của con người Trong nghiên cứu này, Lefebvre đề xuất khái niệm không gian là sự thống nhất của ba phương diện: phương diện vật lí (physical space), phương diện xã hội (social space) và phương diện tinh thần (mental space) Về sau, những nghiên cứu về không gian ngày càng nhiều Các chiều kích ý nghĩa của không gian dần được mở ra trong mối quan hệ với con người, góp phần giải thích ý nghĩa của nhiều thực hành văn hóa

Trong bối cảnh đô thị tại Việt Nam, sự kiến tạo của các cộng đồng, các nhóm chủ thể văn hóa khác nhau cũng tạo ra những chiều kích không gian khác nhau, phản ánh những động năng của xã hội cũng như nhu cầu, mong muốn và mối quan tâm của con người Nhiều nhất trong số đó là những nghiên cứu về không gian công cộng (KGCC) Khái niệm KGCC được đề cập và nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau: kiến trúc, quy hoạch và quản lý đô thị; xã hội học; văn hóa học; nhân học… Các nghiên cứu đều thừa nhận những đóng góp tích cực của các KGCC cho đời sống thành phố, sự đa dạng của các loại hình KGCC cũng như ý nghĩa của nó đối với từng nhóm người cụ thể, quan tâm đến kích thước KGCC qua việc tìm hiểu sự “co giãn”, nới rộng hay thu hẹp các không gian, chiến lược riêng hóa KGCC phục vụ cho mục đích cá nhân…

Trong những thảo luận về đời sống đô thị hàng ngày và những chuyển đổi chính trị - kinh tế - xã hội được phản ánh lên các không gian đô thị, có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những cách thức tạo dựng không gian của các nhóm chủ thể đa dạng, có thể kể đến các

công trình như Youth-friendly public spaces in Hanoi (Không gian công cộng cho giới trẻ

ở Hà Nội) năm 2015, Youth-Driven Tactics of Public Space Appropriation in Hanoi: The Case of Skateboarding and Parkour (Chiến thuật chiếm đoạt không gian công cộng của thanh niên tại Hà Nội: trường hợp trượt ván và parkour) của Stephanie Geertman, Danielle

Labbé, Julie-Anne Boudreau và Olivier Jacques đã làm sáng tỏ cách thức mà người trẻ gắn bó với thành phố, tìm cách tiếp cận không gian cho các hoạt động giải trí, thể thao, gặp gỡ bạn bè hay cho những thực hành mới như trượt ván, parkour… Để có thể “chiếm đoạt” các KGCC, thanh niên đô thị đã áp dụng các chiến thuật quy mô nhỏ, phi ý thức hệ và không đối đầu, đối diện với rất nhiều nguyên tắc của các bên khác nhau, từ chính sách quản lý không gian của nhà

nước, các tổ chức doanh nghiệp và cả người dân… Nghiên cứu Vỉa hè Hà Nội - không gian

đa chiều tương tác của Nguyễn Thị Phương Châm - Hoàng Cầm (2021) tập trung vào

không gian vỉa hè, khám phá những những lớp nghĩa bề bộn mà không gian vỉa hè chuyên chở

Không gian vỉa hè tại đô thị nói chung, tại Hà Nội nói riêng hiện lên qua rất nhiều nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, dưới lăng kính của các khái niệm “không gian công” (public space), “không gian tư” (private spacce) là một biến thể KGCC thú vị, sinh động, chồng chất những tầng lớp ý nghĩa mà đời sống của người dân đô thị đã tạo nên Có

thể kể đến các nghiên cứu tiêu biểu như: Street scences: practices of public and private in urban Vietnam (Cảnh quan đường phố: những thực hành trong không gian công và không gian tư tại đô thị Việt Nam) của Lisa Drummond (2000), Wards of Hanoi (Phố phường Hà Nội) của David Koh (2006), The pavement as civic space: history and dynamics in the city

of Hanoi (Vỉa hè như là không gian công: lịch sử và sự năng động ở thành phố Hà Nội)

của David Koh (2007)… Các thảo luận này tập trung vào việc làm mờ đi sự khác biệt giữa

“không gian công” và “không gian tư” trong bối cảnh đô thị Việt Nam nơi mà thường

Trang 7

xuyên diễn ra hiện tượng các hoạt động mang tính riêng tư thì được diễn ra nơi công cộng, tràn ra nơi công cộng (inside out) trong khi các không gian riêng tư lại chịu sự can thiệp từ bên ngoài, từ nhà nước (outside in) (Lisa Drummond, 2000) Theo các tác giả, tại Việt Nam, không có sự phân biệt rạch ròi giữa “không gian công” và “không gian tư” như truyền thống xã hội phương Tây Các khái niệm mang tính học thuật của phương Tây, khi

áp dụng vào Việt Nam cần được tính đến bối cảnh xã hội đặc thù, và do vậy cũng cần được hiểu một cách linh hoạt

Nghiên cứu Redefiding public space in Hanoi: places, practices and meaning (Định nghĩa lại không gian công cộng ở Hà Nội: địa điểm, thực hành và ý nghĩa) của Sandra

Kurfürst (2011) tập trung vào những thay đổi trong mối quan hệ quyền lực giữa nhà nước

và xã hội được phản ánh qua sự phát triển của các KGCC ở Hà Nội Từ góc tiếp cận xã hội

học, Lâm Thị Ánh Quyên (2011) coi KGCC là đặc điểm chính của không gian đô thị, nơi

biểu lộ bộ mặt đô thị cũng như bản sắc đô thị, làm nên những “thành phố sống tốt” (chữ

dùng của Douglas, 2008) KGCC được định nghĩa qua khả năng tiếp cận và sử dụng của người dân Tác giả cho rằng KGCC có mối quan hệ với “công cộng” (pulic sphere) theo

nghĩa là “công cộng đòi hỏi phải có một không gian vật lý Không gian này được gọi là không gian công cộng”

Các nghiên cứu Không gian bán công cộng và sự hình thành dư luận xã hội của Nguyễn Quý Thanh, Trịnh Ngọc Hà (2009); luận án Tin đồn và sự hình thành tin đồn trong không gian bán công cộng (nghiên cứu trường hợp quán cà phê trên địa bàn Hà Nội) của Lữ Thị Mai Oanh (2019) lại xem xét một dạng đặc thù của KGCC là các không

gian bán công cộng, xem đó như là một nơi để hình thành dư luận xã hội

Qua điểm luận một số công trình, có thể thấy các nghiên cứu đã chỉ ra sự quan trọng theo những cách khác nhau của KGCC đối với các nhóm chủ thể trong không gian đô thị KGCC giữ những vai trò khác nhau gắn với mục đích kiến tạo: khi là không gian cho các hoạt động giải trí hay tương tác xã hội, khi là không gian duy trì tính hợp pháp của quyền lực chính trị, khi là không gian tranh chấp và thương thỏa, khi là không gian để hình thành nên dư luận xã hội…

1.1.2 Nghiên cứu về không gian sáng tạo

Không gian sáng tạo từ góc nhìn của ngành công nghiệp sáng tạo

Rất nhiều báo cáo cho thấy sự quan tâm nghiên cứu, tổng kết của các quốc gia về KGST, vai trò của các ngành công nghiệp sáng tạo đối với tăng trưởng kinh tế, gắn kết

cộng đồng và an sinh xã hội: Needs analysis on culture and creative hubs in Asia and Europe (Phân tích nhu cầu về tổ hợp không gian văn hóa và sáng tạo ở châu Á và châu Âu) năm 2005, Cultural and creative hubs network Asia-Europe: a project for kick - starting a new network between Asia and Europe (Mạng lưới không gian văn hóa sáng tạo

Á - Âu: một dự án để khởi động một mạng lưới mới giữa châu Á và châu Âu) năm 2015 của Cultural and creative hubs network Asia - Europe (Mạng lưới không gian văn hóa

sáng tạo Á - Âu), Creative hubs: understanding the new economy (Không gian sáng tạo: hiểu biết về nền kinh tế mới) của British Council,… và hàng loạt các nghiên cứu vẽ bản đồ

KGST tại nhiều quốc gia trên thế giới KGST trở thành mối quan tâm có tính toàn cầu, kết nối các nền kinh tế sáng tạo, công nghiệp sáng tạo, công nghiệp văn hóa

Trong việc tìm hiểu, nghiên cứu về KGST tại Việt Nam, Hội đồng Anh - tổ chức văn hóa và giáo dục quốc tế của Vương quốc Anh đã có nhiều đóng góp quan trọng, mang tính tiên phong nhằm hướng tới mục tiêu hỗ trợ Việt Nam phát triển nền kinh tế sáng tạo

Trang 8

Từ dự án Kinh tế sáng tạo năm 2008 cho đến nay, Hội đồng Anh đã có nhiều hoạt động trên nhiều phương diện: từ việc vận động chính sách trong những năm 2014-2016 thông

qua hỗ trợ tư vấn cho công tác soạn thảo Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đến tổ chức thực hiện và công bố những

nghiên cứu độc lập về KGST, tập huấn nhằm nâng cao năng lực cho các KGST hay tổ chức các cuộc hội thảo nhằm kết nối, mở rộng sự hiểu biết về các KGST

Trong chuỗi hoạt động thuộc lĩnh vực nghệ thuật và công nghiệp sáng tạo, năm

2014, Hội đồng Anh tại Việt Nam cho ra mắt Báo cáo về các không gian sáng tạo tại Việt Nam được thực hiện bởi nhà báo Trương Uyên Ly Thuật ngữ KGST sử dụng trong báo

cáo được dịch từ “creative hub” (không gian sáng tạo/ tổ hợp không gian sáng tạo) với nghĩa là sự liên kết các nhà doanh nghiệp năng động tại một không gian cụ thể để cùng thử nghiệm những dự án hay ý tưởng kinh doanh mới, cùng kết nối để tìm cơ hội đầu tư và hỗ trợ Các nghiên cứu độc lập của Hội đồng Anh tại Việt Nam cũng đã làm rõ những vấn đề

khác nhau về KGST, có thể kể đến như Nghiên cứu ban đầu về các không gian sáng tạo tại Việt Nam, Nghiên cứu về chính sách và các không gian sáng tạo Việt Nam, Báo cáo về các không gian sáng tạo tại Việt Nam Các nghiên cứu cho thấy sự phát triển mạnh mẽ, đa

dạng hơn về lĩnh vực và lan rộng về địa lý của các KGST (từ 40 KGST trong báo cáo năm

2014 đến 140 KGST - báo cáo năm 2018) như dấu hiệu chỉ báo sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế sáng tạo tại Việt Nam Định nghĩa về KGST trong các nghiên cứu độc lập này dựa trên các từ khóa như “kết nối”, “sáng tạo”, “định hướng kinh doanh” Các nghiên cứu đề cập đến tác động xã hội của các KGST trên nhiều phương diện: kết nối, tương trợ các doanh nghiệp, hỗ trợ cho thuê mặt bằng, hỗ trợ không gian cho nghệ sĩ trẻ trong việc trưng bày, truyền thông và kinh doanh các tác phẩm nghệ thuật của mình hay là không gian giải trí, đưa nghệ thuật đến gần cộng đồng

Không gian sáng tạo - từ góc nhìn nghệ thuật

Từ góc nhìn của những người nghiên cứu nghệ thuật, nhiều tác giả trong, ngoài nước đã đề cập đến một số KGST tại Việt Nam và xem đây là không gian của nghệ thuật, dành cho nghệ thuật Có thể kể đến những nghiên cứu quan trọng tiếp cận từ góc nhìn này

như: Vietnamese Anti-Art and Anti-Vietnamese Artists: Experimental Performance Culture

in Hanoi’s Alternative Exhibition Spaces (Phản-nghệ thuật của Việt Nam và các nghệ sĩ

phản-Việt Nam: văn hóa trình diễn thể nghiệm tại các không gian triển lãm phá cách của

Hà Nội) của Nora Taylor (2007), Vietnam comes of age, a new arts complex in Hanoi reveals a generational shift của Elisabeth Rosen (2013), Nguyễn Như Huy (2013) với

chuỗi bài viết và phỏng vấn trên báo Thể thao và Văn hóa

Như vậy, KGST đã được nghiên cứu từ những góc nhìn khác nhau ở cả các nghiên cứu trong nước và trên thế giới, trong đó chủ yếu tập trung vào vai trò của KGST với công nghiệp sáng tạo, công nghiệp văn hóa, với sự phát triển của nghệ thuật đương đại Tuy nhiên, các lý do này dường như chưa thể giải thích hết những nét riêng biệt của các thực hành tại các KGST cũng như lý do của người kiến tạo và người sử dụng KGST trong bối cảnh đô thị Việt Nam đương đại KGST là khái niệm được chuyển ngữ từ một thuật ngữ nước ngoài (creative hub) nhưng khi được sử dụng, được nói đến ở đây lại mở ra nhiều chiều kích ý nghĩa khác nhau gắn với những động năng riêng có của đô thị Việt Nam Đặt trong bối cảnh không gian đô thị, nghiên cứu về KGST - nơi diễn ra những trao đổi, thảo

luận tự do, cởi mở, nơi thực hành các giá trị dân chủ, vì vậy sẽ góp phần nhìn nhận một

Trang 9

dạng thức không gian của đô thị, qua đó phản ánh những thay đổi năng động của bối cảnh

đô thị Việt Nam

1.2 Cơ sở lí luận

1.2.1 Một số khái niệm

Không gian sáng tạo

Trong luận án này, KGST được hiểu là những kiến tạo xã hội thông qua các thực hành văn hóa, kết nối các cá nhân cùng mối quan tâm, đáp ứng nhu cầu đa dạng của các nhóm xã hội, tác động lên đời sống văn hóa đô thị theo nhiều cách khác nhau KGST là những không gian đa dạng, linh hoạt, thay đổi và thích ứng KGST có thể là một địa điểm

cụ thể cho hoạt động sáng tác, biểu diễn nghệ thuật, là không gian trưng bày, triển lãm các tác phẩm, là nơi cho thưởng thức nghệ thuật với nhiều loại hình đa dạng như âm nhạc, phim ảnh, hội họa, văn chương… KGST cũng có thể trở thành nơi diễn ra các workshop, các buổi tọa đàm, chia sẻ, thảo luận về nhiều vấn đề của đời sống xã hội Nhưng không chỉ

là những địa điểm, được đánh dấu bởi một vị trí địa lý cụ thể trên bản đồ, KGST còn là những nơi chốn có sức hấp dẫn riêng bởi nó đáp ứng được nhu cầu riêng của các nhóm xã hội mà các nơi khác không đáp ứng được KGST được tạo nên nhằm khơi dậy sự sáng tạo, mang đến không khí cởi mở, thúc đẩy tự do biểu đạt

Đời sống văn hóa đô thị

Có thể hiểu đời sống văn hóa đô thị được hình thành, phát triển trong quá trình hoạt động và tương tác xã hội của người dân đô thị trong bối cảnh đô thị Nó bao gồm toàn bộ các thực hành văn hóa của con người trong không gian đô thị, thỏa mãn nhu cầu văn hóa cho người dân, và các thực hành văn hóa đó, trong chiều ngược lại, có tác động mạnh mẽ đến chính các chủ thể thực hành, góp phần hình thành suy nghĩ, quan điểm, tính cách của con người và rộng ra là tác động đến xã hội

Khu vực công

Habermas là một trong những nhà xã hội học và triết học đương đại của Đức và không gian công là một chủ đề nghiên cứu quan trọng với ông Quan niệm về khu vực

công được trình bày trong tác phẩm The Structural Transformation of the Public Sphere

(Sự chuyển đổi cấu trúc của khu vực công) năm 1960 Khu vực công, theo ông là những nơi tạo cơ hội cho những thảo luận cởi mở giữa các công dân, mang tính lý tính để hình thành nên dư luận xã hội Khu vực công mang tính mở, là nơi những nhóm người tự nguyện tập hợp lại cùng nhau để cùng thực hiện những thảo luận tự do Habermas quan tâm đến khu vực công vì ông xem đó là nền tảng, nguồn gốc nuôi dưỡng, duy trì dân chủ, tính bình đẳng Khu vực công là điều kiện cần thiết cho nền dân chủ, nơi thông qua những cuộc thảo luận để hình thành nên quan điểm, nơi thể hiện nguyện vọng, mong muốn của công dân

Không gian công cộng

Trong luận án này, không gian công cộng được hiểu là các địa điểm cụ thể, nơi công chúng tự tổ chức nhiều hoạt động thảo luận, trao đổi, bàn bạc về nhiều vấn đề trong xã hội, nơi mở ngỏ cơ hội tiếp cận cho tất cả mọi người, nơi cho các biểu đạt dân chủ và tự do

1.2.2 Lý thuyết khu vực công của Habermas

Trong luận án này, NCS sử dụng khái niệm lý thuyết “public sphere” (khu vực công hay lĩnh vực công) của Habermas để tìm hiểu sự tạo tác, hình thành của các KGST cũng như xem xét, nhìn nhận ý nghĩa của KGST như một sự biểu hiện đặc thù của “khu vực công” trong bối cảnh đô thị Việt Nam

Trang 10

Khu vực công, theo Habermas có những đặc điểm như: 1 Mang tính công cộng, nơi mọi công dân được quyền tiếp cận, được tham gia bày tỏ ý kiến, tranh luận về các vấn

đề mà mình quan tâm 2 Nội dung thảo luận là những vấn đề thuộc lĩnh vực công với phạm vi không giới hạn 3 Mang tính phê phán, nơi họ có thể phản biện và kiểm soát, nơi diễn ra sự đồng thuận hoặc xung đột, có thể hình thành nên các quan điểm chung, các ý kiến chung Habermas coi khu vực công như là lĩnh vực trung gian giữa xã hội và nhà nước, do công chúng tự tổ chức và tuân thủ theo nguyên tắc của lĩnh vực công

Khái niệm lý thuyết của Habermas về khu vực công cung cấp một lăng kính phân tích hữu ích để lý giải những chiều cạnh ý nghĩa của KGST Nếu như nghiên cứu của (Lisa Drummond, 2000) từng chỉ ra rằng ở Việt Nam được cho là có rất ít bằng chứng về truyền thống của một khu vực công cũng như không gian công - nơi biểu hiện của khu vực công, thiếu truyền thống về một lĩnh vực thảo luận công khai do những can thiệp từ phía nhà nước thì những thực hành trong các KGST lại cho thấy sự mở rộng các thực hành dân chủ, tạo ra những không gian tự do biểu đạt, tự do thảo luận, trao đổi về nhiều vấn đề trong xã hội Có thể những thực hành trong các KGST chưa hoàn toàn phản ánh được những đặc trưng của “khu vực công” như Habermas đã đề cập nhưng đó chính là những nỗ lực để nới rộng biên độ của sự tự do, tạo ra không gian cho những biểu đạt đa dạng trong bối cảnh đô thị đương đại

Tiểu kết chương 1

CHƯƠNG 2 BỐI CẢNH XÃ HỘI TẠI ĐÔ THỊ VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA CÁC

KHÔNG GIAN SÁNG TẠO 2.1 Đô thị Hà Nội - môi trường dung dưỡng các không gian sáng tạo

Hà Nội là môi trường giàu có về văn hóa, nghệ thuật, một nơi chốn sinh động với đời sống giải trí rộn ràng, nơi đón nhận nhiều luồng tư tưởng, nhiều trào lưu văn hóa mới

Đô thị này từng có nhiều không gian văn hóa, nơi lưu giữ và duy trì những thói quen của trí thức, văn nghệ sĩ, nơi gặp gỡ, giao du theo lối salon văn hóa, gắn với nhu cầu chia sẻ, trao đổi, bàn bạc, khơi mở ý tưởng sáng tạo Từ thời thuộc địa, đô thị bắt đầu chứng kiến nhiều nề nếp sinh hoạt mới, nhiều nơi chốn mới mang đặc trưng của lối sống đô thị như đường phố, công viên, rạp hát, rạp chiếu phim, hiệu sách, quán cà phê âm nhạc… Lùi xa hơn về giai đoạn Hà Nội những năm đầu thế kỉ XX, cũng đã có nhiều hội quán được lập

ra, có thể kể đến Hội Khai trí tiến đức được thành lập vào tháng 2/1919 với nhiều hoạt động như tổ chức diễn thuyết về văn hóa, lịch sử, nơi bình văn, nói chuyện… Như vậy, KGST dù mới được nói đến nhiều những năm gần đây nhưng không hẳn là hiện tượng hoàn toàn mới mà đã có những kết nối nhất định với quá khứ, từng tồn tại kiểu không gian như vậy trong đời sống văn hóa đô thị trước đây

2.2 Những thay đổi của xã hội Việt Nam sau Đổi Mới

Từ sau chính sách Đổi Mới năm 1986 với quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường, tốc độ hội nhập của Việt Nam với thế giới bên ngoài diễn ra nhanh chóng, sâu rộng Cũng từ mốc khởi điểm này, cho đến nay, Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng đã chứng kiến nhiều biến đổi sâu sắc trong đời sống văn hóa xã hội Bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội bề bộn của đô thị được xem chính là những điều

Trang 11

kiện vô cùng quan trọng cho sự ra đời của các KGST, đồng thời cũng là “chất liệu” cho nhiều cuộc thảo luận tại các KGST sau này

Quá trình tự do hóa kinh tế với việc giảm bớt các quy định, hạn chế của chính phủ

và đổi lấy sự tham gia nhiều hơn của các thành phần tư nhân đã góp phần đưa đất nước hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, mang lại sự thịnh vượng kinh tế trong 35 năm qua Chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã đem đến những tác động tích cực như xóa đói giảm nghèo, tạo ra công ăn việc làm, ổn định xã hội, các sức ép về các vấn đề xã hội cũng được giảm thiểu đáng kể Quá trình này cũng đặt ra những yêu cầu về hệ thống luật pháp cũng như sự vận hành của các cơ quan nhà nước khi đòi hỏi trách nhiệm giải trình, tính trách nhiệm, sự hoàn thiện hệ thống luật phát, cùng với cải cách cơ chế, thủ tục hành chính… Tuy nhiên, nhiều bất cập và tồn tại cũng đã lộ ra như lợi ích nhóm trong hệ thống chính trị, tham nhũng, lãng phí, thiếu công khai minh bạch, lạm dụng quyền lực để thu lợi… Đây cũng chính là những chủ đề được nói đến nhiều trong các câu chuyện ở vỉa hè, các không gian công cộng

Quá trình dân chủ hóa diễn ra đa chiều, ở phạm vi rộng rãi, trên nhiều lĩnh vực của đời sống đem đến những thay đổi sâu sắc nhất là dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa Trong bối cảnh internet và mạng xã hội là công cụ đầy quyền năng để phổ biến, lan truyền thông tin, mọi người dân có thể dễ dàng tiếp cận được với các chính sách, quy định cũng như việc thực thi các chính sách của nhà nước, của các cơ quan công quyền Cộng với những hiểu biết và kiến thức nền tảng được thu nhận từ nhiều nguồn khác nhau, nhiều người đã cất tiếng bình luận, phản biện, đóng góp cho việc thực hiện các chính sách đó Nhiều không gian trở thành những diễn đàn cho chia sẻ, đối thoại, nơi người dân được tham gia, bày tỏ, thể hiện quan điểm của mình đối với các chính sách và thực thi chính sách xoay quanh các vấn đề như môi trường, giáo dục, kinh tế, tự do ngôn luận, nghệ thuật

… Thêm vào đó, cũng sau chính sách Đổi Mới, các không gian công dân đã được hình thành, mở rộng, xuất hiện nhiều hội nhóm trong xã hội nhất là từ sau những năm 1990, trong bối cảnh Việt Nam gia nhập cộng đồng quốc tế

Quá trình toàn cầu hóa như tác động đến nhiều phương diện trong xã hội, đặc biệt là đời sống văn hóa Nhiều giá trị văn hóa mới mẻ nhờ toàn cầu hóa mà du nhập mạnh mẽ vào Việt Nam, làm thay đổi các thực hành văn hóa, thay đổi các mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội (Phạm Quỳnh Phương, 2020), làm xuất hiện nhiều hiện tượng văn hóa mới

Từ đầu những năm thập niên 2000 đánh dấu một bước phát triển mới của ngành công nghiệp xuất bản Việt Nam với sự ra đời của nhiều nhà xuất bản mới (nhà xuất bản Nhã Nam, Tri thức…), nhiều quỹ hỗ trợ hoạt động dịch thuật (quỹ dịch thuật Phan Châu Trinh, hoạt động dịch thuật cũng được hỗ trợ bởi các trung tâm văn hóa nước ngoài tại

Trang 12

Việt Nam như Trung tâm Văn hóa Pháp, Viện Goethe…) Đặc biệt, những nỗ lực dịch, chú giải, hiệu đính, thẩm định, xây dựng đội ngũ dịch giả đối với loại sách kinh điển, giới thiệu nhiều tư tưởng trên thế giới đã tạo nên môi trường dung dưỡng sự sáng tạo, khơi lên những tư tưởng nhân văn, ý thức về tự do, dân chủ, nhân quyền

2.4 Vai trò của các trung tâm văn hóa nước ngoài tại Việt Nam

Trung tâm văn hóa nước ngoài giống như những cửa ngõ để người dân thủ đô tiếp xúc với văn hóa thế giới và văn hóa thế giới theo đó cũng được giới thiệu ngày một nhiều hơn ở Việt Nam Có thể kể đến Trung tâm Văn hóa Pháp L’Espace (1991), Hội đồng Anh tại Việt Nam (1993), Viện Goethe Hà Nội (1997) Đây là những không gian tích hợp đa chức năng, vừa là thư viện, vừa là trường học, là nơi tổ chức các buổi hội thảo, giới thiệu sách, các chương trình nghệ thuật, không gian dành cho triển lãm Tại đây, các xu hướng mới, tri thức mới được cập nhật, giới thiệu tới công chúng thủ đô Trong một thời gian dài, trong con mắt của người dân thủ đô, đó là những trung tâm văn hóa cập nhật, mới mẻ và đặc biệt là tiên phong trong bối cảnh văn hóa xã hội đương đại Việt Nam

2.5 Sự xuất hiện của internet, mạng xã hội và bối cảnh toàn cầu hóa

Cùng với việc tạo ra những bước tiến mạnh mẽ trong nhiều lĩnh vực của đời sống, internet đã trở thành công cụ để kết nối, chia sẻ, hình thành nên những cộng đồng trên mạng (Nguyễn Thị Phương Châm, 2013) và sau đó là gặp gỡ thực trong các KGST Những “cộng đồng tưởng tượng” chia sẻ cùng nhau những mối bận tâm, tương tác, tìm kiếm sự đồng cảm, đồng quan điểm, đồng ý hướng Internet cũng cung cấp các hình thức

tổ chức mới khi các nhóm (group) được thành lập, nối dài những thảo luận còn dang dở tại không gian thực Với mạng xã hội, sự hữu hạn cả về không gian lẫn thời gian được phá vỡ, tạo ra những liên kết và tương tác bất tận Internet và mạng xã hội làm gia tăng về lượng

và đa dạng về nguồn tiếp cận thông tin cho người dân đô thị, mang lại cơ hội được tiếp cận một cách đầy đủ, đa chiều và cập nhật về những vấn đề quan trọng của xã hội

Tiểu kết chương 2

CHƯƠNG 3 THỰC HÀNH VĂN HÓA TẠI CÁC KHÔNG GIAN SÁNG TẠO

3.1 Người trẻ và những thực hành văn hóa đa dạng trong KGST Giấc mơ nhỏ

3.1.1 Không gian kết nối những người đọc độc lập

KGST Giấc mơ nhỏ có những ưu tiên nhất định cho việc đọc và như tổ chức sự kiện

của các câu lạc bộ đọc sách, thảo luận, trò chuyện xoay quanh một cuốn sách, một chủ đề, chia sẻ về trải nghiệm đọc, trao đổi sách, gặp gỡ những người có cùng sở thích đọc và

viết Cũng vì thế, trong KGST này, sách vở giữ vai trò đặc biệt quan trọng KGST Giấc

mơ nhỏ cũng làm nhiệm vụ kết nối những bạn trẻ có niềm say mê với việc đọc sách và viết

lách Ngoài tương tác trên mạng xã hội, nhiều buổi gặp mặt các thành viên trong nhóm cũng được Minh với tư cách là quản trị viên trang facebook của nhóm tổ chức để các thành viên có dịp ngồi lại cùng nhau, làm quen thành viên mới, cùng trò chuyện về sách

vở

3.1.2 Thảo luận tự do về các chủ đề

Cũng vẫn liên quan đến việc đọc và kết nối, Giấc mơ nhỏ còn là nơi nhiều nhóm

bạn trẻ tổ chức các buổi sinh hoạt tri thức, thảo luận, chia sẻ về một chủ đề đã bàn trước

Trang 13

Trong suy nghĩ của những người tạo ra những không gian này thường xem đây như là một diễn đàn xây dựng trên tinh thần “đến để nói, đến là phải nói” Nội dung có thể không phải

là chủ đề phổ biến của đời sống thường ngày mà là một vấn đề mang tính học thuật, có phần khó hiểu nhưng được soi chiếu, liên tưởng dưới lăng kính kiến thức nền tảng cũng như kinh nghiệm của nhiều lĩnh vực khác nhau Những ý kiến phản biện, kể cả là trái chiều, không bị phán xét và đều được ghi nhận Câu chuyện có khi “lan man” sang rất nhiều thứ khác, gợi nhớ đến tác giả này, luận điểm của tác giả khác Mạch thảo luận cứ mở rộng ra, dẫn dắt người tham dự từ ý tưởng này sang đến suy nghĩ khác, từ quan điểm này

sang nhiều quan điểm khác Việc nhóm người trẻ chọn KGST Giấc mơ nhỏ cho những

trao đổi, thảo luận này là bởi tinh thần cởi mở, tự do mà không gian này tạo ra được, khác với nhiều địa điểm khác, đáp ứng được mong muốn có một diễn đàn cho những ý kiến,

quan điểm, suy nghĩ của người trẻ

3.1.3 Chiếu phim, xem phim và thảo luận

Bên cạnh việc tạo ra không gian cho những người đọc độc lập, âm nhạc, phim ảnh cũng là những hình thức kết nối hiệu quả để nuôi dưỡng những “tâm hồn Mozart” Tại

Giấc mơ nhỏ, cố định tối thứ ba hàng tuần là không gian cho phim ảnh Các buổi chiếu phim tại Giấc mơ nhỏ có cách thức tổ chức khá giống với Cà phê Văn và nhiều KGST

khác khi cùng chia sẻ với nhau công thức: chiếu phim - xem phim - thảo luận Các buổi chiếu hoàn toàn miễn phí, người đến tham dự ủng hộ chi phí hoạt động bằng cách trả phí

đồ uống Cách thức tiến hành một buổi chiếu (trước và trong buổi chiếu) thường được tổ chức qua bốn bước: 1 Giới thiệu về sự kiện trên facebook, 2 Giới thiệu trước khi chiếu phim; 3 Khán giả xem phim trước màn hình máy chiếu nhỏ; 4 Thảo luận sau khi xem phim dưới sự điều phối của một người dẫn dắt

Phim được chọn chiếu tại Giấc mơ nhỏ thường đã được lên ý tưởng và kế hoạch

trước, theo chủ đề Các phim được chọn chiếu đều là phim giàu tính nghệ thuật với nghĩa

là có sức khơi gợi lên những cuộc sống khác trong người thưởng thức Mỗi bộ phim được quan niệm như là một thế giới mới được dựng nên, qua đó chất vấn về tính nhân bản, nhân văn tồn tại trong mỗi con người Những phân tích mổ xẻ từ nhiều góc nhìn về con người nào, xã hội nào được phản ánh trong phim, những phân tích mang tính học thuật, hàn lâm hay đơn thuần là cảm nhận thô phác nhất, đều chỉ hướng tới việc hiểu Sự hiện diện của phim ảnh vì thế có thể xem như một phương tiện giúp các cá nhân trở nên sâu sắc hơn trong những nỗ lực hiểu mình, hiểu người và hiểu thế giới

3.1.4 Thảo luận về các vấn đề của môi trường và trách nhiệm xã hội

Ở Giấc mơ nhỏ còn kết nối và hình thành một cộng đồng nhỏ quan tâm nhiều đến

môi trường và trách nhiệm với xã hội Tại đây có góc tiêu dùng bền vững giới thiệu sản phẩm thân thiện với môi trường như ống hút tre, ống hút inox, thìa, dĩa gỗ, túi vải, bình đựng nước, xà phòng handmade từ nguyên liệu tự nhiên, xơ mướp để cọ rửa… Khi phục

vụ khách tham dự, từ lâu KGST này đã không dùng cốc nhựa, cốc giấy, sử dụng ống hút

inox thay vì ống hút nhựa dùng một lần Minh – người sáng lập Giấc mơ nhỏ cũng tạo ra Góc tiêu dùng bền vững với mong muốn tạo ra không gian đối thoại và chia sẻ về lựa chọn

hướng tới lối sống bền vững trong cộng đồng

Ngày đăng: 16/12/2022, 22:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w