Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp. Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp. Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp. Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp. Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp. Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp. Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp. Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp. Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp. Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH
-
PHẠM QUANG ĐỨC
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
BẮC NINH – 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAOBẮC NINH
-
PHẠM QUANG ĐỨC
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
2 TS Lý Đức Trường
BẮC NINH – 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận án
Phạm Quang Đức
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Danh mục các từ viết tắt BGD-ĐT : Bộ Giáo dục và Đào tạo CLB : Câu lạc bộ
GV : Giảng viên
GP : Giải pháp KT-KTCN : Kinh tế - Kỹ thuật công nghiệp
Danh mục ký tự và đơn vị đo lường
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các đơn vị đo lường
1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác Giáo dục thể
chất trong các trường đại học, cao đẳng
7
1.3 Khái quát về công tác Giáo dục thể chất trong các trường cao
đẳng, đại học
17
1.4 Yếu tố ảnh hưởng đến công tác giáo dục thể chất trong các
trường cao đẳng, đại học
32
1.5 Khái quát về Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật công nghiệp 41 1.6 Một số công trình nghiên cứu có liên quan 42
2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 50
Trang 62.1.5 Phương pháp phân tích dữ liệu theo mô hình SWOT 55
3.1 Nghiên cứu thực trạng công tác Giáo dục thể chất của
Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp
60
3.1.1 Thực trạng hiệu quả công tác Giáo dục thể chất cho sinh
viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp
60
3.1.2 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới công tác Giáo dục thể
chất của Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp
67
3.1.3 Thực trạng sử dụng giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
Giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật
Công nghiệp
88
3.1.4 Kết quả phân tích SWOT đánh giá thực trạng công tác
Giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật
3.2.1 Cơ sở khoa học lựa chọn giải pháp nâng cao hiệu quả công
tác Giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật
công nghiệp
100
3.2.2 Lựa chọn giải pháp nâng cao hiệu quả công tác Giáo dục
thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật công nghiệp
103
3.2.3 Xây dựng nội dung các giải pháp nâng cao hiệu quả công
tác Giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật
công nghiệp
110
Trang 72.3.4 Bàn luận kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 2 124 3.3 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả giải pháp nâng cao hiệu
quả công tác Giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh
tế - Kỹ thuật công nghiệp
130
3.3.1 Tổ chức thực nghiệm ứng dụng giải pháp nâng cao hiệu
quả công tác Giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế -
Kỹ thuật công nghiệp
130
3.3.2 Đánh giá hiệu quả thực nghiệm ứng dụng giải pháp nâng
cao hiệu quả công tác Giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học
Kinh tế - Kỹ thuật công nghiệp
Trang 8DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ Thể
loại
Số
3.1 Lựa chọn tiêu chí đánh giá hiệu quả giáo dục thể chất
cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp (n=31)
61
3.2 Thực trạng kết quả học tập môn học giáo dục thể chất
của sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật công nghiệp (n=1200)
62
3.3 Thực trạng trình độ thể lực của sinh viên Trường Đại
học Kinh tế - Kỹ thuật công nghiệp theo từng năm học (n=1600)
63
3.4 So sánh kết quả phân loại thể lực của sinh viên Trường
Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp theo từng năm học (n=1600)
65
3.5 Thực trạng kết quả hoạt động phong trào thể dục thể
thao ngoại khóa của sinh viên Trường Đại học Kinh tế -
Kỹ thuật Công nghiệp (n=1600)
66
3.6 Kết quả phỏng vấn xác định các yếu tố chính ảnh hưởng
tới công tác giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp (n=32)
69
3.7 Kết quả khảo sát nhận thức về vai trò và tác dụng của
công tác giáo dục thể chất
72
3.8 Thực trạng hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo
dục thể chất tại Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp (n=77)
74
3.9 Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học giáo dục thể
chất nội khóa tại Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp (n=28)
75
3.10 Thực trạng sử dụng các phương tiện dạy học Giáo dục
thể chất nội khóa tại Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp (n=28)
77
Trang 93.12 Thực trạng nhu cầu hoạt động thể dục thể thao ngoại
khóa của sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật công nghiệp (n=1600)
80
3.13 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ công tác giáo dục thể
chất tại Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp
82
3.14 Thực trạng đội ngũ giảng viên giáo dục thể chất tại
Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp (n=28)
83
3.15 Thực trạng chương trình môn học giáo dục thể chất nội
khóa cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp
83
g 3.16 Thực trạng nội dung tập luyện Thể dục thể thao ngoại
khóa của sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp
85
3.17 Thực trạng hình thức tập luyện thể dục thể thao ngoại
khóa của sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp (n=874)
3.19 Kết quả phân tích SWOT đánh giá thực trạng công tác
Giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế
- Kỹ thuật Công nghiệp
90
3.20 Kết quả phỏng vấn lựa chọn giải pháp nâng cao hiệu
quả giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp (n=33)
105
3.21 Kết quả kiểm định mức độ tin cậy của các giải pháp nâng 107
Trang 10Thể
loại
Số
cao hiệu quả giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp
3.22 Kết quả phân tích nhân tố khám phá (KMO and Bartlett's
Test) các nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp
108
3.23 Kết quả phân tích nhân tố giải pháp nâng cao hiệu quả
giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế
- Kỹ thuật Công nghiệp
109
3.24 So sánh trình độ thể lực của sinh viên đối tượng thực
nghiệm thời điểm trước và sau thực nghiệm (n=800)
135
3.25 So sánh kết quả phân loại thể lực của sinh viên thời
điểm trước và sau thực nghiệm (n=800)
136
3.26 Kết quả học tập môn học giáo dục thể chất của sinh viên
thực nghiệm sau 01 năm học thực nghiệm
137
3.27 So sánh kết quả hoạt động phong trào thể dục thể thao
ngoại khóa của Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp thời điểm trước và sau thực nghiệm
140
3.28 Kết quả kiểm chứng lý thuyết các giải pháp nâng cao
hiệu quả giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp (n=15)
3.1 Tỷ lệ sinh viên tham gia tập luyện ngoại khóa các môn
thể thao (theo giới tính) tại Trường Đại học Kinh tế -
Kỹ thuật Công nghiệp
86
3.2 Tỷ lệ thành phần đối tượng phỏng vấn lựa chọn giải
pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp
105
3.3 So sánh kết quả học tập của sinh viên nhóm thực
nghiệm và kết quả trung bình của sinh viên thời điểm điều tra thực trạng
138
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia Nhà trường các cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân có trách nhiệm đào tạo những học sinh, sinh viên đang đến trường hôm nay trở thành nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Việt Nam trong thế kỷ 21
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vị trí của công tác TDTT đối với thế hệ trẻ Xem đó là động lực quan trọng và khẳng định cần phải có chính sách chăm sóc giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam phát triển hài hoà về các mặt thể chất, tinh thần, trí tuệ và đạo đức Sức khỏe được xem như một bộ phận cấu thành của nền văn hoá
xã hội Đó là một mặt quan trọng của chất lượng đời sống, là nguồn tài sản quý báu của mỗi quốc gia, là sản phẩm phản ánh một cách khách quan thành tựu của nhiều lĩnh vực khoa học, trong đó có sự đóng góp quan trọng của ngành TDTT nói chung và TDTT nói riêng
Giáo dục thể chất trong trường học là một mặt giáo dục quan trọng không thể thiếu được trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện mục tiêu: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước Đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đòi hỏi phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mà trong đó yếu
tố sức khoẻ là quan trọng nhất, gần đây ban chấp hành Trung ương Đảng: “Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 01 tháng 12 năm 2011 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ TDTT đến năm 2020” [8]
Giáo dục thể chất (GDTC) góp phần cùng với thể thao thành tích cao, đảm bảo cho nền TDTT nước ta phát triển cân đối và đồng bộ, nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược củng cố, xây dựng và phát triển thể dục thể thao (TDTT) Việt Nam từ nay đến năm 2025, đưa nền TDTT nước ta hoà nhập và đua tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới
Mục tiêu tổng quát đến năm 2020, nền giáo dục được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội
Trang 12nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện Để thực hiện tốt mục tiêu của Đảng, Ngành Giáo dục và Đào tạo phải giải quyết hàng loạt các vấn đề quan trọng về đổi mới nội dung, phương pháp và các điều kiện đảm bảo đồng bộ khác nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, chuẩn hoá đội ngũ thầy giáo các cấp học theo Luật giáo dục [58], [60]
Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật công nghiệp có khả năng đào tạo và cung cấp cán bộ thuộc lĩnh vực: Sau đại học, đại học và các trình độ thấp hơn thuộc các chuyên ngành chủ yếu: Công nghệ dệt - sợi, Công nghệ may và Thiết
kế thời trang, Công nghệ da - giầy, Công nghệ hóa nhuộm, Công nghệ thực phẩm, Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử, Công nghệ kỹ thuật điện tử, truyền thông, Công nghệ kỹ thuật điều khiển và tự động hóa, Công nghệ kỹ thuật cơ khí, Công nghệ kỹ thuật ô tô, Công nghệ thông tin, Kế toán, Quản trị kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng; cho Bộ Công Thương và toàn Quốc, hiện nay còn
mở liên thông, liên kết trên toàn quốc; tạo cơ hội và môi trường học tập thuận lợi cho mọi đối tượng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
và hội nhập quốc tế Là một trường công lập chuyên về công nghệ, Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật công nghiệp có chức năng đào tạo ra những cán bộ có kiến thức về lĩnh vực Công nghiệp Theo xu hướng chung của ngành Giáo dục và Đào tạo, trong nhiều năm qua nhà trường đã tiến hành đổi mới hình thức tổ chức, quản lý, phương pháp dạy và học các môn học nói chung và môn học GDTC nói riêng và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, căn cứ vào điều kiện thực tiễn của nhà trường về yếu tố cơ sở vật chất, nguồn nhân lực và một số điều kiện khách quan khác, hiệu quả của các giờ học đối với môn học GDTC cũng như phát triển thể lực chung cho sinh viên, vẫn còn nhiều hạn chế về việc tiếp thu kỹ thuật cơ bản Để nâng cao được trình độ thể lực chung, góp phần nâng cao hiệu quả công tác rèn luyện thể chất nói chung và hiệu quả học tập môn học GDTC nói riêng, đáp ứng mục tiêu đào tạo hiện nay của nhà trường và nhu cầu xã hội, đòi hỏi sinh viên phải hiểu biết tương đối toàn diện về mục đích tác dụng của môn GDTC Thể lực là một điều kiện không thể thiếu đối với sức khỏe con người, đặc biệt là học sinh, sinh viên đang trong giai
Trang 13đoạn phát triển về tất cả các mặt trí và lực, giải quyết được vấn đề trên thì sinh viên phải hiểu về tác dụng của thể lực của con người đối với xã hội hiện nay
Cho đến nay, Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật công nghiệp đã tiến hành
tổ chức học tập theo chương trình và các yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo Nhưng trong những năm gần đây việc ứng dụng chương trình tập luyện vẫn còn nhiều bất cập như: Nội dung tập luyện, giáo án, phương pháp và phương tiện tập luyện còn chưa hợp lý nên tác dụng nâng cao thể lực của sinh viên còn hạn chế
Trong các trường Đại học, công tác GDTC được các nhà trường cũng như Bộ chủ quản hết sức quan tâm thể hiện qua việc thường xuyên đổi mới, nâng cao về trang thiết bị cơ sở vật chất, sân bãi dụng cụ và cả về đội ngũ giáo viên Một số trường đã được đầu tư cải tạo và xây dựng nhiều công trình thể dục thể thao lớn nên đã và đang phục vụ tốt cho công tác giảng dạy nội khoá và hoạt động ngoại khoá, phong trào hoạt động thể thao quần chúng và các giải thi đấu thể thao của sinh viên
Trong thực tế, Hiện nay những vấn đề đổi mới công tác giáo dục Đại học
đa ngành và đa dạng hoá loại hình đào tạo cùng với sự phát triển mạnh mẽ về số lượng sinh viên thì vấn đề đảm bảo chất lượng giáo dục trong đó có giáo dục thể chất đang đứng trước những thử thách to lớn Để đáp ứng mục tiêu yêu cầu giáo dục và đào tạo đã đề ra thì hiện nay công tác giáo dục thể chất và thể thao học đường còn bộc lộ nhiều hạn chế như chỉ thị 36-CT/TW của Ban bí thư Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam ngày 24-3-1994 đã đánh giá: "TDTT của nước ta còn có trình độ rất thấp Số người thường xuyên tập luyện TDTT còn rất ít Đặc biệt là thanh niên chưa tích cực tham gia tập luyện, hiệu quả GDTC trong trường học và trong các lực lượng vũ trang còn thấp" [6]
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII cũng đã chỉ rõ sự cần thiết phải chú trọng cải tiến nội dung, phương pháp nhằm đưa vào nề nếp, phát triển thể lực góp phần nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong nhà trường các cấp, xây dựng quy hoạch phát triển và kế hoạch đổi mới công tác giáo dục thể chất và thể thao học đường từ nay tới năm 2025
Nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác GDTC cho sinh viên nhiều trường Đại học không chỉ thực hiện đầy đủ những qui định của Bộ Giáo dục -
Trang 14Đào tạo về nội dung GDTC mà phải vận dụng sáng tạo trên cơ sở cải tiến, xây dựng các nội dung học tập mới cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng trường Điều đó đã góp phần không nhỏ vào việc nâng cao thể lực và chất lượng GDTC cho sinh viên và đã thu hút được sự quan tâm qua một số công trình khoa học của các tác giả như: Văn Đình Cường (2020), Nguyễn Minh Cường (2020), Ngô Quang Huy (2016), Đặng Minh Thắng (2019), Vũ Đức Văn (2008), [23], [24], [39], [67], [91] Các công trình nghiên cứu trên đã quan tâm tới nhiều mặt của việc GDTC cho sinh viên trong các trường cao đẳng, đại học tại Việt Nam, nhưng nghiên cứu cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật công nghiệp (KT-KTCN) nói chung và nghiên cứu nâng cao hiệu quả GDTC cho sinh viên Nhà trường nói riêng cho đến nay lại chưa được tác giả nào quan tâm nghiên cứu
Giảng dạy GDTC và tổ chức các hoạt động thể thao ngoại khóa tại trường Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật công nghiệp là một hoạt động sư phạm nhằm hoàn thiện và phát triển thể chất, nhân cách người sinh viên, góp phần nhằm thực hiện nhiệm vụ “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” xây dựng lớp người mới, người chủ nhân của xã hội tương lai, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước Để thực hiện được mục đích trên, bộ môn GDTC của Nhà trường đã áp dụng chương trình GDTC theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Nhưng do nhiều nguyên nhân mà công tác GDTC cho sinh viên trường Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật công nghiệp còn chưa phát triển tương ứng với tiềm năm sẵn có, phong trào TDTT chưa phát triển mạnh, trình
độ thể lực của sinh viên còn những hạn chế nhất định, kết quả học tập môn học GDTC chưa thực sự cao Hiện tại, Nhà trường cũng chưa có những giải pháp phù hợp, có hiệu quả để nâng cao hiệu quả GDTC cho sinh viên
Từ vị trí những giảng viên trực tiếp giảng dạy môn học GDTC tại Trường, với mong muốn đánh giá chính xác thực trạng công tác GDTC từ đó tìm ra các giải pháp hữu hiệu nhất để nâng cao hiệu quả công tác GDTC cho sinh viên Nhà trường, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh
tế - Kỹ thuật công nghiệp”
Trang 152 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng công tác GDTC tại Trường ĐH KT-KTCN, làm rõ các điểm mạnh, điểm yếu, nguyên nhân dẫn tới hạn chế phát triển công tác GDTC tại Trường Trên cơ sở đó, lựa chọn các giải pháp phù hợp giúp nâng cao hiệu quả GDTC cho sinh viên Nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng GDTC nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung cho sinh viên Trường ĐH KT-KTCN
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu thực trạng công tác giáo dục thể chất của Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật công nghiệp
Nhiệm vụ 2: Lựa chọn giải pháp nâng cao hiệu quả công tác GDTC cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật công nghiệp
Nhiệm vụ 3: Ứng dụng và đánh giá hiệu quả giải pháp nâng cao hiệu quả công tác GDTC cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật công nghiệp
4 Đối tượng nghiên cứu:
Là giải pháp nâng cao hiệu quả GDTC cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật công nghiệp
Đối tượng quan trắc:
- Sinh viên Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật công nghiệp
- Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới công tác GDTC của sinh viên Trường ĐH KT-KTCN
- Thực trạng hiệu quả GDTC cho sinh viên Trường Đại học KT-KTCN
- Thực trạng sử dụng các giải pháp nâng cao hiệu quả GDTC cho sinh viên Trường Đại học KT-KTCN
Khách thể khảo sát: Số lượng mẫu nghiên cứu thực trạng: 1600 sinh viên Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp (trong đó có 928 sinh viên nam và 672 sinh viên nữ); 08 cán bộ quản lý; 69 giáo viên, trong đó có 28 giáo viên GDTC
Trang 16Khách thể thực nghiệm: Số lượng mẫu thực nghiệm: 800 sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai, Trường Đại học KT-KTCN
5 Giả thuyết khoa học:
Trên cơ sở quan sát và đánh giá thực trạng công tác GDTC của sinh viên Trường Đại học kinh tế kỹ thuật công nghiệp, đề tài nhận thấy công tác GDTC chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của Trường Giả thuyết nguyên nhân chủ yếu là do chưa có các giải pháp nâng cao hiệu quả GDTC cho sinh viên trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật công nghiệp phù hợp, để phát triển công tác GDTC cho Nhà trường Nếu lựa chọn được các giải pháp nâng cao hiệu quả GDTC cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật công nghiệp phù hợp, sẽ giúp nâng cao hiệu quả công tác GDTC cho sinh viên Nhà trường, đáp ứng nhu cầu xã hội
về công tác GDTC cho sinh viên
6 Ý nghĩa lý luận:
Hệ thống hóa và hoàn thiện các kiến thức lý luận về quan điểm của Đảng
và Nhà nước về công tác GDTC trong các trường đại học, cao đẳng; các vấn đề chung về công tác GDTC cho sinh viên trong trường học các cấp; thống nhất các khái niệm; khái quát về công tác GDTC trong các trường đại học, cao đẳng cũng như đặc điểm tâm, sinh lý sinh viên đại học và phân tích kết quả các công trình nghiên cứu có liên quan, làm căn cứ giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
7 Ý nghĩa thực tiễn:
Xác định được 13 yếu tố thuộc 3 nhóm và đánh giá thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới việc nâng cao hiệu quả GDTC cho sinh viên Trường Đại học KT-KTCN; Xác định được 03 yếu tố và đánh giá thực trạng công tác GDTC tại Trường; đánh giá thực trạng sử dụng các giải pháp nâng cao hiệu quả GDTC của Trường Trên cơ sở đó, lựa chọn được 11 giải pháp thuộc 03 nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả GDTC cho sinh Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật công nghiệp Bước đầu ứng dụng và kiểm nghiệm các giải pháp trên thực tế đã cho thấy hiệu quả GDTC cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật công nghiệp
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác Giáo dục thể chất trong các trường đại học, cao đẳng
Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ, nhiệm vụ chính của GDTC là: Nâng cao sức khỏe, đảm bảo sự phát triển bình thường của cơ thể học sinh, sinh viên; phát triển thể lực, trang bị những kỹ năng vận động cơ bản và cần thiết cho cuộc sống; hình thành thói quen rèn luyện thân thể, giữ vệ sinh và giữ phẩm chất đạo đức, nhân cách học sinh, sinh viên, những chủ nhân tương lai của đất nước [8]
Đảng, Nhà nước ta khẳng định, sự phát triển GDTC phải đảm bảo theo quan điểm đường lối chung của Đảng, Nhà nước, của ngành TDTT và ngành Giáo dục – Đào tạo, phải đảm bảo tính dân tộc, tính khoa học và tính nhân dân Trong đó, đảm bảo tính dân tộc có nghĩa là: Hình thức, nội dung các hoạt động GDTC phải mang bản sắc dân tộc, vì mục đích, lợi ích dân tộc; đảm bảo tính khoa học là: Kế thừa có chọn lọc các tri thức về TDTT của nhân loại; mọi hoạt động GDTC phải phù hợp với quy luật phát triển tâm, sinh lý của con người [5], [75], [76]
Mục tiêu của giáo đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo " Xây dựng cho được một đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật và quản lý kinh tế đông đảo vững mạnh, ngày càng hoàn chỉnh về trình độ và ngành nghề, vừa có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung thành với Đảng, với giai cấp công nhân, với dân tộc, liên hệ chặt chẽ với công nông, vừa có trình độ khoa học kỹ thuật và nghiệp vụ giỏi, nắm vững những quy luật của tự nhiên và quy luật xã hội, có năng lực tổ chức và động viên quần chúng, đủ sức giải quyết những vấn đề khoa học, kỹ thuật và quản lý kinh tế do thực tế nước ta đề ra và có khả năng tiến kịp trình độ khoa học, kỹ thuật tiên tiến trên thế giới [100]
Trang 18Hoạt động thể dục, thể thao ngoại khoá theo kế hoạch của nhà trường và các cấp quản lý giáo dục: Tự luyện tập, luyện tập có hướng dẫn, luyện tập theo nội dung tiêu chuẩn rèn luyện thân thể áp dụng cho từng lứa tuổi, luyện tập các môn thể thao có trong chương trình thi đấu của Hội khoẻ Phù Đổng, Đại hội Thể dục Thể thao, sinh viên, học sinh chuyên nghiệp trong và ngoài nước;Luyện tập trong các câu lạc bộ thể dục, thể thao hoặc các trung tâm thể dục, thể thao trong
và ngoài nhà trường; Luyện tập và thi đấu trong các đội tuyển thể dục, thể thao của trường [12]
Trong đó, giáo dục thể chất là một thành phần quan trọng trong chương trình giáo dục ở nhà trường, tại điều 20 luật TDTT qui định: Giáo dục thể chất
và thể thao trong nhà trường Giáo dục thể chất là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với
sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao [59]
Tăng cường công tác giáo dục toàn diện và quản lý HS, SV; chú trọng
và tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị, văn hóa truyền thống, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, kỹ năng thực hành, ý thức trách nhiệm xã hội; tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, công tác chăm sóc sức khỏe; [9] TDTT trường học là bộ phận đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe và thể lực, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, ý chí, giáo dục nhân cách cho học sinh, sinh viên góp phần đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước TDTT trường học là môi trường thuận lợi và giàu tiềm năng để phát hiện
và bồi dưỡng tài năng thể thao cho đất nước" [14]
Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo về việc tăng cường công tác giáo dục thể chất và hoạt động thể thao nhằm hưởng ứng năm quốc tế về thể thao và GDTC của Liên Hiệp Quốc Xây dựng chương trình, kế hoạch giáo dục thể chất, hoạt động thể thao và tuyên truyền rộng rãi mục đích, tác dụng của các hoạt động này nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ công nhân viên chức trong ngành,
Trang 19nhà giáo, sinh viên và học sinh trong mỗi nhà trường về công tác thể thao và GDTC
Đẩy mạnh việc thường xuyên rèn luyện thân thể, nâng cao sức khoẻ để học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho học sinh, sinh viên trong quá trình hội nhập quốc tế Xác định việc thay đổi tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho phù hợp thực tiễn và thời đại, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên, ban hành kèm theo quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 9 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, điều 1 của Qui định nêu rõ: “Văn bản này áp dụng đối với học sinh, sinh viên của các đại học, học viện, trường đại học, cao đẳng, trường trung cấp chuyên nghiệp, trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học” [16]
Qui định rèn luyện thân thể cũng nêu rõ về yêu cầu, độ tuổi và các nội dung đánh giá cũng như tiêu chuẩn cụ thể của từng độ tuổi và giới tính của học sinh các cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành chương trình giáo dục thể chất không chuyên theo quyết định số 3244/GD-ĐT, Hà Nội, ngày 12/09/1995 [10], quyết định 1262/GD-ĐT, Hà Nội, ngày 12/04/1997 [11] như sau: “Chương trình GDTC đã được đưa vào giờ chính khóa, tuy nhiên thời lượng còn rất hạn chế chỉ có 2 tiết/tuần…” Thực tiễn, với số giờ thể dục chính khoá hạn chế như vậy, giáo dục thể chất chỉ có đạt được hiệu quả như mong muốn bằng việc tổ chức thêm các hoạt động ngoại khoá GDTC cho học sinh, sinh viên Khoa học
đã chứng minh muốn rèn luyện thân thể để nâng cao thể chất thì phải tập luyện tích cực và thường xuyên Một trong những nguyên tắc của phương pháp giáo dục thể chất có liên quan đến tính thường xuyên trong tập luyện và hệ thống luân phiên lượng vận động với nghỉ ngơi, cũng như tính tuần tự trong tập luyện
và mối liên hệ lẫn nhau giữa các mặt khác nhau trong nội dung tập luyện, đó là nguyên tắc hệ thống: “Tính liên tục của quá trình giáo dục thể chất và luân phiên hợp lý giữa lượng vận động với nghỉ ngơi Rõ ràng, tập thường xuyên mang lại hiệu quả tất nhiên lớn hơn tập thất thường” Hiểu được vấn đề bức xúc đó, Bộ Giáo dục – Đào tạo đã ra Quyết định số 72/2008/QĐ-BGDĐT ngày 23 tháng 12 năm 2008 về việc ban hành Qui định tổ chức hoạt động thể thao ngoại khoá cho
Trang 20học sinh, sinh viên Quy định nêu rõ: “Văn bản này quy định việc tổ chức hoạt động thể thao ngoại khoá cho học sinh, sinh viên hệ chính qui trong các cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục đại học, trung cấp chuyên nghiệp…”, “Hoạt động thể thao ngoại khoá phải được quan tâm, chỉ đạo sâu sát, chặt chẽ, xây dựng kế hoạch phù hợp và đảm bảo về tài chính, cơ sở vật chất, sân bãi, dụng
cụ, đáp ứng nhu cầu của học sinh, sinh viên” [15]
Giáo dục thể chất “là một trong những hình thức hoạt động cơ bản có định hướng rõ của TDTT trong xã hội” [72] là một bộ phận của nền văn hóa, trình độ phát triển TDTT là một trong những tiêu chí đánh giá trình độ văn hóa
và năng lực sáng tạo của dân tộc, là phương tiện giao lưu văn hóa nói chung, văn hóa thể chất nói riêng, mở rộng các mối quan hệ quốc tế Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến công tác đổi mới nhằm phát triển hơn nữa công tác GDTC
Trên cơ sở xác định mục tiêu giáo dục thể chất trong nhà trường, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hết sức quan tâm và tạo điều kiện để các nhà trường và
cơ sở giáo dục từ mầm non đến đại học tổ chức nghiên cứu, ứng dụng, phổ biến tiến bộ khoa học về giáo dục thể chất Ngành Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo triển khai giảng dạy chính khoá và tổ chức các hoạt động ngoại khoá của các môn học GDTC cùng với việc ban hành các văn bản qui định về công tác GDTC trong nhà trường Cao đẳng, Đại học
Thủ tướng chính phủ ban hành nghị định 11/2015/NĐ-CP, quy định về giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong nhà trường là: Giáo dục thể chất trong nhà trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho trẻ em, học sinh, sinh viên các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của học sinh, sinh viên, được tổ chức theo phương thức ngoại khóa, CLB thể thao, nhóm, cá nhân phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe, nhằm hoàn thiện các kỹ năng vận động, hỗ trợ thực hiện mục
Trang 21tiêu giáo dục thể chất thông qua các hình thức luyện tập, thi đấu thể thao, tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên thực hiện quyền vui chơi, giải trí [76]
Bộ Giáo dục đào tạo đã ban hành thông tư 25/2015/TT-BGDĐT, theo
đó, các trường sẽ quy định cụ thể khối lượng kiến thức môn học này phù hợp với yêu cầu của từng ngành đào tạo, nhưng khối lượng kiến thức của chương trình môn học Giáo dục thể chất sinh viên cần tích lũy tối thiểu là 3 tín chỉ Đánh giá chương trình môn học Giáo dục thể chất theo quy định hiện hành, phù hợp với điều kiện thực tiễn và các tiến bộ của khoa học chuyên ngành Việc đánh giá các học phần, đánh giá kết quả học tập chương trình môn học Giáo dục thể chất được quy định cụ thể trong chương trình môn học và theo các quy định Chương trình môn học Giáo dục thể chất nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, hoàn thiện nhân cách, nâng cao khả năng học tập, kỹ năng hoạt động xã hội với tinh thần, thái độ tích cực, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện [17]
Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 đã dành riêng một phần quan trọng cho GDTC và hoạt động thể thao trường học Đề cập đến những yếu kém, tồn tại của công tác GDTC, Chiến lược đã nêu: “Công tác GDTC trong nhà trường và các hoạt động thể thao ngoại khóa của HS, SV chưa được coi trọng, chưa đáp ứng yêu cầu duy trì và nâng cao sức khỏe cho HS, là một trong số các nguyên nhân khiến cho thể lực và tầm vóc người Việt Nam thua kém rõ rệt so với một số nước trong khu vực… Chương trình chính khóa cũng như nội dung hoạt động ngoại khóa còn nghèo nàn, chưa hợp lý, không hấp dẫn HS tham gia các hoạt động thể thao ngoại khóa” [72] Trong đó đã nêu
ra các chỉ tiêu đến năm 2015 có 100% số trường phổ thông thực hiện đầy đủ chương trình GDTC nội khóa, 45% số trường phổ thông có CLB TDTT, có CSVC đủ phục vụ cho hoạt động TDTT, có đủ GV và hướng dẫn viên TDTT, thực hiện tốt hoạt động thể thao ngoại khóa, 75% số HS được đánh giá và phân loại thể lực theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể [72]
Nhằm phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH, Thủ tướng đã phê duyệt Đề án
Trang 22tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030; trong
đó có chương trình phát triển thể lực, tầm vóc bằng giải pháp tăng cường GDTC Một trong những nội dung chủ yếu của chương trình này là: “Đảm bảo chất lượng dạy và học TD chính khóa, các hoạt động thể thao ngoại khóa cho
HS, xây dựng chương trình GDTC hợp lý ” và “Tận dụng các công trình TDTT trên địa bàn để phục vụ cho hoạt động GDTC trong trường học” 73]
Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 01 tháng 12 năm 2011
về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020: “Mục tiêu của Nghị Quyết này là nhằm tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức, đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thể dục, thể thao; tăng cường CSVC, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ làm nền tảng phát triển mạnh mẽ và vững chắc sự nghiệp TDTT; đến năm 2020” [8]; Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 08NQ/TW ngày 01/12/2011 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020 (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 16/NQ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ) đã khẳng định: “Đổi mới chương trình và phương pháp GDTC, gắn GDTC với giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khỏe và kỹ năng sống của HS, SV Mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động TDTT quần chúng: Nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, vận động và thu hút đông đảo nhân dân tham gia tập luyện thể dục, thể thao…; Các cấp uỷ Đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng về công tác thể dục, thể thao” [9]
Tóm lại, các văn bản, chỉ thị của Đảng và Nhà nước đã thể hiện tư tưởng nhất quán: Coi trọng và đề cao vai trò của TDTT trong xã hội, trong đó có TDTT trong các trường đại học; đồng thời, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo là một yêu cầu khách quan và cấp bách tại nước ta trong giai đoạn hiện nay GDTC là một môn học thuộc chương trình giáo dục quốc dân, là một mặt giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, chủ nhân tương lai của đất nước nhằm đào tạo cho đất nước một thế hệ phát triển cao về trí tuệ, cường tránh về thể chất,
Trang 23phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH, HĐH đất nước Chính vì vậy, đổi mới công tác GDTC và TDTT trong trường học các cấp nói riêng, đặc biệt là trong các trường đại học là vấn đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay
1.2 Một số khái niệm có liên quan
1.2.1 Khái niệm Giáo dục thể chất (nội khóa)
Có thể tiếp cận khái niệm GDTC từ rất nhiều góc độ khác nhau theo quan điểm của nhiều tác giả khác nhau Có thể kể tới:
Theo Nôvicốp A.D và Matvêep L.P, GDTC là một quá trình sư phạm nhằm giải quyết những nhiệm vụ giáo dục - giáo dưỡng nhất định mà đặc điểm của quá trình này là có tất cả các dấu hiệu chung của quá trình sư phạm vai trò chỉ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động tương ứng với các nguyên tắc sư phạm [52]
Theo Luật TDTT, điều 20 đã quy định: GDTC là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện [59]
Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn: GDTC là một loại hình giáo dục có nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác)
và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người [87]
Theo tác giả Vũ Đức Thu và cộng sự, GDTC là quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ [78]
Trong Nghị định Số: 11/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định về GDTC
và hoạt động thể thao trong trường học: “GDTC trong nhà trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho trẻ em, học sinh, sinh viên các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện” [76]
Trang 24Như vậy, có thể nhận thấy: Đặc điểm nổi bật của GDTC là quá trình hình thành các kỹ năng, kỹ xảo vận động và phát triển các tố chất thể lực của con người Như vậy, GDTC là một hình thức giáo dục đặc biệt thể hiện ở việc giảng dạy các động tác (hành vi vận động) và giáo dục (điều khiển sự phát triển) các tố chất thể lực của con người
Theo quan điểm của tác giả Nôvicôp A.D và Mátvêép L.P, trong suốt quá trình GDTC “giảng dạy các động tác và giáo dục các tố chất thể lực luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, chúng có thể “chuyển” lẫn nhau nhưng không đồng nhất với nhau, và trong các giai đoạn giáo dục khác nhau lại có quan hệ khác nhau” [52]
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài thống nhất: GDTC bao gồm dạy học động tác, giáo dưỡng thể chất và giáo dục các tố chất thể lực Dạy học động tác
là một trong những nội dung cơ bản của của quá trình giáo dưỡng thể chất Đó là quá trình tiếp thu có hệ thống những cách thức điều khiển động tác, vốn kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho cuộc sống và những tri thức chuyên môn Còn giáo dục các tố chất thể lực là sự tác động hợp lý tới sự phát triển tố chất đảm bảo năng lực vận động Trong hệ thống giáo dục, nội dung đặc trưng này của GDTC gắn liền với trí dục, đạo đức, mỹ dục và giáo dục lao động
1.2.2 Thể thao ngoại khóa
Văn bản pháp quy cao nhất của Ngành TDTT, Luật TDTT năm 2018 đã quy định: Hoạt động thể thao trong nhà trường (ở đây được hiểu là Thể thao ngoại khóa) là hoạt động tự nguyện của người học, được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với điều kiện, sở thích, giới tính, lứa tuổi, tình trạng sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển thể lực và phát triển năng khiếu thể thao [59]
Theo Nghị định Số: 11/2015/NĐ-CP quy định về GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường: “Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của học sinh, sinh viên, được tổ chức theo phương thức ngoại khóa, câu lạc bộ thể dục, thể thao, nhóm, cá nhân phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi
và sức khỏe, nhằm hoàn thiện các kỹ năng vận động, hỗ trợ thực hiện mục tiêu GDTC thông qua các hình thức luyện tập, thi đấu thể thao, tạo điều kiện cho học
Trang 25sinh, sinh viên thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao; phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, tài năng thể thao” [76]
Trong luận án, chúng tôi thống nhất: Thể thao ngoại khóa là hoạt động TDTT tự nguyện là chính, diễn ra theo hình thức tổ chức có người hướng dẫn hoặc tự tập, thường được tiến hành ngoài giờ học nội khóa, phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe của học sinh, sinh viên
1.1.3 Thể lực
Theo tác giả nước ngoài như Nôvicốp, Matveep (Nga), thì tố chất thể lực được hiểu là “một tiêu chí quan trọng đánh giá phát triển của năng lực cơ thể; là một bộ phận của thể chất cơ thể, là biểu hiện của chức năng các hệ thống cơ quan của cơ thể khi vận động thể lực Tố chất thể lực bao gồm: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và khéo léo” [52]
Các tác giả Việt Nam như Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn, Lê Văn Lẫm,
Vũ Đức Thu, Trương Anh Tuấn cũng có cùng quan điểm trên và đều cho rằng:
“tố chất thể lực là một bộ phận quan trọng của năng lực thể chất, mà năng lực thể chất lại liên quan tới những khả năng, chức năng của hệ thống cơ quan trong
cơ thể, thể hiện chính trong hoạt động cơ bắp Nó bao gồm các tố chất thể lực sức mạnh, sức nhanh, độ dẻo và sự khéo léo” [49], [78], [87]
Từ các khái niệm của các nhà khoa học trong và ngoài nước đề tài rút ra một khái niệm chung: Tố chất thể lực là sự biểu hiện của chức năng, các cơ quan
hệ thống cơ thể, nó bao gồm sức mạnh, sức nhanh, sức bền, độ dẻo và sự khả năng phối hợp vận động (còn gọi là năng lực phối hợp vận động) Nó là tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của năng lực vận động cơ thể
Trang 26Theo quan điểm của từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê - 1996): “Giải pháp” được hiểu là phương pháp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó Tìm giải pháp tốt nhất Dùng giải pháp thương lượng để chấm dứt xung đột Giải pháp chính trị Giải pháp tình thế Cách hiểu này tương đương cách tiếp cận từ nghĩa gốc của từ [53]
Theo từ điển Bách khoa của Viện Ngôn ngữ học: Giải pháp được hiểu theo nghĩa gốc của từ, là cách giải quyết một vấn đề khó khăn [97]
Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, chúng tôi tiếp cận ý nghĩa của từ
“giải pháp” dưới góc độ là cách thức giải quyết một vấn đề cụ thể
1.1.5 Hiệu quả
Hiệu quả (tiếng Anh: Efficiency) được xác định bởi tỉ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Ở mỗi lĩnh vực khác nhau, hiệu quả lại được hiểu khác nhau như: Hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế, hiệu quả kinh tế - xã hội, hiệu quả kinh doanh, hiệu quả đầu tư, hiệu quả của từng lĩnh vực…
Trong kinh tế, Hiệu quả là khả năng tạo ra kết quả mong muốn hoặc khả năng sản xuất ra sản lượng mong muốn Khi cái gì đó được coi là có hiệu quả,
nó có nghĩa là nó có một kết quả mong muốn hoặc mong đợi, hoặc tạo ra một ấn tượng sâu sắc, sinh động Tính hiệu quả được định nghĩa như kết quả hay điều được đạt tới Nó là về liệu mục đích có được đáp ứng hay không Thực hiện một cách hiệu quả nghĩa là công việc được thực hiện tương ứng với mong đợi Người quản lí dự án có trách nhiệm đảm bảo rằng điều này xảy ra Nếu một tổ dự án làm việc chăm chỉ nhưng không chuyển giao điều được cần thì họ không hiệu quả
Theo từ điển tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý và cộng sự, hiệu quả
là sự phù hợp giữa kết quả thực của một hoạt động so với kết quả dự kiến từ trước [99]
Với khái niệm này, hiệu quả giáo dục là sự phù hợp giữa kết quả giáo dục thực tiễn so với các mục tiêu giáo dục Các kết quả giáo dục thực tiễn thường có mối tương quan chặt chẽ với sự đầu tư cho điều kiện thực hiện (đào tạo và bồi dưỡng nhân lực, tập trung tài lực, nâng cao vật lực…) và sự tác động
Trang 27của các hoạt động giáo dục (hình thức tổ chức dạy học, hoạt động dạy và hoạt động học, đổi mới phương pháp dạy và phương pháp học, đổi mới đánh giá kết quả giáo dục)
Do đó khi nói đến hiệu quả giáo dục, người ta thường so sánh kết quả đầu vào thực tiễn với kết quả đầu ra dự kiến (mục tiêu giáo dục) trong mối tương quan với sự đầu tư nguồn lực và sự tác động của các hoạt động giáo dục Hiệu quả giáo dục sau khi kết thúc một khóa học, lớp học, cấp học được gọi là hiệu quả trong; còn các lợi ích, các giá trị vật chất và tinh thần tạo ra cho xã hội khi ứng dụng các sản phẩm giáo dục được gọi là hiệu quả ngoài
Trong quá trình nghiên cứu luận án, chúng tôi sử dụng khái niệm “hiệu quả” là sự phù hợp giữa kết quả thực của một hoạt động so với kết quả dự kiến
1.3.1.1 Vai trò của Giáo dục thể chất trong các trường đại học
Giáo dục thể chất trong các trường đại học, cao đẳng là hoạt động giáo dục bắt buộc nhằm giáo dục, bảo vệ và tăng cường sức khỏe, phát triển thể chất góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho sinh viên Đức dục và trí tuệ rất quan trọng, thể dục cũng rất quan trọng cho sinh viên trong thời đại mới Văn kiện đại hội Đảng lần thứ VIII đã chỉ rõ:
“Cơ thể cường tráng là cơ sở của đời sống vật chất và tinh thần của xã hội” 7] Không có cơ thể cường tráng, sinh viên khó hoàn thành nhiệm vụ học tập và khó phát huy tác dụng của mình trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước trong tương lai
Hồ Chủ Tịch đã chỉ rõ cho thanh niên: “Phải rèn luyện thân thể cho khỏe mạnh Khỏe mạnh thì mới có đủ sức để tham gia một cách dẻo dai, bền bỉ những công việc ích nước lợi dân” Những quan điểm đó của các nhà lãnh đạo cách mạng là tư tưởng chỉ đạo cho GDTC trong giáo dục toàn diện, cũng như mối quan hệ biện chứng giữa thể dục, đức dục và trí dục [89]
Trang 28Phát triển TDTT và nâng cao thể lực cho sinh viên chính là mục tiêu quan trọng, nhằm tạo ra con người đầy đủ trí và lực, đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước Bằng những hoạt động phong phú của mình, Giáo dục thể chất góp phần quan trọng trong việc rèn luyện, hình thành và phát triển cho sinh viên những phẩm chất ý chí, lòng dũng cảm, tính quyết đoán kiên trì, ý thức tổ chức kỷ luật, cũng như giáo dục cho sinh viên lòng tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết, tập thể, tín trung thực thẳng thắn và cao thượng, tạo nên nếp sống lành mạnh vui tươi, đẩy lùi xoá
bỏ những hành vi xấu và các tệ nạn xã hội Như vậy, mục tiêu của hệ thống Giáo dục thể chất trong các trường Đại học và Cao đẳng là đào tạo cán bộ khoa học
kỹ thuật, quản lý kinh tế và văn hoá xã hội có trình độ cao, hoàn thiện về thể chất, phát triển về mọi mặt
Trong những năm gần đây, công tác Giáo dục thể chất và hoạt động TDTT đã có những bước tiến bộ, việc dạy và học giáo dục thể chất từ phổ thông đến đại học đều đi vào nề nếp Nhiều trường đại học, cao đẳng thành lập các đội tuyển ở nhiều môn thể thao như: bóng đá, bóng rổ, bóng chuyền, … tham gia các giải thi đấu thể thao Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp tổ chức Không dừng ở đó sinh viên Việt Nam đã có mặt tại đại hội TDTT sinh viên Đông Nam Á Đã có nhiều công trình khoa học được báo cáo các phần nâng cao chất lượng giảng dạy và chăm sóc sức khoẻ cho sinh viên
Vai trò của giáo dục thể chất trong giáo dục con người toàn diện
Mục tiêu giáo dục thể chất trong các trường ĐH, CĐ và THCN ở nước ta là: “Nhằm tăng cường sức khỏe, phát triển thể chất, góp phần hình thành bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho người học” Đó là phương hướng chiến lược nhất của giáo dục thể chất trong các trường ĐH, CĐ
và THCN, trong đó đòi hỏi tất cả các mặt giáo dục phải hướng tới, phát triển cho sinh viên toàn diện tất cả các mặt: đức, trí, thể, mỹ để trở thành những con người mới XHCN [59]
Giáo dục thể chất trong các trường đại học, cao đẳng là hoạt động giáo dục bắt buộc nhằm giáo dục, bảo vệ và tăng cường sức khỏe, phát triển thể chất góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn
Trang 29diện cho sinh viên Đức dục và trí tuệ rất quan trọng, thể dục cũng rất quan trọng cho sinh viên trong thời đại mới Văn kiện đại hội Đảng lần thứ VIII đã chỉ rõ:
“Cơ thể cường tráng là cơ sở của đời sống vật chất và tinh thần của xã hội” [7] Không có cơ thể cường tráng, sinh viên khó hoàn thành nhiệm vụ học tập và khó phát huy tác dụng của mình trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước trong tương lai
Phát triển TDTT và nâng cao thể lực cho sinh viên chính là mục tiêu quan trọng, nhằm tạo ra con người đầy đủ trí và lực, đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước Bằng những hoạt động phong phú của mình, Giáo dục thể chất góp phần quan trọng trong việc rèn luyện, hình thành và phát triển cho sinh viên những phẩm chất ý chí, lòng dũng cảm, tính quyết đoán kiên trì, ý thức tổ chức kỷ luật, cũng như giáo dục cho sinh viên lòng tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết, tập thể, tín trung thực thẳng thắn và cao thượng, tạo nên nếp sống lành mạnh vui tươi, đẩy lùi xoá
bỏ những hành vi xấu và các tệ nạn xã hội Như vậy, mục tiêu của hệ thống Giáo dục thể chất trong các trường Đại học và Cao đẳng là đào tạo cán bộ khoa học
kỹ thuật, quản lý kinh tế và văn hoá xã hội có trình độ cao, hoàn thiện về thể chất, phát triển về mọi mặt
Để thực hiện tốt các mục tiêu đó, công tác giáo dục thể chất trong các trường đại học, cao đẳng phải giải quyết đồng thời các nhiệm vụ sau:
Giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa và rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức
tổ chức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực, lành mạnh, giáo dục tinh thần tự giác học tập và rèn luyện thân thể, chuẩn bị sẵn sàng phục vụ sản xuất và bảo vệ tổ quốc
Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và phương pháp tập luyện TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản của một số môn thể thao thích hợp Trên cơ sở đó bồi dưỡng khả năng sử dụng các phương pháp để rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và tổ chức các hoạt động TDTT ở cơ sở
Góp phần duy trì và củng cố sức khoẻ của sinh viên, phát triển cơ thể một cách hài hoà, xây dựng thói quen lành mạnh và khắc phục những thói xấu trong
Trang 30cuộc sống, nhằm tận dụng thời gian và công việc có ích, đạt kết quả cao trong quá trình học tập, đạt được những chỉ tiêu thể lực quy định cho từng đối tượng trên cơ sở tiêu chuẩn rèn luyện thân thể lứa tuổi
Giáo dục óc thẩm mỹ, tạo điều kiện nâng cao trình độ thể thao, các yếu tố thể lực cho sinh viên
Vai trò của giáo dục thể chất với rèn luyện đạo đức
Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lý, những qui định, những chuẩn mực ứng
xử trong quan hệ con người Ngày nay quan hệ con người đã mở rộng nên đạo đức bao gồm những qui định, chuẩn mực ứng xử của con người với con người, với công việc và với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống [53] Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ đến phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ứng bộ mặt nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hóa Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng; ở hành động góp phần giải quyết hợp lý các mâu thuẫn Khi thừa nhận đạo đức là một hình thái ý thức xã hội thì đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp, giai cấp trong xã hội cũng phản ánh ý thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại [97] Giáo dục thể chất tuổi trẻ học đường là một bộ phận quan trọng của nền giáo dục quốc dân của nước Việt Nam độc lập và dân chủ: “Một nền giáo dục sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em” Từ quan điểm đó, đã chỉ ra một cách cụ thể về giáo dục nói chung và giáo dục thể chất nói riêng, giáo dục toàn diện đó là “Thể dục kết hợp với gìn giữ vệ sinh chung
và riêng, trí dục, mỹ dục, đức dục.” Bốn mặt giáo dục đó có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó Thể dục là tiền đề đầu tiên để phát triển các mặt giáo dục khác Kể cả học viên trong nhà trường quân đội cũng vậy, trong đó giáo dục thể chất đặt lên trước hết, theo Hồ Chí Minh: “Mọi người phải ra sức thi đua: Luyện tập thân thể cho mạnh mẽ, nghiên cứu kỹ thuật cho thông thạo, trau dồi tinh thần cho vững chắc, hun đúc đạo đức của người quân nhân cách mạng cho vững vàng” [89]
Trang 31Về giáo dục thể chất cho thanh niên đang tham gia mọi hoạt động trong mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy bảo tuổi trẻ thanh niên rằng: “Thanh niên phải rèn luyện TDTT vì thanh niên là tương lai của đất nước” Ngoài các mặt học tập và rèn luyện khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu thanh niên phải tích cực rèn luyện thể chất: “Phải giữ vững đạo đức cách mạng Phải xung phong trong mọi công tác Phải học tập chính trị, văn hoá, nghề nghiệp để tiến bộ mãi Phải rèn luyện thân thể cho khoẻ mạnh Khoẻ mạnh thì mới đủ sức tham gia một cách dẻo dai, bền bỉ những công việc ích nước lợi dân” [89]
Vai trò của giáo dục thể chất với phát triển trí tuệ
Thuật ngữ “trí tuệ” và những thuật ngữ gần gũi với nó như “Trí”, “Trí khôn”, “Trí thông minh”, “Trí lực”, “Trí năng” Về khái niệm có thể coi trí tuệ, trí thông minh, trí năng là năng lực tư duy, được hình thành thông qua hoạt động có mục đích, có tương tác với môi trường xung quanh với tinh thần tự chủ, năng động cao, nhằm đạt kết quả, có chất lượng và hiệu quả, có tính mới mẻ, sáng tạo, phục vụ mục đích hoạt động, đồng thời tạo được sự tiến bộ trong năng lực và nhân cách con người
Trí lực hiểu theo nghĩa thông thường là lấy năng lực tư duy làm hạt nhân,
nó là sự tổng hoà của năng lực nhận thức, nó bao gồm năng lực quan sát, năng lực ghi nhớ, năng lực tưởng tượng… Trí lực là sản vật của sự kết hợp giữa di truyền, sự ảnh hưởng của giáo dục, điều kiện sống và sự nỗ lực cá nhân Thực tế
đã chứng minh trình độ trí lực của con người có mối tương quan với di truyền (có người cho rằng có thể đạt tới 65%, thậm chí tới 80%), có mối tương quan mật thiết với hoàn cảnh xã hội, giáo dục, điều kiện gia đình, mặt bằng kinh tế… Không thể xem nhẹ tác dụng của tập luyện TDTT đối với sự phát triển trí lực, đã
có ngày càng nhiều các nhà nghiên cứu báo cáo về vấn đề này Các kết quả nghiên cứu đã chứng minh năng lực ghi nhớ và trí lực là một loại mang đặc tính vật chất hoá học, do một loại phân tử Protein đa vật chất cấu thành, sự vận động của những vật chất này có liên quan đến trạng thái làm việc của đại não, càng thích nghi với điều kiện làm việc thì càng tốt, đại não bảo lưu các tin tức bên ngoài càng kiên cố, sự liên hệ giữa các tin tức đó càng rõ nét đối với sự phân
Trang 32biệt các tin tức càng rõ ràng mạch lạc Những hiện tượng này bình thường chúng
ta hay gọi là “mẫn cảm” Sự thích nghi giữa một đại não tốt với điều kiện công tác được thể hiện ở hai mặt sau:
Cung cấp đầy đủ máu trong não
Thích nghi với trạng thái hưng phấn
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, Giáo dục thể chất có vai trò quan trọng trong sự phát triển của cơ thể Những tác động của Giáo dục thể chất tới con người về các mặt trí lực, đây là điều đặc biệt vì tập thể thao tăng cường trí thông minh Hoạt động Thể chất giúp tạo ra các tế bào não mới trong khu vực liên quan đến trí nhớ Khi chơi thể thao sẽ cảm thấy đầu óc thư thái hơn, tâm lý thoải mái và có những giây phút thực sự sảng khoái, giảm bớt stress và từ đó tăng khả năng tiếp thu kiến thức trên lớp
Vai trò của giáo dục thể chất với nâng cao sức khỏe
Chắc chắn ai cũng biết rằng tập thể thao là để nâng cao sức khỏe Khi sức khoẻ được nâng cao thì sức đề kháng với bệnh tật (bệnh cảm, bệnh Parkinson, bệnh giảm trí nhớ, bệnh tim mạch, bệnh thoái hóa cột sống ) cũng sẽ được nâng lên và tuổi thọ được tăng lên Chúng ta có rất nhiều tấm gương Ngay như Bác
Hồ bận rộn như vậy nhưng sáng nào Bác cũng tập thể dục Sức khoẻ không phải
là cơ bắp, không phải rèn luyện để có cơ bắp to, không phải rèn luyện để có thành tích cao, mà là làm thế nào để có một sức khoẻ tiềm tàng
Tập luyện là biện pháp quan trọng giúp cơ thể tiêu hao năng lượng, tránh được sự tích lũy lượng mỡ thừa trong cơ thể Duy trì hoạt động thể lực đều đặn
sẽ không bị béo phì, nó còn giúp cải thiện hoạt động của tim, phổi, cơ bắp, nâng cao sự uyển chuyển của cơ thể, làm cho tinh thần hoạt bát nhanh nhẹn, sảng khoái, tránh được stress từ đó tăng sức đề kháng của cơ thể Nếu bạn cho là mình khỏe mạnh và không màng tới bất cứ bài tập thể dục nào thì năm tháng trôi qua, nguy cơ ốm đau bệnh tật của bạn chẳng kém người hút trên 10 điếu thuốc lá mỗi ngày
Y học ngày nay cũng khẳng định sức khoẻ của con người phải là sức khoẻ của cả thể chất lẫn tinh thần Chỉ khi nào cơ thể của con người lành mạnh, tâm hồn thoải mái thì khi đó con người mới có sức khoẻ
Trang 33Tập luyện thể dục thể thao là việc thực hành các động tác nhằm phát triển
và duy trì sức khỏe thể chất và sức khỏe toàn diện Điều này có được nhờ việc rèn luyện các động tác thể dục Tập luyện thường xuyên là thành phần rất quan trọng giúp ngăn ngừa bệnh tật, ngăn ngừa các "bệnh người giàu" như: ung thư, bệnh gout, bệnh tim, bệnh mạch vành, tiểu đường loại 2, béo phì và đau lưng Vai trò của giáo dục thể chất với sự phát triển thẩm mỹ con người
Chơi thể thao cũng giúp chúng ta có một phần phẩm chất nghệ sĩ, một tình yêu đối với cái đẹp, tình yêu con người và cuộc sống giàu khả năng cảm xúc, lĩnh hội thế giới thông qua cảm xúc, giúp con người phát triển hài hoà trên tất cả các mặt tư duy logic, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện
Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh, sinh viên thái độ tôn trọng, yêu quý, giữ gìn bảo vệ cái đẹp chân chính, lành mạnh, văn minh, đồng thời hình thành cho ta thái độ không khoan nhượng trước những biểu hiện vô cảm, thiếu trung thực, thiếu văn hoá hoặc trước những hành động tiêu cực trong thể thao nói riêng, trong cuộc sống của con người và xã hội nói chung
1.3.1.2 Mục tiêu của giáo dục thể chất trong trường đại học
Mục tiêu của GDTC trong trường đại học: Nghị định 11/2015/NĐ CP ngày 31 tháng 1 năm 2015 của Chính phủ, Quy định về GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường đã nêu rõ vị trí, mục tiêu của GDTC và hoạt động thể thao trường học: “GDTC trong nhà trường là một nội dung giáo dục, môn học bắt buộc thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho học sinh, SV các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen tập luyện TDTT để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện” [76]
GDTC là một quá trình sư phạm nhằm GD&ĐT thế hệ trẻ hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc, sức đề kháng và kéo dài tuổi thọ của con người GDTC là một loại hình giáo dục, chính vì vậy nó là một quá trình giáo dục có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch để truyền thụ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vận động, những kinh nghiệm sống từ thế hệ này cho thế hệ khác… Như vậy, vì là quá trình sư phạm nên GDTC đòi hỏi phải tuân thủ theo những nguyên tắc sư phạm Trong đó vai trò của người học là trung tâm, người
Trang 34thầy có nhiệm vụ định hướng dẫn dắt, các hoạt động tổ chức tuân thủ theo nguyên tắc sư phạm
1.3.1.3 Nhiệm vụ của giáo dục thể chất trong trường đại học
Nhiệm vụ của GDTC trong trường đại học: Công tác GDTC cho học sinh,
SV các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp nhằm giải quyết các nhiệm vụ:
Giáo dục cho học sinh, SV về đạo đức và nhân cách con người Việt Nam
Xã hội Chủ nghĩa Rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật, năng động
và sáng tạo trong học tập cũng như trong cuộc sống, xây dựng cuộc sống lành mạnh, sẵn sàng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa
Hình thành và hoàn thiện những kỹ năng kỹ xảo vận động cơ bản của một
số môn thể thao và trang bị cho học sinh, SV những kiến thức chuyên môn như:
Lý luận cơ bản về tập luyện và thi đấu thể thao, những tri thức cần thiết về phương pháp, phương tiện GDTC để tự tập luyện cũng như có thể tổ chức và hướng dẫn mọi người tập luyện
Góp phần duy trì và củng cố sức khoẻ của học sinh, phát triển cơ thể một cách hài hoà, cân đối, xây dựng thói quen lành mạnh và khắc phục những thói quen xấu trong cuộc sống Nhằm đạt hiệu quả tốt trong quá trình học tập và đạt những chỉ tiêu thể lực quy định cho từng đối tượng trên cơ sở tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa tuổi
Giáo dục tính thẩm mỹ cho học sinh, SV và tạo điều kiện để nâng cao trình độ thể thao của mọi người
1.3.2 Các hình thức tổ chức giáo dục thể chất ở trường đại học
1.3.2.1 Giờ học giáo dục thể chất nội khóa
Giờ học GDTC trong các trường học hoặc các buổi huấn luyện thể thao trong các trường năng khiếu thể thao chính là giờ học GDTC nội khóa (hay còn gọi là GDTC chính khóa) Giờ học GDTC chính khoá mang tính pháp quy, quy định bắt buộc đối với học sinh, SV và cán bộ giảng dạy Đó là giờ học theo chương trình có quy định về thời gian và quy cách đánh giá chất lượng được bắt đầu từ mẫu giáo, tiếp đến là giảng dạy GDTC theo chương trình ở các cấp học tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông đến bậc đại học Đây là hình
Trang 35thức cơ bản nhất của GDTC được tiến hành theo kế hoạch trong nhà trường các cấp
Nhiệm vụ trọng tâm của giờ học GDTC nội khóa là trang bị tri thức chuyên môn, hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động cần thiết cho cuộc sống và lĩnh vực hoạt động chuyên môn thể thao Giờ học GDTC có ý nghĩa quan trọng nhiều mặt đối với việc quản lý và giáo dục con người trong xã hội Việc học tập các bài tập thể dục, các động tác kỹ thuật là điều kiện cần thiết để con người phát triển cơ thể một cách hài hoà, toàn diện, bảo vệ và củng cố sức khoẻ, hình thành năng lực chung và chuyên môn Mặt khác trong giờ học GDTC những phẩm chất ý chí của con người như: lòng dũng cảm, tính quyết đoán, tính kiên trì và khả năng tự kiềm chế… được hình thành và hoàn thiện Các giờ học còn
có vai trò rất lớn đối với công tác giáo dục lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, tinh thần tập thể, thẳng thắn, trung thực
Trong trường học, giờ học GDTC nội khóa có ưu điểm là được tổ chức chặt chẽ theo thời khóa biểu trên sân tập hoặc trong nhà tập… dưới sự điều khiển của giảng viên theo một kế hoạch giảng dạy chung, đối tượng là học sinh,
SV cùng lứa tuổi và trình độ học vấn với số lượng ổn định Các hoạt động vận động với nội dung chủ yếu gồm các bài tập được quy định trong chương trình Giờ học GDTC được tổ chức phù hợp với nguyên tắc sư phạm chung, với những nguyên tắc GDTC Đồng thời việc tiến hành giờ học GDTC phải đảm bảo được những yêu cầu: Tác động của giờ học phải toàn diện về các mặt giáo dục, giáo dưỡng và sức khoẻ; hoạt động dạy học và giáo dục phải được thực hiện từ đầu đến cuối giờ học; trong giờ học cần hết sức tránh khuôn mẫu, phương pháp cứng nhắc; đảm bảo bình đẳng trong hoạt động học tập cho tất cả học sinh, đồng thời chú ý đặc điểm cá nhân người tập
Theo xu hướng của nội dung, giờ học chính khoá được chia thành giờ học chuẩn bị thể chất chung, giờ học thể thao, giờ học chuẩn bị thể chất nghề nghiệp [59]
Giờ học chuẩn bị thể chất chung: Thường được áp dụng trong các trường học từ bậc mẫu giáo đến đại học Đặc điểm của giờ học này là nội dung học tập phong phú, tổng hợp, lượng vận động vừa phải
Trang 36Giờ học thể thao: Áp dụng trong giảng dạy và huấn luyện một môn thể thao lựa chọn Đặc điểm giờ học này được tiến hành theo phương pháp riêng, đặc biệt chú ý tới định mức lượng vận động, phòng ngừa chấn thương
Giờ học chuẩn bị thể chất nghề nghiệp: Được tiến hành cho các đối tượng thanh thiếu niên và người trưởng thành Đặc điểm tiêu biểu của nội dung giờ học này là giảng dạy các động tác thực dụng mang tính định hướng và giáo dục tố chất thể lực phù hợp với lao động nghề nghiệp
Theo đặc điểm của hoạt động dạy học, người ta chia giờ học chính khoá thành các loại: Giờ học tiếp thu nội dung mới, giờ học củng cố, giờ học kiểm tra, giờ học hỗn hợp [59]
Giờ học tiếp thu nội dung mới có đặc điểm là mật độ vận động tương đối thấp do mất nhiều thời gian làm mẫu cũng như giảng giải, sửa chữa lỗi sai Trong giờ học củng cố và hoàn thiện các em được thực hiện kỹ thuật động tác nhiều hơn
Giờ học kiểm tra thường được tiến hành dưới hình thức thi đấu thể thao Trong giờ học này phải đảm bảo theo trật tự nghiêm ngặt, tuân thủ luật thi đấu, xác định chính xác thành tích
Giờ học hỗn hợp các nội dung mới, hoàn thiện, củng cố, kiểm tra nội dung
cũ được sử dụng rộng rãi hơn cả trong thực tiễn công tác GDTC
1.3.2.2 Giờ học Giáo dục thể chất ngoại khóa
Ngoài giờ học GDTC chính khoá, giờ học GDTC ngoại khoá (hoạt động thể thao ngoại khóa) cũng đóng vai trò rất quan trọng đối với công tác GDTC trong các nhà trường Việc phát triển và hoàn thiện thể chất của SV đòi hỏi sự tích luỹ của quá trình tập luyện lâu dài và thường xuyên Vì vậy giờ học GDTC ngoại khoá có nhiệm vụ góp phần hoàn thiện các bài học chính khoá, được tiến hành vào giờ tự học của SV dưới sự hướng dẫn của giáo viên hay hướng dẫn viên TDTT Ngoài ra còn có các hoạt động thể thao quần chúng ngoài giờ học bao gồm: Tham gia luyện tập trong các câu lạc bộ, các đội tuyển thể thao, tham gia tập các bài tập thể thao chống lại mệt mỏi hàng ngày cũng như giờ tự tập luyện của SV trong phong trào rèn luyện thân thể chung của xã hội
Trang 37Hoạt động thể thao ngoại khoá mang tính tự giác, chính vì vậy đòi hỏi trong giờ học chính khoá cán bộ, giáo viên thể thao phải giác ngộ tinh thần yêu thích thể thao của SV, cho các em thấy vai trò và tầm quan trọng của tập luyện thể dục, thể thao đối với cuộc sống Từ đó tạo ra động cơ tập luyện thể dục, thể thao ngoại khoá cho đúng đắn Hoạt động thể thao ngoại khoá có ý nghĩa rất quan trọng Ngoài việc nhằm giáo dục và rèn luyện các phẩm chất đạo đức, còn
là nơi sinh hoạt giao lưu của mọi người, là nơi giáo dục pháp luật, góp một phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội ra khỏi đời sống của con người
Trong trường đại học, giờ học GDTC ngoại khoá cũng chiếm một khoảng thời gian đáng kể Bởi vì giờ học GDTC chính khoá chiếm thời gian tương đối ngắn, ở đó giáo viên chỉ trang bị những kiến thức cơ bản, những kỹ thuật động tác mới, nếu SV muốn thực hiện một cách thuần thục đòi hỏi phải tham gia tập luyện thêm nhiều Tuy vậy, giờ học ngoại khoá mang tính chất tự nguyện chứ không bắt buộc Với mục đích nhằm củng cố kỹ thuật động tác đã được học trong giờ học chính khoá, ngoài ra giờ học ngoại khoá còn có mục đích nhằm củng cố sức khoẻ, duy trì và nâng cao khả năng hoạt động thể lực cho SV, rèn luyện ý chí, giáo dục tính tự lập cũng như tinh thần tập thể trong quá trình tập luyện, bên cạnh đó SV có thể học được những kỹ năng kỹ xảo vận động mới phức tạp hơn
Các buổi tập ngoại khoá thường có cấu trúc đơn giản hơn, nội dung hẹp hơn so với buổi tập chính khoá Nhiệm vụ cụ thể của buổi tập phần lớn phụ thuộc vào sở thích và hứng thú của từng cá nhân Trong quá trình tập luyện các
em cũng phải tuân thủ theo các quy tắc trong tập luyện, từ khâu khởi động đến trọng động và kết thúc Cũng như khi tập luyện theo nhóm, các em cũng phải tuân thủ các bước đã được giáo viên hướng dẫn trong giờ học chính khoá
Theo tính chất hướng dẫn người ta có thể phân chia buổi tập ngoại khoá thành các buổi tập tự cá nhân tập luyện, các buổi tập theo nhóm tự nguyện, các buổi tập theo nhóm có tổ chức
Các buổi tập tự cá nhân tập luyện: Thường được tổ chức dưới dạng thể dục buổi sáng, thể dục vệ sinh và dạo chơi hàng ngày, các buổi tự tập theo xu hướng chung và huấn luyện thể thao Cần chú ý rằng khi tự tập cá nhân chỉ có
Trang 38hiệu quả khi người tập có những hiểu biết nhất định cần thiết về lý luận và phương pháp GDTC Tự kiểm tra sức khoẻ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để tự
tổ chức tập luyện cá nhân có kết quả Tự kiểm tra sức khoẻ dựa trên phân tích cảm giác chủ quan và những chỉ số khách quan về trạng thái chức năng và thể hình
Các buổi tập theo nhóm tự nguyện: Bao gồm những nội dung trò chơi, lữ hành, du lịch và thi đấu Người tổ chức, lãnh đạo các buổi tập loại này được các thành viên của nhóm bầu ra hoặc được chỉ định Hình thức tập theo nhóm phổ biến nhất đó là trò chơi vận động Theo xu hướng tập luyện các trò chơi có thể được chia thành: trò chơi học tập, trò chơi sức khoẻ, trò chơi giải trí, trò chơi thi đấu
Các buổi tập theo nhóm có người tổ chức: Được tiến hành dưới sự điều khiển của những người làm công tác chuyên môn Tập luyện theo nhóm tổ chức thường là các cuộc thi đấu thể thao các buổi tập nâng cao sức khoẻ, các ngày hội thể thao Trong các trường đại học, các buổi tập theo nhóm tổ chức được thể hiện qua nội dung hoạt động của các CLB TDTT hoặc chương trình huấn luyện của các đội tuyển chuẩn bị tham gia các giải đấu chức năng của các cuộc thi đấu thể thao rất phong phú, thi đấu thể thao được tổ chức vì nhiều mục đích khác nhau như: tuyên truyền trao đổi kinh nghiệm, củng cố tình đoàn kết, mở rộng quan hệ giao tiếp
Các hình thức tập luyện nói trên là các khâu của quá trình GDTC nếu chúng được phối hợp với nhau và vận dụng một cách hợp lý, thành một chỉnh thể thống nhất, chúng sẽ phát huy được hiệu quả tối đa trong quá trình giáo dục với mục đích phát triển các tố chất thể lực, trang bị những tri thức, kỹ năng kỹ xảo vận động, rèn luyện các phẩm chất ý chí, tính nhẫn lại, tinh thần đồng đội…Tuy nhiên khi tổ chức các hình thức như vậy phải căn cứ và o nguyên tắc của quá trình GDTC cũng như nguyên tắc tập luyện thể thao…
1.3.3 Giáo dục thể chất ở các trường đại học tại Việt Nam
Môn học GDTC đã được chính thức đưa vào giảng dạy ở các trường đại học ở miền Bắc nước ta từ năm 1961 Sau 1975, đất nước thống nhất, GDTC đã được được duy trì phát triển ổn định đến ngày nay Vì tầm quan trọng của môn
Trang 39học này mà Bộ GD&ĐT luôn quan tâm xuyên suốt qua việc ban hành các quyết định, quy chế như: Quy chế GDTC và y tế trường học, ban hành kèm theo QĐ
số 14/2001/QĐ BGD&ĐT và từng năm học đều có các văn bản hướng dẫn chỉ đạo kịp thời công tác GDTC [12]; Về nội dung môn học GDTC, Bộ GD&ĐT đã ban hành Quyết định số 3244/GD ĐT ngày 12/9/1995, Qui định chương trình GDTC thống nhất trong các trường đại học trên cả nước [10]
Tiếp đó, nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng, đa dạng hóa nội dung môn học GDTC, ngày 12/4/1997 Bộ GD&ĐT tiếp tục ban hành chương trình GDTC giai đoạn II dành cho các trường đại học, cao đẳng không chuyên TDTT (Quyết định số 1262/GD ĐT) Trong đó các môn thể thao hấp dẫn, phổ biến như: bóng
đá, bóng chuyền, bóng bàn, bóng rổ, cầu lông được đưa vào chương trình và được đông đảo SV yêu thích [11]
Cuối mỗi năm học, SV phải kiểm tra thể lực theo quy định của Bộ GD&ĐT hay tiêu chuẩn của trường SV tích luỹ đủ điểm của 5 học phần và có điểm “đạt” tiêu chuẩn rèn luyện thân thể mới được cấp chứng chỉ môn học Trong đó, ngoại khóa là nội dung học tập có thời lượng khá cao do cán bộ giảng dạy TDTT quản lý, tổ chức cho SV Để hướng dẫn các trường thực hiện đồng nhất, Bộ GD&ĐT đã ban hành Đề cương chi tiết các học phần GDTC giai đoạn
I với việc cụ thể hóa phân bố chương trình 90 tiết cho 3 học phần GDTC1, GDTC2 và GDTC3 mỗi học phần 30 tiết
Tuy nhiên, giờ học GDTC nội khóa cũng còn nhiều hạn chế như: Thời lượng môn học quá ít, chỉ 1 đến 2 buổi với tổng thời gian 2 tiết/tuần Bên cạnh
đó nhiều trường còn giảng dạy chưa thống nhất, hầu như rất ít trường dạy theo quy định của Bộ GD&ĐT; thời lượng giờ học GDTC bị cắt xén, thậm chí có trường chỉ còn khoảng 60 - 90 tiết trong tổng số 150 tiết của toàn khóa, giảng dạy còn mang tính chất miễn cưỡng, chiếu lệ và dồn nén, toàn bộ chương trình môn học chỉ dạy trong 2 - 3 học kỳ trong một khóa học Có thể nói, việc giảng dạy GDTC nội khóa ở các trường đại học trên cả nước nhìn chung là chưa triệt
để, chưa mang lại hiệu quả thiết thực cho người học, còn các giờ học ngoại khóa, do có nhiều khó khăn, rất ít trường đại học thực hiện được
Trang 40Chương trình hành động theo Nghị quyết số 08 NQ/TW ngày 01/12/2011 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm
2020 và Nghị quyết số 16/NQ CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ, nêu rõ về nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trường học: Đổi mới chương trình và phương pháp GDTC, gắn GDTC với giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khỏe và kỹ năng sống của học sinh, SV; thực hiện tốt GDTC theo chương trình nội khóa và phát triển mạnh các hoạt động thể thao ngoại khóa của học sinh, SV; tiếp tục phát triển các trường lớp năng khiếu thể thao để phát hiện, đào tạo tài năng thể thao quốc gia [8], [9] Hoạt động thể thao và thi đấu thể thao ở bậc đại học đã được quy định trong điều 5 của Nghị định số 11/2015/NĐ CP ngày 31/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ về “Quy định về giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong nhà trường” Cụ thể: [76]
Hoạt động thể thao: Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn nội dung hoạt động thể thao trong trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông, trường phổ thông có nhiều cấp học; trường đại học, học viện, đại học vùng và đại học quốc gia
Thi đấu thể thao bao gồm: a) Các đại hội thể thao học sinh, SV trong nước
và quốc tế; b) Các giải thi đấu thể thao học sinh, SV trong nước và quốc tế Thực hiện chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020, bởi vậy thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới trong công tác giáo dục thể chất và thể thao trong trường học, đó là: Chú trọng công tác giáo dục thể chất và phong trào thể thao trong trường học các cấp; đổi mới nội dung chương trình, giáo trình, chương trình giáo dục thể chất phù hợp với đặc điểm phát triển thể chất của học sinh, SV Việt Nam và tăng cường tổ chức các hoạt động ngoại khoá với các tiêu chí đánh giá cụ thể, linh hoạt [72]
Nhiệm vụ cụ thể: Tăng cường chất lượng dạy và học; đổi mới nội dung, giáo trình, chương trình giáo dục thể chất phù hợp với thể chất học sinh Việt Nam và tăng cường tổ chức các hoạt động ngoại khoá với các tiêu chí đánh giá
cụ thể, linh hoạt; kết hợp đồng bộ y tế học đường với dinh dưỡng học đường;