1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giải pháp phát triển công tác Giáo dục thể chất cho học sinh các trường THPT trên địa bàn Tp. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

190 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Giải pháp Phát triển công tác Giáo dục thể chất cho học sinh các trường THPT trên địa bàn TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Nguyễn Văn Dũng
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Kim Xuân, PGS.TS. Phạm Xuân Thành
Trường học Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại Luận án tiến sĩ giáo dục học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Bắc Ninh
Định dạng
Số trang 190
Dung lượng 2,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu giải pháp phát triển công tác Giáo dục thể chất cho học sinh các trường THPT trên địa bàn Tp. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.Nghiên cứu giải pháp phát triển công tác Giáo dục thể chất cho học sinh các trường THPT trên địa bàn Tp. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.Nghiên cứu giải pháp phát triển công tác Giáo dục thể chất cho học sinh các trường THPT trên địa bàn Tp. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.Nghiên cứu giải pháp phát triển công tác Giáo dục thể chất cho học sinh các trường THPT trên địa bàn Tp. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.Nghiên cứu giải pháp phát triển công tác Giáo dục thể chất cho học sinh các trường THPT trên địa bàn Tp. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.Nghiên cứu giải pháp phát triển công tác Giáo dục thể chất cho học sinh các trường THPT trên địa bàn Tp. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.Nghiên cứu giải pháp phát triển công tác Giáo dục thể chất cho học sinh các trường THPT trên địa bàn Tp. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.Nghiên cứu giải pháp phát triển công tác Giáo dục thể chất cho học sinh các trường THPT trên địa bàn Tp. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.Nghiên cứu giải pháp phát triển công tác Giáo dục thể chất cho học sinh các trường THPT trên địa bàn Tp. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.Nghiên cứu giải pháp phát triển công tác Giáo dục thể chất cho học sinh các trường THPT trên địa bàn Tp. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.Nghiên cứu giải pháp phát triển công tác Giáo dục thể chất cho học sinh các trường THPT trên địa bàn Tp. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH

-

NGUYỄN VĂN DŨNG

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG TÁC

GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

BẮC NINH – 2022

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH

-

NGUYỄN VĂN DŨNG

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG TÁC

GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực

và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả luận án

Nguyễn Văn Dũng

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BGD&ĐT : Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trang 5

MỤC LỤC

Trang bìa

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

1.3 Khái quát về công tác Giáo dục thể chất trong các trường

trung học phổ thông

18

1.4 Quan điểm về đánh giá chất lượng Giáo dục thể chất trong

các trường trung học phổ thông

29

1.5 Đặc điểm tâm – sinh lý học sinh trung học phổ thông 35 1.6 Những công trình nghiên cứu có liên quan 38

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 48

2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 48

Trang 6

2.1.2 Phương pháp quan sát sư phạm 49

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 60

3.1 Nghiên cứu thực trạng công tác Giáo dục thể chất ở các

trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thanh Hóa,

tỉnh Thanh Hóa

60

3.1.1 Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới công tác Giáo dục thể

chất ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thanh

Hóa, tỉnh Thanh Hóa

60

3.1.2 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới công tác Giáo dục thể

chất ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thanh

Hóa, tỉnh Thanh Hóa

64

3.1.3 Thực trạng kết quả học tập môn học Giáo dục thể chất của

học sinh các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thanh

Hóa, tỉnh Thanh Hóa

86

3.1.4 Thực trạng trình độ thể lực của học sinh các trường Trung

học phổ thông trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

86

3.1.5 Bàn luận kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 1 89

3.2 Lựa chọn và ứng dụng các giải pháp phát triển công tác

Giáo dục thể chất cho học sinh các trường Trung học phổ thông

trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

97

Trang 7

3.2.1 Nghiên cứu lựa chọn các giải pháp phát triển công tác

Giáo dục thể chất phù hợp cho học sinh các trường Trung học phổ

thông trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

97

3.2.2 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các giải pháp phát triển

công tác Giáo dục thể chất cho học sinh các trường Trung học phổ

thông trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Danh mục các bảng

3.1 Kết quả phỏng vấn xác định các yếu tố ảnh hưởng tới công

tác GDTC cho học sinh các trường THPT trên địa bàn Tp

Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (n=36)

62

3.2 Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học môn học Thể

dục nội khóa trong các trường THPT trên địa bàn thành phố

Thanh Hóa (n=39)

65

3.3 Thực trạng sử dụng các phương tiện dạy học Thể dục nội

khóa cho học sinh THPT thành phố Thanh Hóa (n=39)

67

3.4 Thực trạng mật độ chung, mật độ động và cường độ vận động

trong các giờ học Thể dục nội khóa của học sinh THPT Tp

Thanh Hóa (n=69 giáo án)

69

3.5 Thực trạng nội dung tham gia hoạt động Thể thao ngoại khóa

của học sinh các trường THPT Tp Thanh Hóa (n=1038)

72

3.6 Thực trạng hình thức hoạt động TDTT NK của học sinh các

trường THPT Tp Thanh Hóa (n=649)

73

3.7 Thực trạng nhu cầu tập luyện TDTT NK của học sinh các

trường THPT Tp Thanh Hóa (n=1038)

74

3.8 Thực trạng phong trào thi đấu TDTT của học sinh các trường

THPT trên địa bàn Tp Thanh Hóa năm 2019 (n=9 trường)

76

3.9 Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức của cán bộ, giáo viên,

học sinh về vai trò, tác dụng của công tác GDTC (n=1122)

77

3.10 Thực trạng công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động TDTT của

các trường THPT trên địa bàn Tp Thanh Hóa (n=48)

79

3.11 Thực trạng đội ngũ giáo viên GDTC tại các trường THPT trên

địa bàn Tp Thanh Hóa (n=9 trường)

81

3.12 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ công tác GDTC nội khóa

và hoạt động TDTT NK tại các trường THPT Tp Thanh Hóa

(n=9 trường)

82

Trang 9

Số TT Nội dung Trang

Danh mục các bảng

3.13 Thực trạng sử dụng giải pháp phát triển công tác GDTC cho

học sinh các trường THPT Tp Thanh Hóa (n=9 trường)

84

3.14 Thực trạng kết quả học tập môn học Giáo dục thể chất của

học sinh các Trường THPT Tp Thanh Hóa (n=2700)

3.17 Kết quả phỏng vấn xác định nguyên tắc lựa chọn giải pháp

phát triển công tác GDTC cho học sinh các trường THPT Tp

Thanh Hóa (n=33)

100

3.18 Kết quả phân tích SWOT thực trạng phát triển công tác

GDTC cho học sinh các trường THPT Tp Thanh Hóa

101

3.19 Ma trận SWOT về thực trạng phát triển công tác GDTC cho

học sinh các trường THPT Tp Thanh Hóa

102

3.20 Kết quả phỏng vấn lựa chọn giải pháp phát triển công tác

GDTC cho học sinh các trường THPT Tp Thanh Hóa (n=33)

Sau Tr.104 3.21 Kết quả kiểm định mức độ tin cậy nội tại của các giải pháp

phát triển GDTC cho học sinh THPT Tp Thanh Hóa

106

3.22 Kết quả kiểm định mức độ tin cậy nội tại của các giải pháp

phát triển GDTC cho học sinh THPT Tp Thanh Hóa

107

3.23 Kết quả phân tích nhân tố khám phá của các nhóm giải pháp

phát triển thể công tác GDTC cho học sinh THPT Tp Thanh

Hóa

108

3.24 Kết quả phân tích nhân tố giải pháp phát phát triển công tác

GDTC cho học sinh các trường THPT Tp Thanh Hóa

109

3.25 Phân bổ chi tiết đối tượng theo dõi thực nghiệm ứng dụng các

giải pháp phát triển công tác GDTC cho học sinh THPT Tp

Thanh Hóa

122

Trang 10

Số TT Nội dung Trang

Danh mục các bảng

3.26 Tổng hơp các nhóm phương pháp dạy học GDTC cho học

sinh các trường THPT Tp Thanh Hóa

Sau Tr.123 3.27 So sánh cường độ và mật độ vận động trung bình trong 10 tiết

học GDTC nội khóa của học sinh các trường nhóm thực

nghiệm thời điểm bắt đầu thực nghiệm và sau khi triển khai

các giải pháp

124

3.28 So sánh tỷ lệ học sinh có nhu cầu và tham gia tập luyện

TDTT NK của nhóm thực nghiệm ở thời điểm trước và sau

3.30 Kết quả kiểm tra thể lực của học sinh lớp 10 các trường

THPT Tp.Thanh Hóa thuộc nhóm đối chứng và nhóm thực

nghiệm, thời điểm trước thực nghiệm (n=400)

Sau Tr.129

3.31 Kết quả kiểm tra thể lực của học sinh lớp 11 các trường

THPT Tp.Thanh Hóa thuộc nhóm đối chứng và nhóm thực

nghiệm, thời điểm trước thực nghiệm (n=400)

Sau Tr.129

3.32 Kết quả kiểm tra thể lực của học sinh lớp 12 các trường

THPT Tp.Thanh Hóa thuộc nhóm đối chứng và nhóm thực

nghiệm, thời điểm trước thực nghiệm (n=400)

Sau Tr.129

3.33 Kết quả phân loại thể lực của học sinh THPT Tp Thanh Hóa

(n=1200)

130

3.34 Kết quả kiểm tra thể lực của học sinh lớp 10 các trường

THPT Tp.Thanh Hóa thuộc nhóm đối chứng và nhóm thực

nghiệm, thời điểm sau thực nghiệm (n=400)

131

3.35 Kết quả kiểm tra thể lực của học sinh lớp 11 các trường

THPT Tp.Thanh Hóa thuộc nhóm đối chứng và nhóm thực

nghiệm, thời điểm sau thực nghiệm (n=400)

Sau tr.131

Trang 11

Số TT Nội dung Trang

Danh mục các bảng

3.36 Kết quả kiểm tra thể lực của học sinh lớp 12 các trường

THPT Tp.Thanh Hóa thuộc nhóm đối chứng và nhóm thực

nghiệm, thời điểm sau thực nghiệm (n=400)

Sau tr.131

3.37 Nhịp tăng trưởng kết quả kiểm tra thể lực của học sinh các

trường THPT Tp Thanh Hóa thuộc nhóm đối chứng và nhóm

thực nghiệm, thời điểm sau thực nghiệm (n=1200)

3.1 Thành phần đối tượng phỏng vấn xác định yếu tố ảnh hưởng

tới công tác GDTC cho học sinh các trường THPT trên địa

bàn Tp Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

61

3.2 Nhịp tăng trưởng thể lực của nữ học sinh lớp 10 nhóm đối

chứng và thực nghiệm sau 1 năm học thực nghiệm

Sau tr.133 3.3 Nhịp tăng trưởng thể lực của nam học sinh lớp 10 nhóm đối

chứng và thực nghiệm sau 1 năm học thực nghiệm

Sau tr.133 3.4 Nhịp tăng trưởng thể lực của nữ học sinh lớp 11 nhóm đối

chứng và thực nghiệm sau 1 năm học thực nghiệm

Sau tr.133 3.5 Nhịp tăng trưởng thể lực của nam học sinh lớp 11 nhóm đối

chứng và thực nghiệm sau 1 năm học thực nghiệm

Sau tr.133 3.6 Nhịp tăng trưởng thể lực của nữ học sinh lớp 12 nhóm đối

chứng và thực nghiệm sau 1 năm học thực nghiệm

Sau tr.133 3.7 Nhịp tăng trưởng thể lực của nam học sinh lớp 12 nhóm đối

chứng và thực nghiệm sau 1 năm học thực nghiệm

Sau tr.133

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU Tính cấp thiết:

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, nhân tố con người là yếu tố then chốt, là tiền đề cần thiết cho sự phát triển bền vững, sự hưng thịnh của mỗi quốc gia Đây là vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, đầu tư thích đáng, nhất là trong lĩnh vực giáo dục, coi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”

Nghị quyết Trung ương II khóa VIII về Giáo dục - Đào tạo và khoa học công nghệ đã khẳng định: “Giáo dục – Đào tạo phải cùng với khoa học và công nghệ thực sự trở thành quốc sách hàng đầu…Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh phải có con người phát triển toàn diện Không chỉ phát triển về trí tuệ, trong sáng về đạo đức và lối sống mà còn phải là con người cường tráng

về thể chất…” [5]

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước, Đảng và Nhà nước ta lại càng chú trọng hơn công tác Giáo dục thể chất (GDTC) cho học sinh – sinh viên lớp người kế tiếp truyền thống cha ông, chủ nhân tương lai của đất nước; xem đó là tiền đề quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và khẳng định cần phải có chính sách chăm sóc, giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam phát triển hài hòa về thể chất, tinh thần, tư duy trí tuệ và đạo đức con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa

Trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “Đẩy mạnh hoạt động TDTT, nâng cao thể trạng và tầm vóc người Việt Nam, phát triển phong trào TDTT quần chúng với mạng lưới cơ sở rộng khắp” “Phát triển các hoạt động TDTT cả về quy mô và chất lượng, góp phần nâng cao thể lực và phát huy tinh thần dân tộc của người Việt Nam”

Với tư tưởng chỉ đạo: “Thực hiện các nhiệm vụ xây dựng thế hệ trẻ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc của Chủ nghĩa Xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có trình độ làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo và có sức khỏe”, và

“Đối với giáo dục điều đáng quan tâm nhất là chất lượng và hiệu quả giáo dục,

Trang 13

và yêu cầu giáo dục nhằm vào mục tiêu giáo dục toàn diện: Đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục trong tất cả các trường học”

Chính vì vậy, công tác GDTC và hoạt động TDTT trong trường học ở các cấp là một mặt giáo dục quan trọng không thể thiếu được trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện mục tiêu: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” để đáp ứng nhu cầu mới của sự nghiệp phát triển kinh

tế xã hội của đất nước Góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh – sinh viên đó là giáo dục các mặt: Đức – Trí – Lao – Thể - Mỹ

Giáo dục thể chất trong các trường học nói chung và trong các trường Trung học hổ thông (THPT) nói riêng bao gồm giờ thể dục chính khoá và các hoạt động thể thao ngoại khóa Để đánh giá trình độ thể lực của học sinh trong trường học các cấp ta căn cứ vào tiêu chuẩn thể lực chung theo lứa tuổi và cấp học (Quyết định số 53/2008- QĐ-BGD&ĐT ngày 18/9/2008 của Bộ trưởng

Bộ GD&ĐT) [14]

Tuổi học sinh THPT là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kì phát triển bình thường, hài hòa, cân đối Hoạt động trí tuệ của các em có thể phát triển tới mức cao Tư duy ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí có điều kiện phát triển mạnh Ở tuổi này, các em dễ bị kích thích và sự biểu hiện của nó cũng giống như ở tuổi thiếu niên Nhìn chung

ở tuổi này các em có sức khỏe và sức chịu đựng tốt hơn tuổi thiếu niên Sự phát triển thể chất ở lứa tuổi này sẽ có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý và nhân cách đồng thời nó còn ảnh hưởng tới sự lựa chọn nghề nghiệp sau này của các

em Do đó, việc tác động GDTC đối với lứa tuổi này cần phải đảm bảo tính khoa học Có như vậy cơ thể của các em mới phát triển bình thường theo qui luật lứa tuổi, giới tính và đạt được nền tảng cơ bản giúp các em phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần Nếu những tác động đúng và khoa học sẽ mang lại hiệu quả tốt

và làm nền tảng cho sự phát triển của các em trong tương lai

Để công tác GDTC đạt hiệu quả như mục đích đặt ra, cần phải đàm bảo những tỷ lệ nhất định, những tỷ lệ này là kết quả nghiên cứu nhiều năm của các công trình trong và ngoài nước Đó là tỷ lệ thích hợp giữa giáo viên GDTC

Trang 14

trên tổng số học sinh của môn học, cơ sở vật chất đảm bảo cho chương trình môn học GDTC và các hoạt động ngoại khóa TDTT của học sinh, hệ thống các phương pháp và phương tiện GDTC, các chương trình GDTC học đường các cấp Đặc biệt là những nguyên tắc cần phải tuân thủ khi xây dựng và điều chỉnh chương trình Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay GDTC học đường nói chung và đặc biệt là GDTC trong các trường THPT nói riêng vẫn còn nhiều bất cập Hiện các đề tài nghiên cứu về công tác GDTC và TDTT tong trường học các cấp rất đa dạng, tiếp cận dưới nhiều góc độ, nhiều đối tượng và địa bàn nghiên cứu xong mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu theo từng địa bàn, đối tượng cụ thể và chưa có công trình nào nghiên cứu phát triển công tác GDTC cho học sinh trong các trường THPT trên địa bàn Tp Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Thành phố (Tp.) Thanh Hóa là đô thị loại I, là thành phố trực thuộc tỉnh

và là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của tỉnh Thanh Hóa và khu vực Bắc Trung Bộ, là một trong những trung tâm kinh tế, dịch vụ, chăm sóc sức khỏe, giáo dục đào tạo, TDTT của vùng phía Nam Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Thanh Hóa cũng là đô thị chuyển tiếp giữa vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ với vùng Bắc Trung Bộ, đầu mối giao lưu của tỉnh với cả nước, có vị trí quan trọng về an ninh, quốc phòng; Là đô thị phát triển dịch vụ đa ngành, đa lĩnh vực, phát triển công nghiệp sạch công nghệ cao, cách thủ đô Hà nội 160 km về phía nam, là một trong những thành phố trực thuộc tỉnh có diện tích và dân số lớn nhất Việt Nam Thanh Hóa bao gồm 2 thành phố trực thuộc tỉnh, 1 thị xã và 24 huyện, với diện tích 11.133,4 km² và số dân 3.712.600 người với 7 dân tộc Kinh, Mường, Thái, H'mông, Dao, Thổ, Khơ-mú, trong đó có khoảng 855.000 người sống ở thành thị Năm 2005, Thanh Hóa có 2,16 triệu người trong độ tuổi lao động, chiếm tỷ lệ 58,8% dân số toàn tỉnh, lao động đã qua đào tạo chiếm 27%, trong

đó lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm 5,4%

Trên địa bàn thành phố có 9 trường THPT với gần 9000 học sinh Theo đánh giá của nhiều nhà chuyên môn, các chuyên gia GDTC và các giáo viên Thể

Trang 15

dục tại tỉnh Thanh Hóa, công tác GDTC nói chung và công tác GDTC tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Thanh Hóa nói riêng đạt hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác GDTC trong thời kỳ đổi mới Chính vì vậy, việc tác động các giải pháp phù hợp nhằm phát triển GDTC cho học sinh THPT trên địa bàn Tp Thanh Hóa là vấn đề cần thiết và cấp thiết

Việc nghiên cứu giải pháp nhằm nâng cao chất lượng GDTC cho học sinh, sinh viên trong các trường học ở Việt Nam đã được rất nhiều tác giả nghiên cứu như: Vũ Đức Văn (2008), Nguyễn Văn Tri (2011), Trần Hữu Hùng (2014), Võ Văn Vũ (2014), Đồng Thị Hương Lan (2016), Lê Đông Dương (2017), Mai Thị Bích Ngọc (2017), Lê Thị Thanh Thủy (2019), Nguyễn Minh Cường (2020) Những công trình trên đã đi sâu nghiên cứu các giải pháp cũng như thực trạng GDTC của các trường và đã đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả GDTC cho học sinh, sinh viên Những công trình trên có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao chất lượng rèn luyện của học sinh, sinh viên trong trường học các cấp hiện nay và có ý nghĩa trong việc xây dựng nội dung, chương trình theo nhóm nghề Xuất phát từ quan điểm đó, thực tiễn các kết quả nghiên cứu cho thấy, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu giải pháp phát triển công tác GDTC cho học sinh các trường THPT trên địa bàn Tp Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuy nhiên, để các giải pháp phát huy được tính hiệu quả cao trong thực tiễn thì cần được lựa chọn và xây dựng trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng, xác định chính xác các điểm điểm mạnh để phát huy, điểm yếu, điểm hạn chế cần khắc phục, từ đó xác định các giải pháp phù hợp, hay nói cách khác, các giải pháp phát xuất phát từ thực tiễn và giải quyết các vấn

đề từ thực tiễn [22], [26], [39], [43], [49], [77], [82], [90], [94]

Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu giải pháp phát triển công tác Giáo dục thể chất cho học sinh các trường THPT trên địa bàn Tp Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa”

Mục đích nghiên cứu:

Từ kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác GDTC tại các trường THPT trên địa bàn Tp Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, đề tài lựa chọn và xây dựng

Trang 16

nội dung các giải pháp phù hợp, có hiệu quả trong phát triển công tác GDTC cho học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa theo định hướng phù hợp với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay

và có tính đến tương lai, đồng thời tiếp thu được những kinh nghiệm tiên tiến sẵn có của thế giới, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác GDTC trong các trường THPT trên cả nước

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục đích nghiên cứu đặt ra, chúng tôi giải quyết các nhiệm

vụ nghiên cứu sau:

Nhiệm vụ 1 Nghiên cứu thực trạng công tác GDTC ở các trường THPT

trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Nhiệm vụ 2 Lựa chọn và ứng dụng các giải pháp phát triển công tác

GDTC cho học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu: Là các giải pháp phát triển công tác GDTC cho học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng quan trắc:

Là học sinh khối 10, 11 và 12 các trường THPT trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Số lượng mẫu nghiên cứu:

Đối tượng khảo sát: Gồm 9 trường THPT trên địa bàn tỉnh thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa thuộc 3 nhóm:

Nhóm các trường chuyên biệt gồm: Trường THPT chuyên Lam Sơn tỉnh Thanh Hóa (trường chuyên, trường trọng điểm cấp tỉnh) và Trường THPT Dân tộc Nội trú tỉnh (trường đặc thù đào tạo học sinh dân tộc của cả tỉnh)

Trang 17

Nhóm các trường công lập của thành phố gồm: Trường THPT Đào Duy Từ; Trường THPT Hàm Rồng; Trường THPT Nguyễn Trãi và Trường THPT Tô Hiến Thành

Nhóm các trường tư thục gồm: Trường THPT dân lập Trường Thi; Trường THPT Đông Bắc Ga và Trường THPT Dân lập Lý Thường Kiệt

Đối tượng học sinh khảo sát thực trạng thể lực: gồm 2700 học sinh từ khối 10 đến khối 12 (mỗi khối 50 học sinh nam và 50 học sinh nữ) thuộc các trường THPT trên địa bàn tỉnh thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (thời điểm khảo sát năm học 2020 – 2021)

Cỡ mẫu hoàn toàn bảo đảm yêu cầu khi xác định theo phương pháp ước lượng tổng thể của Yamane Taro (1967) Có 2 phương pháp xác định kích thước mẫu nghiên cứu tương ứng với 2 trường hợp: Không biết mẫu tổng thể và biết mẫu tổng thể Trong quá trình nghiên cứu, vì số lượng học sinh mỗi trường trong diện khảo sát rất rõ ràng nên đề tài luận án sử dụng công thức tính cỡ mẫu khi biết quy mô và tổng thể:

1 + N x e2 Trong đó: n là kích thước mẫu cần xác định; N là quy mô tổng thể và e

là sai số cho phép (đề tài sử dụng sai số phổ biến là ±0.05 (5%) Với 9000 học sinh trong 9 trường thuộc nhóm đối tượng khảo sát thì mẫu tối thiếu cần là 383 học sinh

Để bảo đảm tính đại diễn của mẫu, chúng tôi đã phân bổ đều số lượng mẫu khảo sát lựa chọn của đề tài là 2700 học sinh cho 9 trường, mỗi trường phân bổ đều cho 3 khối: Khối 10, khối 11 và khối 12, đồng thời phân bổ đều số lượng học sinh nam và nữ

Đối tượng khảo sát thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới công tác GDTC:

1038 học sinh, 39 giáo viên thể dục 36 giáo viên các môn học khác và 09 cán bộ quản lý thuộc 09 trường trường THPT thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Trang 18

Đối tượng phỏng vấn xác định các yếu tố ảnh hưởng tới công tác GDTC trong các trường THTP trên địa bàn Tp Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa gồm: 36 chuyên gia GDTC, giáo viên GDTC lâu năm tại các trường THPT trên địa bàn thành phố

Đối tượng phỏng vấn lựa chọn giải pháp phát triển công tác GDTC: Đề tài

tiến hành gồm 42 chuyên gia, cán bộ quản lý giáo dục của Sở GD&ĐT tỉnh Thanh Hóa; Chuyên gia có trình độ chuyên môn, có bề dày kinh nghiệm về công tác GDTC ở trường Đại học TDTT Bắc Ninh; Viện Khoa Học TDTT, giáo viên

có kinh nghiệm và thâm niên dạy học TDTT bậc học THPT

Đối tượng thực nghiệm: Gồm 1200 học sinh khối 10 đến khối 12 thuộc 06 trường THPT trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa gồm:

Nhóm các trường chuyên biệt gồm: Trường THPT chuyên Lam Sơn tỉnh Thanh Hóa – thực nghiệm và Trường THPT Dân tộc Nội trú tỉnh

Nhóm các trường công lập của thành phố gồm: Trường THPT Đào Duy

Từ và Trường THPT Nguyễn Trãi

Nhóm các trường tư thục gồm: Trường THPT dân lập Trường Thi; Trường THPT Đông Bắc Ga

Cách tiếp cận nội dung nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng cách tiếp cận hệ thống Theo cách tiếp cận này, công tác GDTC được hiểu là tổng hòa công tác GDTC nội khóa, thể thao ngoại khóa, các điều kiện, yếu tố ảnh hưởng tới công tác GDTC… và phát triển công tác GDTC là quá trình thay đổi cả về chất và lượng trong tổng hòa các vấn đề tạo nên công tác GDTC

Giả thuyết khoa học:

Đề tài đặt giả thuyết, chất lượng công tác GDTC của các trường THPT trên

địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa còn nhiều hạn chế, công tác tổ chức tập luyện chính khoá và ngoại khoá còn gặp nhiều khó khăn về khâu tổ chức, quản lý Chính vì vậy, nếu áp dụng các giải pháp phù hợp có đầy đủ cơ sở khoa học của đề tài, phù hợp với điều kiện thực tiễn và tiếp thu được những kinh

Trang 19

nghiệm tiên tiến sẵn có của thế giới sẽ có tác dụng phát triển công tác GDTC

trong các trường các trường THPT trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa Tỉnh Thanh Hóa

Ý nghĩa lý luận

Đề tài đã bổ sung và hoàn thiện các kiến thức lý luận về công tác GDTC trong trường học các cấp nói chung; thống nhất các khái niệm sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài; các yếu tố ảnh hưởng tới công tác GDTC cho học sinh THPT, phân tích đặc điểm hình thái, tâm – sinh lý lứa tuổi THPT cũng như các công trình nghiên cứu có liên quan, làm căn cứ để tiến hành các nhiệm vụ nghiên cứu tiếp theo của đề tài luận án

Ý nghĩa thực tiễn

Quá trình nghiên cứu đã đánh giá được thực trạng các yếu tố ảnh hưởng và thực trạng công tác GDTC ở các trường THPT trên địa bàn Tp Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, trên cơ sở đó tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong phát triển GDTC tại các Trường Trên cơ sở đó, đề xuất được 8 giải pháp phát triển công tác GDTC cho học sinh các trường THPT trên địa bàn Tp Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa thuộc 3 nhóm Bước đầu ứng dụng và đánh giá hiệu quả các giải pháp đã cho thấy hiệu quả thiết thực

Trang 20

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về công tác Giáo dục thể chất trong trường học các cấp

Thể dục thể thao trường học bao gồm hoạt động GDTC bắt buộc và hoạt động TDTT tự nguyện của HS, SV trong trường học các cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, là bộ phận cơ bản và quan trọng của nền TDTT nước ta Vấn đề này đã được làm rõ trong các văn bản, chỉ thị của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực GDTC và TDTT trường học Cụ thể:

Hiến pháp Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992 tại Điều 41 đã quy định: "Nhà nước và xã hội phát triển nền thể dục, thể thao dân tộc, khoa học và nhân dân Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển thể dục, thể thao; quy định chế độ GDTC bắt buộc trong trường học; khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức tổ chức thể dục, thể thao tự nguyện của nhân dân, tạo các điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động thể dục, thể thao quần chúng, chú trong hoạt động thể thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao” Trong Hiến pháp Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam sửa đổi năm 2013 tại Điều 37 đã quy định: "Thanh niên được Nhà nước, gia đình và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân; đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo

và bảo vệ Tổ quốc".[40], [55]

Chỉ thị số 36/CT/TW ngày 24-03-1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) đã giao trách nhiệm cho Bộ GD-ĐT và Tổng cục TDTT thường xuyên phối hợp chỉ đạo tổng kết công tác GDTC, cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo GV TDTT cho trường học các cấp, tạo những điều kiện cần thiết về CSVC để thực hiện chế độ GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết HS, SV, qua đó phát hiện và tuyển chọn được nhiều tài năng thể thao cho quốc gia [4]

Các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI của Đảng đã xác định những quan điểm cơ bản và chủ trương lớn trong công tác TDTT của thời

Trang 21

kỳ đổi mới Chăm sóc sức khỏe, tăng cường thể chất của nhân dân luôn được coi

là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước ta Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi nhân dân ta phải có sức khỏe dồi dào, thể chất cường tráng, tinh thần phấn khở i Vận động TDTT là một biện pháp hiệu quả để tăng cường lực lượng sản xuất và lực lượng quốc phòng của nước nhà Đó chính là những quan điểm của Đảng ta về phát triển sự nghiệp TDTT ở Việt Nam

Từ Đa ̣i hô ̣i Đảng toàn quốc lần thứ XII năm 2018 tới nay, trong các văn kiê ̣n và nghi ̣ quyết Đa ̣i hô ̣i , Trung ương đều nêu quan điểm chỉ đa ̣o công tác TDTT trong cả nhiê ̣m kỳ Đồng thời trong một số nhiệm kỳ , Ban Chấp hành Trung ương đảng đã ban hành chỉ thi ̣, nghi ̣ quyết chuyên đề về công tác TDTT

Hoạt động TDTT lần đầu tiên được luật hóa thông qua là Pháp lệnh TDTT được ban hành năm 2000 Sau một thời gian dài chuẩn bị, năm 2006 Luật TDTT được Quốc hội thông qua, ghi dấu ấn mới cho sự phát triển TDTT của nước nhà Luật TDTT đã dành riêng một mục gồm 6 điều để quy định về công tác GDTC

và hoạt động thể thao trong nhà trường, đây là cơ sở pháp lý để tăng cường trách nhiệm đối với công tác TDTT nói chung, công tác TDTT trong trường học nói riêng [56], [58]

Không chỉ lãnh đạo TDTT và GD&ĐT bằng đường lối, chính sách, mà Nhà nước còn đề ra những giải pháp chỉ đạo thực hiện hiệu quả Một trong những giải pháp là đẩy mạnh công tác xã hội hóa (XHH) GD và TDTT Với quan điểm GD và TDTT là sự nghiệp của toàn dân, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 05/NQ-CP về việc đẩy mạnh XHH các lĩnh vực GD và TDTT (2005)

về chính sách XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực GD, dạy nghề, văn hóa, thể thao nhằm huy động nguồn lực của toàn xã hội cho sự nghiệp GD và TDTT Các văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý để các ngành đẩy mạnh công tác XHH, làm cho mọi thành phần trong xã hội đổi mới quan điểm, nhận thức và giải pháp thực hiện XHH, tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia HĐ và đầu tư các nguồn lực để phát triển công tác GDTC và phong trào thể thao cho mọi người, nâng cao thành tích thể thao đỉnh cao và hội nhập quốc tế

Trang 22

Theo Luật Thể dục, Thể thao được ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Giáo dục thể chât và thể thao trong nhà trường bao gồm 2 nội dung chính:

Giáo dục thể chất là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện”, đây còn được gọi là Thể dục nội khóa;

“Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao”, còn được gọi là thể dục, thể thao ngoại khóa [58]

Nghị định số 11/2015/NĐ-CP ngày 31/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ

“Quy định về GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường”: “GDTC trong nhà trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho trẻ em, HS, SV các kiến thức,

kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện” [68]

Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 đã dành riêng một phần quan trọng cho GDTC và hoạt động thể thao trường học Đề cập đến những yếu kém, tồn tại của công tác GDTC, Chiến lược đã nêu: “Công tác GDTC trong nhà trường và các hoạt động thể thao ngoại khóa của HS, SV chưa được coi trọng, chưa đáp ứng yêu cầu duy trì và nâng cao sức khỏe cho HS, là một trong số các nguyên nhân khiến cho thể lực và tầm vóc người Việt Nam thua kém rõ rệt so với một số nước trong khu vực… Chương trình chính khóa cũng như nội dung hoạt động ngoại khóa còn nghèo nàn, chưa hợp lý, không hấp dẫn HS tham gia các hoạt động thể thao ngoại khóa” Trong đó đã nêu ra các chỉ tiêu đến năm 2015 có 100% số trường phổ thông thực hiện đầy đủ chương trình GDTC nội khóa, 45% số trường phổ thông có CLB TDTT, có CSVC đủ phục vụ cho hoạt động TDTT, có đủ GV và hướng dẫn viên TDTT,

Trang 23

thực hiện tốt hoạt động thể thao ngoại khóa, 75% số HS được đánh giá và phân loại thể lực theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể [64]

Nhằm phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH, Thủ tướng đã phê duyệt Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030; trong

đó có chương trình phát triển thể lực, tầm vóc bằng giải pháp tăng cường GDTC Một trong những nội dung chủ yếu của chương trình này là: “Đảm bảo chất lượng dạy và học TD chính khóa, các hoạt động thể thao ngoại khóa cho

HS, xây dựng chương trình GDTC hợp lý ” và “Tận dụng các công trình TDTT trên địa bàn để phục vụ cho hoạt động GDTC trong trường học” [65]

Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 01 tháng 12 năm 2011

về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020: “Mục tiêu của Nghị Quyết này là nhằm tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức, đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thể dục, thể thao; tăng cường CSVC, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ làm nền tảng phát triển mạnh mẽ và vững chắc sự nghiệp TDTT; đến năm 2020”; Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 08NQ/TW ngày 01/12/2011 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020 (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 16/NQ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ) đã khẳng định: “Đổi mới chương trình và phương pháp GDTC, gắn GDTC với giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khỏe và kỹ năng sống của HS, SV Mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động TDTT quần chúng: Nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, vận động và thu hút đông đảo nhân dân tham gia tập luyện thể dục, thể thao…; Các cấp uỷ Đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng về công tác thể dục, thể thao” [7], [8]

Tóm lại, các văn bản, chỉ thị của Đảng và Nhà nước đã thể hiện tư tưởng nhất quán: Coi trọng và đề cao vai trò của TDTT trong xã hội, trong đó có TDTT trong trường học các cấp; đồng thời, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục

Trang 24

và đào tạo là một yêu cầu khách quan và cấp bách tại nước ta trong giai đoạn hiện nay GDTC là một môn học thuộc chương trình giáo dục quốc dân, là một mặt giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, chủ nhân tương lai của đất nước nhằm đào tạo cho đất nước một thế hệ phát triển cao về trí tuệ, cường tránh về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH, HĐH đất nước Chính vì vậy, đổi mới công tác GDTC và TDTT trong

trường học các cấp cũng là vấn đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay

Tóm lại, từ các phân tích trên có thể khái quát:

Các văn bản, chỉ thị của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã thể hiện tư tưởng nhất quán: Coi trọng và đề cao vai trò của GDTC trong trường học các cấp Đồng thời, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là một yêu cầu khách quan và cấp bách tại nước ta trong giai đoạn hiện nay

Việc phát triển GDTC trong trường học các cấp ở các nước khác nhau trên thế giới là rất khác nhau Ở các nước có nền giáo dục phát triển, GDTC cũng rất phát triển và có hành lang pháp lý tốt để có thể phát triển mạnh mẽ, có

sự chung sức của nhiều thành phần trong xã hội phát triển GDTC Điều này tạo

ra những bài học kinh nghiệm tốt cho Việt Nam trong quá trình phát triển GDTC trong trường học các cấp

1.2 Một số khái niệm có liên quan

Để có cơ sở tiến hành nghiên cứu những vấn đề cơ bản về phát triển công tác Giáo dục thể chất cho học sinh các trường THPT trên địa bàn Tp Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các vấn đề:

Khái niệm Giáo dục thể chất (nội khóa)

Có thể tiếp cận khái niệm GDTC từ rất nhiều góc độ khác nhau theo quan điểm của nhiều tác giả khác nhau Có thể kể tới:

Theo Nôvicốp A.D và Matvêep L.P, GDTC là một quá trình sư phạm nhằm giải quyết những nhiệm vụ giáo dục - giáo dưỡng nhất định mà đặc điểm của quá trình này là có tất cả các dấu hiệu chung của quá trình sư phạm vai trò chỉ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động tương ứng với các nguyên tắc sư phạm [50]

Trang 25

Theo Luật TDTT, Điều 20 đã quy định: GDTC là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện [59]

Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn:, GDTC là một loại hình giáo dục có nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác)

và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người [76]

Theo tác giả Vũ Đức Thu, GDTC là quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ [72]

Trong Nghị định Số: 11/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định về GDTC

và hoạt động thể thao trong trường học: “GDTC trong nhà trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho trẻ em, học sinh, sinh viên các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện” [68]

Như vậy, có thể nhận thấy: Đặc điểm nổi bật của GDTC là quá trình hình thành các kỹ năng, kỹ xảo vận động và phát triển các tố chất thể lực của con người GDTC là một hình thức giáo dục đặc biệt thể hiện ở việc giảng dạy các động tác (hành vi vận động) và giáo dục (điều khiển sự phát triển) các tố chất thể lực của con người

Theo quan điểm của tác giả Nôvicôp A.D và Mátvêép L.P, trong suốt quá trình GDTC “giảng dạy các động tác và giáo dục các tố chất thể lực luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, chúng có thể “chuyển” lẫn nhau nhưng không đồng nhất với

nhau, và trong các giai đoạn giáo dục khác nhau lại có quan hệ khác nhau” [50]

Có thể thấy, GDTC bao gồm dạy học động tác, giáo dưỡng thể chất và giáo dục các tố chất thể lực Dạy học động tác là một trong những nội dung cơ bản của của quá trình giáo dưỡng thể chất Đó là quá trình tiếp thu có hệ thống những cách thức điều khiển động tác, vốn kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho cuộc sống và những tri thức chuyên môn Còn giáo dục các tố chất thể lực là sự tác

Trang 26

động hợp lý tới sự phát triển tố chất đảm bảo năng lực vận động Trong hệ thống giáo dục, nội dung đặc trưng này của GDTC gắn liền với trí dục, đạo đức, mỹ dục và giáo dục lao động

Thể thao ngoại khóa

Văn bản pháp quy cao nhất của Ngành TDTT, Luật TDTT năm 2007 và năm 2018 đã quy định: Hoạt động thể thao trong nhà trường (ở đây được hiểu là Thể thao ngoại khóa) là hoạt động tự nguyện của người học, được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với điều kiện, sở thích, giới tính, lứa tuổi, tình trạng sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển thể lực và phát triển năng khiếu thể thao [58], [59]

Theo Nghị định Số: 11/2015/NĐ-CP quy định về GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường: “Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của học sinh, sinh viên, được tổ chức theo phương thức ngoại khóa, câu lạc bộ thể dục, thể thao, nhóm, cá nhân phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi

và sức khỏe, nhằm hoàn thiện các kỹ năng vận động, hỗ trợ thực hiện mục tiêu GDTC thông qua các hình thức luyện tập, thi đấu thể thao, tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao; phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, tài năng thể thao” [68]

Như vậy, có thể hiểu, thể thao ngoại khóa là hoạt động TDTT tự nguyện

là chính, diễn ra theo hình thức tổ chức có người hướng dẫn hoặc tự tập, thường được tiến hành ngoài giờ học nội khóa, phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi

và sức khỏe của học sinh, sinh viên

Mối liên hệ giữa GDTC nội khóa và thể thao ngoại khóa

Giáo dục thể chất nội khóa và thể thao ngoại khóa có tác động qua lại tương hỗ lẫn nhau GDTC nội khóa giúp các em hình thành các kỹ năng, kỹ xảo vận động và phát triển các tố chất thể lực, tiếp xúc và làm quen với các môn thể thao trong chương trình học, bước đầu xây dựng thói quen tập luyện TDTT và rèn luyện sức khỏe cho học sinh Tuy nhiên, giờ học GDTC nội khóa trong trường học các cấp chỉ được phân bổ với 2 tiết/ tuần nên chưa thể bảo đảm nhu cầu tập luyện TDTT của học sinh cũng như việc xây dựng thói quen tập luyện, rèn luyện sức khỏe Thể thao ngoại khóa giữ vị trí bổ sung, hoàn thiện, tạo môi

Trang 27

trường vận động phù hợp với sở thích, nhu cầu, giới tính, lứa tuổi, tình trạng sức khỏe của người tập, giúp củng cố hiệu quả công tác GDTC trong Nhà trường, góp phần tạo nếp sống mới lành mạnh, sôi nổi, phong phú, tươi vui, lạc quan cho học sinh trong Nhà trường các cấp GDTC chính khóa là tiền đề để phát triển thể thao ngoại khóa và thể thao ngoại khóa bổ sung, hỗ trợ, củng cố hiệu quả của công tác GDTC nội khóa

Giáo dƣỡng thể chất

Nhiệm vụ cơ bản của hoạt động TDTT trong trường học các cấp là giáo dục thể chất, giáo dưỡng thể chất, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu thể thao Chính vì vậy, cần thiết phải tìm hiểu về khái niệm Giáo dưỡng thể chất

Theo P.Ph Lexgaphơtơ, nhà bác học Nga nổi tiếng, nhà sư phạm, nhà hoạt động xã hội, người sáng lập học thuyết về giáo dưỡng thể chất, bản chất của giáo dưỡng thể chất là làm sao để học: Tách riêng các cử động ra và so sánh chúng với nhau, điều khiển có ý thức các cử động đó và thích nghi với các trở ngại, đồng thời khắc phục các trở ngại đó sao cho khéo léo và kiên trì nhất, nói một cách khác, rèn luyện với sức lực ít nhất, trong một khoảng thời gian ngắn nhất có thể tiến hành có ý thức một hoạt động thể lực lớn nhất

“Giáo dưỡng thể chất” chính là quá trình trang bị những kỹ năng kỹ xảo vận động cơ bản và quan trọng trong đời sống của con người, giúp con người hoạt động có hiệu quả cao và tốn ít năng lượng trong quá trình sống, tồn tại và phát triển Trong TDTT đây là việc truyền thụ cho người tập kỹ thuật của các môn thể thao, cũng như vận dụng tốt những kỹ thuật đã tiếp thu được để củng cố nâng cao sức khoẻ duy trì và kéo dài tuổi thọ Đối với VĐV việc tiếp thu tốt kỹ thuật các môn thể thao sẽ là điều kiện tiên quyết giúp họ thi đấu đạt thành tích thể thao cao trên các đấu trường trong khu vực và Quốc tế [71], [76]

Thể lực

Theo tác giả nước ngoài như Nôvicốp, Matveep (Nga), thì tố chất thể lực được hiểu là “một tiêu chí quan trọng đánh giá phát triển của năng lực cơ thể; là một bộ phận của thể chất cơ thể, là biểu hiện của chức năng các hệ thống cơ quan của cơ thể khi vận động thể lực Tố chất thể lực bao gồm: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và khéo léo” [50]

Trang 28

Các tác giả Việt Nam như Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn, Lê Văn Lẫm,

Vũ Đức Thu, Trương Anh Tuấn cũng có cùng quan điểm trên và đều cho rằng:

“tố chất thể lực là một bộ phận quan trọng của năng lực thể chất, mà năng lực thể chất lại liên quan tới những khả năng, chức năng của hệ thống cơ quan trong

cơ thể, thể hiện chính trong hoạt động cơ bắp Nó bao gồm các tố chất thể lực sức mạnh, sức nhanh, độ dẻo và sự khéo léo” [46], [76]

Từ các khái niệm của các nhà khoa học trong và ngoài nước đề tài rút ra một khái niệm chung: Tố chất thể lực là sự biểu hiện của chức năng, các cơ quan

hệ thống cơ thể, nó bao gồm sức mạnh, sức nhanh, sức bền, độ dẻo và sự khả năng phối hợp vận động (còn gọi là năng lực phối hợp vận động) Nó là tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của năng lực vận động cơ thể

Theo quan điểm của từ điển tiếng Việt (1996): “Giải pháp” được hiểu là phương pháp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó Tìm giải pháp tốt nhất Dùng giải pháp thương lượng để chấm dức xung đột Giải pháp chính trị Giải pháp tình thế Cách hiểu này tương đương cách tiếp cận từ nghĩa gốc của từ [51]

Theo từ điển từ và ngữ Việt – Nam của tác giả Nguyễn Lân: Giải pháp được hiểu theo nghĩa gốc của từ, là cách giải quyết một vấn đề khó khăn

Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, chúng tôi tiếp cận ý nghĩa của từ

“giải pháp” dưới góc độ là cách thức giải quyết một vấn đề cụ thể

Công tác GDTC

Công tác GDTC ở đây được hiểu là tổng hòa các vấn đề liên quan tới GDTC và TDTT trong trường học, từ GDTC nội khóa, thể thao ngoại khóa, các điều kiện bảo đảm cho hoạt động GDTC như: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo; chương trình môn học, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, nhu cầu tập luyện…

Trang 29

của học sinh trong trường học các cấp Khi nghiên cứu về công tác GDTC cần quan tâm tới tất cả các vấn đề trên

Phát triển

Phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ chưa tốt đến hoàn hảo về mọi mặt (biến đổi cả về lượng và chất) Quá trình phát triển diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ

xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [57]

Trong chiến lược phát triển Thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020 được Thủ tướng chính phủ ban hành ngày 3 tháng 12 năm 2010 có quy định mục tiêu cụ thể của ngành TDTT, trong đó có nhấn mạnh vai trò của công tác giáo dục thể chất và thể thao trường học: “Tiếp tục mở rộng và đa dạng hóa các hoạt động thể dục, thể thao quần chúng, thể dục, thể thao giải trí đáp ứng nhu cầu giải trí của xã hội và tạo thói quen hoạt động, vận động hợp lý suốt đời Đẩy mạnh công tác giáo dục thể chất và thể thao trường học, bảo đảm yêu cầu phát triển con người toàn diện, làm nền tảng phát triển thể thao thành tích cao

Trang 30

và góp phần xây dựng lối sống lành mạnh trong tầng lớp thanh – thiếu niên Tích cực phát triển thể dục, thể thao trong lực lượng vũ trang, góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng toàn dân ” [64]

Mục tiêu của công tác Giáo dục thể chất trong trường học các cấp còn được khẳng định trong nghị quyết số 08-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương ngày 01 tháng 12 năm 2011 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về Thể dục, thể thao đến năm 2020 Cụ thể: “Tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức, đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ thể dục, thể thao; tăng cường cơ sở vật chất, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ làm nền tảng phát triển mạnh mẽ và vững chắc sự nghiệp thể dục thể thao; đến năm 2020, phấn đấu 90% học sinh, sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể; các trường học, xã, phường, thị trấn, khu công nghiệp có đủ cơ sở vật chất thể dục, thể thao phục vụ việc tập luyện của nhân dân; trình độ một số môn thể thao trọng điểm được nâng cao ngang tầm Châu Á và thế giới; bảo đảm các điều kiện để sẵn sàng đăng cai tổ chức thành công các sự kiện thể thao lớn của Châu Á và thế giới” [7]

Chương trình tổng thể giáo dục phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo khẳng định: “Thể dục – Thể thao là môn học bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12, trong

đó Thể dục là phân môn bắt buộc để trang bị cho học sinh những hiểu biết và kĩ năng cơ bản nhất của hoạt động rèn luyện sức khoẻ; Thể thao là phân môn với các hoạt động thi đấu tập thể hoặc cá nhân các trò chơi, các môn thể thao truyền thống của địa phương, đất nước hoặc các môn thể thao hiện đại mà học sinh ưa thích và tự chọn”[16]

Mục tiêu giáo dục nói chung và mục tiêu Thể dục trường học nói riêng có các cấp độ cụ thể khác nhau của các tiêu chí Khái quát nhất là mục tiêu đã được xác định trong Luật Giáo dục Từ mục tiêu chung đó, chúng ta xác định mục tiêu Thể dục cụ thể cho từng cấp học, bậc học; tiếp đó là sự cụ thể hơn trong các mục tiêu, tiêu chí môn học, bài học Cấp độ sau là sự triển khai cụ thể hoá cấp độ trước,

là thành phần cấu trúc, mục tiêu của cấp độ trước Việc xác định mục tiêu càng cụ thể, càng chi tiết đến đơn vị cuối cùng để có thể mô tả, đo đếm được thì càng thuận lợi càng chính xác cho việc xác định các yếu tố như nội dung chương trình, biên

Trang 31

soạn sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy, đào tạo và sử dụng đội ngũ giáo viên, quản lý quá trình giáo dục và đánh giá chất lượng giáo dục

Mục tiêu của Thể dục cho học sinh THPT, suy cho cùng, là trang bị cho các

em vốn kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản và cần thiết cho cuộc sống; phát triển toàn diện các tố chất thể lực; giáo dục thói quen rèn luyện thể chất thường xuyên, suốt đời, góp phần giáo dục đạo đức nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa

1.3.2 Nội dung của Giáo dục thể chất trong các trường Trung học phổ thông

Theo chương trình GDTC phổ thông đổi mới năm 2018, nội dung GDTC trong các Trường THPT môn học GDTC giúp học sinh lựa chọn môn thể thao phù hợp để rèn luyện hoàn thiện thể chất; vận dụng những điều đã học để điều chỉnh chế độ sinh hoạt và tập luyện, tham gia tích cực các hoạt động thể dục, thể thao; có ý thức tự giác, tự tin, trung thực, dũng cảm, có tinh thần hợp tác thân thiện, thể hiện khát khao vươn lên; từ đó có những định hướng cho tương lai phù hợp với năng lực, sở trường, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ

Tổ quốc và hội nhập quốc tế Nội dung chương trình cụ thể gồm:

Đá cầu; Bóng bàn; Võ (Vovinam, Võ dân tộc cổ truyền, Karatedo, Taekwondo, ); Quần vợt; Bóng ném; Khiêu vũ thể thao; Thể dục nhịp điệu; Cầu mây; các môn thể thao truyền thống của địa phương;…

Lớp 11:

KIẾN THỨC CHUNG: Sử dụng các yếu tố tự nhiên (không khí, nước, ánh sáng, ) và dinh dưỡng để rèn luyện sức khoẻ và phát triển thể chất

Trang 32

MÔN THỂ THAO TỰ CHỌN: Căn cứ vào điều kiện dạy học của địa phương và nhà trường, định hướng cho học sinh lựa chọn nội dung môn thể thao phù hợp trong số các môn thể thao được sử dụng trong Hội khoẻ Phù đổng các cấp, trong giải thi đấu quốc gia và quốc tế, các môn thể thao truyền thống của địa phương: Điền kinh; Thể dục; Bơi; Bóng đá; Bóng chuyền; Bóng rổ; Cầu lông; Đá cầu; Bóng bàn; Võ (Vovinam, Võ dân tộc cổ truyền, Karatedo, Taekwondo, ); Quần vợt; Bóng ném; Khiêu vũ thể thao; Thể dục nhịp điệu; Cầu mây; các môn thể thao truyền thống của địa phương;…

Chương trình GDTC phổ thông đổi mới sẽ được áp dụng trong giảng dạy tại các trường THPT trên toàn quốc bắt đầu từ năm học 2022-2023 Hiện nay, chương trình GDTC cho học sinh THPT vẫn được thống nhất sử dụng theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành cho học sinh từ năm 2004

1.3.3 Phương pháp dạy học thể dục ở trường trung học phổ thông

Trong hoạt động dạy học thì phương pháp dạy học có tầm quan trọng đặc biệt Thực tiễn quá trình giáo dục đã cho thấy, học sinh học tập có hứng thú, có tích cực hay không, có đạt được mục tiêu học tập hay không phần nhiều phụ thuộc vào phương pháp dạy học của người thầy Nếu như nội dung giáo dục về

cơ bản đã được quy định trong chương trình, sách giáo khoa thì phương pháp dạy học còn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của giáo viên và những điều kiện

cụ thể của quá trình dạy học

Trang 33

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo và Nguyễn Đắc Hưng (2004): Nội dung giáo dục được đổi mới tất yếu dẫn đến sự đổi mới mạnh mẽ về phương pháp giáo dục Vì vậy, một trong những trọng tâm của nhà trường các cấp, trong đó

có giáo dục THPT hiện nay là đổi mới phương pháp dạy học, theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác học tập của học sinh Phương pháp học là công cụ để đạt mục tiêu của hoạt động học Nói đến phương pháp học thì cốt lõi phải là phương pháp tự học, tự rèn luyện Nội dung và tính chất của phương pháp học

sẽ quyết định nội dung và chất lượng của sự lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

Hiện nay, giáo dục THPT đang tiến hành quá trình đổi mới phương pháp dạy học Có thể nhận thấy, quá trình chuyển giao và vận dụng lý luận đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp Thể dục ở trường THPT có những thuận lợi cơ bản sau đây:

Yêu cầu và định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được Đảng, Nhà nước khẳng định một cách rõ ràng và đã được luật định Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng nhất tạo điều kiện để tiến hành đổi mới phương pháp dạy học

ở phổ thông nói chung và trường THPT nói riêng

Quá trình đổi mới phương pháp dạy học đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và đội ngũ giáo viên có tâm huyết với nghề dạy học Kết quả các công trình nghiên cứu, quá trình tập huấn bồi dưỡng giáo viên, các giờ dạy thực nghiệm đã góp phần hình thành cơ sở khoa học, cũng như gợi ý bước đầu về cách thức đổi mới phương pháp dạy học, đồng thời khơi dậy phong trào đổi mới phương pháp dạy học

Tuy nhiên, quá trình vận dụng đổi mới phương pháp dạy học thể dục ở trường THPT cũng gặp một số khó khăn cần khắc phục:

Một là, ý thức và hiểu biết của đội ngũ giáo viên thể dục về đổi mới phương pháp còn nhiều hạn chế Nhiều giáo viên còn thờ ơ với chủ trương đổi mới phương pháp dạy học, chưa hiểu biết đầy đủ về cơ sở lý luận cũng như quy trình, kỹ thuật đổi mới phương pháp dạy học Nguyên nhân của hiện tượng đó là: Động lực dạy học bị giảm sút; ngại khó, không muốn thay đổi thói quen dạy học cũ; công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT

Trang 34

Hai là, các điều kiện cho đổi mới phương pháp dạy học (tài liệu giáo khoa, thiết bị dạy học), cũng như cách đánh giá chất lượng dạy học chậm được đổi mới, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho đổi mới phương pháp dạy học

Mặt khác, công tác quản lý, chỉ đạo của các cấp quản lý giáo dục, đặc biệt là ở cơ sở tuy đã có sự chuyển biến, đã nhận thức được tầm quan trọng của chủ trương đổi mới phương pháp dạy học, nhưng chưa có những giải pháp kịp thời và hữu hiệu để biến những chủ trương đó thành hoạt động đổi mới phương pháp dạy học cụ thể trong nhà trường THPT Vì vậy, để nâng cao chất lượng Thể dục cho học sinh THPT cần đặc biệt quan tâm đến đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp tổ chức hoạt động thể thao ngoại khoá cho học sinh theo hướng nâng cao và phát huy tính tự giác, tích cực của người học, đảm bảo cho

họ được tập luyện nhiều hơn, rèn luyện nhiều hơn…

Các phương pháp thường được sử dụng trong giảng dạy Thể dục tại các trường THPT gồm:

Phương pháp sử dụng lời nói

Là phương pháp được sử dụng trong hầu hết các giờ học phục vụ quá trình phân tích, giảng giải, nêu yêu cầu cũng như định hướng từng bài học

Phương pháp lời nói thường được sử dụng làm phương pháp giảng dạy chính (với các giờ học lý thuyết) hoặc kết hợp với những phương pháp giảng dạy khác (trong các giờ học thực hành) để đảm bảo giải quyết tốt nhiệm vụ, mục tiêu của giờ học [38], [50], [71], [76]

Nhóm phương pháp trực quan

Nhóm phương pháp này bao gồm cả trực quan trực tiếp và trực quan gián tiếp Là phương pháp thường được sử dụng trong giờ học Thể dục cho học sinh THPT Trong giảng dạy môn học Thể dục, các giáo viên thường sử dụng

cả phương pháp trực quan trực tiếp (làm mẫu trực tiếp) và trực quan gián tiếp (tranh ảnh, video…) Phương pháp trực quan được sử dụng trong cả quá trình dạy học động tác, hoàn thiện động tác và phát triển các tố chất thể lực

Trong quá trình dạy học động tác, giáo viên thường sử dụng phương pháp trực quan trực tiếp (giáo viên trực tiếp thị phạm động tác, kỹ thuật) để tạo

Trang 35

cho học sinh ấn tượng tổng thể về động tác, đồng thời kết hợp với sử dụng lời nói (phân tích và giảng giải) để đạt được hiệu quả giảng dạy cao nhất

Song song với quá trình sử dụng phương pháp trực quan trực tiếp, giáo viên có thể sử dụng phương pháp trực quan gián tiếp với những hình ảnh trọng tâm, trọng điểm, giúp giáo viên phân tích rõ hơn kỹ thuật động tác cũng như tạo hình ảnh trực qua gây ấn tượng cho người hoc Ví dụ, trong quá trình giảng dạy

kỹ thuật nhảy xa ưỡn thân, giáo viên không thể dừng động tác ở giai đoạn trên không để phân tích nên có thể sử dụng hình ảnh dừng hình ở giai đoạn trên không và phân tích chi tiết giai đoạn này [38], [50], [71], [76]

Nhóm phương pháp giảng dạy kỹ thuật động tác

Phương pháp tập luyện nguyên vẹn

Thường được sử dụng với các kỹ thuật động tác đơn giản, dễ hình dung hoặc các kỹ thuật không thể phân chia (ví dụ động tác ưỡn thân trong giai đoạn trên không của kỹ thuật nhảy xa…) Đây là một trong những phương pháp được

sử dụng nhiều trong quá trình dạy học động tác cho học sinh THPT [38], [50], [71], [76]

Phương pháp phân chia hợp nhất

Được sử dụng với các kỹ thuật khó, có khả năng phân chia Đây cũng là phương pháp được sử dụng nhiều trong quá trình dạy kỹ thuật động tác môn Thể dục Ví dụ: Trong quá trình giảng dạy kỹ thuật nhảy xa, giáo viên thể dục thường chia động tác thành 4 giai đoạn: Chạy đà, giậm nhảy, trên không và tiếp đất Sau khi phân chia từng giai đoạn và tập luyện hòa thiện từng giai đoạn, giáo viên giúp học sinh hợp nhất các giai đoạn để tạo thạnh động tác hoàn chỉnh Khi sử dụng phương pháp phân chia hợp nhất cần đặc biệt chú ý, tránh phá vỡ cấu trúc động tác hoặc làm mất nhịp điệu vốn có của kỹ thuật động tác [38], [50], [71], [76]

Ở một số kỹ thuật động tác mặc dù rất khó nhưng không thể phân chia thành các giai đoạn, trong quá trình giảng dạy, người giáo viên còn sử dụng các bài tập dẫn dắt giúp học sinh tiếp thu từng phần kỹ thuật động tác và dẫn dắt học sinh từng bước tiếp cận kỹ thuật động tác

Trang 36

Ngoài các bài tập dẫn dắt, các bài tập bổ trợ cũng thường được các giáo viên sư dụng để hòa thiện các tố chất thể lực quan trọng phù hợp với từng động tác, từ đó, giúp học sinh hoàn thiện kỹ thuật động tác tốt hơn

Nhóm phương pháp phát triển thể lực

Phương pháp định mức chặt chẽ lượng vận động

Nhóm phương pháp định mức chặt chẽ lượng vận động được các giáo viên nhà trường lựa chọn tương đối nhiều Tuy nhiên, mức độ sử dụng các phương pháp lại chưa đồng nhất Cụ thể:

Trong nhóm, phương pháp được sử dụng nhiều nhất là phương pháp lặp lại, trong đó có cả lặp lại liên tục và lặp lại ngắt quãng Đây cũng là phương pháp phổ biến được sử dụng trong quá trình GDTC trong trường học các cấp nói chung và các trường THPT nói riêng Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm như

dễ dàng thực hiện, lựa chọn bài tập phù hợp với nội dung học tập, phương pháp này còn có hạn chế là không nâng cao được mật độ động của giờ học Môn học Thể dục trong các trường THPT được tiến hành 2 tiết/ tuần, số lượng học sinh tham gia giờ học lại rất đông (từ 40-55 học sinh/lớp), trang thiết bị dụng cụ và sân bãi tập luyện lại hạn chế, chính vì vậy, nâng cao mật độ động của giờ học là điều kiện cần thiết để giờ học có hiệu quả cao Tuy nhiên, phương pháp này chưa đáp ứng được

Tương tự như phương pháp lặp lại liên tục và lặp lại ngắt quãng, phương pháp tập luyện biến đổi cũng được nhiều giáo viên áp dụng, tuy nhiên mức độ

áp dụng ít hơn phương pháp lặp lại Phương pháp tập luyện biến đổi (biến đổi liên tục và ngắt quãng khó sử dụng hơn phương pháp lặp lại vì khó lựa chọn bài tập phù hợp cho học sinh THPT Hơn nữa, tuy được sử dụng nhiều nhưng phương pháp giãn cách cũng mắc phải hạn chế là khó nâng cao mật độ động của buổi tập

Ít được các giáo viên sử dụng nhất trong nhóm phương pháp tập luyện có định mức chặt chẽ lượng vận động là phương pháp tập luyện tổng hợp và tập luyện vòng tròn Qua thảo luận trực tiếp với các giáo viên, các giáo viên đều thừa nhận ý nghĩa của phương pháp tập luyện vòng tròn là phương pháp có ưu điểm tác động có chủ đích, có chọn lọc, sử dụng tổng hợp các động tác có tác

Trang 37

dụng chung để phát triển thể lực, đồng thời có lợi trong củng cố kỹ thuật động tác, nâng cao năng lực vận động, bồi dưỡng ý chí, phát huy tính tích cực và đặc biệt là nâng cao mật độ động của buổi học Tập luyện vòng tròn là phương pháp thích hợp sử dụng trong phát triển thể lực cho học sinh THPT Tuy nhiên, do chưa có hệ thống bài tập phù hợp ứng dụng trong phương pháp giảng dạy này nên các giáo viên chưa ứng dụng được nhiều trong thực tế giảng dạy [38], [50], [71], [76]

Phương pháp không định mức chặt chẽ lượng vận động: Bao gồm

phương pháp trò chơi và phương pháp thi đấu

Nhóm phương pháp không định mức chặt chẽ lượng vận động cũng được các giáo viên chú trọng sử dụng bởi đây là nhóm phương pháp tạo hứng thú cho người học, giúp người học bộc lộ hết khả năng của mình trong tập luyện Tuy nhiên, hiệu quả của phương pháp này lại phụ thuộc chủ yếu vào ý thức của người học Giờ học Thể dục trong các trường THPT là môn học chưa thực sự được nhiều học sinh yêu thích và coi trọng, chính vì vậy, tuy được các giáo viên giảng dạy Thể dục ở trường coi trọng nhưng hiệu quả của nhóm phương pháp này chưa thực sự cao

Phương pháp sử dụng trò chơi vận động thường được sử dụng nhiều hơn trong quá trình phát triển thể lực cho học sinh vì có thể tạo điều kiện cho số lượng đông khọc sinh tham gia tập luyện và kích thích được hứng thú học tập của học sinh

Trong quá trình dạy học môn Thể dục trong các trường THPT, giáo viên thường sử dụng kết hợp nhiều phương pháp giảng dyạ để thu được hiệu quả giảng dạy tốt hơn, hoàn thành tốt hơn mục tiêu bài giảng [38], [50], [71], [76]

1.3.4 Hoạt động Thể dục thể thao ngoại khóa trong các trường Trung học phổ thông

Hoạt động TDTT NK còn gọi là Thể dục ngoại khóa là hoạt động thể thao trong nhà trường, là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi, sức khoẻ và điều kiện của cơ sở đào tạo nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao [57]

Trang 38

Cùng với giờ học GDTC nội khóa, TDTT NK có vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe, thể lực, giáo dục phẩm chất ý chí, nhân cách cho học sinh, đồng thời là môi trường thuận lợi, đầy tiềm năng để phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu thể thao Trong thời kỳ khoa học, công nghệ phát triển, TDTT NK còn có ý nghĩa tích cực về mặt cộng đồng, hướng thế hệ trẻ vào các sinh hoạt thể thao lành mạnh, tránh xa tệ nạn xã hội

Thể dục thể thao ngoại khóa là hoạt động TDTT tự nguyện là chính, diễn

ra theo hình thức tổ chức có người hướng dẫn hoặc tự tập, thường được tiến hành ngoài giờ học nội khóa, có nội dung phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi, điều kiện CSVC của cơ sở đào tạo và điều sức khỏe của học sinh [57]

Hoạt động TDTT NK có vị trí quan trọng trong giáo dục Các hoạt động ngoại khóa kết hợp cùng với các hoạt động dạy học cấu thành một cấu trúc giáo dục trường học hoàn chỉnh, góp phần hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục TDTT NK cùng với GDTC nội khóa là một thể thống nhất của TDTT trường học và song song tồn tại, hỗ trợ, bổ sung cho nhau không thể thiếu mặt nào [59]

Tổ chức TDTT NK cho học sinh THPT là việc làm thiết thực và được thể hiện với các mục đích như: Thỏa mãn nhu cầu vận động của học sinh THPT; Hình thành chế độ học tập nghỉ ngơi hợp lý; Tạo môi trường vận động, vui chơi, giải trí lành mạnh, hướng học sinh vào các hoạt động tích cực, tránh xa các tệ nạn xã hội… Trong suốt 3 năm học THPT, học sinh chỉ được có khoảng 2100 giờ học Thể dục nội khóa (tương đương 2 tiết/ tuần và 35 tuần/ năm học), trong khi đó thời gian tập luyện TDTT NK nhiều gấp bội Vận động là nhu cầu cơ bản nhất của học sinh trong trường học các cấp, trong đó có học sinh THPT Tổ chức y tế thế giới cũng cảnh báo: “Giảm hoạt động thể chất và chương trình GDTC trong trường học là một xu hướng đáng báo động trên toàn thế giới” Do

đó, tổ chức thêm hoạt động TDTT NK để thỏa mãn nhu cầu này là điều rất cần thiết Theo tác giả Theo A.D.Nôvicôp L.P.Matvêep: Sự phát triển của khoa học

kỹ thuật và lượng thông tin mới ngày càng nhiều làm cho lao động học tập của học sinh trong trường học các cấp ngày càng trở nên nặng nhọc, căng thẳng TDTT là phương tiện để hợp lý để giảm tải áp lực học tập, tạo chế độ hoạt động, nghỉ ngơi tích cực, giữ gìn và nâng cao năng lực hoạt động trong tất cả các thời

Trang 39

kỳ học tập ở trường Đồng thời, dễ dàng nhận thấy việc tạo môi trường TDTT

NK lành mạnh, hướng SV vào các hoạt động tích cực, tránh xa các tệ nạn xã hội

là rất quan trọng và vô cùng cấp thiết [50]

Về các nguyên tắc tổ chức hoạt động TDTT NK: Có nhiều tác giả đã đề cập tới nguyên tắc của hoạt động TDTT NK, có thể kể tới tác giả Trịnh Trung Hiếu, tác giả V.P Philin, hay các công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Thành, Mai Thị Thu Hà… nhưng nhìn chung, có thể thấy: Trong khâu tổ chức, hướng dẫn TDTT NK cần nắm rõ đặc điểm phát triển tâm sinh lý đối tượng học sinh (lứa tuổi, giới tính, sức khỏe, nhu cầu, sở thích thể thao…) cũng như các điều kiện cần và đủ khác để thực hiện công tác này Cần lưu ý một số nguyên tắc

cơ bản sau: Phù hợp với xu hướng phát triển chung và đạt hiệu quả thực tiễn; Đáp ứng nhu cầu, sở thích của đối tượng; Tự nguyện, tự giác; Có chương trình,

kế hoạch cụ thể và có thể lồng ghép khoa học giữa tập luyện và thi đấu phong trào và Xã hội hóa công tác TDTT NK, đảm bảo tính phổ thông đại chúng [32], [33], [38], [63]

Đặc điểm hoạt động TDTT NK trong các trường THPT có đầy đủ các đặc điểm của hoạt động TDTT NK nói chung và được tiếp cận dưới nhiều góc

độ khác nhau Tác giả Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn cho rằng: Các buổi tập Thể thao ngoại khóa thường có cấu trúc đơn giản và nội dung hẹp hơn so với buổi tập chính khóa, đồng thời, hình thức tập luyện này đòi hỏi ý thức kỷ luật, tinh thần độc lập và sáng tạo cao Nhiệm vụ cụ thể và nội dung buổi tập ngoại khóa chủ yếu phụ thuộc vào sở thích và hứng thú cá nhân Tác giả Lê Văn Lẫm lại có quan điểm cho rằng: Khi tổ chức hoạt động TDTT NK cần lưu ý đến các mặt: Tính chất hoạt động mềm hóa giữa bắt buộc và tự nguyện; Nội dung phong phú, linh hoạt không bị hạn chế; Không gian địa điểm tiến hành rộng lớn (trong trường hoặc ngoài trường); Hình thức đa dạng có thể tiến hành theo cá nhân, nhóm, khóa, trường; Thời gian hoạt động có thể tiến hành bất kỳ lúc nào trong ngày tùy theo điều kiện thời gian của học sinh… Như vậy, TDTT NK có nội dung phong phú, đa dạng, không bị khống chế bởi chương trình giảng dạy quy định của Bộ GD&ĐT và phát huy tối đa nhu cầu của các cá nhân; hình thức tập luyện đa dạng, có thể theo cá nhân, nhóm, khóa, trường, CLB… có thể tập luyện

Trang 40

bất kỳ thời điểm nào trong ngày tùy thuộc điều kiện thời gian của người tập, có thể tự tập luyện hoặc tập luyện dưới sự hướng dẫn của GV, HLV, hướng dẫn viên… [45], [76]

Từ những phân tích trên cho thấy:

Giáo dục thể chất trong trường học các cấp là một mặt giáo dục quan trọng không thể thiếu được trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện mục tiêu: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài” cho đất nước Với học sinh THPT, GDTC trang bị cho các em vốn kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản và cần thiết cho cuộc sống; phát triển toàn diện các tố chất thể lực; giáo dục thói quen rèn luyện thể chất thường xuyên, suốt đời, góp phần giáo dục đạo đức nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa

TDTT NK còn gọi là Thể dục ngoại khóa có ý nghĩa tích cực góp phần phát triển thể chất và tinh thần cho thế hệ trẻ Nội dung và hình thức TDTT NK rất đa dạng, phong phú, thu hút đông đảo HS, SV trong trường học các cấp tham gia Trong đánh giá chất lượng hoạt động TDTT NK cho học sinh cần chú ý đánh giá cả mục tiêu GDTC, giáo dưỡng thể chất, đánh giá việc phát triển phong trào TDTT cũng như về việc phát hiện và bồi dưỡng tài năng thể thao…

Giáo dục thể chất trong các trường THPT sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học Các phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong giảng dạy môn học Thể dục cho học sinh các trường THPT gồm: Phương pháp sử dụng lời nói, Phương pháp trực quan (bao gồm các trực quan trực tiếp và trực quan gian tiếp), Phương pháp tập luyện liên lục, Phương pháp trò chơi và thi đấu

1.4 Quan điểm về đánh giá chất lượng Giáo dục thể chất trong các trường trung học phổ thông

1.4.1 Đánh giá chất lượng giáo dục

Đánh giá chất lượng và hiệu quả dạy học là quá trình thu nhận, xử lý kịp thời có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục, căn cứ vào mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo, làm

cơ sở cho những chủ trương giải pháp và hành động giáo dục tiếp theo Đánh giá chất lượng và hiệu quả dạy học là quá trình thu nhận xử lý thông tin, nhằm mục đích tạo cơ sở cho những quyết định về mục tiêu, chương trình, phương pháp

Ngày đăng: 16/12/2022, 21:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w