1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) TIỂU LUẬN môn TIẾNG VIỆT cơ sở đề tài thành ngữ và thành ngữ tân thời của giới trẻ và vấn đề văn hóa giao tiếp

20 252 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thành ngữ và 'thành ngữ tân thời' của giới trẻ và vấn đề văn hóa giao tiếp
Tác giả Đinh Thị Ly, Lê Thị Huyền, Nguyễn Như Cẩm Tiên, Phạm Thị Huệ, Nguyễn Thị Phương Thảo
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Thùy Linh
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Tiếng Việt Cơ sở
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 57,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những hình thức thể hiện tiêu biểu của ngôn ngữ giới trẻ là các thành ngữ tân thời, do giới trẻ cải biên và sáng tạo ra, thường được gọi với nhiều cái tên khác nhau như thành n

Trang 1

* * *

TIỂU LUẬN MÔN TIẾNG VIỆT CƠ SỞ

Đề tài: Thành ngữ và “thành ngữ tân thời” của

giới trẻ và vấn đề văn hóa giao tiếp

GVHD: TS Trần Thị Thùy Linh Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 3

Nguyễn Như Cẩm Tiên 12210232 Ngôn ngữ Anh VB2 63B

Nguyễn Thị Phương Thảo 11216476 Ngôn ngữ Anh 63B

Trang 2

BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC

thực hiện

Làm powerpoint, tìm tài liệu về nội dung 3 tuần

1 Đinh Thị Ly 2.1.1, 2.1.2, 2.2.1 và phần 1.Đặt vấn đề,

tìm 4 câu hỏi, thiết kế trò chơi trên kahoot

Làm powerpoint, tìm tài liệu về nội dung 3 tuần

2 Nguyễn Như Cẩm Tiên 2.2.2, 2.2.2.1, tạo trang bìa, tìm 4 câu hỏi

và sửa format bản word

Làm powerpoint, tìm tài liệu về nội dung 3 tuần

3 Phạm Thị Huệ 2.2.2.2, 2.2.2.3 và tài liệu tham khảo, tìm

4 câu hỏi Nguyễn Thị Phương Làm powerpoint, tìm tài liệu về nội dung 3 tuần

4 2.2.2.4, 2.3.1, tạo bảng phân công công

Thảo

việc và tìm 4 câu hỏi

Làm powerpoint, tìm tài liệu về nội dung 3 tuần

5 Lê Thị Huyền 2.3.2, 2.3.3 và phần 3.Kết luận, tìm 4 câu

hỏi

Trang 4

MỤC LỤC

BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC 2

MỤC LỤC 3

DANH MỤC BẢNG 4

NỘI DUNG 5

1 Đặt vấn đề 5

2 Nội dung 5

2.1 Thành ngữ và đặc điểm của thành ngữ truyền thống 5 2.1.1.Khái niệm thành ngữ 5 2.1.2 Đặc điểm của thành ngữ tiếng Việt 6 2.2 Thành ngữ tân thời 8 2.2.1 Sự xuất hiện của thành ngữ tân thời 8 2.2.2 Đặc điểm của thành ngữ tân thời 9 2.3 Mặt tích cực và tiêu cực của việc sử dụng thành ngữ tân thời trong văn hóa giao tiếp 15

2.3.1 Mặt tích cực của thành ngữ tân thời 15 2.3.2 Mặt tiêu cực của thành ngữ tân thời 16 2.3.3 Cách sử dụng thành ngữ tân thời nhằm duy trì văn hóa giao tiếp 17 3 Kết luận 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Ý nghĩa của một số thành ngữ tân thời 10

Bảng 2 So sánh một số thành ngữ mới và thành ngữ truyền thống 11

Trang 6

NỘI DUNG

1 Đặt vấn đề

Văn hoá giao tiếp của người Việt Nam hiện nay nói chung, đặc biệt là văn hoá giao tiếp của giới trẻ nói riêng đang có những biến động sâu sắc Sự biến động đó xuất phát từ làn sóng quốc tế hoá và toàn cầu hoá ở Việt Nam Làn sóng toàn cầu hoá đang tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có văn hoá giao tiếp Trong bối cảnh văn hóa xã hội hiện nay, giới trẻ Việt Nam đang có cách lựa chọn và sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp một cách khác biệt, tạo ra biến thể ngôn ngữ giới trẻ rất đặc sắc

Một trong những hình thức thể hiện tiêu biểu của ngôn ngữ giới trẻ là các thành ngữ tân thời, do giới trẻ cải biên và sáng tạo ra, thường được gọi với nhiều cái tên khác nhau như thành ngữ giới trẻ hay thành ngữ tuổi teen Thành ngữ tân thời đã trở nên phổ biến, có thể dễ dàng bắt gặp chúng trên các tờ báo in, báo điện tử dành cho giới trẻ; các kênh truyền hình giải trí, chương trình ca nhạc và đặc biệt trên các diễn đàn của giới trẻ, trong khẩu ngữ sinh hoạt Song hiện tượng thành ngữ của giới trẻ này lại chưa nhận được

sự quan tâm, nghiên cứu cần thiết

Nhằm mục đích nghiên cứu nguồn gốc xuất hiện của thành ngữ tân thời, so sánh thành ngữ truyền thống và thành ngữ tân thời cũng như đánh giá ảnh hưởng của thành

ngữ tân thời đến vấn đề văn hóa giao tiếp, chúng em tiến hành thực hiện đề tài “Thành

ngữ và “Thành ngữ tân thời” của giới trẻ và vấn đề văn hóa giao tiếp”.

2 Nội dung

2.1 Thành ngữ và đặc điểm của thành ngữ truyền thống

2.1.1 Khái niệm thành ngữ

Cho đến nay, giới nghiên cứu ngôn ngữ học chưa đưa ra được một khái niệm cố định thống nhất về thành ngữ Những quan niệm khác nhau đã đưa ra những câu trả lời khác nhau về thành ngữ

Nguyễn Thiện Giáp đưa ra nhận định: “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa

có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm…bên cạnh nội dung trí tuệ, các thành ngữ bao giờ cũng làm theo sắc thái bình giá, cảm xúc nhận định, hoặc là kính trọng, tán thành; hoặc là chê bai khinh rẻ; hoặc là ái ngại, xót thương…

Nguyễn Văn Tu đã xác lập: “Thành ngữ là cụm từ cố định mà các từ trong đó đã mất đi tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không phải là nghĩa của các thành tố tạo ra Những thành ngữ này cũng có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học”

Cùng quan điểm trên, Đái Xuân Ninh trong cuốn “Hoạt động của từ tiếng Việt” cũng đưa ra định nghĩa: “Thành ngữ là một cụm từ cố định mà các yếu tố tạo thành đã mất đi tính độc lập ở cái mức nào đó, và kết hợp lại thành một khối tương đối vững chắc

và hoàn chỉnh”

Trang 7

Còn GS Đỗ Hữu Châu (1999) trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” đã nêu

chung khái niệm thành ngữ (trong loại lớn là ngữ cố định) như sau: “Nói ngữ cố định là

các cụm từ cố định hóa là nói chung…Bởi vậy cái quyết định để xác định các ngữ cố định tương đương với từ của chúng về chức năng tạo câu Chúng ta nói ngữ cố định tương đương với từ không phải chỉ vì chúng có thể thay thế cho một từ, ở vị trí các từ, hoặc có thể kết hợp với từ để tạo câu”.

Tác giả Nguyễn Lân trong cuốn “Từ điển thành ngữ và tục ngữ đưa ra khái niệm:

“Thành ngữ là cụm từ cố định dùng để diễn đạt một khái niệm”.

Nói tóm lại, có rất nhiều cách hiểu về khái niệm thành ngữ nhưng dựa vào các định nghĩa của những nhà nghiên cứu đi trước và căn cứ trong quá trình khảo nghiệm, tìm hiểu; theo chúng tôi, thành ngữ là cụm từ cố định, có kết cấu vững chắc, có chức năng định danh và mang ý nghĩa biểu trưng, được sử dụng tương đương như từ

2.1.2 Đặc điểm của thành ngữ tiếng Việt

Về hình thức, thành ngữ tiếng Việt có hai đặc điểm là tính cố định và hài hòa cân đối

Tính cố định của thành ngữ chi phối toàn bộ cấu trúc hình thức của thành ngữ trên

ba phương diện: ngữ âm, từ vựng và quan hệ tổ chức của các thành tố trong thành ngữ

Về ngữ âm, giữa các thành tố của các thành ngữ có sự kết hợp chặt chẽ về thanh điệu và số lượng âm tiết; một số thành ngữ còn có vần lưng làm cho mỗi thành ngữ trở thành một đơn vị độc lập và khép kín Các mô hình thanh điệu dần dần trở thành quy tắc cấu tạo ngữ âm của thành ngữ Các thành ngữ có số lượng âm tiết chẵn (mặt ủ mày chau; tham đó bỏ đăng; treo đầu dê, bán thịt chó….) chia thành hai vế đối xứng Sự phối hợp thanh điệu đôi khi do mục đích phát ngôn quy định (nói có sách, mách có chứng; rổ rá cạp lại…)

Về mặt từ vựng, các thành tố trong thành ngữ rất hạn chế khả năng thay thế Mỗi thành ngữ là kết quả của một quá trình lựa chọn Mặt khác, một bộ phận thành ngữ sử dụng vốn từ cổ, từ mờ nghĩa (cha căng chú kiết); một số thành ngữ có liên quan đến các điển cố, điển tích (sư tử Hà Đông) hay các phong tục tập quán cũ (đánh trống bỏ dùi) làm cho ý nghĩa mỗi thành tố trong thành ngữ càng trở nên mờ nhạt Khi đó, sự tồn tại của thành ngữ hoàn toàn phụ thuộc vào tính cố kết giữa các đơn vị thành tố trong thành ngữ

Về mặt tổ chức, giữa hình thức cấu tạo và nội dung thành ngữ có mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời Các thành tố được sắp xếp, lựa chọn sao cho nội dung tư tưởng nêu bật lên thật sâu sắc nhất Chẳng hạn kết cấu láy ghép của thành ngữ (ăn bớt ăn xén)

có khả năng làm tăng thêm ý nghĩa của từ, biến nghĩa thực thành nghĩa bóng Khi so sánh tính chất của sự vật, thành ngữ làm bật ý hoán dụ hay ẩn dụ, ngoa dụ… (chua như dấm, chuột sa chĩnh gạo) để làm phương thức chuyển nghĩa thực sự sang nghĩa bóng Cơ cấu này là một trong những đặc điểm quan trọng cố định hóa thành ngữ

Trang 8

Tính hài hòa cân đối một mặt làm thành ngữ giữ được tính cố định thành phần từ vựng và kết cấu ngữ pháp, mặt khác tạo nên hiệu quả thẩm mỹ trong diễn đạt Tính hài hòa của thành ngữ tiếng Việt dựa trên đặc điểm đơn lập và có thanh điệu Đa số thành ngữ tiếng Việt có số lượng âm tiết chẵn, chia thành hai vế bằng nhau về số lượng âm tiết, giống nhau về kết cấu, thông thường đối nhau về thanh điệu (mẹ tròn con vuông; chó tha

đi, mèo tha lại…) Quan hệ đối xứng tạo nên ấn tượng chung về sự thống nhất hài hòa giữa âm thanh và ý nghĩa các yếu tố bên trong thành ngữ

Hai vế thành ngữ có quan hệ đẳng lập, mỗi vế là một kết cấu hoàn chỉnh và có chức năng như nhau trong cơ cấu ngữ nghĩa của thành ngữ Do đó, khi vận dụng, hai vế thành ngữ đối có khả năng hoán chuyển hoặc phân ly (vật đổi sao dời hoặc sao dời vật đổi; quốc sắc thiên tài; người quốc sắc, kẻ thiên tài)

Về nội dung ngữ nghĩa, thành ngữ có hai đặc điểm là tính chỉnh thể hình tượng và tính hàm súc

Mỗi thành ngữ là một đơn vị hoàn chỉnh về mặt ý nghĩa, diễn đạt tương đối trọn vẹn một khái niệm hay một hiện tượng trong đời sống xã hội Nghĩa của một thành ngữ không phải là sự cộng gộp ý nghĩa của các yếu tố trong thành ngữ một cách máy móc Chẳng hạn, nghĩa của thành ngữ “treo đầu dê, bán thịt chó” không phải đề cập đến việc mua bán mà ý nghĩa của nó là nói đến sự không thống nhất giữa hình thức và nội dung,

từ đó nâng lên một bước có thể hiểu đó là một hành động giả dối, lừa đảo Trong thành ngữ, các yếu tố tham gia có giá trị như một nét tín hiệu thẩm mỹ Nghĩa của thành ngữ rút ra trên cơ sở khái quát hóa, trừu tượng hóa của tín hiệu này Bản chất của sự việc đưa

ra mới là nghĩa của thành ngữ Vì vậy, cùng một nghĩa, có thể có nhiều thành ngữ khác nhau Ví dụ như các thành ngữ: chó ngáp phải ruồi; buồn ngủ gặp chiếu manh; chuột sa chĩnh gạo…cùng có ý nghĩa chỉ sự may mắn Đó là lí do vì sao nói thành ngữ có tính chỉnh thể hình tượng Nhờ tính chỉnh thể hình tượng mà thành ngữ trở thành một phương tiện diễn đạt độc đáo

Nghĩa của thành ngữ có liên quan chặt chẽ đến hình thức biểu đạt Thành ngữ được cấu tạo dựa trên những đặc điểm của tiếng Việt về phương thức cấu âm, phương thức cấu tạo từ và các quy tắc kết hợp Đặc điểm quan trọng nhất trong cơ cấu nghĩa của thành ngữ chính là mối tương quan giữa các yếu tố trong thành ngữ mà thông thường các

từ ngữ biểu thị mối quan hệ này đã bị lược bỏ Ví dụ thành ngữ “ăn mày đòi xôi gấc” có thể hiểu là ((đã là) “ăn mày” (mà còn) “đòi xôi gấc”) Bên cạnh đó còn có hiện tượng nói lửng “như bóng với hình, như môi với răng” …chính chỗ thiếu này là chỗ để ta tự lựa chọn đối tượng miêu tả và đưa vào cho thích hợp Ngoài ra, các biện pháp tu từ so sánh,

ẩn dụ, hoán dụ…được sử dụng rất nhiều trong cấu tạo thành ngữ cũng làm cho nghĩa thành ngữ trừu tượng hơn: bán như cho, đen như than, vắt chày ra nước; cá chậu chim lồng; bán mặt cho đất, bán lưng cho trời… Nhờ những cơ chế cấu tạo như trên mà thành ngữ luôn có tính cô đọng, hàm súc Sử dụng nó vào quá trình tạo lời hay giao tiếp vì vậy cũng sẽ ngắn gọn, hàm súc, cô đọng hơn

Trang 9

Ngoài ra, bên cạnh nội dung trí tuệ, các thành ngữ bao giờ cũng kèm theo các sắc thái bình giá, cảm xúc nhất định, hoặc là kính trọng, tán thành; hoặc là chê bai, khinh bỉ; hoặc là ái ngại xót thương… Do vậy, thành ngữ giúp cho người sử dụng ngôn ngữ bày tỏ tình cảm, thái độ của mình một cách thích hợp, đúng lúc Đặc biệt sử dụng đúng lúc, đúng chỗ bao giờ cũng đạt tới sự đắc địa, sâu sắc, thỏa đáng

Tất cả những đặc điểm về hình thức và ngữ nghĩa trên của thành ngữ đã tạo giá trị cho thành ngữ, giúp nó trở thành một trong những đơn vị ngôn ngữ được sử dụng nhiều tạo ra những hiệu quả nhất định, từ đó, giúp nó có chỗ đứng và vị thế vững chắc trong hệ thống ngôn ngữ

2.2 Thành ngữ tân thời

2.2.1 Sự xuất hiện của thành ngữ tân thời

Giới trẻ – họ là thanh niên, học sinh, sinh viên có độ tuổi trên dưới 20, là lực lượng tiên phong trong trào lưu tân thời của xã hội Việt Nam hiện nay Họ là những người nhanh nhạy với cái mới, cùng với áo quần, xe cộ, phụ kiện tân thời là gu thị hiếu thẩm mĩ và phong cách tân thời, đi kèm với ngôn ngữ tân thời “Thành ngữ tân thời” là cách nói “tân thời” về những kết cấu ngôn ngữ tương đối cố định, ít nhiều mang màu sắc thành ngữ được giới trẻ ưa chuộng sử dụng hiện nay Có thể dễ dàng bắt gặp chúng – những thành ngữ tân thời trên các tờ báo in, báo điện tử dành cho giới trẻ như: Sinh viên Việt Nam, Hoa học trò Magazine, Tuổi trẻ, Thanh niên ; các kênh truyền hình giải trí, các chương trình ca nhạc…; đặc biệt là trên các diễn đàn của giới trẻ, trong khẩu ngữ sinh hoạt

Khó có thể khẳng định thành ngữ tân thời xuất hiện chính xác từ bao giờ nhưng chắc chắn là sau khi Internet trở nên phổ biến ở nước ta; xuất phát từ nhu cầu nói nhanh, bấm phím điện thoại nhanh, nói ít lời mà nhiều nghĩa, nói có vần cho dễ nhớ, không cầu

kỳ, đúng lý, đúng nghĩa Đặc biệt, vào tháng 8/2011, họa sĩ Thanh Phong cho ra đời tập sách có tên “Sát thủ đầu mưng mủ”, tập hợp những thành ngữ tân thời được sử dụng phổ biến trong giới trẻ Việc ra đời tập sách đã góp phần khiến thành ngữ tân thời trở thành hiện tượng của xuất bản, truyền thông, các nhà ngôn ngữ học, báo chí và cả trong giới phụ huynh Cuốn sách, tuy nhận được sự ủng hộ của đa số giới trẻ nhưng đã vấp phải một làn sóng phản đối trong dư luận Nhóm tác giả cùng đơn vị xuất bản sách, sau một thời gian dài lắng nghe mọi ý kiến, nhất là những góp ý trực tiếp của một số chuyên gia ngôn ngữ, giáo dục, đặc biệt là sau Tọa đàm “Ngôn ngữ giới trẻ thời @” tổ chức ngày 29-3-2012 do Trung tâm Văn hóa Pháp và Công ty Nhã Nam phối hợp thực hiện, đã có những thay đổi tích cực Toàn bộ danh mục các thành ngữ có minh hoạ trong ‘Sát thủ đầu mưng mủ’ đã được rà soát lại… Tên của cuốn sách cũng được thay đổi thành Phê như con tê tê để phù hợp với nội dung hơn Chính động thái này đã cho thấy, thành ngữ kiểu mới đang dần được xã hội chấp nhận

Trang 10

2.2.2 Đặc điểm của thành ngữ tân thời

Qua kết quả khảo sát một số bài báo và khảo sát thực tế bằng phiếu hỏi, kết quả cho thấy một số thành ngữ tân thời thường được sử dụng như sau: hồng nhan bạc tỉ (“Những 'hồng nhan bạc tỷ' của showbiz Việt”, báo Vietnamnet), anh hùng bàn phím (“Thời “anh hùng bàn phím””, báo Tiền phong), đẹp trai có gì sai, sành điệu củ kiệu, bó tay chấm com, ảo tung chảo, ngon lành cành đào, đói như con sói (“Những bộ sticker ngộ nghĩnh”, báo 2 sao), dã man con ngan, chảnh như cá cảnh, ảo ma Ca-na-đa, kiến tha lâu cũng mỏi cẳng, cần cù bù siêng năng, chán như con gián, buồn như con chuồn chuồn, dở hơi biết bơi, ngất trên cành quất, tình yêu như bát bún riêu, một con ngựa đau cả tàu ăn thêm cỏ, vạn sự khởi đầu nan gian nan bắt đầu nản, nhan sắc có hạn thủ đoạn vô biên… (khảo sát thực tế)

Như vậy, về đặc điểm, có thể thấy các thành ngữ tân thời là các cụm từ cố định có

tư cách thành ngữ Về tính cố định, các cụm từ mới này có đặc trưng của các tổ hợp mà

có một yếu tố có khả năng dự đoán sự xuất hiện của các yếu tố còn lại, chủ yếu là dựa theo vần và nhịp điệu cân xứng, nó được hình thành từ đặc điểm sâu xa của tiếng Việt là khả năng hợp vần Về tính thành ngữ, các “thành ngữ tân thời” cũng chứa một hoặc một

số yếu tố có khả năng dịch duy nhất khi xuất hiện đồng thời với các yếu tố còn lại

Tuy vậy, các thành ngữ tân thời này chủ yếu được sáng tạo dựa trên sự phối âm và vần điệu như: chán như con gián, chảnh như con cá cảnh, sành điệu của kiệu, dã man con ngan, hồn nhiên như cô tiên, ngất trên cành quất … bởi các đối tượng so sánh và đối tượng được so sánh trong các thành ngữ khẩu ngữ này hầu như không có mối liên hệ ràng buộc nào về ý nghĩa như: chán – con gián, chảnh – cá cảnh, sành điệu – củ kiệu, dã man – con ngan, hồn nhiên – cô tiên, ngất – cành quất… Do vậy, xét về mặt đặc điểm ngữ nghĩa của các cụm từ này khá trống rỗng Tuy nhiên, lí do khiến các “thành ngữ” này được sử dụng rộng rãi, nhất là trong giới trẻ, là do tính dí dỏm, hài hước, tạo tâm lí thoải mái, cởi mở trong giao tiếp Một phần nguyên nhân khiến các cụm từ này được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng giới trẻ là do sự phổ biến rộng rãi của mạng xã hội trong thời đại hiện nay, một số hiện tượng mạng mang tính giải trí sẽ nhanh chóng trở thành một đề tài nóng hổi khiến nhiều bạn trẻ quan tâm, và các cách nói dí dỏm, hài hước trên mạng xã hội cũng theo đó được lan truyền và sử dụng phổ biến không chỉ trên không gian mạng

mà còn trong giao tiếp hàng ngày

Xét về đặc điểm của các loại thành ngữ mới, có thể thấy các thành ngữ này được tạp ra bằng nhiều cách khác nhau Dựa theo nghiên cứu của Đỗ Thùy Trang về “Thành ngữ mới giới trẻ nhìn từ đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa”, trường Đại học Khoa học, Đại học Huế đăng trên tạp chí Khoa học – Đại học Huế (Tập 126, Số 6A, 2017, Tr 125-141),

có thể phân chia thành ngữ tân thời thành 4 loại như sau:

(1) Các thành ngữ tân thời chỉ dựa trên quan hệ ngữ âm, như: chán như con gián, sành điệu củ kiệu, ngất trên cành quất, chảnh như con cá cảnh, …

(2) Các thành ngữ tân thời cải biên từ thành ngữ, tục ngữ truyền thống, như:

Ngày đăng: 16/12/2022, 14:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
(1) Đỗ Thuỳ Trang (2017), Thành ngữ mới giới trẻ nhìn từ đặc điểm ngôn ngữ văn hoá, Nxb.trường Đại học Khoa học - Đại học Huế Khác
(2) Đỗ Thuỳ Trang (2015), Thành ngữ tân thời của giới trẻ nhìn từ góc độ văn hoá giao tiếp, Việt Nam học, những phương diện văn hoá truyền thống, Nxb.Khoa học xã hội Khác
(3) Nguyễn Thiện Giáp (2002), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Khác
(4) Nguyễn Đức Tồn (2002), Tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy người Việt, Nxb.ĐHQGHN Khác
(5) Phạm Hồng Trung (2008), Văn hóa và lối sống của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế – Một số vấn đề về khái niệm và cách tiếp cận, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn, 24, 148–156 Khác
(6) Trần Thị Ngọc Lang (chủ biên) (2005), Một số vấn đề về phương ngữ xã hội, Nxb. KHXH Khác
(7) Tuyển tập dịch (2006), Ngôn ngữ văn hóa và xã hội – Một cách tiếp cận liên ngành, Nxb. Thế giới, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w