BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TRÃI ---TIỂU LUẬN RỦI DO ĐẠI DỊCH COVID -19 TỚI CÁC DOANH NGHIỆP VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG MỘT SỐ NGÀNH KINH TẾ CHÍNH,... DANH MỤC CÁC BẢNGBảng
GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 7 1.2 Tính chất của rủi ro 8 1.3 Mục tiêu nguyên cứu 8 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8 1.5 Phương pháp nguyên cứu 9 1.6 Kết cấu của đề tài 9 Chương 02: Phân tích các biện pháp ứng phó của DN trước tác động của Covid-19 và quá trình điều chỉnh nhân sự tại DN
Đại dịch COVID-19 bắt đầu vào cuối tháng 12 năm 2019 tại thành phố Vũ Hán, Trung Quốc, do virus SARS-CoV-2 và các biến thể của nó gây ra trên toàn cầu Các ca nhiễm đầu tiên liên quan đến nhóm người mắc viêm phổi không rõ nguyên nhân tại chợ hải sản Hoa Nam, Vũ Hán, với trường hợp tử vong đầu tiên được ghi nhận vào ngày 9 tháng 1 năm 2020 Trước đó, giới chức y tế đã xác nhận các ca nghi nhiễm đã từng tiếp xúc chủ yếu với thương nhân tại chợ này Các trường hợp nhiễm bệnh đầu tiên bên ngoài Trung Quốc xuất hiện tại Thái Lan và Nhật Bản Sự lây truyền từ người sang người được xác nhận cùng với tỷ lệ bùng phát dịch gia tăng vào giữa tháng 1 năm 2020, mở đầu cho một cuộc đại dịch toàn cầu.
Vào ngày 23 tháng 1 năm 2020, chính phủ Trung Quốc đã quyết định phong tỏa thành phố Vũ Hán nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh Toàn bộ hệ thống giao thông công cộng và hoạt động xuất nhập khẩu bị tạm dừng, gây ảnh hưởng lớn đến cuộc sống và kinh tế địa phương cũng như toàn quốc.
Ngày 11 tháng 3 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ra tuyên bố gọi
COVID-19 là đại dịch toàn cầu đã thúc đẩy chính phủ các quốc gia thực hiện các biện pháp phản ứng như hạn chế đi lại, phong tỏa, ban bố tình trạng khẩn cấp và lệnh giới nghiêm nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng Các biện pháp này bao gồm cách ly xã hội, hủy bỏ các sự kiện đông người, đóng cửa trường học và các cơ sở dịch vụ không thiết yếu, đồng thời khuyến khích người dân nâng cao ý thức phòng bệnh như đeo khẩu trang và hạn chế ra ngoài khi không cần thiết Ngoài ra, nhiều nền kinh tế đã chuyển đổi hình thức hoạt động kinh doanh, học tập, làm việc sang mô hình trực tuyến để thích ứng với tình hình mới.
Sau 2 năm năm kể từ ngày bùng phát dịch thì đã có hàng nghìn doanh nghiệp rơi vào tình trạng khốn đốn khó khăn ăn đi đến bước là phá sản đêm với phá sản
Dù số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh và giải thể vẫn tiếp tục gia tăng, tỷ lệ này nhìn chung không có sự thay đổi đáng kể so với giai đoạn 2016-2021, với mức tăng trung bình là 24,1% Dịch bệnh kéo dài đã ảnh hưởng nặng nề đến các doanh nghiệp trong nước, phần lớn là doanh nghiệp mới thành lập dưới 5 năm, có quy mô nhỏ và tập trung trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ Trong 6 tháng đầu năm, có 70.209 doanh nghiệp rút khỏi thị trường, tăng 24,9% so với cùng kỳ năm ngoái, phản ánh tác động tiêu cực của đại dịch đối với bức tranh kinh doanh trong nước.
Trong 6 tháng đầu năm 2021, số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 35.607 doanh nghiệp, tăng 22,1% so với cùng kỳ năm 2020, cho thấy tác động của tình hình kinh tế Đồng thời, có 9.942 doanh nghiệp đã giải thể trong cùng kỳ, tăng 33,8% so với năm trước, phản ánh các thách thức đang diễn ra đối với hoạt động doanh nghiệp.
Trong số các doanh nghiệp hoạt động năm 2020, có gần 20% (1.953 doanh nghiệp) đã đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn Điều này cho thấy số lượng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong nửa đầu năm không ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng kinh tế.
Hơn hai phần ba lao động tham gia khảo sát cho biết mất việc do ảnh hưởng của dịch COVID-19, trong khi số còn lại duy trì công việc thì gặp phải tình trạng giảm thu nhập và gặp khó khăn trong việc tiếp cận các gói hỗ trợ Cụ thể, 62% người lao động mất việc do Covid-19, trong đó một nửa mất việc trong vòng 1-3 tháng và 15% đã thất nghiệp hơn nửa năm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của họ Khi mất việc đột ngột, 50% lao động không có đủ nguồn tích luỹ để duy trì cuộc sống quá 1 tháng, trong khi chỉ có 4,4% có khả năng dự trữ tài chính trên 6 tháng Đại dịch đã đem đến rất nhiều khó khăn, làm nổi bật các thiệt hại đáng kể cho doanh nghiệp và người lao động, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khảo sát và đề xuất các giải pháp quản trị rủi ro phù hợp trong các ngành kinh tế chính.
1.2 Tính chất của rủi ro. Đại dịch nó là một rủi ro đầu cơ mang đến rất nhiều thiệt hại cho con người và nền kinh tế các nước.
Đại dịch đã tác động nghiêm trọng đến các ngành hàng không, du lịch, lưu trú, và các ngành xuất nhập khẩu như dệt may, điện tử, chế biến gỗ và nông sản, gây ảnh hưởng lớn đến nguồn lao động trong các lĩnh vực này Các ngành này chịu ảnh hưởng trực tiếp từ giảm sút hoạt động kinh doanh, cắt giảm nhân lực và sự gián đoạn trong chuỗi cung ứng, dẫn đến sự giảm sút về tuyển dụng và mất việc làm cho nhiều lao động Tác động của đại dịch còn làm giảm khả năng phục hồi của các ngành này, ảnh hưởng tới sự phát triển của nền kinh tế trong nước và quốc tế.
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các doanh nghiệp trong 5 khối ngành chính.
- Đối tượng khảo sát: 292 người lao động trong 22 tỉnh thành trong nước
Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng bằng nhiều phương pháp, bao gồm:
- Phương pháp phân tích: xem xét từng yếu tố tác động để đánh giá mức độ ảnh hưởng.
Phương pháp thu thập thông tin gồm có hai loại chính là thông tin thứ cấp và sơ cấp Trong đó, thông tin thứ cấp dựa trên các kết quả và báo cáo đã có sẵn từ các nguồn như tạp chí, sách báo, báo cáo khoa học, tài liệu giáo trình, và internet Việc sử dụng thông tin thứ cấp giúp tiết kiệm thời gian và cung cấp nền tảng kiến thức phong phú để hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu.
Thông tin sơ cấp là điều tra trực tiếp thông qua khảo sát, phỏng vấn để thu thập số liệu.
1.6 Kết cấu của đề tài. Đề tài nghiên cứu gồm 05 chương với các nội dung cụ thể như sau:
Chương 01: Giới thiệu nghiên cứu Trình bày tổng quan về nghiên cứu bao gồm sự cần thiết của đề tài, mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, kết cấu đề tài Chương 01 sẽ là tiền đề cho việc nghiên cứu sâu hơn về các cơ sở lý thuyết liên quan trong chương tiếp theo.
Chương 02: Phân tích các biện pháp ứng phó của DN trước tác động của Covid-19 và quá trình điều chỉnh nhân sự tại DN.
Chương 03: Đánh giá tác động của việc điều chỉnh về nhân sự của DN tới NLĐ và gia đình, tập trung vào các nhóm LĐ dễ bị tổn thương nhất Cũng tìm hiểu khả năng hồi phục việc làm và thu nhập sau đại dịch.
Chương 4: Xem xét các biện pháp hỗ trợ cho NLĐ, tập trung vào khả năng tiếp cận, tính hữu ích và nhu cầu hỗ trợ của NLĐ.
Chương 5: Đưa ra những cơ hội và thách thức của đại dịch mang đến và các phương pháp của bản thân.
Chương 02: Phân tích các biện pháp ứng phó của DN trước tác động của Covid-19 và quá trình điều chỉnh nhân sự tại DN.
Tổng quan về các ngành kinh tế được khảo sát 10 2.2 Tác động kinh tế đối với doanh nghiệp 10 2.3 Biện pháp ứng phó của doanh nghiệp 13 2.4 Quá trình điều chỉnh về lao động 15 2.5 Triển vọng phục hồi sau dịch và hình thức hỗ trợ doanh nghiệp
Các ngành kinh tế Việt Nam đều phụ thuộc lớn vào thị trường quốc tế, đặc biệt là Hoa Kỳ và châu Âu, chiếm trên 60% giá trị xuất khẩu của ngành dệt may và chế biến gỗ Hai thị trường quan trọng này đóng vai trò chi phối lớn đối với ba ngành còn lại, như đã thể hiện trong Bảng 1 Vì vậy, bất kỳ sự gián đoạn nào tại thị trường Hoa Kỳ và châu Âu đều gây ra cú sốc lớn đối với các ngành sản xuất của Việt Nam.
Trong ngành dệt may và điện tử, tỷ lệ nguyên vật liệu và linh kiện nhập khẩu chiếm từ 60-80%, trong khi đó ngành gỗ và hải sản chỉ khoảng 30% Năm ngành này tuyển dụng khoảng 5 triệu lao động trực tiếp cùng hàng triệu lao động gián tiếp Lao động nữ chiếm đa số trong các ngành, trừ ngành chế biến gỗ Ngoài các doanh nghiệp lớn, còn có hàng trăm hộ kinh doanh sử dụng hàng triệu lao động trong các lĩnh vực hải sản, gỗ, dệt may và du lịch Theo phân tích của ILO năm 2020, lao động phi chính thức chiếm tới 36,1% tổng số lao động trong ngành chế biến chế tạo và 81,3% trong ngành lưu trú và thực phẩm.
2.2 Tác động kinh tế đối với doanh nghiệp.
Ba cú sốc kinh tế, ảnh hưởng nặng nề nhất tới DN nhỏ và siêu nhỏ
Các biện pháp phong tỏa và giãn cách xã hội do các quốc gia áp dụng đã gây ra sự gián đoạn toàn cầu trong chuỗi cung ứng, ảnh hưởng từ nguồn nguyên liệu, sản xuất đến thị trường tiêu thụ Tại Việt Nam, sự gián đoạn bắt đầu từ việc đóng cửa biên giới với Trung Quốc ngày 31/1/2020, khiến nguồn cung nguyên vật liệu cho các ngành như may mặc, da giày và điện tử bị ảnh hưởng (chiếm tới 70%) Đồng thời, lệnh phong tỏa ở Trung Quốc làm giảm nhu cầu của các ngành như du lịch, lưu trú, gỗ nội thất và nông sản Vào ngày 6/3/2020, Việt Nam bước vào giai đoạn 2 của đại dịch với các hạn chế tụ tập, làm giảm tiêu thụ nội địa các sản phẩm không thiết yếu Đến giữa tháng 3, Mỹ và châu Âu áp dụng các biện pháp phong tỏa, gây ra cú sốc kinh tế thứ ba, ảnh hưởng nặng nề đến khu vực xuất khẩu của Việt Nam Mặc dù các biện pháp hạn chế tại các nước châu Á đã được gỡ bỏ, nhưng thị trường Mỹ và châu Âu vẫn chịu ảnh hưởng lớn, làm cho phục hồi nhanh chóng của các thị trường này gặp khó khăn Trong quý I/2020, các chỉ số kinh tế thể hiện rõ tác động của đại dịch, với tốc độ tăng trưởng GDP, xuất khẩu và nhập khẩu ở mức thấp nhất trong thập kỷ, trong khi tỷ lệ lạm phát đạt 5.56% – mức cao nhất trong 4 năm qua.
Gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu.
Mặc dù nguồn cung nguyên vật liệu bị gián đoạn do các biện pháp phong tỏa của Trung Quốc, nhưng khu vực xuất khẩu nặng không bị ảnh hưởng do các chuỗi bán lẻ tại các thị trường tiêu thụ chính như Hoa Kỳ, châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc vẫn hoạt động bình thường, đảm bảo ổn định nguồn cung cho ngành xuất khẩu.
Các nhà mua hàng phản ứng chưa thống nhất, góp phần làm gia tăng tác động tiêu cực đến các nhà máy cung ứng, đặc biệt trong tình hình đại dịch COVID-19 Nhiều nhãn hàng bán lẻ đã có những phản ứng khác nhau, trong đó có cam kết chia sẻ gánh nặng với các nhà cung ứng bằng cách thanh toán đầy đủ cho nguyên vật liệu và các sản phẩm đã hoàn thành, giúp duy trì việc làm và thu nhập cho công nhân Ví dụ trong ngành may mặc, các thương hiệu như Inditex, H&M, Adidas và Uniqlo đã cam kết thanh toán toàn bộ cho đơn hàng đang trong quá trình sản xuất hoặc đã hoàn thành Tuy nhiên, tình hình dịch bệnh đã khiến nhiều doanh nghiệp trong ngành dệt may, như VITAS, báo cáo gần 74% thành viên bị hủy trên 30% đơn hàng trong quý I/2020, còn ngành chế biến gỗ ghi nhận khoảng 80% đơn hàng từ Mỹ và châu Âu bị trì hoãn hoặc hủy vào cuối tháng 3/2020.
Tỉ lệ này với thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc vào khoảng 60-80% (Viforest
Trong Quý I/2020, ngành hải sản chịu thiệt hại nặng nề với việc trì hoãn 20-40% và hủy 20-30% đơn hàng xuất khẩu, gây ảnh hưởng lớn đến chuỗi cung ứng (VASEP 2020) Trong khi đó, ngành điện tử đã kịp thời phục hồi nguồn cung từ Trung Quốc và Hàn Quốc, nhưng sự gián đoạn trong thị trường tiêu thụ dự kiến khiến 62% các thương hiệu điện tử toàn cầu dự đoán sẽ giảm doanh thu vào cuối năm 2020 (IPC).
Trong năm 2020, ngành du lịch và lưu trú chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do toàn ngành bị đóng băng đến cuối tháng 4/2020 Đến tháng 4/2020, có tới 98% người lao động trong ngành du lịch đã mất việc hoặc phải nghỉ việc, gây thiệt hại lớn đối với hoạt động kinh doanh và nhân lực của ngành.
Phản ứng của các nhà mua hàng làm trầm trọng hơn tác động tới các nhà máy cung ứng
Các nhãn hàng bán lẻ đã phản ứng đa dạng khi đối mặt với chuỗi cung ứng bị gián đoạn, trong đó có nhiều thương hiệu cam kết chia sẻ gánh nặng với nhà cung ứng bằng cách thanh toán đầy đủ cho nguyên vật liệu và sản phẩm đã hoàn thành Ví dụ trong ngành thời trang, các thương hiệu như Inditex, H&M, Adidas và Uniqlo đã cố gắng đảm bảo trả đầy đủ cho các đơn hàng đã hoàn thành hoặc đang sản xuất để hỗ trợ duy trì việc làm và thu nhập cho lao động trong các nhà máy.
Tác động không đồng nhất ở cấp ngành và DN, gợi ý hướng cải thiện sự bền vững của chuỗi cung ứng
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), các cú sốc kinh tế do Covid-19 ảnh hưởng đến các khu vực kinh tế khác nhau theo mức độ không đồng đều Ở Việt Nam, ngành chế biến chế tạo chịu tác động trung bình cao, trong khi ngành lưu trú và ăn uống chịu ảnh hưởng cao nhất (ILO Việt Nam, 2020) Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, trong khu vực chế biến chế tạo, tác động kinh tế giữa các phân ngành và doanh nghiệp khác nhau, phụ thuộc vào chiến lược về nguồn cung, thị trường, khách hàng và sản phẩm Đại dịch không chỉ thúc đẩy các nhãn hàng quốc tế đa dạng hóa chuỗi cung ứng mà còn khuyến khích các nhà máy mở rộng khách hàng và sản phẩm để thích nghi với tình hình mới.
2.3 Biện pháp ứng phó của doanh nghiệp.
Các biện pháp ứng phó của DN với cuộc khủng hoảng Covid-19 có thể được chia làm 04 nhóm:
(I) Tìm kiếm các nguồn doanh thu thay thế
(II) Điều chỉnh phương thức làm việc
(III) Giảm chi phí lao động
(IV) Tạm ngưng hoạt động một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp
Hai phần ba DN đã sử dụng các biện pháp cắt giảm chi phí lao động
Dưới tác động của COVID-19, đa số doanh nghiệp (67,2%) đã áp dụng biện pháp giảm chi phí lao động, trong khi chỉ có 25,9% tìm kiếm nguồn doanh thu thay thế hoặc thị trường mới Khảo sát của VCCI cho thấy 75% doanh nghiệp đã cắt giảm lao động, còn theo khảo sát của ĐH Kinh tế quốc dân, 35% doanh nghiệp phải cắt giảm lao động và 34% giảm lương Lựa chọn này chủ yếu xuất phát từ hai lý do: Thứ nhất, việc tìm khách hàng hoặc tạo sản phẩm mới không khả thi trong thời gian ngắn, đặc biệt đối với các ngành như điện tử hoặc du lịch do khó thích nghi linh hoạt Các ngành như hải sản, dệt may và chế biến gỗ có thể điều chỉnh sản phẩm phù hợp với nhu cầu mới, như chế biến hàu tồn kho thành sản phẩm bán nội địa hoặc chuyển sang bán hàng trực tuyến hoặc sản phẩm khẩu trang Thứ hai, chi phí lao động chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi phí sản xuất của ngành chế biến và chế tạo, cụ thể là 30% với mô hình sản xuất FOB và lên đến 80% trong các mô hình gia công riêng biệt.
Do đó, khi các đơn hàng bị trì hoãn hoặc hủy thì việc cắt giảm chi phí lao động trở thành điều không thể tránh khỏi với các DN.
Mặc dù NSDLĐ đã nỗ lực ứng phó, nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn đối mặt với nguy cơ phải ngừng hoạt động hoặc phá sản Theo khảo sát, có đến 25,9% doanh nghiệp đã phá sản hoặc tạm dừng hoạt động, và 55,1% lo ngại sẽ phải đóng cửa nếu cuộc khủng hoảng kéo dài thêm 3 tháng nữa Trong số các doanh nghiệp còn hoạt động, hơn 30% lao động bị ảnh hưởng bởi các biện pháp cắt giảm chi phí như giảm lương, giảm thời gian làm việc hoặc nghỉ việc không hưởng lương.
Covid-19 đã làm rõ mức độ dễ tổn thương của doanh nghiệp sản xuất và người lao động cuối chuỗi cung ứng toàn cầu Trong thời điểm bình thường, họ thường nhận được ít lợi ích nhất, còn trong khủng hoảng, họ là những đối tượng chịu tác động đầu tiên của đại dịch Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng chuỗi cung ứng linh hoạt và bền vững để giảm thiểu rủi ro trong các tình huống khẩn cấp.
2.4 Quá trình điều chỉnh về lao động.
Việc áp dụng các biện pháp cắt giảm chi phí lao động thường dựa trên tiêu chí về tính nòng cốt của người lao động, trong đó nhóm lao động có hợp đồng lâu dài thường được giữ lại, còn lao động theo hợp đồng ngắn hạn hoặc mùa vụ dễ bị cắt giảm hơn Nhiều khảo sát quốc tế đã xác nhận rằng lao động không ổn định như lao động ngắn hạn và tạm thời là nhóm dễ bị tổn thương nhất trong đại dịch COVID-19 Tuy nhiên, khảo sát người lao động còn cho thấy dấu hiệu NSDLĐ loại bỏ những lao động bị đánh giá có năng lực làm việc kém, tạo nên những vấn đề về phân biệt đối xử về tuổi và giới tính trong quá trình cắt giảm chi phí.
Theo khảo sát, có 36,2% doanh nghiệp (DN) lựa chọn tiêu chí này để đánh giá nhân viên, trong khi 8,2% người lao động (NLĐ) cho rằng năng lực kém là một tiêu chí mà doanh nghiệp sử dụng để áp dụng các biện pháp cắt giảm chi phí.
Hơn hai phần ba doanh nghiệp chưa hiểu rõ cách áp dụng quy định của luật về cắt giảm lao động do ảnh hưởng của Covid-19, gây ra một tình huống chưa từng có tiền lệ cho cả doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách Mặc dù Bộ Luật Lao động 2012 đã quy định các hình thức nghỉ việc tạm thời và chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp bất khả kháng, pháp luật hiện tại chưa quy định rõ các tiêu chí đánh giá tác động của khủng hoảng và quy trình cụ thể để áp dụng các biện pháp cắt giảm lao động một cách hợp lý.
Bộ LĐTBXH đã ban hành Văn bản số 1064 ngày 25/3/2020 hướng dẫn việc điều chỉnh lương cho NLĐ tại các DN bị ảnh hưởng của Covid-19, nhưng 64%
Tác động, khả năng ứng phó và khả năng phục hồi của người lao động
Cần hỗ trợ tiền mặt và hiện vật để duy trì mức sống tối thiểu 27 Chương 5: Đưa ra những cơ hội và thách thức của đại dịch mang đến và các phương pháp của bản thân
Hơn một nửa người lao động mong muốn nhận hỗ trợ để duy trì cuộc sống sau đại dịch, phản ánh dự đoán không mấy lạc quan về khả năng khôi phục việc làm và thu nhập Theo Hình 27, có đến 54,1% NLĐ cần hỗ trợ tiền mặt, trong khi 13,3% cần thực phẩm như gạo, mỳ tôm, dầu ăn, và có tới 50% mong muốn nhận hỗ trợ giảm giá điện, tiền phòng trọ cùng các mặt hàng thiết yếu như thịt lợn Điều này cho thấy rõ nhu cầu cấp thiết về các hình thức hỗ trợ đa dạng để giúp người lao động vượt qua khó khăn.
Có tới 19,5% người lao động (NLĐ) mong muốn nhận được sự hỗ trợ trong việc giới thiệu việc làm, trong khi 11,3% mong muốn được đào tạo nâng cao tay nghề Nhu cầu về giới thiệu việc làm và đào tạo của NLĐ ngành du lịch đặc biệt cao, lên tới 40,6%, phản ánh tỷ lệ thất nghiệp ngành này cao hơn so với các ngành khác.
Bài học từ khủng hoảng tài chính 2008 cho thấy sự hồi phục của NLĐ và DN phụ thuộc vào một số yếu tố sau:
(I) Mạng lưới xã hội của NLĐ: mạng lưới xã hội mạnh sẽ cho phép NLĐ được hỗ trợ nhanh chóng trong thời điểm khó khăn.
(II) Luật lao động đầy đủ và thực thi tốt: giảm rủi ro NSDLĐ lợi dụng khủng hoảng để vi phạm quyền lao động.
(III) Hệ thống bảo trợ xã hội hiệu quả sẽ làm giảm mức độ tổn thương của người nghèo.
Trong nỗ lực ứng phó với đại dịch Covid-19, Việt Nam đã triển khai các gói hỗ trợ kịp thời dành cho người lao động (NLĐ) bị ảnh hưởng, với khoảng 20% doanh nghiệp tiếp cận các gói hỗ trợ này tính đến tháng 5/2020, giúp các ngành hải sản, may mặc và điện tử bắt đầu có dấu hiệu hồi phục Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy một số chủ doanh nghiệp còn phân biệt đối xử với lao động ngắn hạn, nữ và lớn tuổi, đồng thời vai trò của công đoàn cơ sở chưa thực sự tích cực trong việc bảo vệ quyền lợi NLĐ, đặc biệt trong các quyết định cắt giảm nhân sự Ở các tỉnh có hoạt động công đoàn tích cực, NLĐ được tư vấn và thương lượng tốt hơn, ngược lại, một số nơi phải chấp nhận quyết định của chủ doanh nghiệp hoặc đình công tự phát Để giúp NLĐ phục hồi sau đại dịch, cần xây dựng mạng lưới xã hội vững mạnh hỗ trợ nhanh chóng, bảo vệ quyền lao động thông qua luật lao động chặt chẽ và thực thi nghiêm túc, cùng hệ thống bảo trợ xã hội hiệu quả để giảm thiểu tác động tiêu cực tới nhóm nghèo Đặc biệt, các chính sách cần hướng tới các ngành thâm dụng lao động nữ để thúc đẩy phục hồi bền vững và đảm bảo quyền lợi của nhóm lao động này trong bối cảnh khủng hoảng.
Chương 5: Đưa ra những cơ hội và thách thức của đại dịch mang đến và các phương pháp của bản thân.
Nhưng ưu điểm và nhược điểm của đại dịch mang đếnvà các giải pháp khuyến khích
Nghiên cứu cho thấy quá trình điều chỉnh của NSDLĐ và NLĐ trong đại dịch vẫn chưa thực sự hiệu quả, đặc biệt trong việc tham vấn NLĐ và CĐCS, khiến nhóm NLĐ dễ bị tổn thương chịu ảnh hưởng nặng nề về sức khỏe, quan hệ gia đình và mức sống Cuộc khủng hoảng Covid-19 đã làm rõ những vấn đề đe dọa sự bền vững của ngành, doanh nghiệp và cuộc sống của NLĐ, nhất là trong ngành xuất khẩu của Việt Nam, nơi các nhà máy phải chịu rủi ro lớn khi khách hàng hủy đơn hoặc từ chối thanh toán Việc CĐCS chưa đại diện hiệu quả lợi ích của NLĐ trở nên rõ nét hơn, khi NLĐ phải đối mặt với các quyết định đơn phương từ NSDLĐ và không được bảo vệ, dẫn đến phải sử dụng các hình thức đấu tranh không chính thức để tạo áp lực thương lượng Tuy nhiên, các công đoàn cấp tỉnh đã tích cực giải quyết các khiếu nại của NLĐ, góp phần tạo ra kênh đại diện quan trọng cho quyền lợi của người lao động.
Sự hỗ trợ của công đoàn cấp trên có giới hạn vì không phải NLĐ nào cũng tìm kiếm sự giúp đỡ bên ngoài hoặc công đoàn địa phương không đủ năng lực và chủ động trong việc hỗ trợ NLĐ trực tiếp nhận lương thấp, phụ thuộc nhiều vào tiền tăng ca, và trong thời kỳ dịch bệnh, họ bị ảnh hưởng nặng nề khi mất đi khoản thu nhập này, tương đương 20-50% tổng thu nhập Hầu hết NLĐ chỉ đủ tiết kiệm duy trì cuộc sống trong vòng 3 tháng, trong khi đối với những người nuôi cả gia đình, nguy cơ rơi vào nghèo đói ngày càng hiện hữu Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn hé lộ một tia hy vọng khi nhiều NLĐ bắt đầu tìm kiếm các giải pháp để vượt qua khó khăn.
Doanh nghiệp và người lao động đã thể hiện sức mạnh kiên cường và khả năng phục hồi ấn tượng trong bối cảnh đại dịch, khi nhiều doanh nghiệp ngành hải sản, gỗ và dệt may linh hoạt đa dạng hóa nguồn thu nhập, mở rộng thị trường và tìm kiếm các cơ hội thay thế để giảm thiểu tác động tiêu cực Người lao động đã thích nghi nhanh chóng bằng cách tìm kiếm nguồn thu nhập bổ sung và tận dụng mạng lưới xã hội để duy trì cuộc sống ổn định Để giảm thiểu tác động của khủng hoảng và thúc đẩy quá trình phục hồi của doanh nghiệp và người lao động, cần xem xét các khuyến nghị chiến lược dựa trên nghiên cứu và thực tiễn.
Các giải pháp ngắn hạn
1 Tác động của đại dịch COVID-19 tới doanh nghiệp và người lao động trong một số ngành kinh tế chính: Ứng phó, điều chỉnh và khả năng phục hồi Các hiệp hội DN cần hợp tác chặt chẽ với các hiệp hội DN thuộc các quốc gia trong khu vực để yêu cầu các nhà mua hàng quốc tế có cách hành xử trách nhiệm hơn trong đại dịch Ví dụ, vào đầu tháng 4/2020, VITAS cùng hiệp hội may của 8 quốc gia khác đã ra tuyên bố chung yêu cầu các nhãn hàng thời trang quốc tế cam kết thanh toán đầy đủ cho các đơn hàng đã hoàn thành hoặc đang sản xuất Gần đây liên minh 13 tổ chức quốc tế về lao động trong ngành may đã cùng đưa ra tuyên bố tới các nhãn hàng thời trang và chính phủ các nước hành động khẩn trương nhằm hỗ trợ NLĐ trong đại dịch.
2 Chính phủ và các hiệp hội DN có thể thành lập các đường dây nóng hỗ trợ
DN gặp khó khăn trong việc tiếp cận các chương trình hỗ trợ, do thiếu thông tin về thủ tục và quy định Các đường dây nóng không chỉ tư vấn giúp doanh nghiệp hiểu rõ quy trình mà còn nhanh chóng báo cáo các nhu cầu thực tế của doanh nghiệp tới các cơ quan thẩm quyền Việc này góp phần nâng cao hiệu quả hỗ trợ, đáp ứng kịp thời các nguyện vọng của doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay.
3 Công đoàn cơ sở và công đoàn địa phương cần tích cực hơn trong việc hỗ trợ NLĐ bị NSDLĐ đối xử không công bằng Công đoàn Đồng Nai và Hải Phòng duy trì liên hệ với các CĐCS và có đường dây nóng để NLĐ báo khi có vi phạm là một điển hình tốt Dấu hiệu phân biệt đối xử với NLĐ lớn tuổi, LĐ di cư và LĐ nữ cần được giám sát và giải quyết thỏa đáng nhằm tránh việc lặp lại các vi phạm này.
4 Trong thời kỳ khủng hoảng, đối thoại xã hội đóng vai trò quan trọng với cả NSDLĐ và NLĐ để tìm ra giải pháp phù hợp nhất cho cả hai bên và phòng ngừa tranh chấp lao động Do đó, cả tổ chức của NSDLĐ và công đoàn nên khuyến khích thành viên tiến hành đối thoại và tham vấn để tìm ra giải pháp ứng phó và cùng nhau vượt qua khủng hoảng.
5 Công đoàn, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức NGO cần xác định nhóm NLĐ dễ bị tổn thương cần hỗ trợ nhất Như nghiên cứu chỉ ra, đây là NLĐ di cư có con, nhất là lao động nữ là người kiếm tiền chính trong gia đình.
Khuyến nghị điều chỉnh về trung và dài hạn:
1 Việt Nam đã kiềm chế thành công Covid-19 nên các nhà sản xuất trong nước đang có lợi thế đáng kể so với các nước láng giềng hiện vẫn đang trong dịch Do đó, các hiệp hội DN nên khuyến khích DN tích cực mở rộng thị trường Đồng thời, kinh nghiệm của ngành hải sản cho thấy nhu cầu của người tiêu dùng có xu hướng thay đổi từ mặt hàng cao cấp xuống trung cấp và hàng giá rẻ, dẫn tới nhà sản xuất cần có sự điều chỉnh sản phẩm.
2 Đại dịch cũng khiến các nhãn hàng quốc tế điều chỉnh lại chuỗi cung ứng và chính sách trong chuỗi Hiệp hội DN nên làm việc với các nhà mua hàng chính và hiệp hội DN của các thị trường xuất khẩu chính nhằm tìm ra hướng đi của các thay đổi trên càng sớm càng tốt, từ đó định hướng cho DN thành viên của mình
LEFASO đã hợp tác với Hiệp hội các nhà phân phối và bán lẻ giày Hoa Kỳ (FDRA) tổ chức thành công hội thảo trực tuyến vào tháng 5/2020, thu hút sự tham gia của 60 nhà nhập khẩu giày tại Mỹ để thảo luận về những xu hướng và thay đổi của thị trường Mỹ Các diễn đàn tương tự nên được tổ chức đều đặn cho các ngành nghề và thị trường khác nhằm nâng cao kiến thức và mở rộng cơ hội kinh doanh.
3 Đại dịch cũng nhấn mạnh yêu cầu với các DN Việt Nam phải tiến lên các nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị và đa dạng hóa khách hàng và sản phẩm Các ngành công nghiệp của Việt Nam đang có điều kiện tốt để thực hiện điều này vì các nhà mua hàng quốc tế đang tìm cách đa dạng hóa chuỗi cung ứng.
4 Khi Việt Nam đang nổi lên như một điểm đến hứa hẹn về sản xuất, Chính phủ Việt Nam cũng có quyền lựa chọn nhiều hơn với các dự án đầu tư (nước ngoài) để lọc ra các dự án phù hợp nhất cho sự phát triển bền vững của đất nước và góp phần nâng cao giá trị gia tăng của các ngành Chính phủ cần ưu tiên các dự án đầu tư có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, bền vững về môi trường, lao động và xã hội, thay vì chỉ đơn thuần là gia công.
5 Đại dịch cũng cho thấy NLĐ đang được trả mức lương (cơ bản) quá thấp nên phải phụ thuộc quá nhiều vào lương tăng ca Công đoàn, do đó, cần thúc đẩy thương lượng tập thể thực chất để tăng lương cho NLĐ thay vì chỉ
32 điều chỉnh lương tối thiểu Đồng thời cũng cần đầu tư nhiều hơn vào đào tạo nâng cao tay nghề cho NLĐ.
Các giải pháp của bản thân về vấn đề 30 KẾT LUẬN
1 Nghiêm chỉnh phấm hành mọi điều luật của nhà nước có kiến thức đúng về vấn đề dịch bệnh
2 Có ý thức bảo vệ sức khoẻ và người thân trong ra đình bằng cách ăn uống lành mạnh.
3 Trau dòi các kiến thức đề không bị thụ lùi bởi làn sóng covid-19
4 Dám đi theo con đường mới, không cố chấp với những gì mình làm mà mãi không có kết quả.
Dù chịu tác động nghiêm trọng của đại dịch, doanh nghiệp Việt Nam vẫn có cơ hội phát triển và nâng cao năng lực, nhờ việc kiểm chứng khả năng thích nghi và cải tiến mô hình kinh doanh để đạt hiệu quả bền vững Việc kiểm soát dịch thành công đã giúp Việt Nam trở thành điểm đến tin cậy của các nhà đầu tư quốc tế, đặc biệt trong xu hướng chuyển dịch nhà máy khỏi Trung Quốc, nhờ ưu thế về lực lượng lao động đông đảo, chi phí thấp, hạ tầng phù hợp và vị trí địa lý gần Trung Quốc Những thay đổi về nhu cầu tiêu dùng vì dịch Covid-19 mở ra cơ hội mở rộng thị trường ngoài các thị trường truyền thống, đồng thời, chính sách hội nhập quốc tế như Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và hình thành các chuỗi mới Các doanh nghiệp tiên phong trong chuyển đổi số đã nhận diện đổi mới là chìa khóa giúp vượt qua thách thức nhanh hơn, nắm bắt cơ hội thị trường, từ đó trụ vững và phục hồi mạnh mẽ hơn trong bối cảnh đại dịch ảnh hưởng.
Do thời gian nghiên cứu còn hạn chế về năng lực và kiến thức trong lĩnh vực quản trị tài chính, bài viết này có thể còn sai sót Mong nhận được các đánh giá, nhận xét và đóng góp ý kiến để hoàn thiện hơn đề tài nghiên cứu.