1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) TIỂU LUẬN môn NHẬP môn ĐÔNG PHƯƠNG học NHÂN học tộc NGƯỜI PHƯƠNG ĐÔNG

84 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu Luận môn Nhập môn Đông Phương Học Nhân Học Tộc Người Phương Đông
Tác giả Nhóm thành viên
Người hướng dẫn PGS.TS. Hoàng Văn Việt
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Nhập môn Đông Phương Học Nhân Học Tộc Người Phương Đông
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. Lý Thuyết tộc người (6)
    • 1. Tộc người (6)
      • 1.1. Các quan niệm tộc người (6)
      • 1.2. Các tiêu chí phân loại tộc người (8)
    • 2. Quá trình tộc người (10)
      • 2.1. Quá trình tiến hóa tộc người (10)
      • 2.2. Quá trình phân li tộc người (10)
      • 2.3. Quá trình quy tụ tộc người (11)
      • 2.4. Quá trình cố kết tộc người (12)
      • 2.5. Quá trình đồng hóa tộc người (13)
      • 2.6. Quá trình hội nhập giữa các tộc người (15)
  • II. Bức tranh tộc người phương Đông (17)
    • 1. Theo địa giới (17)
      • 1.1. Ở Châu Á (17)
        • 1.1.1. Đông Á (17)
        • 1.1.2. Đông Nam Á (17)
        • 1.1.3. Tây Nam Á (19)
      • 1.2. Ở Bắc Phi (19)
      • 1.3. Ở Trung Đông (20)
      • 1.4. Ở Úc - Nam Thái Bình Dương (20)
    • 2. Nguồn gốc và sự phân bố tộc người ở phương Đông (20)
      • 2.1. Nguồn gốc tộc người (20)
      • 2.2. Sự phân bố theo khu vực (22)
  • III. Sinh hoạt kinh tế, văn hóa tinh thần vật chất (0)
    • 1. Các loại hình kinh tế mưu sinh (23)
      • 1.1. Loại hình kinh tế săn bắt, hái lượm, đánh cá (23)
      • 1.2. Loại hình kinh tế nông nghiệp, chăn nuôi (24)
      • 1.3. Loại hình kinh tế nông nghiệp lúa nước (26)
    • 2. Các mô hình kinh tế (27)
      • 2.1. Thủ công nghiệp (27)
      • 2.2. Công nghiệp (28)
      • 2.3. Nông nghiệp (28)
      • 2.4. Thương nghiệp (30)
    • 3. Văn hoá tinh thần (31)
      • 3.1. Tín ngưỡng dân gian (31)
      • 3.2. Tôn giáo (33)
      • 3.3. Văn học- nghệ thuật (35)
    • 4. Văn hóa vật chất (37)
      • 4.1. Nhà ở (37)
      • 4.2. Mặc (38)
      • 4.3. Ẩm thực (39)
  • IV. Tổ chức và Quản lý xã hội (41)
    • 1. Hôn nhân và Gia đình (41)
      • 1.1 Hôn Nhân (41)
        • 1.1.1 Khái niệm hôn nhân (41)
        • 1.1.2 Chức năng của hôn nhân (42)
        • 1.1.3. Các quy tắc kết hôn (43)
        • 1.1.4 Các loại hình hôn nhân (46)
        • 1.1.5. Các hình thức cư trú sau hôn nhân (49)
      • 1.2. Gia đình (50)
        • 1.2.1 Khái niệm về gia đình (50)
        • 1.2.1. Các loại hình gia đình (51)
        • 1.2.3 Chức năng của gia đình (52)
    • 2. Công xã và chế độ đẳng cấp (53)
      • 2.1. Công xã (53)
      • 2.2. Chế độ đẳng cấp (54)
    • 3. Tổ chức và quản lý xã hội (56)
  • Kết luận (57)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (82)

Nội dung

Phương Đông là một nền văn minh lớn của nhân loại, nó hội tụ nhiềuyếu tố văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị trong đó có nhân học tộc người Đông Phương Đối tượng của Đông phương học là t

Lý Thuyết tộc người

Tộc người

1.1 Các quan niệm tộc người

Tộc người hay nhóm tộc người là những thuật ngữ phổ biến ở Bắc Mỹ và Châu Âu từ những năm 1960, được dùng để thay thế các khái niệm bộ tộc và chủng tộc trước đó Nghiên cứu về tộc người cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các truyền thống nhân học và dân tộc học trên thế giới, nổi bật là sự phân biệt giữa nhân học ở Bắc Mỹ và châu Âu (nhân học Âu-Mỹ) với dân tộc học ở Liên bang Xô-viết trước đây.

Khái niệm về “tộc người” có một số khác biệt giữa hai truyền thống nghiên cứu giữa nhân học Âu – Mỹ và nhân học Liên Xô.

Trong quan niệm của các nhà nhân học Âu - Mỹ, khái niệm tộc người được xem xét theo hai khuynh hướng chính Khuynh hướng thứ nhất cho rằng tộc người có liên quan đến chủng tộc và sự khác biệt giữa các tộc người phần lớn được thể hiện qua chủng tộc, dù tộc người dựa trên sự tương đồng văn hóa; sự phân biệt còn thể hiện qua ngôn ngữ, tôn giáo, lịch sử và địa lý, và đôi khi ở dòng tộc hoặc chủng tộc Ở Mỹ, ví dụ, người Mỹ gốc Phi được hiểu là người Mỹ da đen, và như vậy nhóm tộc người đồng thời là nhóm chủng tộc (Kottak 2000, 113; Eriksen 2010, 1-9) Khuynh hướng thứ hai cho rằng tộc người tồn tại độc lập với chủng tộc, như người Đức hay người Ý không liên quan đến một gen cụ thể Tóm lại, tộc người là một dạng bản sắc nhóm dựa trên sự chia sẻ các đặc trưng văn hóa (Eriksen).

Nhận thức về chủng tộc xã hội (social race) ngày càng được làm rõ: khác biệt chủng tộc bị chi phối bởi định kiến xã hội thay vì yếu tố di truyền, như Kottak (2000, tr 139) phân tích Vì vậy, khuynh hướng thứ hai trong quan niệm về tộc người ngày càng được nhiều nhà nhân học Âu-Mỹ và các khoa học liên ngành đồng thuận, được minh chứng bởi các nghiên cứu năm 2010 (tr 1-9) và Munasinghe (2018, tr 1).

Trong thập niên 1960, các nhà dân tộc học Xô-viết thảo luận sôi nổi về khái niệm tộc người, dẫn đến sự đồng thuận tương đối về nội hàm của khái niệm này Theo quan điểm này, tộc người là một tập đoàn người ổn định được hình thành trong lịch sử trên một lãnh thổ nhất định, có những đặc điểm văn hóa chung và ý thức về sự thống nhất của mình, đồng thời có sự khác biệt với các cộng đồng khác Sự khác biệt này được biểu hiện ở tên tự gọi, giúp phân biệt tộc người với các nhóm dân cư khác.

Quan niệm về tộc người của các nhà nhân học Âu-Mỹ và các nhà dân tộc học Xô-viết cho thấy họ cùng chú trọng tới bản sắc văn hóa của tộc người Trong nghiên cứu và phân tích về tộc người, hai phái thường phân biệt tộc người đa số và tộc người thiểu số Tuy nhiên, các nhà dân tộc học Xô-viết không chấp nhận yếu tố chủng tộc hay yếu tố sinh học có liên quan đến tộc người Một sự khác biệt cơ bản nữa là trong khi các nhà dân tộc học Xô-viết xác định rõ tộc người là đối tượng nghiên cứu của dân tộc học, dẫn đến dân tộc học là khoa học nghiên cứu về tộc người, thì các nhà nhân học Âu-Mỹ có quan điểm khác về phạm vi và mục tiêu của nhân học.

Ở Mỹ, tộc người được xem như một đơn vị phân tích, một chủ đề nghiên cứu và/hoặc là đối tượng của một chuyên ngành dân tộc học trong phân ngành nhân học văn hóa Ở Việt Nam, từ thời kỳ Pháp thuộc, một số nhà dân tộc học người Pháp đã nghiên cứu các tộc người cụ thể và gọi họ là “người”; ví dụ Georges Condominas nghiên cứu một cộng đồng thuộc tộc Mnông ở Tây Nguyên và gọi đối tượng nghiên cứu của mình là “người Mnông Gar” Trong những thập niên 1960–1990, với ảnh hưởng của trường phái dân tộc học Xô-viết, các nhà dân tộc học Việt Nam xác định dứt khoát rằng đối tượng nghiên cứu của dân tộc học ở Việt Nam là các tộc người Từ những năm 2000, khi dân tộc học được chuyển đổi thành ngành nhân học, vấn đề tộc người tiếp tục được các nhà nhân học Việt Nam quan tâm nghiên cứu.

Ba quan niệm về tộc người nêu trên có những điểm khác biệt riêng, nhưng đồng thời cho thấy sự tương đồng giữa các nhà nhân học Âu-Mỹ và các nhà dân tộc học Xô-viết ở chỗ họ đều chú trọng bản sắc văn hóa của tộc người Tộc người được xem là một cộng đồng có bản văn hóa riêng, trong đó cốt lõi của tộc người nằm ở nền văn hóa của nhóm ấy Quan niệm này cho thấy bản sắc văn hóa là thước đo quan trọng nhất để nhận diện tộc người, bất kể có sự khác biệt trong cách diễn đạt giữa các trường phái.

1.2 Các tiêu chí phân loại tộc người

Hầu hết các nhà dân tộc học trên thế giới đã thống nhất phân định các tộc người theo 5 tiêu chí sau:

Ngôn ngữ tộc người, hay còn gọi là tiếng mẹ đẻ, là phương tiện giao tiếp và là đặc trưng nhận diện quan trọng giúp phân biệt các tộc người Qua ngôn ngữ, các thành viên xác định bản sắc, nhận diện cộng đồng và lưu giữ lịch sử, di sản văn hóa của mình Tuy nhiên, thực tế có tộc người bỏ ngôn ngữ của mình để dùng ngôn ngữ của tộc khác hoặc tồn tại ở trạng thái song ngữ, đa ngữ, phản ánh sự biến thiên của ngôn ngữ do giao lưu và sinh sống trong xã hội hiện đại Việc giữ gìn hay mất đi ngôn ngữ mẹ đẻ không chỉ ảnh hưởng đến sự đa dạng ngôn ngữ mà còn tác động đến bản sắc văn hóa của từng tộc và cộng đồng rộng lớn hơn.

Có một lãnh thổ tộc người chung là tiêu chí vật chất xác định tộc người: từ chỗ nó là phương tiện sinh sống, lãnh thổ đã trở thành cơ sở tồn tại và phát triển của tộc người, là không gian sinh sống thiêng liêng gắn bó với cộng đồng và làm sâu sắc ý thức về lãnh thổ Khi xã hội có giai cấp, lãnh thổ tộc người nằm trong lãnh thổ quốc gia hoặc trở thành lãnh thổ quốc gia; có trường hợp lãnh thổ tộc người trải rộng ở nhiều nước Lãnh thổ tộc người là một phạm trù lịch sử, có sự biến động về mở rộng hay thu hẹp do các yếu tố lịch sử xã hội và tự nhiên tạo nên.

Thứ ba có cơ sở kinh tế tộc người Do cùng sinh sống trên một khu vực lãnh thổ đã hình thành nên cách ứng xử giống nhau trong sinh hoạt kinh tế, tạo ra một cơ sở kinh tế chung của tộc người Từ đó, hình thành và phát triển các mối liên hệ, quan hệ kinh tế nội bộ tộc người Mối liên hệ kinh tế là một trong những điều kiện để xuất hiện tộc người (cùng với lãnh thổ), là chất keo cố kết tộc người Cơ sở kinh tế là đặc trưng, là nguyên nhân, điều kiện cho phát sinh, tồn tại của các loại hình thị tộc - bộ lạc, bộ tộc, dân tộc Sự thay đổi các mối quan hệ và liên hệ kinh tế tộc người làm thay đổi các hình thái kinh tế - xã hội và ra đời các loại hình cộng đồng tộc người khác nhau.

Thứ tư có các đặc trưng văn hóa tộc người Quá trình sinh tồn, ứng xử của con người với tự nhiên và xã hội đã tạo ra các đặc trưng văn hóa riêng của từng tộc người và trở thành bản sắc tộc người Văn hóa tộc người thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bao giờ cũng mang cốt cách, bản sắc riêng, phân biệt với văn hóa các tộc người khác. Đặc trưng văn hóa truyền từ đời này sang đời khác tạo sự cố kết tộc người, là yếu tố phân biệt tộc người sâu sắc nhất nên văn hóa là tiêu chí quan trọng nhất để xác định tộc người.

Ý thức tự giác tộc người là tổng hòa ngôn ngữ, lãnh thổ, đặc trưng văn hóa và cơ sở kinh tế của một cộng đồng, hình thành nên một hiện tượng xã hội đặc trưng và quan trọng của nhân loại Đó là nhận thức của từng cá nhân và của cả cộng đồng về những đặc trưng riêng biệt của mình so với các tộc người khác Quá trình hình thành ý thức tự giác tộc người diễn ra qua thời gian dài trong lịch sử và được cá nhân hấp thụ từ thuở nhỏ qua gia đình, nhà trường và môi trường xã hội Ý thức này đóng vai trò nền tảng trong việc xác định thành phần tộc người của mỗi người; mất ý thức tự giác tộc người đồng nghĩa với sự mất đi của tộc người và sự bao hàm của cá nhân trong phạm vi tộc người.

Quá trình tộc người

Quá trình tộc người là khái niệm lịch sử mô tả sự biến đổi và hình thành của các cộng đồng tộc người cũng như các nhóm địa phương Trong thực tiễn, quá trình này ghi nhận những thay đổi về thành phần và đặc trưng của tộc người, đồng thời giải thích nguyên nhân hình thành nên các cộng đồng tộc người thân thuộc hoặc nhóm địa phương Có ba hình thức cơ bản của quá trình tộc người là tiến hóa tộc người, phân ly tộc người và quy tụ tộc người, mỗi hình thức thể hiện các quá trình hình thành, gắn kết và mở rộng di sản văn hóa và địa bàn cư trú.

2.1 Quá trình tiến hóa tộc người

Quá trình tiến hóa tộc người là sự phát triển đồng bộ các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội và dân số của tộc người đó, nhờ vậy tộc người mở rộng quy mô, nâng cao trình độ kỹ thuật và trình độ học vấn, từ đó xây dựng một cộng đồng mạnh mẽ và bền vững Quá trình này không làm biến dạng bản sắc của tộc người mà ngược lại bảo tồn và làm phong phú những giá trị đặc trưng của nó.

Quá trình tiến hóa của tộc người góp phần làm phong phú văn hóa của các tộc người sống gần gũi với nhau Trước hết, vai trò tích cực của mối liên hệ đồng đại được thể hiện qua việc đưa cái mới vào bên trong tộc người và mang tính đại chúng nhất Tuy nhiên, vai trò quyết định vẫn thuộc về mối quan hệ lịch đại, vì chỉ có sự chuyển giao cái mới giữa các thế hệ liên tiếp mới tạo nên tính ổn định truyền thống tương đối và điều này cần được thực hiện đối với mọi thành tố của chức năng tộc người.

2.2 Quá trình phân li tộc người

Phân li tộc người là đặc điểm vốn có của xã hội nguyên thủy Một dạng cơ bản của quá trình này là sự phân chia tộc người phát sinh từ sự gia tăng dân số và sự cạn kiệt của nguồn tài nguyên thiên nhiên Chính quá trình phân li đã làm nền tảng cho sự di cư của con người tới những vùng đất khác nhau trên Trái Đất Trong các xã hội có giai cấp, phân chia tộc người thường gắn liền với di cư hàng loạt, từ đó hình thành nên nhiều tộc người khác nhau Với sự hình thành của quốc gia, biên giới chính trị đóng vai trò là yếu tố xác định và phân tách các nhóm tộc người khác nhau.

Quá trình phân ly tộc người được phân thành hai loại hình cơ bản: quá trình chia nhỏ và quá trình chia tách Quá trình chia nhỏ liên quan đến việc một tộc người đồng nhất được chia thành nhiều bộ phận khác nhau, và những bộ phận này sau đó hình thành các tộc người mới trong quá trình phân chia Ngược lại, quá trình chia tách xảy ra khi một phần nhỏ của tộc người gốc tách ra dần dần và trở thành một tộc người độc lập.

Ví dụ, quá trình chia nhỏ tộc người của người Nga cổ đã hình thành ba tộc người gần gũi: Nga, Ukraine và Belarus Tương tự ở Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á, quá trình phân tách tộc người diễn ra khá phổ biến: người Việt cổ phân ly thành các tộc Việt, Mường và Chứt; người Thái ở Vân Nam, Quý Châu (Trung Quốc) khi di cư sang Lào, Thái Lan và Việt Nam đã hình thành các tộc Thái ở Thái Lan, Thái ở Lào và Thái ở Việt Nam Ngoài ra, cũng có những tộc người do quá trình di cư đến Việt Nam đã tách ra thành các nhóm địa phương nhưng vẫn coi mình thuộc về tộc gốc, như trường hợp các nhóm địa phương của người Nùng, Dao và H'Mông.

Trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa, sự phân chia từ các nhóm tộc gốc diễn ra mạnh mẽ do di cư đến các vùng đất thuộc địa, từ đó hình thành nên các tộc người mới Quá trình di cư và sự gặp gỡ giữa các nền văn hóa khác nhau dẫn đến sự pha trộn và phân hóa dân cư ở các khu vực thuộc địa Ví dụ, người Anh và các nhóm di cư từ nước Anh đã hình thành những cộng đồng riêng ở nước ngoài, như người Anh ở Mỹ, tạo nên các nhận diện tộc người mới dựa trên ngôn ngữ, phong tục và lịch sử riêng Những diễn biến này phản ánh động lực kinh tế-xã hội của chủ nghĩa tư bản: khai thác nguồn lực và mở rộng thị trường đã thúc đẩy di cư, đô thị hóa và sự đa dạng của các cộng đồng ở vùng đất thuộc địa và trong lòng quốc gia mẹ.

Trên thế giới ngày nay, sự phát triển của chủ nghĩa dân tộc và sự khác biệt tôn giáo vẫn khiến nhiều dân tộc có cùng nguồn gốc lịch sử muốn tách ra để hình thành các quốc gia và dân tộc riêng biệt Những động lực này xuất phát từ khát vọng tự quyết và nhận diện văn hóa, thúc đẩy quá trình tái cấu trúc bản sắc dân tộc ở nhiều khu vực Do đó, sự đa dạng về nhận thức và niềm tin tôn giáo tiếp tục ảnh hưởng đến bản đồ chính trị và xã hội của các quốc gia ngày nay.

2.3 Quá trình quy tụ tộc người

Xu hướng quy tụ, họp nhất các tộc người chiếm vai trò nổi bật qua các thời kỳ lịch sử, phản ánh quy luật lịch sử chung dẫn đến sự củng cố và thống nhất của các cộng đồng dân tộc Quá trình này thể hiện sự biến đổi của cấu trúc xã hội và tăng cường sức mạnh tập thể của các tộc người Xu hướng hợp nhất tộc người được phân thành ba loại chính: cố kết hay kết hợp (consolidate), đồng hóa (assimilation) và hội nhập (integration), mỗi loại cho thấy mức độ liên kết khác nhau và tác động đến văn hóa, ngôn ngữ và cơ cấu xã hội của các tộc người.

2.4 Quá trình cố kết tộc người

Quá trình hợp nhất giữa các nhóm người và các tộc người có nguồn gốc, ngôn ngữ và văn hóa tương đồng, đồng thời dựa trên các điều kiện gắn bó phụ thuộc lẫn nhau để hình thành nên một cộng đồng lớn hơn.

*Quá trình cố kết tộc người được chia ra làm hai loại:

(1) Cố kết trong nội bộ từng tộc người

Cố kết nội bộ tộc người là quá trình tăng cường sự gắn kết chặt chẽ giữa các thành viên của một tộc người bằng cách gạt bỏ dần sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa của các nhóm địa phương, từ đó củng cố ý thức tự giác tộc người nói chung và tăng cường sự đồng thuận trong cộng đồng.

Ở Việt Nam, đặc biệt là ở các tỉnh miền núi phía Bắc, các tộc người thiểu số cư trú phân tán và xen kẽ lẫn nhau Chính sách dân tộc chia để trị của thực dân Pháp đã ngăn cản quá trình cố kết nội bộ giữa các nhóm địa phương Sau ngày miền Bắc được giải phóng (năm 1954), đời sống kinh tế và văn hóa - xã hội của các tộc người này ngày càng được cải thiện; các nhóm địa phương trước đây phân tán, xé lẻ đã có ý thức cố kết lại với nhau, điển hình là người Dao, Nùng, Thái và các dân tộc khác.

Sau ngày giải phóng năm 1975, các dân tộc tại Trường Sơn và Tây Nguyên đã tăng cường giao lưu kinh tế - văn hóa, mở rộng hợp tác và trao đổi, từ đó củng cố ý thức đoàn kết và thống nhất tộc người, đồng thời thúc đẩy sự phát triển chung của vùng miền.

(2) Cố kết giữa các tộc người gần gũi nhau về mặt ngôn ngữ, văn hóa để dẫn đến hình thành một cộng đồng tộc người lớn hơn.

Quá trình cố kết giữa các tộc người bắt nguồn từ nguồn gốc ngôn ngữ văn hóa chung trong quá khứ và thường là sự phủ định biện chứng của quá trình phân tách trước đây Ở Việt Nam, người Tày và người Nùng cư trú xen kẽ ở vùng núi Việt Bắc và được xem là hai tộc có nguồn gốc và văn hóa gần gũi nhau Ngày nay, xu hướng xích lại gần nhau và hòa nhập giữa hai dân tộc thể hiện rõ ở nhiều địa bàn, nhất là ở Thạch An, Hòa An, Quảng Hòa (Cao Bằng) và Tràng Định, Văn Lãng, Bình Gia, Lộc Bình (Lạng Sơn), nơi ranh giới giữa các nhóm Tày và Nùng đã trở nên mờ nhạt hơn so với các nơi khác Quá trình cố kết ngày càng được đẩy mạnh khiến các khác biệt địa phương dần bị xóa bỏ và mở đường cho một tộc người thống nhất trong tương lai.

2.5 Quá trình đồng hóa tộc người Đồng hóa tộc người là quá trình hòa tan (mất đi) của một tộc người hoặc một bộ phận của tộc người vào môi trường của một tộc người khác.

Bức tranh tộc người phương Đông

Theo địa giới

Châu Á đóng vai trò quan trọng trên bản đồ nhân chủng học thế giới, với mỗi khu vực và quốc gia đều sở hữu những đặc điểm riêng biệt, góp phần tạo nên sự đa dạng đặc trưng của tộc người châu Á Tộc người phương Đông ở khu vực này đã liên tục hình thành và phát triển mạnh mẽ theo nhịp lịch sử đầy biến động của thế giới.

Đông Á, còn được gọi là Viễn Đông, là khu vực địa lý gồm Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Mông Cổ, Triều Tiên và Hàn Quốc Về văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội, Đông Á là một tổ hợp chịu ảnh hưởng sâu sắc từ nền văn minh Trung Hoa, thể hiện rõ qua các yếu tố như chữ Hán, Khổng giáo và Tân Khổng giáo, cùng với Phật giáo Đại thừa và Lão giáo Sự giao thoa của ngôn ngữ, hệ tư tưởng và tín ngưỡng ở các nước trong khu vực hình thành nên khung cảnh địa lý và sự đa dạng đặc trưng của Đông Á.

Phần lớn các dân tộc ở Đông Á thuộc nhóm dân tộc có nguồn gốc châu Á, với đặc điểm là da vàng và tóc đen Với sự phát triển của xã hội loài người, các dân tộc Đông Á dần hòa nhập và lan tỏa khắp nơi trên thế giới Trong thế kỷ XX, Đông Á đã trải qua nhiều biến đổi về kinh tế và chính trị; trong những thập kỷ gần đây, một số nước Đông Á đã nổi lên như các cường quốc kinh tế và chính trị Các nhóm dân tộc không sinh sống riêng lẻ mà hòa nhập với nhau, học hỏi kinh nghiệm và góp phần phát triển khu vực thông qua sự hợp tác và hội nhập.

Quá trình hình thành bức tranh tộc người ở Đông Nam Á diễn ra qua nhiều thời kỳ lịch sử và mang tính phức tạp Các nghiên cứu Đông Nam Á học cho thấy hai loại hình nhân chủng chủ yếu ở khu vực này và bán đảo Đông Dương là Nam Á và Anhđônêdiêng, có nguồn gốc từ tiểu chủng Môngôlôit phương Nam Đặc biệt, các dân tộc ở Việt Nam nằm trong hai nhóm loại hình này trong bức tranh tộc người của Đông Nam Á.

ASEAN, hay Đông Nam Á hiện đại, gồm 11 nước: Myanmar, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Campuchia, Malaysia, Singapore, Indonesia, Philippines, Brunei và Đông Timor Nhiều nghiên cứu cho rằng Việt Nam là một Đông Nam Á thu nhỏ về chủng tộc, ngữ hệ và bức tranh văn hóa tộc người, khi lịch sử và văn hóa các dân tộc Việt Nam hình thành gắn liền với nguồn gốc văn hóa các dân tộc ở Đông Nam Á Chứng cứ nổi bật cho quan điểm này là sự tương đồng của nền văn hóa rất phát triển Văn hóa Hòa Bình được phát hiện ở nhiều nơi Đông Nam Á, từ Việt Nam đến Thái Lan, cho thấy một nguồn gốc chung và sự tiến bộ của các nền văn minh khu vực Thành tựu ấy làm thay đổi cách nhìn của các nhà khảo cổ học về sự tiến triển của nền văn minh và gợi mở nhiều về nguồn gốc dân tộc và văn hóa của Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng Đông Nam Á từng được xem là một trung tâm phát sinh chủng tộc và ngôn ngữ, tuy chữ viết của khu vực ra đời muộn và chủ yếu là sự vay mượn từ chữ Hán và các văn tự Ấn Độ, khiến ngữ hệ nơi đây trở nên đa dạng và phức tạp với hàng chục, hàng trăm ngôn ngữ được sử dụng trong từng quốc gia và khu vực.

Indonesia có khoảng 250 ngôn ngữ được sử dụng, cho thấy sự đa dạng ngôn ngữ của khu vực; tiếng Thái không chỉ ở Thái Lan mà còn được nói ở Lào, Việt Nam, Campuchia và Myanmar; tiếng Khmer không chỉ ở Việt Nam mà còn ở Thái Lan và Campuchia.

Việt Nam nằm trên hai ngữ hệ Nam Đảo và Nam Á; trong nhiều thiên niên kỷ, quá trình hội tụ và phát tán dân tộc, ngôn ngữ đã hình thành những phức hợp nhóm ngôn ngữ đặc thù mà chỉ có ở cơ tầng của nó mới có thể nhận ra các yếu tố của ngôn ngữ gốc Song song đó, có nhiều công trình nghiên cứu trong nước và trên thế giới khẳng định thêm rằng có một nền văn minh cổ Đông Nam Á khác biệt với nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ; đó là nền văn minh lúa nước có nguồn gốc bản địa với những đặc trưng văn - tộc người.

Vùng Tây Nam Á được xem là cái nôi của nền văn minh nhân loại, nơi sự phát triển phồn thịnh và phong phú của khu vực có ảnh hưởng to lớn đối với thế giới Đây cũng là quê hương của nhiều tôn giáo có ảnh hưởng sâu rộng trên toàn cầu Dân cư Tây Nam Á phần lớn thuộc chủng Ơrôpêôit, một nhóm người với các đặc điểm điển hình như làn da sáng, tóc và mắt màu vàng hoặc nâu, cùng với dáng người cao và mũi cao.

1.2 Ở Bắc Phi Ở Bắc Phi chủ yếu là người Ả Rập và người Berbers thuộc chủng tộc Ơrôpêôit, theo đạo Hồi Người Berber, họ tự gọi mình là Amazigh, là những người bản địa ở Bắc Phi Người ta tin rằng người Berber hiện đại là hậu duệ của những cư dân tiền Ả Rập ở Bắc Phi Một trong những nhóm người Berber sớm nhất là người Caspi, sống ở khu vực này hơn 10.000 năm trước trong thời kỳ đồ đá mới Trong nhiều văn bản lịch sử của Hy Lạp, người Berber được gọi là người Libya và là đại diện duy nhất của châu Phi ở châu Âu vào thời điểm đó Ngày nay, người Berber là một nhóm đa dạng, phản ánh những người và nền văn hóa khác nhau.

Vùng đất Bắc Phi trải qua lịch sử hình thành với sự phân hóa thiên nhiên rõ rệt giữa bắc và nam: phía bắc là đồng bằng ven Địa Trung Hải có lượng mưa cao hơn, còn phía nam là sa mạc Sahara khổng lồ với nhiệt độ nóng và lượng mưa rất thấp Sự khác biệt này quyết định điều kiện khí hậu ở Bắc Phi, khiến vùng bắc có khí hậu ẩm hơn trong khi vùng nam chịu khô hạn nghiêm trọng Do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và địa hình phân hóa, lịch sử phát triển sản xuất nông nghiệp ở Bắc Phi không phong phú như ở nhiều khu vực khác trên thế giới.

Bắc Phi có một lịch sử phát triển văn minh sông Nin rất sớm và đặc sắc Kinh tế của khu vực này chủ yếu dựa vào khai thác – xuất khẩu dầu mỏ, khí đốt và phốt phát, cùng với du lịch Bên cạnh đó, người Bắc Phi trồng các cây lương thực thiết yếu như lúa mì, ôliu và cây ăn quả cận nhiệt đới để đáp ứng nhu cầu địa phương và xuất khẩu Hiện nay, Bắc Phi có nhiều đô thị hiện đại và các công trình khai thác, chế biến dầu mỏ ngày càng phát triển Sự phát triển theo thời gian của tộc người thuộc chủng Ơrôpêôit đã góp phần làm cho khu vực Bắc Phi ngày càng giàu mạnh và phồn vinh.

Trung Đông là khu vực nằm ở vùng trung tâm của ba châu lục: Châu Á, Châu Âu và Châu Phi, với vị trí địa lý đặc biệt tạo nên sự giao thoa văn hóa và lịch sử phong phú Nơi đây tập hợp nhiều nhóm dân tộc và nền văn hóa đã hình thành từ lâu, như người Ả Rập, người Ai Cập, Ba Tư, Do Thái và người Hy Lạp, cùng với nhiều cộng đồng khác Ngày nay, Trung Đông đóng vai trò then chốt trong lịch sử, kinh tế và chính trị toàn cầu, đồng thời là cửa ngỏ giao thương và nơi phát triển văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ giữa các châu lục.

Trong các hệ thống phân loại chủng tộc cổ điển, các dân tộc Trung Đông được xếp vào chủng Ơrôpeôit thuộc nhóm phương Nam Theo mô tả của chủng tộc này, họ được cho là có các đặc điểm nổi bật như sống mũi cao, mắt sâu, vóc dáng cao to, làn da sẫm màu, cùng tóc và mắt đen.

1.4 Ở Úc - Nam Thái Bình Dương Đại chủng Úc là danh từ để chỉ một trong bốn đại chủng trong nhân chủng học Đại chủng Úc bắt nguồn từ châu Úc, một vài nơi ở châu Á, quần đảo Indonesia, quần đảo Micronesia và các quần đảo tại Nam Thái Bình Dương Đại chủng Úc bao gồm thổ dân Úc và một số dân tộc sống trên các quần đảo Đông Nam Á Người bản địa Úc được xác định một cách hợp pháp là những thành viên "của các chủng tộc thổ dân của nước Úc" tại lục địa Australia hoặc đảo Tasmania Thổ dân Úc thuộc chủng người da nâu Ngày nay hầu hết họ sống ở phía đông nam nước Úc, tập trung dọc theo sông murray. Đối với khu vực Nam Thái Bình Dương chủ yếu là người Mỹ gốc Quần đảo Thái Bình Dương còn được gọi là Người Mỹ gốc Châu Đại Dương, hoặc người Hawaii gốc.

Họ là người Mỹ có tổ tiên dân tộc trong số các dân tộc bản địa của Châu Đại Dương (tức người Polynesia, Melanesia và Micronesia).

Nguồn gốc và sự phân bố tộc người ở phương Đông

Trong lịch sử nhân loại, có cách phân loại cổ điển chia loài người thành ba nhóm được gọi là Mongoloid, Australoid và Negroid Ở nhiều quốc gia thuộc Đông Á và Đông Nam Á, Mongoloid và Australoid được xem là hai chủng tộc chiếm ưu thế Quan niệm này phản ánh nhất định của các thời kỳ trước và không còn được coi là mô hình mô tả đa dạng di truyền hiện nay Homo sapiens được cho là xuất hiện ở Đông Phi khoảng 160.000 năm trước.

Khoảng 125.000 năm trước, một nhóm người vượt Hồng Hải, tiến tới Sahara xanh và đến vùng sông Nile tại Cận Đông Khoảng 90.000 năm trước, một đợt băng giá khốc liệt tràn xuống khu vực này, tiêu diệt toàn bộ những người đã tới Cận Đông.

Khoảng 85.000 năm trước, một cặp thủy tổ của loài người hiện đại rời Đông Phi và vượt Biển Đỏ, mở đường cho nhóm người di cư đầu tiên ra khỏi châu Phi Những nhóm này di chuyển dọc theo bờ biển Nam Á, vượt qua Ấn Độ, đến Đông Nam Á và Đông Á vào khoảng 75.000 năm trước Đến khoảng 65.000 năm trước, họ tiếp tục ra biển tới Úc theo các miền duyên hải Nam châu Á.

Khoảng 85.000 năm trước, người Châu Phi di dân ra khỏi lục địa và đến các vùng Vịnh cũng như Nam Á Sau đó, một cuộc di cư thứ hai diễn ra, tách thành hai nhánh di cư chính.

Một nhánh di cư rời khỏi khu vực Pakistan hoặc Ấn Độ, men theo thung lũng sông Indus và tiến lên phía Bắc qua các thảo nguyên Trung Á, rồi phân thành hai nhánh nhỏ Nhánh thứ nhất rẽ Tây, tiến vào Châu Âu; nhánh kia tiếp tục Đông tới Mông Cổ và vùng Đông Bắc Á, nơi nó gặp gỡ và hòa lẫn với cư dân bản địa của đợt di cư đầu tiên, hình thành các nhóm dân tộc Bắc và Đông Bắc Á.

Nhánh còn lại, hay nhánh chính, tiếp tục men theo các cao nguyên dưới chân núi Himalaya và dọc theo các con sông lớn Brahmaputra, Irrawaddy, Mekong (Cửu Long) và Dương Tử để đến Đông Nam Á và Đông Á Tại đây, hậu duệ của nhánh phối chủng gặp gỡ và giao thoa với các cư dân bản địa, tạo nên sự đa dạng di truyền và hình thành các nhóm dân cư ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á.

Mặc dù đều hậu duệ của chủng Mongoloid trong đợt di cư thứ II Tuy nhiên do sự khác nhau về hành trình di chuyển, nên đã tạo ra những đặc thù khác nhau giữa chủngMongoloid phương Nam và chủng Mongoloid phương Bắc.

2.2 Sự phân bố theo khu vực

Khu vực Châu Á bao gồm nhiều quốc gia vì thế khu vực này có có đa dạng tộc người, đa văn hóa- các nền văn hóa đều có giá trị như nhau Theo nghiên cứu của các học giả phương Tây cho rằng, mỗi nước trong khu vực Đông Nam Á đều có trên chục đơn vị tộc người trong mỗi quốc gia, chưa kể toàn châu Á.

Myanmar có 135 riêng biệt trong đó có: tộc người Bamar, tộc người Shan, tộc người Karen,

Thái Lan có 23 dân tộc, trong đó bao gồm tộc người Thái, tộc người Karen tộc người Hmong ,

Campuchia đa số là người Khmer và một số tộc người khác

Indonesia với hơn 300 dân tộc trong bao gồm: tộc người Java, tộc người Sunda, tộc người Madur,

Malaysia với gần 70 nhóm dân tộc bao gồm các tộc người Kadazan, tộc người Dayak, tộc người Iban,

Việt Nam có 54 dân tộc như là dân tộc Kinh, dân tộc Tày, dân tộc Thái,

Trung Quốc có nhiều tộc người, tiêu biểu như Hán, Mãn và Mông Cổ; Ấn Độ có các tộc người như Hijra, Arbor, Irula và Jat; ở khu vực Bắc Phi cũng tập hợp nhiều nhóm dân tộc đa dạng.

Ai Cập: tộc người Ả Rập,

Sinh hoạt kinh tế, văn hóa tinh thần vật chất

Các loại hình kinh tế mưu sinh

1.1 Loại hình kinh tế săn bắt, hái lượm, đánh cá

Phân công lao động theo giới—nam săn bắt, nữ hái lượm—cùng với sự chia sẻ thức ăn và sự phát triển ngôn ngữ hình thành các yếu tố tương liên của lối sống săn bắt và hái lượm Dù cư trú ở vùng xa các trung tâm lớn, nhóm săn bắt hái lượm vẫn tồn tại nhờ năng lực bẩm sinh và hiểu biết sâu sắc về môi trường sống của họ Kỹ thuật săn bắt tuy giản dị nhưng không thô sơ, với nhiều phương pháp khéo léo để săn các loại thú lớn nhỏ khác nhau Trong loại hình săn bắt, có một số đặc trưng xã hội điển hình: những người đi săn thường du cư, sự di chuyển phụ thuộc vào nguồn thức ăn có sẵn gồm thú và thực vật Hình thức tổ chức xã hội phổ biến là cư trú ở các khu trại nhỏ có huyết thống với nhau Ở các nhóm này, phân công lao động theo tuổi tác và giới phổ biến: phụ nữ thu thập thực phẩm, đàn ông tham gia săn bắt; phụ nữ còn may vá quần áo và đóng góp vào kinh tế của nhóm bằng nhiều cách, như mang vác và chế biến thực phẩm.

Ferraro (1997) đưa ra một số điểm đặc trưng của các xã hội tồn tại loại hình kinh tế tự nhiên này:

Các xã hội khai thác tự nhiên có dân số thấp do lượng thực phẩm thu thập được không đủ nuôi một quy mô dân số lớn Nguyên nhân chính là sản lượng thu thập thực phẩm hạn chế và không đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của dân cư Thêm vào đó, khi các kỹ thuật thu thập thực phẩm tiến bộ và hiệu quả hơn, khả năng khai thác nguồn thực phẩm sẽ tăng lên nhanh chóng, dẫn tới cạn kiệt nguồn cung cấp thực phẩm và đe dọa sự bền vững của tài nguyên.

Trong các xã hội khai thác tự nhiên, người ta thường di cư hoặc bán di cư thay vì định cư, do nguồn cung cấp thực phẩm phân bổ không đồng đều và dễ biến động Đơn vị xã hội cơ bản là gia đình hoặc nhóm người, tức là hình thức tập hợp các gia đình lại với nhau Tổ chức xã hội điển hình ở đây là các nhóm nhỏ thân tộc kết hợp với nhau trong một khoảng thời gian nhất định trong năm, và tư cách thành viên nhóm rất linh hoạt: các gia đình khác nhau có thể tách ra nhập vào nhóm nhiều lần trong năm Kiểm soát xã hội được gói gọn trong các thiết chế gia đình, đóng vai trò chủ đạo trong việc điều tiết đời sống và mối quan hệ của cộng đồng.

Hiện nay, một số dân tộc sống bằng hình thức khai thác tự nhiên thường cư trú ở vùng xa xôi hẻo lánh Nguyên nhân là trình độ công nghệ của họ thấp hơn so với các nhóm có công nghệ cao ở đô thị, khiến họ bị đẩy ra khỏi trung tâm và dồn về các vùng biên giới Những vùng đất này có nguồn tài nguyên phù hợp với trình độ tìm kiếm thực phẩm của họ, cho phép họ duy trì lối sống dựa vào khai thác tự nhiên.

1.2 Loại hình kinh tế nông nghiệp, chăn nuôi

Giống như nông nghiệp quảng canh hay trồng trọt, chăn nuôi xuất hiện từ thời kỳ đồ đá mới và dần tách ra thành một bộ phận cư dân chuyên chăn nuôi ở những đồng cỏ rộng, hình thành hình thức chăn nuôi du mục Hình thức sản xuất này chủ yếu là chăn nuôi các loài động vật ăn cỏ đã được thuần dưỡng và là một sự thích nghi đặc biệt với môi trường khô hạn, đất đai cằn cỗi ở các khu vực như vùng cực và cận cực Bắc, sa mạc, núi cao và đồng cỏ, nơi không có khả năng sản xuất ra lượng lương thực đủ cho số đông dân cư bằng nông nghiệp Ở đây chỉ có các loài thực vật thích nghi với từng địa hình sống, và những loài thực vật này là nguồn thức ăn chủ yếu cho các động vật chăn thả Các loài động vật chủ yếu được nuôi là cừu, dê, bò Tây Tạng và lạc đà, cung cấp thịt và sữa cho con người Hình thức chăn nuôi du mục này phổ biến ở Đông Phi (gia súc), Bắc Phi (lạc đà), Tây Nam Á (cừu và dê) và vùng cận Bắc cực với tuần lộc caribou và nai tuyết.

Có hai hình thức chính của loại hình kinh tế này là di chuyển gia súc (transhumance) và du cư (nomadism) Trong cả hai hình thức, đàn gia súc di chuyển đến các bãi cỏ khác nhau theo mùa Với di chuyển gia súc, một phần nhóm chăn nuôi đi theo đàn và phần còn lại ở lại làng; đàn ông thường dẫn gia súc tới các đồng cỏ, còn phụ nữ, trẻ em và một số đàn ông ở lại trồng trọt, và nhóm này thường thấy ở châu Âu và châu Phi, như dân Turkana ở Uganda, nơi đàn ông và thanh niên theo đàn đến các cánh đồng cỏ xa xôi trong khi phần lớn thành viên còn lại ở lại làng để làm nông Các ngôi làng của nhóm này thường nằm gần nguồn nước để bảo đảm có cỏ cho gia súc quanh năm Trong hình thức du cư, toàn cộng đồng di chuyển cùng đàn gia súc quanh năm và không cư trú cố định, nhóm này phổ biến ở Trung Đông và Bắc Phi Ở Iran, người Basseri và Qashqai di chuyển trên quãng đường dài hơn 480 km, bắt đầu từ ven biển và di chuyển đến vùng đồng cỏ cao 5.400 m so với mực nước biển.

Loại hình kinh tế chăn nuôi không thể nuôi sống một cộng đồng nếu thiếu sự bổ sung của các loại ngũ cốc và cây trồng trong khẩu phần ăn Vì vậy, ngành chăn nuôi thường kết hợp với trồng trọt hoặc tham gia buôn bán với các cư dân nông nghiệp khác Sự kết hợp này khiến ngành chăn nuôi tồn tại ở nhiều dạng khác nhau Hiện nay, nhiều người chăn nuôi đã tham gia vào kinh tế thị trường bằng cách bán gia súc ra thị trường Đây được xem là một hình thức thích nghi quan trọng của nghề chăn nuôi trong bối cảnh kinh tế hiện đại.

1.3 Loại hình kinh tế nông nghiệp lúa nước

Loại hình kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước xuất phát từ hoạt động sản xuất của cư dân Đông Nam Á và hình thành vào khoảng 10.000–15.000 năm trước công nguyên, được coi là văn minh lúa nước Người dân ở khu vực này dựa vào lợi thế tự nhiên như sự thuận lợi của lưu vực sông, phù sa dồi dào, hệ thống thủy lượng ổn định, khí hậu ấm áp và sự phong phú của đồng bằng bình nguyên cùng đất đai màu mỡ, dễ canh tác Chính nhờ các điều kiện tự nhiên nói trên mà cư dân phương Đông sớm gắn bó với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là nghề trồng lúa nước.

Loại hình kinh tế nông nghiệp lúa nước ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới ẩm ướt tại Nam và Đông Nam Á sử dụng cày và sức kéo động vật làm công cụ chính trong sản xuất nông nghiệp Đặc trưng của mô hình này là trồng lúa nước, có hệ thống tưới tiêu nhân tạo, áp dụng thâm canh để cải tạo đất và dùng trâu làm sức kéo chủ yếu.

Ở vùng rừng thảo nguyên và rừng ôn đới, kinh tế dựa vào nông nghiệp lúa nước thể hiện sự đa dạng đáng kể Các nhóm dân sống nhờ trồng lúa nước định cư quanh các vùng hạ lưu sông giàu phù sa, từ đó hình thành các khu dân cư tập trung và ổn định Với nguồn nước và đất phù sa màu mỡ, đời sống nông nghiệp được duy trì bền vững và khu dân cư ngày càng phát triển Nhà cửa được xây dựng kiên cố để bảo vệ và hỗ trợ sinh kế lâu dài.

Các mô hình kinh tế

Mô hình kinh tế là một hệ thống liên kết hai hoặc nhiều biến số kinh tế quan trọng, để mô tả và dự báo các hiện tượng kinh tế Nhờ sự liên kết này, mô hình kinh tế trở thành công cụ hữu ích để phân tích hành vi kinh tế của con người và sự vận hành của nền kinh tế.

Nghề thủ công cổ truyền tiếp tục phát triển đạt trình độ cao: dệt, gốm, rèn sắt, đúc đồng, làm đồ trang sức,

Ví dụ, người Trung Quốc và Ấn Độ thuộc tộc người Arbor từ xưa đã nổi tiếng với nghề thủ công cổ truyền dệt vải tơ, nghề này sau đó được phát triển ở nhiều nước khác và cho ra đời nhiều mặt hàng mới Ở Bản Cát Cát (huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai), bản lâu đời của người Mông, vẫn lưu giữ nhiều nghề thủ công truyền thống như trồng bông, lanh và dệt vải, cũng như chế tác đồ trang sức Qua các khung dệt, người Mông tạo nên thổ cẩm nhiều màu sắc với hoa văn mô phỏng cây cối, lá, hoa và muông thú.

Các nghề truyền thống như chăn tằm, ươm tơ, nhuộm vải và làm đồ gốm đang được phát triển mạnh, góp phần bảo tồn và lan tỏa di sản văn hóa địa phương Làng nghề thủ công ngày càng xuất hiện nhiều hơn và đa dạng hóa với các sản phẩm như làm giấy thủ công, gốm sứ và các mặt hàng mỹ nghệ khác, tạo động lực cho kinh tế địa phương và du lịch văn hóa.

Ở nước ta, nghề làm gốm bắt nguồn từ nhiều cộng đồng dân tộc khác nhau, như người Thái ở Mường Thanh - Sơn La và người Chăm ở Bàu Trúc (Ninh Thuận), Trí Đức (Phan Rí), cùng một số nơi thuộc các tộc người bản địa trên Cao nguyên Người Kinh lại nổi tiếng với các làng nghề truyền thống như làng gốm Bát Tràng, làng gốm Thanh Hà và làng lụa Vạn Phúc, góp phần quan trọng vào bản sắc nghề thủ công Việt Nam.

Giấy là một phát minh có đóng góp to lớn cho nhân loại, bắt nguồn từ sự sáng tạo của người Trung Quốc Người được xem là phát minh ra nghề làm giấy là hoạn quan Thái Luân, một nhân vật có vai trò then chốt trong lịch sử Trung Quốc Công nghệ và nghề làm giấy từng tồn tại như một nghề riêng và độc quyền của Trung Quốc trong mấy thế kỉ, nhằm sản xuất và đáp ứng cả nhu cầu trong nước lẫn nhu cầu ở nước ngoài Sáng kiến này đã mở ra bước tiến cho giáo dục, khoa học và thương mại qua các thời đại.

Một số nghề mới xuất hiện về sau như khắc in bản gỗ, làm đường trắng, làm đồng hồ, làm tranh sơn mài cũng được mở rộng.

Ngành công nghiệp khai khoáng ở nhiều nước phát triển nguồn nguyên liệu và nhiên liệu cho sản xuất trong nước cũng như nguồn hàng xuất khẩu Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng như may mặc, dệt, chế biến thực phẩm phát triển ở hầu hết các quốc gia Công nghiệp luyện kim và cơ khí chế tạo, bao gồm máy công cụ và phương tiện giao thông vận tải, có sự tăng trưởng mạnh ở Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc và Đài Loan.

Trong thời gian gần đây, ngành công nghiệp sản xuất và lắp ráp ô tô, xe máy và thiết bị điện tử ở nhiều nước khu vực đã phát triển mạnh nhờ liên doanh với các hãng nổi tiếng nước ngoài, giúp sản phẩm có sức cạnh tranh và trở thành thế mạnh của nền kinh tế địa phương Các ngành này phân bố chủ yếu ở Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia và Việt Nam, nơi có mạng lưới đầu tư và chuỗi cung ứng thuận lợi cho hoạt động sản xuất.

2.3 Nông nghiệp Ở phương Đông đặc trưng kinh tế của họ là nền kinh tế nông nghiệp mang tính chất tự cấp,tự túc Ở các quốc gia cổ đại phương đông nông nghiệp trồng lúa nước là ngành kinh tế chủ yếu, là cơ sở kinh tế của tất cả các quốc gia cổ đại phương đông Bên cạnh việc lấy nghề nông làm gốc, cư dân phương đông thời cổ đã biết chăn nuôi gia súc như: bò, cừu, lợn, và biết trồng các loại ngũ cốc khác nhau như: ngô, lúa mạch, kê, vừng và các loại cây ăn quả khác.

Sản lượng lúa gạo từ các nước phương Đông chiếm tới 93% sản lượng lúa gạo thế giới, cho thấy khu vực này giữ vai trò chủ đạo trong thị trường nông nghiệp toàn cầu Thái Lan và Việt Nam không chỉ đảm bảo nguồn lương thực cho người dân mà còn nằm trong nhóm nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới Nhờ đó, Trung Quốc và Ấn Độ, hai quốc gia có dân số đông nhất thế giới, từ chỗ thường xuyên đối mặt với thiếu hụt lương thực nay đã đủ dùng và thậm chí có thặng dư để xuất khẩu.

Nguồn lương thực chính của người phương Đông là lúa gạo và các loại ngũ cốc do nền nông nghiệp tạo ra Người phương Đông thường ăn cơm kèm với các thực phẩm tự cung tự cấp như rau xanh, cá và một số loại thịt gia cầm Các gia vị và hương liệu phổ biến như ớt, tiêu, rau thơm và cari cũng là sản phẩm từ nông nghiệp và được sử dụng rộng rãi ở nhiều địa phương để tạo nên hương vị đặc trưng.

Nền kinh tế nông nghiệp phương Đông phát triển trên cơ sở trị thủy các dòng sông lớn, nhờ đó đất đai được phù sa bồi tụ và hình thành các đồng bằng phì nhiêu cho vụ mùa bội thu Các sông tiêu biểu như sông Nin ở Ai Cập, sông Tigrơ và sông Ơphrat ở Lưỡng Hà, sông Ấn và sông Hằng ở Ấn Độ, sông Hoàng Hà và Trường Giang ở Trung Quốc đã nuôi dưỡng nông nghiệp và tạo nền tảng cho sự hình thành các nhà nước cổ đại phương Đông Không một quốc gia phương Đông cổ đại nào lại thiếu một dòng sông lớn chảy qua.

Khí hậu và địa hình là những yếu tố tự nhiên quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế của một quốc gia Để đạt được tăng trưởng bền vững, quốc gia cần tận dụng hiệu quả các điều kiện này nhằm phục vụ mục tiêu phát triển Ở Việt Nam và nhiều nước Đông Á, nền kinh tế nông nghiệp lúa nước phát triển nhờ sự hiện diện của đồng bằng rộng lớn và khí hậu nhiệt đới gió mùa thuận lợi cho sản xuất lúa nước.

Ở đồng bằng ven biển và đồng bằng châu thổ, người Việt, Hoa, Khmer và Chăm đã phát triển mô hình canh tác lúa nước kết hợp với chăn nuôi, thủ công nghiệp và thương nghiệp Kỹ thuật canh tác của các dân tộc này đạt trình độ cao, họ dùng sức kéo của trâu bò để cày ruộng, áp dụng thâm canh và xen canh, đồng thời xây dựng các hệ thống thủy lợi và tưới tiêu nước để bảo đảm nguồn nước và nâng cao năng suất.

Cư dân sống bằng nông nghiệp lúa nước, kết hợp làm nương, thủ công nghiệp và thương nghiệp ở các thung lũng miền núi như Tày, Thái, Mường có truyền thống khai thác nguồn nước và xây dựng hệ thống thủy lợi phục vụ canh tác lúa nước theo mô hình ruộng bậc thang Họ tích lũy kinh nghiệm thâm canh, tăng vụ, chọn giống và am hiểu thời tiết khí hậu để điều chỉnh lịch gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch, từ đó nâng cao năng suất và đảm bảo sinh kế bền vững cho cộng đồng.

Tính chất nông nghiệp của văn minh phương Đông được thể hiện rõ qua các tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo của cư dân phương Đông Những nghi lễ cúng ruộng, lễ hội mùa vụ và các tục lệ liên quan đến nước tưới, đất đai cho thấy sự gắn kết chặt chẽ giữa đời sống nông nghiệp và hệ tư tưởng của người phương Đông Chính những tập quán này phản ánh vai trò trung tâm của nông nghiệp trong văn hóa, tinh thần và bản sắc cộng đồng của khu vực.

Văn hoá tinh thần

Phương Đông được xem như cái nôi của nền văn minh nhân loại, nơi hội tụ bốn nền văn minh lớn là Ai Cập cổ đại, Lưỡng Hà cổ đại, Ấn Độ và Trung Quốc, mang theo nhiều tinh hoa và giá trị văn hóa sâu sắc Văn hóa phương Đông bao gồm hai khía cạnh: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, trong đó văn hóa tinh thần được xem là yếu tố cốt lõi chi phối đời sống xã hội Các thành phần của văn hóa tinh thần phương Đông gồm tín ngưỡng dân gian, tôn giáo và các dòng văn học nghệ thuật, đồng thời thể hiện qua các hình thức nghệ thuật và truyền thống được bảo tồn qua nhiều thế hệ.

Theo Khoản 1 và Khoản 5 Điều 2 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, tín ngưỡng được định nghĩa là niềm tin của con người được thể hiện qua các lễ nghi gắn với phong tục, tập quán truyền thống Những lễ nghi và phong tục này nhằm mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cho cộng đồng.

Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên

Văn minh phương Đông được xem là một nền văn minh nông nghiệp với đặc tính nông nghiệp gắn liền và kéo dài xuyên suốt quá trình hình thành Tính chất nông nghiệp của văn minh phương Đông được thể hiện rõ qua các tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo của cư dân phương Đông Trong hệ thống tín ngưỡng ở phương Đông, tín ngỡng sùng bái tự nhiên là loại phổ biến nhất, phản ánh mối liên hệ mật thiết giữa con người và thiên nhiên trong đời sống hàng ngày.

Trong một nền văn minh phát triển dựa trên nông nghiệp, con người phải dựa nhiều vào thiên nhiên và ý trời, nên sùng bái tự nhiên trở thành một hiện tượng phổ biến Người phương Đông thờ Thần Mặt Trời, Thần Mưa, Thần Sông và nhiều vị thần khác, tin rằng họ có thể che chở và ban phước cho mùa màng, mang lại mùa vụ bội thu và một cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Ngoài tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, người phương Đông còn tin vào tín ngưỡng phồn thực Với ý nghĩa "phồn" là nhiều và "thực" là nảy nở, tín ngưỡng này chứa đựng một triết lý sống đặc trưng của cư dân nông nghiệp: hướng tới sự sinh sôi, duy trì và phát triển sự sống Trong đời sống lấy nghề nông làm gốc, người dân không có mong ước gì hơn mùa màng tươi tốt, gia súc đầy đàn và gia đình đông con đề huề Tín ngưỡng phồn thực tồn tại qua suốt chiều dài lịch sử và được thể hiện ở hai hình thức chính: thờ sinh thực khí hay cơ quan sinh dục của cả nam lẫn nữ (Linga-Yoni) và thờ hành vi giao phối.

Hình 1: Tín ngưỡng phồn thực

Khác với tín ngưỡng, theo khoản 1 và 5 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm

Theo định nghĩa năm 2016, tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại trong một hệ thống quan niệm và hoạt động gồm đối tượng thờ phụng, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức Ở phương Đông, do bối cảnh lịch sử, địa lý và chính trị khác nhau, người dân nơi đây thường có niềm tin vào nhiều tôn giáo khác nhau như Phật giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Nho giáo và Đạo giáo.

Phật giáo nhấn mạnh tư tưởng hướng thiện và trí tuệ để xây dựng cuộc sống tốt đẹp, yên bình ngay trong hiện tại Đạo Phật không công nhận có một đấng tối cao chi phối đời sống con người hay ban phúc giáng họa cho ai; thay vào đó, cuộc sống được chi phối bởi luật Nhân-Quả: làm việc thiện sẽ được hưởng phúc, làm việc ác sẽ nhận báo ứng Đây là tôn giáo tiến bộ với thái độ bình đẳng, không phân biệt đẳng cấp, tôn vinh sự bình đẳng giữa mọi người Đức Phật từng nói: “Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ như nhau, không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn như nhau.”

Nho giáo là một tôn giáo hay một hệ thống học thuyết có phương pháp, dạy Nhân đạo – tức đạo làm người – trong gia đình và trong xã hội Ba tôn chỉ chính của Nho giáo được xem như những nguyên tắc căn bản hướng dẫn cách sống, cách đối nhân xử thế và trách nhiệm với bản thân, gia đình và cộng đồng.

Con người và vạn vật trời đất đều có tương thông với nhauMọi việc đều phải lấy thực nghiệm để chứng minh

Và lấy trực giác và năng khiếu để tìm hiểu làm rõ vạn vật

Văn học phương Đông từ xưa đã sống dựa vào tự nhiên, khi nền văn minh nông nghiệp của các nước Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Hoa dựa trên phù sa sông để nuôi dưỡng cuộc sống Nguồn gốc ấy hình thành một quan niệm sống hài hòa với thiên nhiên, xem con người như một phần không thể tách rời của tự nhiên thanh khiết, và được phản ánh sâu sắc vào tôn giáo, triết học rồi lan tỏa vào văn chương Từ nguồn mạch chung ấy, thiên nhiên trở thành một mạch ngầm xuyên suốt văn học phương Đông Trong tâm thế Đông phương, mỗi tâm hồn đều chứa đựng một tình cảm sâu sắc với thiên nhiên: vừa ngợi ca vẻ đẹp hùng vĩ của núi cao vực sâu, vừa trân trọng sự giản dị của nhành hoa, ngọn cỏ, con cò, con ếch, con dế Mỗi tác phẩm cho thấy tình yêu vĩnh cửu với thiên nhiên vô tận và sự đồng cảm đối với tiếng gió mưa, sự mong manh của cánh hoa rơi Thiên nhiên được coi như người tri kỉ, như gia đình thương mến, là nguồn cảm hứng và cảm xúc trước những sự việc rất bình dị của vạn vật—lá chuối xanh trôi, một con ếch nhỏ đang run run—được thể hiện sinh động trong các bài thơ và haiku của Mạnh Hạo Nhiên, Lý Bạch, Nguyễn Trãi, Chiyo và Kikaku.

Nghệ thuật kiến trúc: Trong nền văn minh cổ đại phương Đông, nghệ thuật kiến trúc phát triển rất phong phú Các công trình được xây dựng chủ yếu là ở những khu vực trung tâm của nhà nước và phục vụ cho nhu cầu của nhà vua, pharaong…hay quý tộc. Công trình càng lớn, càng độc đáo thì càng thể hiện được sức mạnh và uy quyền của nhà vua Cũng chính vì lẽ đó, các công trình kiến trúc ở các quốc gia cổ đại phương Đông thường rất đồ sộ Nhiều công trình kiến trúc đến nay vẫn còn lưu lại như: Kim tự tháp ở

Ai Cập, những khu đền tháp ở Ấn Độ, thành Ba-bi-lon ở Lưỡng Hà,…

Hình 4: Kim Tự Tháp (Ai Cập)

Hình 5: Đền Taj Mahal ( Ấn Độ)

Văn hóa vật chất

Ngôi nha cua ngươi phương đông thương co diên tich kha la lơn, đăc biêt la rât tinh tê va gân gui vơi thiên nhiên.

Ngươi Phương Đông thương co lôi sông nha nhan, gian di , gân gui vơi thiên nhiên nên nhưng loai nôi thât băng gô luôn la chưa chon đươc nhiêu ngươi ưa thich , vi no giup mang lai cam giac đươc hoa minh vao thiên nhiên trong chinh ngôi nha cua minh.

Trong văn hóa phương Đông, màu đỏ được coi là màu may mắn mang tài lộc, thịnh vượng và hạnh phúc cho gia đình, đặc biệt có tác dụng mạnh với người mệnh Hỏa Màu đỏ mang lại cảm giác năng lượng dồi dào, khỏe khoắn và vui vẻ Gam màu nóng đặc trưng của đỏ khiến không gian sống trở nên ấm áp hơn, lan tỏa tình yêu thương và mang lại sự dễ chịu cho gia chủ.

Màu vàng tượng trưng cho sự giàu sang và thịnh vượng, thể hiện sự sung túc và uy quyền Nó liên kết với kim loại quý giá – vàng và đồng thời đại diện cho ánh sáng mặt trời, mang lại nguồn năng lượng mạnh mẽ và dương tích cực Nhờ đó, màu vàng mang lại cảm giác vui tươi, hứng khởi và sự tự tin trong cuộc sống cũng như trong thiết kế thương hiệu.

Không chỉ gây ngạc nhiên trong cách chọn chất liệu, màu sắc, ngôi nhà phương Đông còn rất tôn trọng các yếu tố phong thủy, tâm linh

Kiến trúc phương Đông nổi bật với ảnh hưởng của nền văn minh Lưỡng Hà, thể hiện qua những công trình kiên cố và quy mô đồ sộ Những thiết kế hình tháp với chóp nhọn là đặc trưng nổi bật, phản ánh sự hòa quyện giữa kỹ thuật xây dựng và biểu tượng văn hóa trong thời cổ đại.

Phong cách ăn mặc của người phương Đông mang tính kín đáo, nổi bật sự khiêm tốn và tinh tế trong giao tiếp hàng ngày Những trang phục thiếu vải hoặc khỏa thân được xem là xúc phạm đến thuần phong mỹ tục và giá trị con người, đặc biệt là đối với phụ nữ.

Các chất liệu phổ biến được dùng để may trang phục gồm tơ tằm, lụa, vải gấm và vải đũi, mỗi loại có đặc điểm riêng phù hợp với từng kiểu trang phục Tơ tằm mang lại sự mềm mại, mịn màng và bóng tự nhiên; lụa có độ óng ả cao và thông thoáng Vải gấm nổi bật với hoa văn, độ bền và vẻ sang trọng, rất thích hợp cho trang phục lịch sự và dự tiệc Vải đũi nhẹ nhàng, thoáng khí, phù hợp cho trang phục mùa hè và những bộ đồ tự nhiên, thoải mái Việc nắm bắt đặc điểm từng chất liệu giúp chọn đúng vải cho áo, váy hay suit, từ đó tối ưu sự thoáng khí, đường may và thẩm mỹ của trang phục.

Vải gấm là một loại vải quý hiếm, xưa chỉ dùng để may trang phục cho các bậc quan lại và vua chúa trong triều đình Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội ngày nay, vải gấm đã được sử dụng rộng rãi hơn trong các thiết kế may mặc và thời trang hiện đại, mang lại sự sang trọng và đẳng cấp cho người mặc.

Vải đũi được sản xuất từ sợi đũi, loại sợi là phần thừa ra trong quá trình ươm tằm Để tiết kiệm, người ta đã chế ra vải đũi từ sợi thừa này, nên nó được coi như một loại lụa tơ tằm Thực tế, vải đũi thuộc họ lụa tơ tằm, nhưng trang phục làm từ vải đũi lại mang vẻ đẹp mộc mạc đặc trưng.

Vải lụa là một loại vải cao cấp được làm từ sợi tơ tằm tự nhiên, đòi hỏi người thợ vận dụng kỹ thuật tinh xảo và sự tỉ mỉ, chu đáo để khai thác tối đa ưu thế mềm mại và bóng mượt của tơ Nhờ các đặc tính nổi bật, vải lụa nhanh chóng gây sóng trên thị trường và thu hút sự quan tâm của giới thượng lưu Với vị thế được xem như ông hoàng của ngành may mặc, vải lụa có mức giá cao hơn nhiều so với các loại vải phổ biến như vải đũi, vải lanh, vải Kate và thậm chí là vải jean.

Trong quan điểm phương Đông, màu sắc đóng vai trò chủ đạo trong thiết kế quần áo, sắp xếp phong thủy và chế tác các vật dụng trong nhà Màu sắc dù không có hình dạng cố định nhưng lại hiện diện khắp nơi, tượng trưng cho Khí - nguồn năng lượng của vũ trụ, phản ánh sự cân bằng của càn khôn thái cực Vì vậy, mỗi sắc thái có thể ảnh hưởng tới cảm xúc và vận may của người dùng, và có những màu được cho là mang lại may mắn khi được áp dụng đúng cách trong trang phục, nội thất và cách bố trí không gian sống.

Hoa tiết là yếu tố chủ đạo trong trang phục phương Đông, nơi các thiết kế thường được trang trí với nhiều hoa tiết đa dạng Mỗi hoa tiết mang nét độc đáo và sức hút riêng biệt, góp phần làm nên sự phong phú của trang phục Các hoa tiết được thiết kế tỉ mỉ và cân đối, mang tới sự tinh tế cho trang phục, đặc biệt là trang phục nữ.

Phong cách ăn mặc của cư dân phương Đông phù hợp với công việc sản xuất nông nghiệp: nói chung mặc ấm về mùa lạnh (hoặc ở nơi có khí hậu lạnh) và mát mẻ về mùa nóng (hoặc ở nơi có khí hậu nóng), đồng thời hướng tới sự gọn gàng, tiện lợi với các trang phục như khố, váy và các loại trang phục đơn giản khác.

Phương Đông là khu vực gắn liền với nền văn minh nông nghiệp lúa nước Nhờ vậy, các sản phẩm liên quan đến nông nghiệp như lúa, ngô và các loại củ quả trở thành nguồn thực phẩm chủ lực, góp phần hình thành ẩm thực đặc trưng của vùng Từ lúa có thể chế biến ra nhiều món ăn phổ biến như bún, phở, và đặc biệt là cơm, thứ không thể thiếu trong hầu hết các bữa ăn của người phương Đông.

Vị trí địa lý gần nguồn sông lớn giúp địa phương có nguồn thủy sản dồi dào quanh năm, đặc biệt là cá Ở châu Á, khí hậu nhiệt đới thuận lợi cho việc trồng trọt nên rau củ là thành phần thiết yếu trong bữa ăn hàng ngày Ở phương Đông, các món chính thường dựa trên tinh bột và phần lớn người dân tin rằng bữa ăn nào cũng cần có tinh bột, thường là cơm, bún hoặc phở, được kết hợp với các món ăn kèm như thịt, cá và rau.

Trong mâm cơm cua cac gia đinh phương đông thương se co rât nhiêu mon ăn Thương bao gôm cơm, mon măn , mon xao , canh , rau, thit,ca…….

Một trong những yếu tố làm nên sức hấp dẫn của món ăn phương Đông là mùi vị được hình thành từ việc nấu nướng và pha trộn với nhiều hương liệu khác nhau Trong quá trình chế biến, các đầu bếp thường kết hợp đa dạng gia vị để tạo nên lớp hương thơm và sự sâu sắc cho món ăn Để tối ưu hương vị và mang lại trải nghiệm ẩm thực trọn vẹn, mỗi món ăn phương Đông nên ít nhất được kết hợp với 3 loại gia vị trở lên, giúp tăng độ phức tạp và nét đặc trưng riêng Nhờ sự hòa quyện tinh tế đó, mùi thơm và vị giác được tôn lên, góp phần làm nổi bật sự hấp dẫn của ẩm thực phương Đông.

Tổ chức và Quản lý xã hội

Ngày đăng: 16/12/2022, 14:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w