BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂNBÀI TẬP NHÓM MÔN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỀ BÀI: Quá trình đổi mới quan điểm của Đảng về giải quyết các vấn đề xã hội ở nước
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP NHÓM MÔN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ BÀI:
Quá trình đổi mới quan điểm của Đảng về giải quyết
các vấn đề xã hội ở nước ta trong thời kỳ Đổi mới từ 1986 đến nay
Giảng viên hướng dẫn : Lê Thị Hồng Thuận
Nhóm thực hiện : Nhóm 5
Lớp học phần : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam 30Lớp chuyên ngành : Kinh doanh thương mại 62A
Hà Nội – 2022
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN
Trang 3Trang bìa Trang
Danh sách thành viên
Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ ĐỔI MỚI QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG 5
1.1 Khái quát những lý luận về xã hội 5
1.1.1 Hình thái kinh tế - xã hội 5
1.1.2 Xã hội thời kỳ quá độ 5
1.2 Bối cảnh xã hội những năm 1975 – 1986 6
1.2.1 Bối cảnh quốc tế 6
1.2.2 Bối cảnh trong nước 8
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 12
2.1 Diễn biến các Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1986 - nay 12
2.1.1 Đại hội VI (15/12/1986 – 18/12/1986) 12
2.1.2 Đại hội VII (24/6/1991 – 27/6/1991) 12
2.1.3 Đại hội VIII (28/6/1996 – 1/7/1996) 14
2.1.4 Đại hội IX (19/4/2001 – 22/4/2001) 15
2.1.5 Đại hội X (18/4/2006 – 25/4/2006) 15
2.1.6 Đại hội XI (12/1/2011 – 19/1/2011) 17
2.1.7 Đại hội XII (20/1/2016 – 28/1/2016) 19
2.1.8 Đại hội XIII (25/1/2021 – 2/2/2021) 20
2.2 Những đổi mới trong quan điểm của Đang vê giai quyêt cac vấn đê xa hôi qua từng thời kỳ 21
2.2.1 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội 22
2.2.2 Chính sách xã hội ngày càng gắn với việc đảm bảo các quyền cơ bản của người dân 23
2.2.3 Những nhận thức mới trong từng lĩnh vực Lao động, Người có công và Xã hội 24
2.2.3.1 Lĩnh vực việc làm 24
2.2.3.2 Lĩnh vực tiền lương 26
2.2.3.3 Lĩnh vực Quan hệ lao động 27
2.2.3.4 Lĩnh vực Giáo dục nghề nghiệp 28
2.2.3.5 Chăm sóc toàn diện người có công với cách mạng 29
Trang 42.2.4 Thu hẹp khoảng cách giàu nghèo; chăm sóc, bảo vệ tốt hơn các nhóm xã
hội yếu thế; thực hiện bình đẳng giới; kiểm soát tác hại của tệ nạn xã hội 30
2.2.4.1 Lĩnh vực giảm nghèo 30
2.2.4.2 Lĩnh vực trợ giúp xã hội 30
2.2.4.3 Lĩnh vực bình đẳng giới 32
2.2.4.4 Lĩnh vực phòng chống tệ nạn xã hội 32
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ 33
3.1 Bài học rút ra 33
3.2 Vai trò củ̉a thế hệ trẻ 35
PHẦN KẾT LUẬN 36
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 37
LỜI MỞ ĐẦU
Trang 5Trong những năm gần đây, xã hội Việt Nam đã phát triển vô cùng mạnh mẽ và đạtđược những thành tựu nhất định, mang ý nghĩa vô cùng lớn lao với đất nước ta Để đạtđược những thành tựu ấy, chúng ta không thể quên những bước ngoặt lịch sử đã gópphần thay đổi xã hội nước ta qua từng thời kỳ.
Thập niên 70 và 80 của thế kỷ XX đã chứng kiến nhiều sự kiện chính trị, kinh tế,
xã hội diễn ra trong nhịp điệu dồn dập với tính chất vô cùng phức tạp Từ nền kinh tế kếhoạch tập trung với chế độ quan liêu, bao cấp đến nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa, xã hội Việt Nam vẫn luôn không ngừng đổi mới và phát triển, đi kèm với
đó là những chủ trương của Đảng nhằm đưa ra phương hướng giải quyết các vấn đề xãhội còn tồn đọng ở đất nước ta mà khởi đầu chính là quyết định Đổi mới của Đảng ta vàonăm 1986
Cũng chính vì lý do trên mà nhóm em thấy rằng đề tài: “Quá trình đổi mới quanđiểm của Đảng về giải quyết các vấn đề xã hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới từ 1986đến nay” là một đề tài hay với nội dung khá rộng Do trình độ có hạn nên không thể tránh
có những khiếm khuyết, những câu từ hiểu sai trong việc nghiên cứu và viết nội dung.Rất mong được nghe đóng góp của cô để nhóm chúng em có thể hoàn thiện bài phân tích
đề tài này hơn
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ ĐỔI MỚI QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG
Trang 61.1 Khái quát những lý luận về xã hội
1.1.1 Hình thái kinh tế - xã hội
Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng đểchỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho
xã hội đó, phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, và với một kiếntrúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất đó
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ: lịch sử
xã hội đã trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội: Cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ,phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa So với các hình thái kinh tế xã hội
đã xuất hiện trong lịch sử, hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa có sự khác biệt vềchất, trong đó không có giai cấp đối kháng, con người từng bước trở thành người tự do.Bởi vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xãhội tất yếu phải trải qua thời kì quá độ chính trị Mác khẳng định: ‘Giữa xã hội tư bản và
xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội này sang xã hộikia Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấykhông thể là cái gì khác hơn là nên chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản” Lênincũng đã khẳng định: “Về lý luận, không thể nghi ngờ gì được rằng giữa chủ nghĩa tư bản
và chủ nghĩa cộng sản, có một thời kì quá độ nhất định”
1.1.2 Xã hội thời kỳ quá độ
Trên lĩnh vực xã hội, do kết cấu của nền kinh tế nhiều thành phần quy định nêntrong thời kì quá độ còn tồn tại nhiều giai cấp, tầng lớp và sự khác biệt giữa các giai cấp,tầng lớp xã hội vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau Trong xã hội của thời kì quá độ còntồn tại sự khác biệt giữa nông thôn, thành thị, giữa lao động trí óc và lao động chân tay.Bởi vậy, thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, về phương diện xã hội
là thời kì đấu tranh giai cấp chống áp bức, bất công, xóa bỏ tệ nạn xã hội và những tàn dưcủa xã hội cũ để lại, thiếp lập công bằng xã hội trên cơ sở thực hiện nguyên tắc phân phốitheo lao động là chủ đạo
Về xã hội thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, C.Mác cũng đưa ra quan điểm củamình rằng đó là xã hội vừa thoát thai khỏi xã hội tư bản chủ nghĩa, xã hội chưa phát triểntrên cơ sở của chính nó còn mang nhiều dấu vết của xã hội cũ để lại: “Cái xã hội màchúng ta nói ở đây không phải là một xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên cơ sở
Trang 7của chính nó, mà trái lại là một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tư bảnchủ nghĩa, do đó là một xã hội về mọi phương diện – kinh tế đạo đức, tinh thần – cònmang những dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra.
Ở Việt Nam, quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là
bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủnghĩa Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đòi hỏi phải tiếp thu, kếthừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản, đặc biệt là về khoa học
và công nghệ, thành tựu về quản lý để phát triển xã hội, đặc biệt là để phát triển lực lượngsản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại
1.2 Bối cảnh xã hội những năm 1975 – 1986
1.2.1 Bối cảnh quốc tế
Những năm 70 của thế kỷ XX được nhớ đến là thời kỳ mà các phong trào đấutranh vì quyền của phụ nữ, quyền của người đồng tính và cuộc khủng hoảng năng lượngdiễn ra thu hút sự chú ý của cả thế giới
Về phong trào đấu tranh giành quyền của phụ nữ, trong suốt những năm thập niên
70, nhiều nhóm người Mỹ tiếp tục đấu tranh cho các quyền chính trị và xã hội Từ năm
1972 đến năm 1977, sau nhiều năm vận động của các nhà nữ quyền, Quốc hội đã thôngqua Bản sửa đổi về Quyền bình đẳng (ERA) đối với Hiến pháp
Liên quan đến vấn đề đấu tranh về quyền dành cho người đồng tính, vào năm
1976, đài truyền hình công cộng của New York, WNET (ngày nay được gọi là Kênh 13)
đã chiếu một chương trình trò chuyện trực tiếp với cộng đồng người đồng tính Chươngtrình này của đài WNET và một số chương trình khác là những tín hiệu ban đầu về mộtquốc gia và một nền văn hóa đang trong quá trình chuyển đổi — một sự chuyển đổi vẫnđang được tiến hành cho đến ngày nay
Thập niên 70 chứng kiến hai cuộc khủng hoảng năng lượng dầu mỏ diễn ra lần lượtvào 1973 và 1979 Cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973, hay còn gọi là cuộc khủng hoảngdầu mỏ đầu tiên, bắt đầu vào tháng 10/1973 khi những thành viên của Tổ chức Các nướcXuất khẩu Dầu mỏ Ả Rập (OAPEC) do Ả Rập Xê Út dẫn đầu tuyên bố cấm vận dầu mỏ vớimột số nước Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ 2 bắt đầu vào năm 1979, với nguyên nhân là
sự sụt giảm sản lượng dầu sau cuộc Cách mạng Hồi giáo Iran Vào năm
Trang 81980, sau khi Chiến tranh Iran-Iraq bắt đầu, sản lượng dầu ở Iran giảm mạnh và sảnlượng dầu của Iraq cũng giảm đáng kể Điều này gây ra suy thoái kinh tế trên toàn thếgiới, khi giá dầu tăng cao và không trở lại mức trước khủng hoảng cho đến giữa nhữngnăm 1980.
Những vấn đề xã hội được quan tâm trong những năm của thập niên 80 là HIVAIDS, luật phá thai, vấn nạn lạm dụng ma túy, khủng hoảng đô thị hóa và quyền bìnhđẳng cho tất cả mọi người
Mặc dù HIV xuất hiện ở Hoa Kỳ vào khoảng năm 1970, nhưng công chúng đãkhông chú ý tới căn bệnh này cho đến đầu những năm 1980 Vào tháng 9 năm 1982,CDC lần đầu tiên đã sử dụng thuật ngữ “AIDS” để mô tả căn bệnh này Vào cuối năm
đó, các trường hợp mắc AIDS cũng đã được báo cáo ở nhiều nước Châu Âu
Về luật phá thai, tại Mỹ, các phán quyết của Tòa án Tối cao năm 1973 công nhậnrằng phụ nữ có quyền theo hiến pháp để quyết định phá thai hay tiếp tục mang thai trongkhi phán quyết của Tòa án Tối cao năm 1980 tuyên bố rằng hiến pháp không bắt buộccác chính phủ liên bang và tiểu bang phải tài trợ bằng ngân quỹ để đảm bảo rằng phụ nữ
có thể thực hiện quyền được phá thai của mình Vì công chúng có nhiều quan điểm khácnhau về chủ đề này, nên các cuộc tranh luận về luật phá thai trong các cơ quan lập phápkhắp cả nước đã diễn ra vô cùng căng thẳng
Liên quan đến vấn đề lạm dụng ma túy, vào năm 1985, một phần ba người Mỹ chobiết họ đã từng thử sử dụng cần sa trong cuộc sống thường ngày Vào giữa những năm
80, sự ra đời của ma túy đá đã biến việc sử dụng ma túy ở thanh thiếu niên trở thành mộtvấn đề thực sự đáng sợ
Những thập niên 70 và 80 đã chứng kiến 18 trong số 25 thành phố lớn nhất của
Mỹ mất dần dân số Ngược lại, trong cùng những năm đó, dân số của các vùng ngoại ôđộc lập lại ghi nhận được hơn sáu mươi triệu người dân sinh sống Với mức thuế quá caothì không một doanh nghiệp nào muốn tìm cơ hội kinh doanh ở các khu đô thị và điềunày khuyến khích tầng lớp trung lưu di chuyển sang những khu ngoại ô Kết quả của xuhướng này là những cư dân nghèo ở nhiều thành phố có xu hướng tăng
Trang 9Phụ nữ, người Mỹ gốc Phi, người Mỹ bản địa (còn được gọi là người Anhđiêng/người Mỹ da đỏ) và những người bị gạt ra ngoài lề xã hội khác tiếp tục đấu tranhcho quyền bình đẳng của mình.
Vào cuối những năm 1970 và đặc biệt là trong những năm 1980, phân phối tiềnlương của Hoa Kỳ ngày càng bất bình đẳng hơn Những người có trình độ học vấn thấp,đặc biệt là những người không có bằng đại học thấy rằng mức lương của họ bị giảm sovới những người có trình độ học vấn tốt hơn Công nhân sản xuất trong các nhà xưởng bịảnh hưởng nặng nề đặc biệt là những công nhân da màu – những người không được tiếpcận với nền tảng giáo dục tốt Thập niên 70 và 80 cũng chứng kiến người Mỹ bản địa lấylại quyền lợi của mình Họ tổ chức những lớp học để dạy thế hệ trẻ về quá khứ của tổ tiêncũng như đứng lên đấu tranh giành lại mảnh đất quê hương bị cướp mất
Từ cuối năm 1988, công cuộc cải tổ ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ởĐông u ngày càng chao đảo, việc thực hiện đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập đãdẫn đến sự phủ nhận sạch trơn quá khứ cách mạng, chĩa mũi nhọn công kích vào ĐảngCộng sản và chủ nghĩa Mác - Lênin, gieo rắc những tư tưởng hoài nghi, bi quan, daođộng với chủ nghĩa xã hội Ngoài ra, cuộc Cách mạng khoa học-kĩ thuật đã mang đến tácđộng vô cùng mạnh mẽ và trở thành xu thế trên toàn thế giới
1.2.2 Bối cảnh trong nước
Nhìn lại thời kỳ trước đổi mới (từ cuối những năm 70 - giữa những năm 80 củathế kỷ trước) Trải qua 10 năm thực hiện hai kế hoạch 5 năm (1976 – 1980 và 1981 –1985), Việt Nam đạt được những kết quả nhất định song cũng gặp nhiều khó khăn, donhiều nguyên nhân, chủ yếu là do những sai lầm chủ quan như đặt quá nhiều kỳ vọng vàophát triển kinh tế nhờ vào những ưu thế hiện có và sẵn có của đất nước về điều kiện tựnhiên, điều kiện kinh tế của hai miền Nam - Bắc và chiến lược phát triển kinh tế đi theocon đường kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp Ngoài ra vào thời điểm đó, hoàncảnh quốc tế cũng không thuận lợi khi cơ chế kế hoạch hóa tập trung khiến kinh tế Liên
Xô bắt đầu có dấu hiệu khủng hoảng Trong quan hệ quốc tế, Mỹ và nhiều quốc gia châu
Âu thực hiện cấm vận kinh tế với Việt Nam
Tất cả những điều trên đã làm cho sản xuất nông - công nghiệp đình đốn Lưuthông, phân phối ách tắc Lạm phát ở mức ba con số, tem phiếu phân phối thiếu thốn,
Trang 10nhân dân sống trong cảnh thiếu thốn lương thực, thực phẩm Đời sống của các tầng lớpnhân dân sa sút chưa từng thấy.
Tình hình diễn biến xấu đến mức, vào khoảng từ cuối năm 1985 đến cuối năm
1986, nghĩa là sau thất bại của cuộc tổng điều chỉnh giá - lương - tiền (9-1985), đại đa sốquần chúng nhân dân cảm thấy không thể tiếp tục sống như cũ được nữa; đồng thời các
cơ quan lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước cũng thấy rõ không thể tiếp tục duy trìnhững chủ trương, chính sách đã lỗi thời Từ đó, Tổng Bí thư Trường Chinh đã đồng ývới quan điểm phải bãi bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp, chuyển sangkinh tế hàng hoá nhiều thành phần và Đại hội VI của Đảng đã được tổ chức vào tháng 12năm 1986 với tinh thần đổi mới kinh tế - xã hội
Sự thiếu thốn thời bao cấp còn góp phần khiến cho nạn ăn cắp vặt nảy sinh Nạn
ăn cắp vặt trở nên phổ biến toàn dân, nên các cửa hàng mậu dịch luôn đối mặt với nỗi sợmất mát đồ đạc
Ăn cắp thời đó đã trở nên rất tinh vi, tới nỗi hình thành nên một khái niệm là
“nghệ thuật móc túi siêu đẳng”… Rất nhiều kẻ cắp lão luyện thường xuyên trà trộn vàocác dãy xếp hàng rồng rắn lên mây, vờ như xô đẩy người khác hay bị xô đẩy, để rồi lợidụng lúc xô đẩy đó mà áp sát đối tượng để “móc túi” một cách “nghệ thuật” Khôngnhững thế, căn bệnh ganh tỵ và kèn cựa cũng trở nên trầm kha hơn ở các cơ quan đoànthể vì sống theo chế độ tập thể khiến ai cũng coi sự công bằng tuyệt đối là một chân lý,
họ bị méo mó tính cách vì tin vào điều đó Tình cảnh éo le trên càng củng cố cho lậptrường đổi mới nhằm loại bỏ chế độ quan liêu, bao cấp, chuyển sang chế độ kinh tế hànghóa nhiều thành phần của Tổng Bí thư Trường Chinh
Sau giải phóng, nổi lên còn là sự kiện bọn phản động Khơ Me đỏ do Pôn Pốt cầmđầu ở Campuchia gây chiến tranh biên giới Tây Nam Từ ngày 3/5/1975 chúng đã đưaquân ra đánh đảo Phú Quốc và từ năm 1976, Pôn Pốt tác động trực tiếp vào Tây Nguyên.Trong khi đó, ở phía Bắc, từ năm 1978, Trung Quốc với tâm thế ủng hộ Pôn Pốt đã tổchức khiêu khích dọc biên giới phía Bắc và tiến hành chiến dịch “nạn kiều” đẩy mạnhviệc tuyên truyền chống Việt Nam
Ngoài ra, Trung Quốc còn tìm cách móc nối, giúp đỡ tổ chức FULRO hoạt độngchống phá ta FULRO là tên viết tắt của tổ chức Front Unifié de Lutte des Races
Trang 11Ompprinés - Mặt trận thống nhất tranh đấu của các dân tộc bị áp bức ra đời do âm mưucủa Pháp muốn thông qua bọn tay sai ở vùng dân tộc để nắm Tây Nguyên.
Năm 1975, chế độ Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, FULRO - dưới sự giật dây, hỗ trợcủa các ông chủ từ xa, tiếp tục tổ chức quấy phá chống lại nước ta Trong thời gian từnăm 1979-1985, hoạt động FULRO đã phá hoại cuộc sống bình yên của các thôn ấp,buôn làng, giết hại nhiều cán bộ, công an, dân quân và quần chúng tốt Nhưng lực lượngcông an, quân đội ta được nhân dân các đồng bào dân tộc ủng hộ đã đẩy mạnh công tácnghiệp vụ, đấu tranh thắng lợi trong hàng chục chuyên án, làm tan rã nhiều nhómFULRO và đưa họ trở về với cộng đồng
Mặt khác, tổ chức FULRO có liên quan một số chức sắc, truyền đạo Tin lành, nênsau giải phóng, trên toàn địa bàn Tây Nguyên ta đã đóng cửa 117/124 nhà thờ Tin lành vàcho 25 Mục sư và 13 Truyền đạo sinh cải tạo
Ngoài ra thời kỳ này cũng chứng kiến nhiều chủ trương mới về văn hóa, giáo dục
và y tế Thời bao cấp tại Việt Nam là thời kỳ khép kín và nghi kị về mặt xã hội và chínhtrị đối với người nước ngoài Người dân ít được tiếp xúc văn hóa phương Tây, văn học,phim, nhạc đều được Nhà nước kiểm soát Văn chương chủ yếu tuyên truyền cho chủnghĩa xã hội - cộng sản, tinh thần yêu nước, tinh thần tập thể, yêu lao động, tinh thầnquốc tế Các phim Việt Nam chủ yếu tuyên truyền chiến đấu, sản xuất, một số tác phẩmvăn học hiện thực phê phán trước 1945 được chuyển thể Nhà nước ta còn đặc biệt chútrọng chống mê tín dị đoan, phổ biến khoa học
Ngoài ra, Nhà nước cũng khá thận trọng với người phương Tây, người nước ngoài
vì khác biệt tư tưởng và các vấn đề an ninh Giáo dục, y tế được bao cấp dù khá nghèonàn về trang thiết bị Người dân đi khám chữa bệnh hay mua thuốc rồi mang hóa đơn về
cơ quan hay bệnh viện thanh toán mà không mất tiền, song điều kiện chữa trị vô cùngthiếu thốn Về giáo dục, học sinh được đi học miễn phí, sinh viên ra trường đều có việclàm nhưng chịu sự phân công của nhà nước, không được tự lựa chọn công việc, không bịthất nghiệp Tuy nhiên thi đại học rất khó, đòi hỏi tiêu chuẩn học lực cao
Cuối cùng, Nhà nước đã có chính sách đúng đắn đối với những người đã từngtham gia trong bộ máy chính quyền, quân đội của chế độ cũ để họ yên tâm tham gia xâydựng cuộc sống mới Các công chức cấp thấp và trung cấp trong chính quyền miền Nam
Trang 12Việt Nam cũ được yêu cầu dành vài ngày hoặc vài tuần trong các “lớp học tập cải tạo” Ở
đó, các cán bộ cộng sản sẽ giải thích cẩn thận cho người nghe về những sai sót của họ vàcung cấp cho họ những nguyên tắc cơ bản của một xã hội cộng sản mới, những nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhìn một cách tổng thể, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong giaiđoạn 1975 – 1986 bao gồm những nội dung chính và đã đạt được những thành tựu sau:
- Một là, đưa ra quyết định bãi bỏ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
Chủ yếu nguyên nhân đưa ra chủ trương này là do tình hình kinh tế - xã hội khôngkhả quan Bản thân đất nước ta đang lâm vào khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, trongkhi đó hoàn cảnh quốc tế cũng không thuận lợi khi cơ chế kế hoạch hóa tập trung khiếnkinh tế Liên Xô bắt đầu có dấu hiệu khủng hoảng Trong quan hệ quốc tế, Mỹ và nhiềuquốc gia châu Âu thực hiện cấm vận kinh tế với Việt Nam Ngoài ra, đời sống nhân dâncũng gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn từ đó các tệ nạn xã hội đã ra đời như nạn trộm cắpvặt Tuy trong thời kỳ bao cấp thì Nhà nước sẽ chu cấp toàn bộ cho người dân nhưngtình hình kinh tế Việt Nam lúc đó hết sức khó khăn do bị Mỹ cấm vận Việt Nam vẫnnhận được nguồn viện trợ từ Liên Xô, nhưng đã hạn chế rất nhiều Tình hình đó buộcViệt Nam phải cải cách, đổi mới
- Hai là, kết hợp phát triển kinh tế với xã hội, văn hóa, giáo dục và y tế
Thời kỳ này nước ta vẫn khá nghi kị với nước ngoài Tuy nhiên Đảng và Nhà nướcViệt Nam luôn cố gắng mang lại cho nhân dân một cuộc sống ấm no, vui vẻ với nhiều chủtrương cải cách nền giáo dục, y tế Hầu như xã nào cũng đều được xây dựng trường học hoặccác lớp học xóa mù chữ, mọi người dân đều được tiếp cận với cơ sở y tế do Nhà nước baocấp Nhà nước cũng cố gắng xây dựng một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc khi lưu giữ,phát triển và truyền bá những loại hình nghệ thuật dân gian của dân tộc
- Ba là, kiên quyết trừng trị những phần tử chống đối Đảng và Nhà nước Việt Nam
và các chủ tư sản đầu cơ tích trữ làm lũng đoạn thị trường Tạo điều kiện cho những đồngbào bị gom trong các ấp chiến lược hay phải di tản vào thành phố trong thời kỳ chiến tranhđược trở về quê cũ làm ăn, sản xuất
Trang 13CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG
VỀ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
2.1 Diễn biến các Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1986 - nay
2.1.1 Đại hội VI (15/12/1986 – 18/12/1986)
Đại hội VI của Đảng (12/1986) lần đầu tiên nêu lên khái niệm “ Chính sách xãhội” thể hiện sự đổi mới tư duy của Đảng: giải quyết các vấn đề xã hội được đặt trongtổng thể đường lối phát triển của đất nước Nội hàm của chính sách xã hội được xác địnhlà: Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người: điều kiện lao động vàsinh hoạt, giáo dục và văn hoá,quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc…
Đây là sự đổi mới về tư duy về giải quyết các vấn đề xã hội được đặt trong tổngthể đường lối phát triển của Đất nước, đặc biệt là giải quyết mối quan hệ giữa chính sáchkinh tế và chính sách xã hội Phát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện các chínhsách xã hội, đồng thời thực hiện tốt các chính sách xã hội là động lực thúc đẩy phát triểnkinh tế
Chủ trương của Đại hội VI về lĩnh vực xã hội, tập trung vào các vấn đề: lao động
và việc làm; ổn định và nâng cao đời sống nhân dân; thực hiện kế hoạch hoá gia đình,chăm lo người có công với cách mạng, phòng chống các tệ nạn xã hội Trong đó, tư duymới của Đảng thể hiện thông qua các chủ trương: giải quyết chính sách xã hội là nhiệm
vụ gắn bó hữu cơ với đổi mới kinh tế; vấn đề lao động, việc làm được giải quyết gắn vớiphát triển nhiều thành phần kinh tế; nâng cao đời sống của nhân dân gắn với thực hiện bachương trình kinh tế lớn
2.1.2 Đại hội VII (24/6/1991 – 27/6/1991)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6-1991) đã tổng kết, đánh giáviệc thực hiện đường lối đổi mới của Đảng từ Đại hội VI, đề ra chủ trương, nhiệm vụnhằm thừa kế, phát huy những thành tựu, ưu điểm đã đạt được; khắc phục những khókhăn, yếu kém mắc phải trong bước đầu đổi mới; điều chỉnh, bổ sung, phát triển đườnglối đổi mới để tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới đất nước tiến lên
Xuất phát từ đặc điểm tình hình, căn cứ vào mục tiêu của chặng đường đầu củathời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đại hội VII của Đảng đề ra nhiệm vụ, mục tiêu kinhtế- xã hội của kế hoạch 5 năm 1991-1995 là :
Trang 14- Đẩy lùi và kiểm soát được lạm phát
- Ổn định, phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội
- Ổn định và từng bước cải thiện đời sống của nhân dân
- Bắt đầu có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế
Để thực hiện mục tiêu trên, cần phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế,đẩy mạnh Ba chương trình kinh tế với những nội dung cao hơn trước và từng bước xâydựng cơ cấu kinh tế mới theo yêu cầu công nghiệp hóa
Như vậy, đại hội VII của Đảng khẳng định một số quan điểm chỉ đạo việc kết hợphài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và giải quyết vấn đề xã hội Thống nhất với mục tiêuphát triển kinh tế, đều nhằm phát huy sức mạnh của yếu tố con người và vì con người
Nhìn một cách tổng thể, Đảng và Nhà nước ta đã rút ra một số quan điểm như saunhằm giải quyết các vấn đề xã hội:
- Một là, kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội
- Hai là, xây dựng và hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển
- Ba là, chính sách xã hội được thực hiện trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn bó hữu
cơ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa cống hiến và hưởng thụ
- Bốn là, coi trọng chỉ tiêu GDP bình quân đầu người gắn với chỉ tiêu phát triển con người HDI và chỉ tiêu phát triển các lĩnh vực xã hội
Từ những quan điểm trên thì Nhà nước cũng đã đề xuất triển khai một số chủ trương như sau:
- Một là, khuyến khích mọi người dân làm giàu theo pháp luật, thực hiện có hiệu quả mục tiêu xóa đói giảm nghèo
- Hai là, bảo đảm cung ứng dịch vụ công thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân, tạo việc làm và thu nhập, chăm sóc sức khỏe cộng đồng
- Ba là, phát triển hệ thống y tế công bằng, hiệu quả
Trang 15- Bốn là, xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khoẻ và cải thiện giốngnòi.
- Năm là, thực hiện tốt các chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình
- Sáu là, chú trọng các chính sách ưu đãi xã hội
- Bảy là, đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng
Qua hơn 20 năm đổi mới, lĩnh vực phát triển xã hội đã đạt nhiều thành tựu Một xãhội mở đang dần dần hình thành với những con người, dám nghĩ dám chịu trách nhiệm,không chấp nhận đói nghèo, lạc hậu, biết làm giàu, biết cạnh tranh và hành động vì cộngđồng, vì Tổ quốc Cách thức quản lý xã hội dân chủ, cởi mở hơn, đề cao pháp luật hơn
2.1.3 Đại hội VIII (28/6/1996 – 1/7/1996)
Đại hội xác định nhiệm vụ là thực hiện đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, quá độ lên CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN Đại hội đã đánh dấu cột mốc pháttriển mới trong tiến trình phát triển của cách mạng nước ta Đồng thời, Đảng đã đề ranhững quan điểm chỉ đạo việc hoạch định hệ thống chính sách xã hội, đó là:
- Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và suốt quá trình phát triển
- Thứ hai, thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo lao động vàhiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khácvào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội, đi đôi với chínhsách điều tiết hợp lý, bảo vệ quyền lợi của người lao động
- Thứ ba, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói, giảmnghèo, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, về mức sống giữa các vùng, các dântộc, các tầng lớp dân cư
- Thứ tư, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc “uống nước nhớ nguồn”, “đền
ơn đáp nghĩa”, “nhân hậu, thủy chung”
- Thứ năm, các vấn đề chính sách xã hội đều được giải quyết theo tinh thần xã hội
2.1.4 Đại hội IX (19/4/2001 – 22/4/2001)
Trang 16Đại hội IX đã mở đường cho đất nước ta nắm lấy cơ hội, vượt qua thách thức tiếnvào thế kỷ mới, thiên niên kỷ mới, thực hiện mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Đảng không nhắc lại các quan điểm chỉ đạo của Đại hội VIII, nhưng nhấn mạnh
“Thực hiện các chính sách xã hội, hướng vào phát triển và lành mạnh hoá xã hội, thựchiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất, tăng năngsuất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khích nhândân làm giàu hợp pháp” và “Các chính sách xã hội được tiến hành theo tinh thần xã hộihoá, đề cao tinh thần trách nhiệm của chính quyền các cấp, huy động các nguồn lực trongnhân dân, các tổ chức xã hội”
Đồng thời Đại hội IX cũng chỉ ra những nhiệm vụ, mục tiêu của từng lĩnh vực cụthể cần tập trung giải quyết trong những năm tới là: giải quyết việc làm là nhiệm vụ quantrọng hàng đầu của chính sách xã hội; tiền lương và thu nhập; xoá đói, giảm nghèo; đền
ơn đáp nghĩa; uống nước nhớ nguồn; xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội; chính sách dân số;chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân; chính sách chăm sóc và bảo vệ trẻem; phong trào toàn dân tập luyện thể dục, thể thao; phong trào toàn dân đấu tranh phòngchống tội phạm
Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ởtừng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước
và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triểnkinh tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ Tập trung giải quyết nhữngvấn đề xã hội bức xúc
Trang 17Khuyến khích mọi người làm giàu theo luật pháp, thực hiện có hiệu quả các chínhsách xoá đói giảm nghèo Tạo điều kiện và cơ hội tiếp cận bình đẳng các nguồn lực pháttriển, hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản, vươn lên thoát đói nghèo vững chắc ở cácvùng nghèo và các bộ phận dân cư nghèo.
Xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống chính sách bảo đảm cung ứng dịch vụ công cộngthiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân về giáo dục và đào tạo, tạo việc làm, chăm sócsức khoẻ, văn hoá - thông tin, thể dục thể thao
Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng; phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm xãhội, bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân Đa dạng hoá các loại hình cứu trợ xãhội, tạo việc làm, đẩy mạnh xuất khẩu lao động, hướng tới xuất khẩu lao động trình độcao Tiếp tục đổi mới chính sách tiền lương, chính sách phân phối thu nhập
Phát triển hệ thống y tế công bằng và hiệu quả, bảo đảm mọi người dân đượcchăm sóc và bảo vệ sức khoẻ Phát triển mạnh thể dục thể thao, kết hợp tốt thể thaophong trào và thể thao thành tích cao, dân tộc và hiện đại
Làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản Thúc đẩy phong trào toàn xã hộichăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường
an toàn, lành mạnh, phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ và đạo đức
Thực hiện tốt các chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình Giảm tốc độ tăngdân số Tiếp tục duy trì kế hoạch giảm sinh và giữ mức sinh thay thế, bảo đảm quy mô và
cơ cấu dân số hợp lý, nâng cao chất lượng dân số Phát huy những giá trị truyền thống tốtđẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá
Chú trọng các chính sách ưu đãi xã hội Vận động toàn dân tham gia các hoạtđộng đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với các lão thành cách mạng, nhữngngười có công với nước, người hưởng chính sách xã hội
Nhà nước tiếp tục tăng nguồn lực, đầu tư tập trung cho các chương trình mục tiêuquốc gia về giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao, dân số, gia đình, trẻ em ; quan tâmvùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời phát huy tiềm năng trí tuệ
và các nguồn lực vật chất trong nhân dân, của toàn xã hội để cùng Nhà nước giải quyếtcác vấn đề xã hội và chăm lo phát triển các dịch vụ công cộng
Trang 18Công khai mức phí tại các cơ sở dịch vụ công lập và ngoài công lập, chấm dứt cáckhoản thu, chi không minh bạch và sai quy định, bảo đảm người làm dịch vụ có chế độthu nhập hợp lý, có lương tâm nghề nghiệp Thúc đẩy các cơ sở công lập và ngoài cônglập về dịch vụ công cộng phát triển cả về quy mô và chất lượng, xây dựng một số cơ sởdịch vụ đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.
Về mặt xã hội, cụ thể là:
- Một là, tập trung giải quyết tốt chính sách lao động, việc làm và thu nhập
Trên cơ sở đầu tư phát triển kinh tế, phải hết sức quan tâm tới yêu cầu chuyển dịch
cơ cấu lao động, giải quyết việc làm cho người lao động; tạo điều kiện giải quyết ngàycàng nhiều việc làm, đặc biệt là cho nông dân Đổi mới phương thức, nâng cao chấtlượng dạy và học, gắn dạy nghề với nhu cầu thực tế
Kiên quyết khắc phục những bất hợp lý về tiền lương, tiền công, trợ cấp xã hộiphù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước; gắn cải cách tiền lương với sắp xếp,kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của hệ thống chính trị Gắntiền lương của người lao động với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Hai là, bảo đảm an sinh xã hội
Tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểmthất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡmọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, vượt qua khó
Trang 19khăn hoặc các rủi ro trong đời sống Bảo đảm cho các đối tượng bảo trợ xã hội có cuộcsống ổn định, hoà nhập tốt hơn vào cộng đồng, có cơ hội tiếp cận nguồn lực kinh tế, dịch
vụ công thiết yếu
Tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình xoá đói, giảm nghèo ở vùng sâu,vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Đa dạng hoá các nguồn lực và phương thức xoá đói,giảm nghèo gắn với phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển giáo dục, dạy nghề vàgiải quyết việc làm để xoá đói, giảm nghèo bền vững
Huy động mọi nguồn lực xã hội cùng với Nhà nước chăm lo tốt hơn nữa đời sốngvật chất và tinh thần của những người và gia đình có công Giải quyết dứt điểm các tồnđọng về chính sách người có công, đặc biệt là người tham gia hoạt động bí mật, lựclượng vũ trang, thanh niên xung phong trong các thời kỳ cách mạng và kháng chiến
- Ba là, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân và công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em
Chú ý nhiều hơn công tác y tế dự phòng và chăm sóc sức khoẻ nhân dân Củng cố
và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, nâng cao năng lực của bệnh viện tuyến huyện vàtuyến tỉnh, hiện đại hoá một số bệnh viện đầu ngành
Thực hiện nghiêm chính sách và pháp luật về dân số, duy trì mức sinh hợp lý, quy
mô gia đình ít con Tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức và huy động sự tham giacủa toàn xã hội vào công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình
Phát triển mạnh phong trào thể dục, thể thao đại chúng, tập trung đầu tư nâng caochất lượng một số môn thể thao thành tích cao nước ta có ưu thế Kiên quyết khắc phụcnhững hiện tượng tiêu cực trong thể thao
- Bốn là, đấu tranh phòng, chống có hiệu quả tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông
Đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền, giáo dục cộng đồng, đề cao vai trò giáodục của gia đình đối với thanh, thiếu niên về tác hại của ma tuý, mại dâm và các tệ nạn xãhội khác Đấu tranh quyết liệt với việc buôn bán, sử dụng ma tuý Đề cao trách nhiệm củagia đình, đoàn thể và chính quyền cơ sở trong quản lý, tạo việc làm, tái hoà nhập cộngđồng cho các đối tượng sau cai nghiện
Trang 20Huy động cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành triển khai tích cực, đồng bộcác giải pháp giảm thiểu tai nạn giao thông Nâng cao hiểu biết, ý thức chấp hành phápluật, đồng thời xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật giao thông.
2.1.7 Đại hội XII (20/1/2016 – 28/1/2016)
Năm năm sau Đại hội XI, chúng ta đã có nhiều thành công, tuy nhiên đổi mớichưa đồng bộ và toàn diện, vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém trong lĩnh vực xã hội Đờisống của một bộ phận nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn Tìnhtrạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán
bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi
Trên cơ sở quán triệt và lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện việc thực hiện các quan điểm.Đồng bộ công cuộc đổi mới, phát huy mọi nguồn lực và động lực để phát triển đất nướcnhanh, bền vững Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra chỉ tiêu quan trọng: Phát huy sức mạnhtoàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần củaNhân dân Cùng với đó là những nhiệm vụ giải quyết vấn đề xã hội cụ thể như sau:
- Một là, thu hút, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực và sức sáng tạo của Nhân dân.Chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, giải quyết tốt những vấn đề bức thiết; tăngcường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; bảo đảm ansinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và giảm nghèo bền vững
- Hai là, trên cơ sở quán triệt và lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện việc thực hiện cácquan điểm Đồng bộ công cuộc đổi mới, phát huy mọi nguồn lực và động lực để phát triểnđất nước nhanh, bền vững
Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, nắm bắt thuận lợi, thời cơ, vượt qua khó khăn, tháchthức, nhất là tác động nặng nề của cuộc khủng hoảng, suy thoái kinh tế toàn cầu do đạidịch COVID-19; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã đoàn kết, chung sức, đồng lòng nỗlực phấn đấu, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ, đạt được nhiều thành tựu rấtquan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật có thể kể đến như sau:
- Các lĩnh vực xã hội, môi trường có nhiều tiến bộ Đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể