Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài Hiểu các khái niệm cơ bản về luật môi trường và tình hình môi trường của nước ta, sau đó tìm ra nguyên nhân và tổng hợp các yếu tố gây tác hại đến môi trư
PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Môi trường là nơi sinh sống của con người và các loài sinh vật, cung cấp tài nguyên thiên nhiên như rừng, khoáng sản, động thực vật quý hiếm, cũng như các yếu tố vật chất do con người tạo ra Môi trường có mối quan hệ mật thiết với nhau, đóng vai trò quan trọng trong việc phục vụ và tác động đến sự sống, sự tồn tại và phát triển của con người Hiểu rõ khái niệm về môi trường giúp nhận thức rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ và duy trì cân bằng sinh thái để phát triển bền vững.
Môi trường đóng vai trò thiết yếu đối với con người, cung cấp tài nguyên thiên nhiên như đất, nước, rừng và khoáng sản phục vụ cho đời sống và hoạt động sản xuất Đồng thời, môi trường cũng chứa đựng chất thải ô nhiễm phát sinh từ hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người Trong hệ sinh thái, môi trường cung cấp các dịch vụ tự nhiên như đa dạng sinh học, hệ sinh thái toàn vẹn và bảo vệ khỏi tác động của tia UV, góp phần duy trì sự sống trên trái đất một cách tự nhiên Ngoài ra, môi trường còn là nền tảng hình thành các giá trị tâm lý, thẩm mỹ và tinh thần quý giá cho con người.
Hiện nay, môi trường đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của con người Việt Nam, một quốc gia đang phát triển, đang đối mặt với tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi dẫn đến cạn kiệt nguồn tài nguyên và gây ra những tác động xấu đến môi trường Vấn đề vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường tại Việt Nam luôn là một trong những điểm nhức nhối của xã hội và đất nước Vì vậy, nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài “Thực trạng vi phạm pháp luật về môi trường ở nước ta hiện nay” để phân tích và làm rõ những vấn đề này.
Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
Hiểu rõ các khái niệm cơ bản về luật môi trường và tình hình môi trường của nước ta là bước quan trọng để nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường Việc phân tích nguyên nhân và tổng hợp các yếu tố gây hại giúp xác định các nguồn gây ô nhiễm và tác động tiêu cực đến môi trường Từ đó, các chiến lược và biện pháp bảo vệ môi trường hiệu quả hơn, góp phần duy trì môi trường trong lành và bền vững cho tương lai.
Phương pháp thực hiện đề tài
Để xây dựng nội dung chất lượng, người viết cần tìm kiếm tài liệu, thông tin tổng quát, nghiên cứu, nhận xét và đánh giá một cách kỹ lưỡng Việc áp dụng các quan điểm cá nhân cùng hệ thống kiến thức đa dạng giúp nâng cao chiều sâu của bài viết Kết hợp các phương pháp nghiên cứu xã hội và nhân văn một cách tổng thể và liên ngành đảm bảo tính toàn diện và khách quan của nội dung Điều này không chỉ giúp tăng cường khả năng tối ưu hóa SEO mà còn nâng cao giá trị thông tin cho độc giả.
TỔNG QUAN VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG
Khái quát chung về luật môi trường
1.1.1 Khái niệm luật môi trường
Luật môi trường là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động khai thác, quản lý và bảo vệ các yếu tố môi trường Nhờ đó, luật môi trường góp phần thúc đẩy phát triển bền vững, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường Đây là một lĩnh vực pháp luật quan trọng, có vai trò giữ gìn môi trường sống trong cộng đồng và hướng tới sự phát triển lâu dài của xã hội.
Luật môi trường được xây dựng dựa trên nguồn luật phong phú bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến bảo vệ môi trường Các quy định này bao gồm những điều khoản mang tính cương lĩnh trong Hiến pháp, cùng với các quy định cụ thể về đánh giá môi trường, công khai thông tin môi trường, quản lý chất thải và phòng ngừa ứng phó sự cố môi trường, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường hiệu quả.
1.1.2 Những nguyên tắc cơ bản của luật môi trường
1.1.2.1 Nguyên tắc nhà nước ghi nhận và bảo vệ quyền con người được sống trong môi trường trong lành
Quyền được sống trong môi trường trong lành là quyền tự nhiên của con người, được quy định rõ trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013 Theo đó, mọi người không chỉ có quyền mà còn có nghĩa vụ bảo vệ môi trường để đảm bảo điều kiện sống lành mạnh Nguyên tắc này nhấn mạnh rằng tất cả các quy phạm pháp luật và chính sách về môi trường cần đặt ưu tiên hàng đầu vào việc bảo vệ môi trường và đảm bảo quyền sống trong môi trường sạch sẽ của con người.
Luật môi trường quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trong việc bảo vệ môi trường Ngoài ra, luật cũng xác định quyền của công dân trong việc tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật môi trường và quyền tiếp cận thông tin về môi trường để nâng cao ý thức và trách nhiệm cộng đồng trong bảo vệ môi trường.
Điều 43 của Hiến pháp Việt Nam 2013 nhấn mạnh rằng bảo vệ môi trường không chỉ là một nguyên tắc mà còn là mục tiêu của luật môi trường Đây được coi là nguyên tắc cốt lõi và xuyên suốt, thể hiện rõ qua tất cả các quy định của luật môi trường nhằm đảm bảo phát triển bền vững và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cho tương lai.
1.1.2.2 Nguyên tắc phát triển bền vững
Phát triển bền vững theo khoản 4 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường 2020 là quá trình phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng của các thế hệ tương lai Điều này đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường để đảm bảo sự phát triển bền vững lâu dài.
Phát triển bền vững hướng đến nâng cao chất lượng cuộc sống của con người đồng thời duy trì chất lượng môi trường và hạ tầng phát triển Để thực hiện điều này, cần kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường Trong luật môi trường, việc tiếp cận các mục tiêu và phương châm của phát triển bền vững mang tính lồng ghép và tích hợp chặt chẽ.
Phòng ngừa là hoạt động chủ động nhằm ngăn chặn, loại bỏ những nguyên nhân tiềm ẩn có thể gây ra rủi ro môi trường trước khi chúng xảy ra Việc này giúp giảm thiểu thiệt hại và bảo vệ môi trường hiệu quả hơn Áp dụng các biện pháp phòng ngừa phù hợp là cách tối ưu để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của môi trường sống.
Nguyên tắc phòng ngừa nhằm ngăn chặn các rủi ro do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường Để đạt hiệu quả cao, các yêu cầu cụ thể cần được xác định rõ ràng trong quá trình thực hiện.
Giảm thiểu chi phí khắc phục hậu quả do tàn phá môi trường là một chiến lược tiết kiệm đáng kể, vì chi phí phục hồi môi trường thường lớn hơn nhiều so với chi phí thực hiện các biện pháp phòng ngừa từ ban đầu Việc đầu tư vào các giải pháp phòng ngừa không chỉ giúp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên mà còn giảm bớt gánh nặng tài chính về sau Chính vì vậy, các doanh nghiệp và cơ quan quản lý cần chú trọng tới các biện pháp phòng ngừa nhằm hạn chế thiệt hại môi trường, góp phần bảo vệ bền vững cho hệ sinh thái và nền kinh tế.
VD: sử dụng máy lọc nước thải tại các nhà máy có chi phí thấp hơn nhiều việc đầu tư khắc phục hậu quả do ô nhiễm nguồn nước,…
Bảo vệ môi trường là một biện pháp thiết yếu nhằm giảm thiểu các hậu quả nghiêm trọng do ô nhiễm gây ra Trong nhiều trường hợp, hậu quả của ô nhiễm môi trường là khó có thể khắc phục hoàn toàn, do đó việc phòng ngừa ô nhiễm trở thành ưu tiên hàng đầu Thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường giúp giảm thiểu tác động tiêu cực và duy trì sự cân bằng sinh thái cho hành tinh của chúng ta.
VD: tàn phá rừng nguyên sinh dẫn đến việc tuyệt chủng của một số giống loài động thực vật quý hiếm,…
Phát triển nền kinh tế bền vững bắt nguồn từ nguyên tắc phòng ngừa trong luật môi trường nhằm bảo vệ môi trường hiệu quả Khi các biện pháp phòng ngừa môi trường được thực hiện tốt, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế bền vững lâu dài Việc bảo vệ môi trường không chỉ góp phần duy trì hệ sinh thái mà còn là nền tảng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định, nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng.
1.1.2.4 Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
Nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền (Polluter - Pays Principle - PPP) là nguyên tắc kinh tế nhằm phân bổ chi phí thiệt hại môi trường, yêu cầu người gây ô nhiễm phải chi trả các khoản chi phí phát sinh từ hành vi gây ô nhiễm Quá trình “nội hóa” chi phí theo PPP giúp phản ánh đúng các khoản chi phí môi trường trong giá cả hàng hóa và dịch vụ, từ đó tạo động lực kinh tế để người gây ô nhiễm điều chỉnh hành vi của mình Áp dụng nguyên tắc PPP góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường bằng cách khuyến khích các chủ thể kinh tế chịu trách nhiệm và giảm thiểu những tác động tiêu cực đến môi trường.
1.1.2.5 Nguyên tắc môi trường là một thể thống nhất
Sự thống nhất của MT được thể hiện ở 2 khía cạnh:
- Sự thống nhất về không gian: MT không bị chia cắt bởi biên giới quốc gia, địa giới hành chính.
- Sự thống nhất nội tại giữa các yếu tố cấu thành MT: Giữa các yếu tố cấu thành
MT luôn có quan hệ tương tác với nhau, yếu tố này thay đổi dẫn đến sự thay đổi của yếu tố khác.
Các quốc gia phải có nghĩa vụ chung trong bảo vệ môi trường.
Khái niệm vi phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường
Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật và có lỗi do cá nhân hoặc tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện Hành vi này gây thiệt hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, làm giảm tính công bằng, trật tự và an toàn xã hội Việc hiểu rõ về khái niệm vi phạm pháp luật giúp nâng cao ý thức pháp lý của công dân, từ đó hạn chế các hành vi vi phạm và duy trì sự ổn định xã hội.
Vi phạm pháp luật về môi trường là hành vi trái pháp luật môi trường và có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện Các hành vi này không tuân thủ các quy định của pháp luật môi trường, gây hại đến các quan hệ xã hội mà pháp luật môi trường cần bảo vệ Việc vi phạm này làm suy giảm hiệu quả công tác bảo vệ môi trường và cần xử lý nghiêm theo quy định pháp luật để duy trì sự phát triển bền vững.
Ngoài ra, căn cứ vào nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ về xử phạt VPHC trong lĩnh vực Bảo vệ môi trường; Nghị định số 55/2021/NĐ-
Ngày 24/05/2021, Chính phủ đã ban hành CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 155/2016/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 10/7/2021 Nghị định mới này quy định rõ các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường, góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường tại Việt Nam Các hành vi vi phạm bao gồm các hành động xả thải trái phép, không thực hiện đúng các quy chuẩn về môi trường và không tuân thủ các quy định về xử lý chất thải Việc cập nhật nghị định nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc hơn để xử lý các vi phạm môi trường một cách nghiêm minh và phù hợp với thực tiễn.
- Các hành vi gây ô nhiễm môi trường.
- Các hành vi vi phạm các quy định về quản lý chất thải.
- Các hành vi vi phạm quy định về kế hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường.
Các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, đòi hỏi cần có quy định nghiêm ngặt để kiểm soát và xử lý kịp thời Các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp và khu kinh doanh dịch vụ tập trung đều phải tuân thủ các quy định về BVMT nhằm giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ sức khỏe cộng đồng Việc vi phạm quy định BVMT trong các khu này có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, gây thiệt hại môi trường và ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế-xã hội của địa phương Do đó, quản lý chặt chẽ và áp dụng các hình phạt thích đáng là cách để đảm bảo các cơ sở hoạt động đúng quy định và góp phần bảo vệ môi trường bền vững.
Các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, phế liệu, chế phẩm sinh học đều gây tác động tiêu cực đến môi trường và cần được kiểm soát chặt chẽ Việc nhập khẩu và phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng cũng tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường nếu không tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường Ngoài ra, hoạt động lễ hội, du lịch và khai thác khoáng sản cũng đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy định nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
- Các hành vi vi phạm các quy định về thực hiện phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường.
Các hành vi vi phạm quy định về đa dạng sinh học bao gồm việc không bảo vệ và phát triển bền vững hệ sinh thái tự nhiên, gây hại đến các loài sinh vật quý hiếm và đa dạng sinh học Ngoài ra, các hoạt động làm suy yếu hoặc phá hủy các nguồn tài nguyên di truyền cũng là những hình thức vi phạm nghiêm trọng Việc bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật và tài nguyên di truyền đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và đảm bảo sự phát triển bền vững của môi trường.
- Các hành vi cản trở hoạt động quản lý nhà nước, thanh tra, kiểm tra, xử phạt hành vi vi phạm các quy định khác về BVMT.
Các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường
Các hành vi phạm pháp luật về môi trường gồm 2 :
1 Vận chuyển, chôn, lấp, đổ, thải, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
2 Xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường ra môi trường.
3 Phát tán, thải ra môi trường chất độc hại, vi rút độc hại có khả năng lây nhiễm cho con người, động vật, vi sinh vật chưa được kiểm định, xác súc vật chết do dịch bệnh và tác nhân độc hại khác đối với sức khỏe con người, sinh vật và tự nhiên.
4 Gây tiếng ồn, độ rung vượt mức cho phép theo quy chuẩn kỹ thuật môi trường; xả thải khói, bụi, khí có mùi độc hại vào không khí.
5 Thực hiện dự án đầu tư hoặc xả thải khi chưa đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
6 Nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, quá cảnh chất thải từ nước ngoài dưới mọi hình thức.
7 Nhập khẩu trái phép phương tiện, máy móc, thiết bị đã qua sử dụng để phá dỡ, tái chế.
8 Không thực hiện công trình, biện pháp, hoạt động phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và quy định khác của pháp luật có liên quan.
9 Che giấu hành vi gây ô nhiễm môi trường, cản trở, làm sai lệch, thông tin, gian dối trong hoạt động bảo vệ môi trường dẫn đến hậu quả xấu đối với môi trường.
10 Sản xuất, kinh doanh sản phẩm gây nguy hại cho sức khỏe con người, sinh vật và tự nhiên; sản xuất, sử dụng nguyên liệu, vật liệu xây dựng chứa yếu tố độc hại vượt mức cho phép theo quy chuẩn kỹ thuật môi trường.
11 Sản xuất, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất và tiêu thụ chất làm suy giảm tầng ô-dôn theo quy định của điều ước quốc tế về các chất làm suy giảm tầng ô-dôn mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
12 Phá hoại, xâm chiếm trái phép di sản thiên nhiên.
13 Phá hoại, xâm chiếm công trình, thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động bảo vệ môi trường.
14 Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
Biện pháp xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường
Nghị định số 155/2016/NĐ-CP quy định rõ các hình thức, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Theo đó, cá nhân và tổ chức vi phạm sẽ bị áp dụng một trong các hình thức xử phạt chính nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường Các chế tài này nhằm xử lý hành vi vi phạm một cách nghiêm minh, góp phần bảo vệ môi trường bền vững tại Việt Nam.
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, hành vi vi phạm hành chính bị xử phạt hành chính với mức phạt tối đa lên đến 1 tỷ đồng đối với cá nhân và 2 tỷ đồng đối với tổ chức Mức phạt này nhằm cảnh cáo và răn đe các hành vi vi phạm, đảm bảo duy trì sự trong sạch của môi trường Việc xử phạt nghiêm khắc góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của cá nhân và tổ chức trong việc bảo vệ tài nguyên và môi trường sống.
Nghị định quy định rõ mức xử phạt cụ thể đối với từng hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường, đảm bảo tính minh bạch và công bằng Đặc biệt, cá nhân vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường tại các cơ sở, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, khu kinh doanh và dịch vụ tập trung, làng nghề hoặc khu nuôi thủy sản sẽ bị xử phạt từ 5 triệu đến 500 triệu đồng tùy theo mức độ vi phạm Điều này nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm và tuân thủ pháp luật về môi trường của các cá nhân và doanh nghiệp.
Các cá nhân vi phạm quy định về xả nước thải chứa các thông số môi trường thông thường và nguy hại có thể bị xử phạt từ 300 nghìn đồng đến 1 tỷ đồng, tùy theo mức độ vi phạm Việc tuân thủ các quy định về xả thải là nhằm bảo vệ môi trường và giảm thiểu các tác động tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng.Các hình phạt này nhằm răn đe, khuyến khích các cá nhân và tổ chức nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc xử lý nước thải đúng quy định.
Các cá nhân vi phạm quy định về thải bụi, khí thải có chứa các thông số môi trường nguy hại có thể bị phạt từ 10 triệu đồng đến 1 tỷ đồng Đặc biệt, các hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường biển bị xử lý nghiêm với mức phạt từ 250 triệu đến 1 tỷ đồng, tùy theo tính chất vi phạm Trong đó, hành vi đổ hóa chất độc hại, chất thải rắn, nước thải không đạt quy chuẩn kỹ thuật xuống vùng biển trong khu bảo tồn, di sản tự nhiên hoặc khu vực sinh sản của thủy sản bị phạt từ 250 đến 500 triệu đồng Các hành vi đổ chất thải nguy hại hoặc có chứa chất phóng xạ xuống vùng biển Việt Nam bị xử phạt từ 500 triệu đến 1 tỷ đồng, trừ các trường hợp phạm tội về môi trường.
Mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân được quy định rõ ràng trong các quy định pháp luật Đặc biệt, đối với tổ chức vi phạm hành chính, mức phạt tiền sẽ bằng 2 lần so với mức phạt dành cho cá nhân cùng hành vi vi phạm Các quy định này nhằm nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường là trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, bắt buộc các chủ thể vi phạm pháp luật môi trường phải khắc phục ô nhiễm, phục hồi hiện trạng môi trường và bồi thường thiệt hại Khi hành vi vi phạm gây suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường, hoặc gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khác, các chủ thể này phải chịu trách nhiệm bồi thường phù hợp theo quy định của pháp luật Trách nhiệm này nhằm đảm bảo việc bảo vệ môi trường, khắc phục hậu quả do các hành vi gây ô nhiễm và duy trì sự phát triển bền vững của cộng đồng.
Theo quy định tại Điều 602 Bộ luật dân sự 2015 thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường được xác định như sau:
Chủ thể gây ô nhiễm môi trường phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật, dù có hay không có lỗi Điều này thể hiện rõ trách nhiệm của các chủ thể trong việc đảm bảo môi trường sạch, an toàn cho cộng đồng Việc bồi thường này nhằm khắc phục hậu quả và duy trì sự cân bằng của hệ sinh thái Chính sách pháp luật nghiêm ngặt yêu cầu các tổ chức và cá nhân phải chịu trách nhiệm khi gây ra ô nhiễm môi trường, bất kể yếu tố lỗi hay không.
Theo quy định pháp luật, cá nhân và tổ chức gây ô nhiễm môi trường phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho những người bị ảnh hưởng Điều kiện truyền thống quy định rằng, ngoài việc xử lý theo luật chuyên ngành, các chủ thể vi phạm còn phải bồi thường thiệt hại, kể cả khi không có lỗi Việc này nhằm đảm bảo quyền lợi của những người bị thiệt hại do hành vi ô nhiễm môi trường gây ra.
Căn cứ vào chương XIX, Bộ luật hình sự năm 2015 có 12 điều (từ Điều 235 đến Điều 246) quy định về tội phạm liên quan đến môi trường, gồm:
- Tội gây ô nhiễm môi trường.
- Tội vi phạm quy định về quản lí chất thải nguy hại.
- Tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường.
Việc vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng chống thiên tai gây nguy hiểm lớn đến an toàn hệ thống, gây thiệt hại nặng nề cho cộng đồng và môi trường Các hành vi vi phạm trong lĩnh vực này bao gồm việc phá hoại, sửa chữa trái phép hoặc lấn chiếm đất đai nằm trong phạm vi bảo vệ của các công trình thủy lợi, đê điều và bờ bãi sông Để đảm bảo an toàn công trình và phòng chống thiên tai hiệu quả, việc tuân thủ quy định về bảo vệ bờ, bãi sông là vô cùng cần thiết, nhằm bảo vệ hệ sinh thái, hạn chế lũ lụt và sạt lở đất Chính phủ và các cơ quan chức năng đã có quy định nghiêm ngặt nhằm xử lý các hành vi vi phạm, bảo vệ hệ thống công trình thủy lợi và bờ bãi sông, góp phần duy trì sự bền vững của hệ thống phòng chống thiên tai của quốc gia.
- Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam.
- Tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người.
- Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật.
- Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản.
3 Điều 602 – Bộ luật dân sự 2015.
- Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm.
- Tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên.
- Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại.
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ MÔI TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Tình hình vi phạm pháp luật về môi trường ở nước ta hiện nay
Theo thống kê của cơ quan Xử lý chất thải, Việt Nam tiêu thụ khoảng 10.000 tấn hóa chất dùng trong bảo vệ thực vật mỗi năm, góp phần làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó, cả nước phát sinh khoảng 2.3 tấn rác thải sinh hoạt hàng ngày và khoảng 7 triệu tấn chất thải rắn công nghiệp hàng năm, cùng với hàng chục loại phế phẩm khác, đặt ra thách thức lớn về quản lý và xử lý chất thải hiệu quả.
Tình trạng cảnh giác cao trước ô nhiễm môi trường đặt ra vấn đề nghiêm trọng về quản lý và xử lý chất thải công nghiệp tại Việt Nam Hơn 250 khu công nghiệp phát riêng ra môi trường lên tới 550.000 m³ nước thải mỗi ngày, trong đó chỉ có 5% trong số khoảng 615 cụm công nghiệp thực hiện xử lý nước thải đúng quy trình và tuân thủ các quy định về môi trường Phần lớn các cơ sở còn lại trực tiếp xả thải ra môi trường hoặc không qua xử lý theo tiêu chuẩn, góp phần làm tăng mức độ ô nhiễm Điều này chưa kể hàng nghìn cơ sở y tế hàng ngày thải ra chất thải, gây áp lực lớn cho hệ sinh thái và sức khỏe cộng đồng.
Dù nhiều số liệu thống kê đã được công bố để cảnh báo về mức độ ô nhiễm môi trường, tình trạng này vẫn không có dấu hiệu giảm mà ngày càng gia tăng Ô nhiễm môi trường gây ra những tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người và môi trường sống, đòi hỏi cần có các biện pháp khẩn cấp để giảm thiểu tác động tiêu cực này.
Vậy, hậu quả nghiêm trọng của khí thải do con người gây ra là gì? Sau đây là một số loại ô nhiễm môi trường phổ biến nhất:
Hiện nay, tổng diện tích đất tự nhiên của Việt Nam đạt hơn 33 triệu ha, trong đó khoảng 68,83% đã được sử dụng, tương đương hơn 22 triệu ha, còn lại hơn 10 triệu ha chiếm khoảng 33,04% tổng diện tích là đất chưa sử dụng Diện tích đất nông nghiệp ước tính từ 7 đến 8 triệu ha Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới có lượng mưa lớn và tập trung, khiến đặc điểm địa hình đồi núi dễ bị rửa trôi, xói mòn và thoái hóa do nghèo chất hữu cơ và dinh dưỡng Sau khi bạc màu, đất rất khó để khôi phục độ màu mỡ ban đầu Trong những năm gần đây, tình trạng ô nhiễm môi trường đất tại Việt Nam đang gia tăng, từ các khu vực nông thôn đến các thành phố lớn như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn tài nguyên đất nước.
Tại Hà Nội, ô nhiễm đất chủ yếu do hàm lượng kim loại nặng phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp Các khu công nghiệp đô thị và làng nghề như Khu công nghiệp An Khánh, Khu đồng mương nổi Tam Hiệp – Thanh Trì góp phần làm tăng mức độ ô nhiễm đất Việc này ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe cộng đồng, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về quản lý chất thải công nghiệp và duy trì môi trường bền vững tại các khu vực này.
Khu đô thị Nam Thăng Long và Làng nghề dệt vải Hà Đông là những ví dụ điển hình về hoạt động phát triển đô thị và làng nghề tại Việt Nam, tuy nhiên, thực trạng ô nhiễm môi trường đất tại TP Hồ Chí Minh vẫn ngày càng trở nên đáng lo ngại Nguyên nhân chính của tình trạng này là do hàm lượng rác thải đô thị gia tăng và việc sử dụng thuốc trừ sâu quá mức trong nông nghiệp Ở Hóc Môn, trung bình một vụ rau bị phun thuốc trừ sâu từ 10 đến 25 lần, với lượng thuốc sử dụng trên 1 ha trong vòng 1 năm có thể lên tới 100-150 lít Ngoài ra, các khu công nghiệp tại TP Hồ Chí Minh thải ra hơn 600.000 m³ nước thải mỗi ngày, góp phần làm tình hình ô nhiễm đất và môi trường ngày càng nghiêm trọng.
Tại Thái Nguyên, hoạt động khai thác khoáng sản thải ra lượng lớn đá thải gây thu hẹp diện tích đất canh tác đáng kể Hầu hết các hoạt động khai thác đều sử dụng công nghệ lạc hậu và phương pháp khai thác lộ thiên, dẫn đến ô nhiễm nghiêm trọng đất đai trong khu vực Tình trạng này ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và cuộc sống của người dân địa phương, đòi hỏi cần có giải pháp bền vững và nâng cao công nghệ khai thác.
Trong năm 2009, quá trình quan trắc môi trường tại Lâm Đồng cho thấy đất đai tại đây bị chua và kiềm do tác động tiêu cực của việc sử dụng phân bón nông nghiệp Thành phần cơ giới của đất chủ yếu là đất sét, chiếm tỷ trọng cao, ảnh hưởng đến khả năng thoát nước và cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng Điều này đặt ra yêu cầu cần có các biện pháp cải tạo đất để tăng độ phì nhiêu và duy trì sản xuất nông nghiệp bền vững tại khu vực.
Hệ thống nước mặt của Việt Nam gồm hơn 2.360 dòng sông dài trên 10 km, cùng hàng nghìn hồ, ao, là nguồn sống và nơi cư trú của đa dạng động thực vật cũng như sinh kế của hàng triệu người Tuy nhiên, các nguồn nước này đang bị suy thoái nghiêm trọng do khai thác quá mức và ô nhiễm, gây thiệt hại lớn cho môi trường và sức khỏe cộng đồng Nhiều dòng sông, khúc sông, ao hồ đã bị ô nhiễm nặng, “chết” do rác thải và nước thải chưa xử lý phát tán ra môi trường Theo thống kê của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường, trung bình mỗi năm tại Việt Nam có khoảng 9.000 người tử vong do các vấn đề liên quan đến nguồn nước và vệ sinh kém, đồng thời gần 200.000 ca mắc ung thư liên quan đến ô nhiễm nước.
Tại cụm công nghiệp Tham Lương, TP Hồ Chí Minh, nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng do nước thải công nghiệp Các nhà máy sản xuất giấy, bột giặt, nhuộm, dệt đóng góp khoảng 500.000 m³ nước thải mỗi ngày, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Tại Thái Nguyên, nước thải công nghiệp từ hoạt động sản xuất giấy, luyện thép, luyện kim màu, mỏ than cùng các doanh nghiệp khác chiếm khoảng 15% tổng lượng nước thải đô thị Nước thải từ ngành sản xuất giấy có giá trị pH từ 8,4 đến 9, hàm lượng NH₄⁺ đạt 4 mg/l, chứa hàm lượng chất hữu cơ cao, có màu nâu và mùi khó chịu.
Các làng nghề luyện thép, đúc đồng, nhôm, chì, làm giấy và dệt nhuộm tại Bắc Ninh đang phải đối mặt với tình trạng nước thải chưa qua xử lý lên tới hàng nghìn mét khối mỗi ngày Điều này gây ô nhiễm nguồn nước và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường khu vực Việc thiếu các biện pháp xử lý nước thải hiệu quả đang là vấn đề cấp bách cần được giải quyết để bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, nước thải sinh hoạt không được xử lý tập trung mà thải trực tiếp ra các nguồn tiếp nhận lớn như sông, hồ, kênh, mương mà không có hệ thống đo lường chính xác Điều này gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và làm gia tăng áp lực lên các nguồn nước tự nhiên Việc thiếu hệ thống xử lý nước thải hiệu quả khiến chất lượng nguồn nước ngày càng suy giảm, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và sự phát triển bền vững của các khu vực đô thị.
Nhiều bệnh viện và cơ sở y tế lớn hiện chưa có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn, khiến các chất thải nguy hại dễ dàng xả thẳng ra môi trường Ngoài ra, lượng rác thải rắn lớn trong thành phố chưa được thu gom triệt để, dẫn đến tình trạng xả thải trực tiếp ra ngoài môi trường Hành động này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước, làm tăng nguy cơ ô nhiễm và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Việc xử lý chất thải y tế và rác thải đô thị không hiệu quả đang trở thành vấn đề cấp thiết cần được giải quyết để bảo vệ môi trường và sức khỏe công cộng.
Sông Hồng qua các khu vực Phú Thọ, Vĩnh Phúc ghi nhận nhiều thông số vượt quy chuẩn QCVN 08:2008 loại A1, đặc biệt tại các địa điểm gần nhà máy có mức độ ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng Nhiều chỉ tiêu vượt ngưỡng B1 nhiều lần, cho thấy mức độ ô nhiễm nước sông đang ngày càng gia tăng và cần có sự vào cuộc khẩn cấp để giám sát và xử lý ô nhiễm môi trường.
Thực trạng thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường
Hệ thống pháp luật về môi trường tại Việt Nam đã phát triển toàn diện về nội dung và hình thức, điều chỉnh đầy đủ các thành tố của môi trường Các tiêu chuẩn môi trường được ban hành làm cơ sở cho kiểm soát và đánh giá tác động môi trường, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường Các văn bản pháp luật đã tạo nền tảng pháp lý vững chắc, nâng cao nhận thức của các cơ quan, tổ chức và công dân về tầm quan trọng của bảo vệ môi trường Việt Nam là thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế về BVMT, đã tham gia 14 công ước, hiệp định quốc tế về môi trường và thúc đẩy hợp tác song phương, đa phương nhằm thúc đẩy hoạt động bảo vệ môi trường trong và ngoài khu vực.
Hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường của nước ta còn gặp nhiều bất cập và hạn chế, đặc biệt khi so sánh với yêu cầu của phát triển bền vững Những quy định này chưa đủ mạnh mẽ và rõ ràng để đảm bảo sự bền vững của môi trường trong quá trình phát triển kinh tế Việc cải thiện và hoàn thiện pháp luật về BVMT là điều cần thiết để thúc đẩy sự phát triển bền vững và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên quốc gia.
Hiện nay, chưa có sự liên kết chặt chẽ và hữu cơ giữa các quy định về phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, khiến yếu tố môi trường chưa được coi trọng trong quá trình xây dựng luật pháp Các vấn đề về thương mại, đầu tư và phát triển kinh tế thường chiếm ưu thế, bỏ qua các chi phí môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh Thiếu vắng công cụ kinh tế nhằm thúc đẩy bảo vệ môi trường như lệ phí môi trường, thuế môi trường hay trách nhiệm trả phí của người gây ô nhiễm khiến công tác bảo vệ môi trường không được kích thích tối đa, ảnh hưởng tiêu cực đến sinh thái Do đó, các chính sách pháp luật về kinh tế còn chưa thực sự thân thiện với môi trường.
Các quy định của pháp luật về BVMT đã đủ về nội dung và hình thức, nhưng chưa có cơ chế pháp lý hiệu quả để kiểm soát hoạt động tác động vào tự nhiên và môi trường Các chế tài hiện tại chưa đủ mạnh để răn đe và xử lý các hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường Nghĩa vụ đánh giá tác động môi trường của các chủ thể tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh còn mang tính hình thức, chưa thực sự hiệu quả Các hoạt động gây ô nhiễm nguồn nước, không khí, phá rừng vẫn tiếp diễn và chưa bị kiểm soát triệt để.
Pháp luật về trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực bảo vệ môi trường còn quá chung chung, gây khó khăn trong việc áp dụng thực tiễn Mặc dù các quy định về bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường đã được đề cập, nhưng chỉ mang tính nguyên tắc chung trong Luật BVMT và Bộ luật Dân sự Hiện chưa có quy định cụ thể hay hướng dẫn rõ ràng về phương pháp xác định thiệt hại và mức bồi thường, làm giảm hiệu quả của các biện pháp xử lý khi xảy ra ô nhiễm môi trường Các quy định về trách nhiệm chấm dứt hành vi vi phạm, khôi phục môi trường và bồi thường thiệt hại chủ yếu chỉ được nêu trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.
Một số giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật môi trường
Đáp ứng yêu cầu giảm thiểu ô nhiễm môi trường là trách nhiệm quan trọng trong quá trình thực hiện Chỉ thị số 29-CT/TW và Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị khoá IX về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường cần phải đảm bảo các tiêu chí về hiệu quả, phù hợp và khả thi nhằm thúc đẩy phát triển bền vững Chính sách và các giải pháp về BVMT phải được đưa vào thực tiễn một cách chủ động, hiệu quả để nâng cao ý thức cộng đồng và trách nhiệm của các tổ chức, doanh nghiệp trong công tác bảo vệ môi trường.
Để nâng cao hiệu quả quản lý bảo vệ môi trường, cần sửa đổi, bổ sung các văn bản hiện hành nhằm khắc phục sự thiếu nhất quán, thiếu cụ thể và không rõ ràng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến BVMT Việc ban hành các văn bản mới để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực này vẫn còn hạn chế, đòi hỏi sửa đổi căn bản Luật BVMT và các quy định liên quan trong các ngành luật nhằm tập trung vào yếu tố môi trường và tài nguyên thiên nhiên Đồng thời, cần giải quyết mối quan hệ giữa Luật BVMT và các văn bản luật chuyên ngành để đảm bảo tính đồng bộ trong pháp luật về bảo vệ môi trường Việc phát huy hiệu quả các biện pháp quy định trong luật hành chính, hình sự, dân sự và kinh tế là yếu tố then chốt trong xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường, đặc biệt là sử dụng các biện pháp kinh tế để đảm bảo sự cân đối giữa phát triển kinh tế và yêu cầu bảo vệ môi trường.
Xã hội hóa các hoạt động bảo vệ môi trường (BVMT) bằng cách tăng cường sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể và cộng đồng dân cư là yếu tố then chốt trong quản lý, tổ chức thực hiện và giám sát công tác BVMT Chính quyền các cấp cần phối hợp và hỗ trợ đề cao vai trò của công tác xã hội, đa dạng hóa các hoạt động BVMT, cùng xây dựng cơ chế khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia cung cấp dịch vụ BVMT Việc huy động sự tham gia của xã hội vào công tác BVMT ở mức độ cao nhất đòi hỏi xây dựng các cơ chế khuyến khích, thực thi các chế tài hành chính, hình sự một cách công bằng và hợp lý đối với cả cơ sở nhà nước lẫn tư nhân Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội cần được nâng cao, đưa BVMT trở thành nội dung hoạt động của khu dân cư và phát huy tối đa vai trò của các tổ chức này trong việc bảo vệ môi trường.
Việt Nam cần tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực môi trường, đặc biệt là về pháp luật môi trường để thúc đẩy các cam kết quốc tế đã ký kết Cần thiết lập cơ chế phù hợp để nội luật hóa các cam kết này và đảm bảo hiệu lực pháp lý rõ ràng, đồng thời xây dựng các cơ chế thực thi hiệu quả tại Việt Nam Mở rộng hợp tác quốc tế với tinh thần tôn trọng và thực hiện nghiêm túc các công ước quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường Ưu tiên phát triển các mối quan hệ quốc tế trong phạm vi khu vực thông qua các chương trình, dự án đa phương và song phương nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành môi trường.
Nguồn ngân sách dành cho bảo vệ môi trường đã được thành lập từ năm 2006 với quy mô không thấp hơn 1% tổng chi ngân sách nhà nước, nhằm tăng cường hiệu quả trong lĩnh vực này Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện tại, cần tăng ngân sách để giải quyết các vấn đề môi trường cấp bách, góp phần nâng cao chất lượng môi trường và hướng tới một nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững Việc tăng mức chi ngân sách cho bảo vệ môi trường không chỉ giúp cải thiện chất lượng môi trường mà còn nâng cao mức hưởng thụ của người dân, thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.
Trung tướng Phạm Quý Ngọ, Thứ trưởng Bộ Công an, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đấu tranh phòng, chống tội phạm vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường Ông đã đề xuất các giải pháp cấp thiết nhằm tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến môi trường Bên cạnh đó, cần nâng cao ý thức và trách nhiệm của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường để giảm thiểu các hành vi gây hại đến tài nguyên và sinh thái Các giải pháp này nhằm thúc đẩy hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm môi trường, góp phần bảo vệ cuộc sống và sức khỏe cộng đồng.
Chính phủ và các cơ quan liên quan cần tăng cường thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước về bảo vệ môi trường, phòng ngừa tội phạm môi trường, giúp cán bộ công an hiểu rõ nhiệm vụ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cần rà soát, hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động của lực lượng cảnh sát môi trường để mở rộng thẩm quyền điều tra và xử lý vi phạm pháp luật Triển khai các kế hoạch nghiệp vụ nhằm phát hiện sớm và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về môi trường, đồng thời kiện toàn tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của lực lượng cảnh sát phòng chống tội phạm môi trường các cấp Bên cạnh đó, chú trọng tuyển dụng, đào tạo, phân công cán bộ cảnh sát môi trường một cách bài bản, phối hợp với các lực lượng cảnh sát quốc tế để nâng cao hiệu quả phòng ngừa và xử lý các tội phạm về môi trường.
Trong bài viết, việc kiện toàn và nâng cao năng lực tổ chức bộ máy cơ quan quản lý nhà nước về môi trường là rất cần thiết, đặc biệt tại cấp cơ sở để đảm bảo thực hiện hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường Đồng thời, cần có cơ chế và quy định rõ trách nhiệm phối hợp và phân công, phân cấp hợp lý nhiệm vụ phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường giữa các ngành, các cấp và lực lượng công an nhân dân, nhằm tăng cường hiệu quả công tác bảo vệ môi trường.
Ba là, hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ tài nguyên và môi trường bằng cách xây dựng và ban hành các quy định pháp luật về phí bảo vệ môi trường cũng như chính sách bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật gây ra Tiếp tục sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và các nghị định liên quan nhằm tạo sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, bao gồm việc bổ sung đầy đủ thẩm quyền cho cảnh sát môi trường và các lực lượng thanh tra chuyên ngành.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và giáo dục nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mọi công dân trong phòng chống tội phạm về môi trường là rất quan trọng Cần đa dạng hóa các hình thức truyền thông để phổ biến chính sách, pháp luật, các thông tin về môi trường và phát triển bền vững, đặc biệt tập trung vào tầng lớp thanh niên Việc tích hợp nội dung bảo vệ môi trường vào chương trình, sách giáo khoa của hệ thống giáo dục giúp hình thành ý thức bảo vệ môi trường ngay từ khi còn nhỏ Đồng thời, xã hội cần lên án mạnh mẽ các hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, kết hợp xử phạt nghiêm khắc để răn đe, phòng ngừa vi phạm pháp luật về môi trường, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Năm nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Bộ Công an tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra công khai và vận dụng các biện pháp nghiệp vụ để xử lý các cơ sở, địa bàn có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường Chính phủ sẽ được tham mưu dựa trên việc rà soát, lập danh mục các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhằm đảm bảo xử lý triệt để trong giai đoạn tiếp theo Đặc biệt, chú trọng chỉ đạo các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế chủ đạo, thực hiện tốt các chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường để nâng cao hiệu quả quản lý và giảm thiểu ô nhiễm.
Sáu là, thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động hợp tác quốc tế để nghiên cứu, trao đổi và ứng dụng khoa học công nghệ trong xử lý ô nhiễm, khắc phục sự cố môi trường và bảo vệ môi trường hiệu quả.
Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ thường xuyên, vừa cấp bách vừa lâu dài, không chỉ của Đảng, Nhà nước hay các tổ chức, mà còn là trách nhiệm của toàn dân và xã hội Môi trường đóng vai trò sống còn và là yếu tố quan trọng hàng đầu để bảo đảm sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống của nhân dân Mọi đối tượng trong xã hội, từ người già đến trẻ nhỏ, từ tổ chức đến cá nhân, đều có quyền và nghĩa vụ trong việc giữ gìn và bảo vệ môi trường Hiến pháp 2013 quy định rõ rằng “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường,” nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Điều 43 của Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc bảo vệ môi trường, tạo nền tảng hiến định cho việc xác lập quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ môi trường vì lợi ích của cả thế hệ hôm nay và các thế hệ tương lai.
KẾT LUẬN
Vi phạm pháp luật về môi trường và gây ô nhiễm môi trường luôn là vấn đề nan giải đã tồn tại lâu dài và gây hại trực tiếp đến cộng đồng, xã hội và đất nước Một môi trường trong sạch, an toàn và lành mạnh là điều kiện thiết yếu để một quốc gia phát triển bền vững Do đó, pháp luật cần nghiêm trị các hành vi vi phạm nhằm răn đe, ngăn chặn và thúc đẩy quá trình phục hồi, cải thiện môi trường, góp phần vào mục tiêu phát triển đất nước.
Chung tay nâng cao ý thức về môi trường là yếu tố then chốt để đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước Theo ông cha ta đã từng nói, “Đoàn kết là sức mạnh,” và chỉ khi cộng đồng thực sự quan tâm đến bảo vệ môi trường qua những hành động nhỏ hàng ngày, xã hội mới được củng cố và vững mạnh hơn Việc nghiêm túc tuân thủ luật bảo vệ môi trường không chỉ giữ gìn vẻ đẹp tự nhiên mà còn góp phần xây dựng một tương lai bền vững cho đất nước.
Hình 1: Xét xử 3 bị cáo chôn 4.400 tấn rác thải san lắp mặt bằng ở TP Hồ Chí Minh
Hình 2: Phòng cảnh sát môi trường Công an tỉnh kiểm tra phát hiện một cơ sở xả thải
Hình 3: Nước thải từ CCN Phú Lâm theo ống xả thẳng ra sông Ngũ Huyện Khê.
Hình 4: Hội thảo đối thoại và tuyên truyền việc chấp hành pháp luật về môi trường trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở TP Hồ Chí Minh (30/12/2021).
Hình 5: Nước sông Thị Vải bị ô nhiễm nghiêm trọng do công ty TNHH Vedan VN xả thải trái phép nước thải chưa qua xử lý (2008).
Hình 6: Quốc hội thảo luận toàn thể tại hội trường về dự án Luật Bảo vệ môi trường