Chính sách của Chính phủ về tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn..... Nhận thức được điều này và tiềm năng của phân khúc DN
Trang 1H ỌC VIỆN NGÂN HÀNG -oOo -
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM
TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VĨ MÔ BẤT ỔN
HÀ N ỘI, 2014
Trang 2H ỌC VIỆN NGÂN HÀNG -oOo -
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VĨ MÔ BẤT ỔN
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu đã nêu trong luận án có nguồn gốc rõ ràng và kết quả của luận án là trung thực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm lời cam đoan trên
Người cam đoan
Trang 4M ỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ VÀ HỘP ii
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: LUẬN CỨ KHOA HỌC VỀ TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VĨ MÔ BẤT ỔN 11
1.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 11
1.1.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa và vai trò của nó trong nền kinh tế 11
1.1.2 Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 17
1.2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VĨ MÔ BẤT ỔN 22
1.2.1 Cơ sở luận về nền kinh tế vĩ mô bất ổn 22
1.2.2 Tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn 27
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 34
1.3 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VĨ MÔ BẤT ỔN VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 38
1.3.1 Kinh nghiệm của các quốc gia 38
1.3.2 Bài học cho Việt Nam 49
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 53
Chương 2: THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VĨ MÔ BẤT ỔN 54
2.1 MÔI TRƯỜNG CHO TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VĨ MÔ BẤT ỔN 54
2.1.1 Bối cảnh kinh tế vĩ mô bất ổn 54
2.1.2 Ảnh hưởng của bối cảnh kinh tế vĩ mô bất ổn đối với hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa 57
2.1.3 Thực trạng huy động vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn 60
2.1.4 Chính sách của Chính phủ về tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn 64
Trang 52.2 THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ
VỪA TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VĨ MÔ BẤT ỔN 71
2.2.1 Đánh giá chung về các dịch vụ ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 71
2.2.2 Tăng trưởng tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn 74
2.2.3 Biện pháp tăng trưởng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn 82
2.2.4 Nghiên cứu thực nghiệm thực trạng tăng trưởng tín dụng của các DNNVV trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn 86
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNNVV TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VĨ MÔ BẤT ỔN 100
2.3.1 Những kết quả đạt được 100
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 103
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 109
Chương 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ VỀ TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VĨ MÔ BẤT ỔN 110
3.1 QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 110
3.1.1 Quan điểm phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam 110
3.1.2 Quan điểm tăng trưởng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn 111
3.1.3 Định hướng tăng trưởng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam từ phía Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 112
3.1.4 Định hướng tăng trưởng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam từ phía các ngân hàng thương mại Việt Nam 114
3.2 GIẢI PHÁP TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VĨ MÔ BẤT ỔN 115
3.2.1 Nhóm giải pháp mang tính chiến lược 115
3.2.2 Nhóm giải pháp cụ thể cho việc tăng trưởng tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn 126
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 155
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 155
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 158
3.3.3 Kiến nghị với Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam 159
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 161
KẾT LUẬN 162
TÀI LIỆU THAM KHẢO 165
PHỤ LỤC 170
Trang 6DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Ch ữ cái
vi ết tắt Tên đầy đủ bằng tiếng Anh Tên đầy đủ tiếng việt
CPI Consumer Price Index Chỉ số giá tiêu dùng
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ Quốc tế
nghệ Hàn Quốc
ODA Official Development
Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức
OECD
Oganiation for Economic Co-operation and Development
Tổ chức hợp tác và phát triển
kinh tế
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 7DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ VÀ HỘP
I DANH M ỤC BẢNG
1 Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại DNNVV của World Bank 11
2 Bảng 1.2: Tiêu chí phân loại DNNVV tại một số quốc gia 12
3 Bảng 1.3: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp 13
4 Bảng 1.4: Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của Argentina 1996 – 2002 26
5 Bảng 1.5: Tốc độ phát triển của DNNVV và doanh nghiệp lớn tại Hàn Quốc giai đoạn 1960s – 1990s (%) 39
6 Bảng 1.6: Chỉ số sản xuất của DNNVV trong lĩnh vực sản xuất (1995 = 100) 40
7 Bảng 1.7: Sự phá sản của các doanh nghiệp Hàn Quốc (1996 – 1999) 40
8 Bảng 1.8: Tỷ lệ cho vay DNNVV tối thiểu bắt buộc 41
9 Bảng 2.1: Đánh giá về năng lực cung cấp dịch vụ ngân hàng 72
10 Bảng 2.2: Tỷ trọng doanh thu của các loại hình dịch vụ cung cấp cho đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa 73
11 Bảng 2.3: Tỷ trọng dư nợ, lợi nhuận của đối tượng DNNVV 75
12 Bảng 2.4: Dư nợ tín dụng DNNVV theo thời hạn và loại tiền 78
13 Bảng 2.5: Dư nợ tín dụng phân theo sản phẩm cho vay đối với DNNVV 79
14 Bảng 2.6: Quy mô nợ quá hạn, nợ xấu và tài sản đảm bảo đối với dư nợ các DNNVV 80
15 Bảng 2.7: Tỷ lệ nợ xấu của các DNNVV 81
16 Bảng 2.8: Tỷ trọng các DNNVV trong mẫu phân theo quy mô tổng nguồn vốn 87
17 Bảng 2.9: Tổng hợp các giải thuyết và dấu dự kiến của các biến độc lập 96
18 Bảng 2.10: Kết quả hồi quy mô hình cho hai năm 2010 và 2011 97
19 Bảng 2.11: Mối quan hệ giữa tỷ lệ nợ và vay ngân hàng với tỷ lệ sinh lời của DNNVV trong năm 2010 và 2011 99
20 Bảng 3.1: Các bước chính trong mỗi giai đoạn trong chuỗi giá trị dịch vụ ngân hàng DNNVV 139
21 Bảng 3.2: Các phương pháp quản lý rủi ro cho trung tâm hỗ trợ DNNVV 142
Trang 8II DANH M ỤC HÌNH
1 Hình 1.1: Tỷ lệ trung bình các công ty coi khả năng tiếp cận nguồn vốn vay là
trở ngại chính đối với các hoạt động hiện tại 28
2 Hình 1.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Đài Loan giai đoạn 2006 - 2010 45
3 Hình 2.1: Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và một số quốc gia trong khu vực giai đoạn 2006 – 2014e 54
4 Hình 2.2: Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam và một số quốc gia trong khu vực giai đoạn 2006 – 2014e 55
5 Hình 2.3: Giá trị xuất khẩu, nhập khẩu, cán cân thương mại và dự trữ ngoại hối của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2012 56
6 Hình 2.4: Diễn biến thâm hụt ngân sách, tỷ lệ đầu tư, tiết kiệm của Việt Nam giai đoạn 2010 - 2013 57
7 Hình 2.5: Tình hình doanh nghiệp dừng hoạt động, giải thể và thành lập mới giai đoạn 2011 – 2013 58
8 Hình 2.6: Tăng trưởng doanh số bán lẻ giai đoạn 2008 - 2013 59
9 Hình 2.8: Tỷ trọng dư nợ tín dụng đối với DNNVV trên tổng dư nợ của từng ngân hàng 9 tháng 2013 76
10 Hình 2.9: Dư nợ DNNVV theo loại hình doanh nghiệp 77
11 Hình 2.10: Dư nợ DNNVV theo ngành kinh tế 77
12 Hình 2.9: Tỷ trọng các DNNVV trong mẫu phân theo ngành nghề 87
13 Hình 2.10: Tỷ trọng vốn vay ngắn hạn ngân hàng trong tổng nguồn vốn của DNNVV 88
14 Hình 2.11: Tỷ trọng vốn vay dài hạn ngân hàng trong tổng nguồn vốn của DNNVV 89
15 Hình 2.12: Tỷ trọng vốn vay ngân hàng trong tổng nguồn vốn của DNNVV 90
16 Hình 2.13: Tỷ trọng nợ trong tổng nguồn vốn của DNNVV 90
17 Hình 3.1: Mẫu điểm đánh giá cho các NHTM về chiến lược tăng trưởng tín dụng cho DNNVV và năng lực thực hiện 124
Trang 9III DANH M ỤC HỘP
1 Hộp 2.1: Các bước cơ bản trong quy trình cấp tín dụng (cho vay) 82
2 Hộp 2.2: Các biện pháp hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng SHB 84
3 Hộp 2.3: Gói sản phẩm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa của Vietinbank 84
4 Hộp 2.4: NHTMCP Đông Á 103
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ trên thế giới, các doanh nghiệp nhỏ
và vừa (DNNVV) luôn đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ Trong thời gian qua, các DNNVV Việt Nam
đã khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế quốc dân với đặc thù năng động, linh hoạt và thích ứng nhanh với những thay đổi của thị trường Phân khúc doanh nghiệp này đã có sự phát triển mạnh mẽ, chiếm tới 98% tổng số doanh nghiệp cả nước, là động lực quan trọng trong tạo việc làm, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, góp phần xóa đói, giảm nghèo ở địa phương cũng như hỗ trợ tích cực cho sự phát triển của các thành phần kinh tế khác
Đối với sự phát triển của các DNNVV, vai trò to lớn của nguồn tín dụng ngân hàng là không thể phủ nhận, nhất là khi đặc thù của nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế dựa vào tín dụng (bank-based market) Nhận thức được điều này và tiềm năng của phân khúc DNNVV, các NHTM ngày càng chú trọng đến việc tăng trưởng tín dụng dành cho đối tượng này, Tuy nhiên, do đặc trưng về quy mô và hoạt động sản xuất kinh doanh, các DNNVV vẫn thường xuyên vấp phải khó khăn trong quá trình tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng Bên cạnh đó, từ năm 2008, bắt nguồn từ những bất ổn của tình hình kinh tế thế giới nói chung cũng như những khó khăn nội
tại của nền kinh tế Việt Nam nói riêng, môi trường kinh doanh của các DNNVV Việt Nam đã phải gánh chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực Lạm phát cùng với lãi suất tăng cao, sức cầu giảm sút đã khiến một số lượng lớn các DNNVV Việt Nam lâm vào tình trạng khó khăn, phải thu hẹp sản xuất, thậm chí là ngừng hoạt động, phá sản Theo vòng xoáy đó, DNNVV lại càng khó khăn hơn trong việc tiếp cận nguồn tín dụng ngân hàng nhằm khôi phục hoạt động sản xuất bị tổn thương do tác động tiêu cực của nền kinh tế bất ổn Do sở hữu vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế, việc hỗ trợ cho DNNVV hoạt động tốt trở lại có ý nghĩa to lớn nhằm thúc đẩy kinh tế phục hồi quay lại quỹ đạo tăng trưởng ổn định Trong số những chính sách hỗ trợ cho DNNVV, chính sách về tín dụng có vai trò rất quan trọng do đặc thù của nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế dựa vào tín dụng Do đó, việc mở rộng tín
dụng đối với DNNVV trong bối cảnh kinh tế vĩ mô bất ổn có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với NHTM nói riêng Đồng thời, việc nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới cũng khiến DNNVV
Trang 11và các tổ chức cung cấp dịch vụ ngân hàng sẽ phải đối mặt với các thách thức để thích nghi bên cạnh những thời cơ và thuận lợi dưới một luật chơi chung
Xuất phát từ thực tiễn đó, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài“Tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn” làm luận án tiến sỹ của mình nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu
thực tiễn khách quan về thúc đẩy tín dụng ngân hàng cho đối tượng DNNVV Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ cung cấp cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp về phát triển tín dụng ngân hàng cho DNNVV, góp phần tạo nền tảng vững chắc cho
sự phát triển bền vững của phân khúc doanh nghiệp này tại Việt Nam trước những khó khăn của môi trường kinh doanh hiện nay
2 T ổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Đối với tính hình nghiên cứu nước ngoài
Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu về tín dụng của ngân hàng đối với hệ thống DNNVV trên nhiều khía cạnh khác nhau về các sản phẩm tín dụng, loại hình tín dụng, hiệu quả của tín dụng ngân hàng, mức độ phụ thuộc của DNNVV vào tín dụng ngân hàng… trong các điều kiện kinh tế khác nhau
Tác giả Santiago (2008) [73] đã thực hiện nghiên cứu về tín dụng ngân hàng, những khó khăn trong tiếp cận tài chính, và hoạt động đầu tư của 30,897 DNNVV tại Tây Ban Nha Trong giai đoạn từ năm 1994 đến 2008, tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại là nguồn vốn chính đối với các DNNVV tại Tây Ban Nha Kết quả nghiên cứu chỉ ra các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng sẽ phải quay sang tận dụng tín dụng thương mại để thực hiện các cơ hội đầu tư, các doanh nghiệp loại này chiếm tới 1/3 số lượng doanh nghiệp tại Tây Ban Nha Ngược lại, các doanh nghiệp khác có thể tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng dễ dàng hơn, và hỗ trợ các doanh nghiệp gặp khó khi nền kinh
tế gặp phải các cú sốc từ phía chính sách tiền tệ và các cú sốc đặc trưng của bản thân doanh nghiệp
Trong nghiên cứu về rủi ro tín dụng trong cho vay DNNVV tại Romania, tác giả Brindusa [41] đã chỉ ra hệ thống ngân hàng nhận định hệ thống DNNVV là nhóm khách hàng tiềm năng Do vậy, hệ thống ngân hàng đã triển khai việc thiết kế các sản phẩm tín dụng đặc biệt, phù hợp với nhu cầu tài chính của khu vực này Ngoài ra, hệ thống DNNVV còn được hưởng lợi từ sự hỗ trợ của hệ thống ngân hàng thông qua những sản phẩm và dịch vụ với chi phí thấp hơn so với các nguồn vốn khác Tác giả đã phân tích những rủi ro trong cho vay các DNNVV, những sản
Trang 12phẩm tín dụng cho DNNVV, các rủi ro đi kèm và chính sách quản trị rủi ro được thực thi tại thời điểm nghiên cứu và trong tương lai
Trước thực trạng các doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV, gặp phải khó khăn trước tình trạng kiệt quệ tín dụng trong thời kỳ khủng hoảng, Santiago và các cộng sự (2013) [74] đã nghiên cứu liệu tín dụng thương mại có trở thành nguồn vốn thay thể hiệu quả cho nguồn vốn vay ngân hàng hay không Sử dụng dữ liệu từ các DNNVV tại Tây Ban Nha, nhóm tác giả đã đưa ra kết luận nhóm DNNVV khó tiếp cận vốn vay ngân hàng đã tăng mức độ phụ thuộc vào tín dụng thương mại trong bối cảnh khủng hoảng tài chính Tín dụng thương mại tồn tại với chức năng là người cho vay cuối cùng đối với các doanh nghiệp này Trái lại, các DNNVV có tình hình tài chính tốt, tiếp cận được nguồn vốn vay ngân hàng, vẫn huy động nguồn vốn chủ yếu từ hệ thống ngân hàng
Quan tâm tới cấu trúc tài chính và kết quả hoạt động của các DNNVV so với các doanh nghiệp lớn, nhóm tác giả Dorothée và các cộng sự (1998) [49] đã tiến hành so sánh những đặc điểm khác biệt giữa hai nhóm doanh nghiệp này Trên cơ
sở lý thuyết và nghiên cứu các doanh nghiệp tại chín quốc gia phát triển trong giai đoạn từ năm 1990 tới 1996, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra các DNNVV tại Áo, Đức,
Bồ Đào Nha, và Nhật có tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao, và ngược lại tại Tây Ban Nha
và Mỹ Tại hầu hết các quốc gia, tầm quan trọng của khoản vay ngắn hạn là lớn hơn đối với các DNNVV hơn là các doanh nghiệp lớn, một đặc điểm phù hợp với đặc điểm là các doanh nghiệp này có nhu cầu vốn lưu động cao hơn Tiếp tục nghiên cứu về mối quan hệ giữa hiệu quả sinh lời và cấu trúc tài chính, nhóm nghiên cứu cho thấy không có mối quan hệ rõ ràng giữa tình trạng nợ với lợi nhuận của DNNVV Kết luận cho thấy các DNNVV và ngân hàng cần phải xây dựng một mối quan hệ tốt trong đó ngân hàng là chủ thể chính cung cấp vốn ngắn hạn cho hệ thống ngân hàng thông qua một số biện pháp như tăng cường thông tin của DNNVV, phát triển vai trò của bảo lãnh tín dụng…
Một nghiên cứu khác về khả năng tiếp cận tín dụng của DNNVV tại Nam Phi được thực hiện bởi Hội đồng chính sách về quản lý và dịch vụ tài chính đã phân tích vai trò của ngân hàng trong việc cấp tín dụng cho hệ thống DNNVV, khả năng tiếp cận nguồn vốn và chi phí vốn… Kết quả nghiên cứu cho thấy các ngân hàng không tập trung vào việc thiết kế các sản phẩm tín dụng phù hợp với nhu cầu của DNNVV xuất phát từ mức độ rủi ro tín dụng của nhóm khách hàng này là cao hơn
so với mức bình quân Do vậy, các DNNVV tại các quốc gia đang phát triển thường
Trang 13gặp phải những khó khăn nhật định trong việc tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng,
và phải phụ thuộc vào những nguồn tài chính phi ngân hàng khác
Tác giả Yibin Mu (2002) đã nghiên cứu về những trở ngại đối với DNNVV trong việc tiếp cận tài chính và bảo lãnh tín dụng tại Trung Quốc Hai thập kỷ trước 80s và 90s của thế kỷ trước đã chứng kiến sự phát triển đáng kể của hệ thống DNNVV Trung Quốc trên cơ sở lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp lớn về sự linh hoạt trong hoạt động kinh doanh và quản lý Tuy nhiên, quá trình cải cách doanh nghiệp đã khiến các doanh nghiệp lớn trở nên hoạt động hiệu quả
và mang tính thị trường hơn, dần dần cải thiện vị thế cạnh tranh của mình so với DNNVV Tác giả đã tổng hợp và phân tích những khó khăn đối với DNNVV trong bối cảnh đó, đặc biệt là đối với việc tiếp cận nguồn tài chính Các giải pháp
hỗ trợ hệ thống DNNVV đã thực hiện được đề cập đến như Chính phủ Trung Quốc thực hiện chương trình bảo lãnh tín dụng thông qua việc cho phép thành lập
và đi vào hoạt động của cơ quan bảo lãnh tín dụng tài trợ bởi Chính phủ, quỹ bảo lãnh tín dụng của các DNNVV, và quỹ bảo lãnh tín dụng do tư nhân làm chủ Tác giả đã chỉ ra quỹ bảo lãnh tín dụng do tư nhân làm chủ, dưới sự hỗ trợ của Chính
phủ, là công cụ quan trọng hỗ trợ DNNVV tiếp cận tín dụng khi mà các DNNVV gặp hạn chế trong việc đáp ứng điều kiện về tài sản bảo đảm, kiểm soát lãi suất, và giảm thiểu những rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của hệ thống ngân hàng Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra những quan ngại về vai trò của quỹ bảo lãnh tín
dụng do tư nhân làm chủ
2.2 Đối với tính hình nghiên cứu trong nước
Tình hình hoạt động của các DNNVV Việt Nam nói chung và nguồn vốn tín dụng dành cho đối tượng này trong điều kiện kinh tế vĩ mô tiềm ẩn nhiều yếu
tố bất ổn như hiện nay là đề tài dành được nhiều sự quan tâm trong các công trình nghiên cứu và bài báo khoa học thời gian gần đây Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng như bài báo trên mới dừng ở mức độ phân tích trên phạm vi hẹp hoặc theo một khía cạnh nhất định của hoạt động doanh nghiệp, trong đó chưa có nhiều nghiên cứu tập trung vào đầy đủ các nội dung liên quan đến vấn đề phát triển tín dụng cho các đối tượng DNNVV Trong phần này, tác giả sẽ hệ thống lại những kết quả nghiên cứu tiêu biểu về tăng trưởng tín dụng cho DNNVV cũng như các
nội dung liên quan như thực trạng, ảnh hưởng và giải pháp cho vấn đề tăng trưởng tín dụng cho DNNVV từ các nghiên cứu trong nước trong giai đoạn nền kinh tế tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn như hiện nay
Trang 14Trước hết về mặt lý luận, các nghiên cứu hầu hết đều đã tập trung khái quát các vấn đề cơ sở về DNNVV và vai trò trong hoạt động kinh tế Ở Việt Nam, DNNVV được xác định theo Điều 3, Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 Trong đó, DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (trong đó tổng nguồn vốn
là tiêu chí ưu tiên) Xét theo góc độ tiếp cận dịch vụ tài chính, Ngân hàng Thế giới đưa thêm tiêu chí về quy mô vay trung bình để xác định các DNNVV
Nguồn tài chính ổn định và dồi dào góp phần giúp các DNNVV hoạt động hiệu quả cũng là một khía cạnh được nhiều nghiên cứu tập trung phân tích Chẳng hạn, trong nghiên cứu “Cẩm nang kiến thức dịch vụ ngân hàng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ” [7] của công ty tài chính quốc tế IFC cho thấy, DNNVV là các công
ty có nhu cầu tài chính quá lớn đối với mô hình tài chính vi mô, nhưng lại quá nhỏ
để tận dụng hiệu quả các mô hình dịch vụ ngân hàng dành cho công ty Các DNNVV là một khu vực kinh tế có qui mô lớn và đóng vai trò quan trọng về mặt kinh tế tại hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới Khu vực kinh tế DNNVV đang phát triển thường được coi là dấu hiệu cho thấy toàn bộ nền kinh tế đang phát triển Mặc dù trước đây các ngân hàng từng chú trọng tới các khách hàng doanh nghiệp có mức rủi ro thấp và mang lại giá trị cao, ngày càng có nhiều người đồng ý rằng thị trường DNNVV có thể là một phân khúc thị trường mang lại lợi nhuận cho ngân hàng Đồng thời, không chỉ có các ngân hàng có qui mô nhỏ mới phục vụ thành công thị trường DNNVV, nhiều ngân hàng lớn cũng đã chuyển hướng để phục vụ thị trường DNNVV và hiện đang đóng vai trò chủ chốt trong các thị trường của họ
Trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua nhiều biến động Bối cảnh nền kinh tế vĩ mô nhiều bất ổn đã ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của các DNNVV trong nền kinh tế Trong 4 tháng đầu năm 2012, có trên 17.700 doanh nghiệp làm các thủ tục giải thể và ngừng hoạt động, tăng 9,5% so với cùng kỳ (Phước Hà, 2012) [18] Riêng quí 1 năm 2012, theo công bố của Văn phòng Chính phủ tại cuộc họp báo thường kỳ ngày 1/4/2012, số doanh nghiệp mới thành lập trên 15.300 doanh nghiệp, trong đó, có 2.200 doanh nghiệp làm thủ tục giải thể và trên 9.700 doanh nghiệp đăng ký ngừng hoạt động có thời hạn hoặc dừng thực hiện nghĩa vụ thuế, trong đó đa số là các DNNVV
Trang 15Đặc biệt, bất ổn vĩ mô đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động tín dụng cung cấp cho các doanh nghiệp nói chung và đối tượng DNNVV nói riêng Trong giai đoạn suy thoái kinh tế hiện nay, nền kinh tế lạm phát cao, với chính sách thắt chặt tiền tệ của NHNN, nổi bật là quy định hạn chế tăng trưởng tín dụng đối với các NHTM; vì vậy, các NHTM cũng đã hạn chế cho vay, khiến cho các doanh nghiệp khu vực tư nhân từ trước vốn đã rất khó tiếp cận với vốn tín dụng ngân hàng, nay càng khó khăn hơn (Nguyễn Thị Minh Huệ và Tăng Thị Thanh Phúc, 2012) [23] Không ít doanh nghiệp cho biết thủ tục vay vốn tại các ngân hàng đang quá sức đối với họ ngay cả khi có chính sách ưu đãi của Chính phủ (Tổng cục thống kê, 2012) Thạc sĩ Nguyễn Bích Ngọc (Viện Chiến lược và Chính sách tài chính) cho biết ngoài các lý do khiến các DNNVV không được hưởng các hỗ trợ tài chính tín dụng (do không có tài sản bảo đảm, không có phương án, dự án sản xuất kinh doanh khả thi, hồ sơ vay vốn không hợp lệ ) thì có tới 48% số DNNVV bị ngân hàng từ chối cho vay vốn mà không rõ lý do Theo Báo cáo về tình hình doanh nghiệp và kiến nghị (khảo sát từ ngày 1-4-2012 đến 20-4-2012) có khoảng 50% doanh nghiệp đang vay vốn với mức lãi suất trên 18%, trong khi mức lãi suất vay mà đa số họ (khoảng 75% số doanh nghiệp) có thể chịu đựng được là 15% và mức lãi suất vay
mà họ cho là hợp lý là khoảng 13%-14% (VCCI, 2012) [28]
Nền kinh tế phục hồi chắc chắn sẽ đòi hỏi một hệ thống DNNVV hoạt động hiệu quả, vì vậy cải thiện dịch vụ tín dụng cho đối tượng này là một yêu cầu cấp thiết Trong nghiên cứu “Giải pháp nào cho các doanh nghiệp khu vực tư nhân ở Việt Nam trong thời kỳ suy thoái kinh tế - góc nhìn từ nguồn vốn tín dụng ngân hàng”, hai tác giả Nguyễn Thị Minh Huệ và Tăng Thị Thanh Phúc [23] đã đề xuất một số các giải pháp đến từ nhiều bên liên quan bao gồm ngân hàng, doanh nghiệp và chính phủ:
Đối với ngân hàng, các TCTD cần đa dạng hoá các hình thức tiếp xúc (tiếp xúc trực tiếp, tiếp xúc gián tiếp và tiếp xúc qua trung gian) nhằm tăng khả năng khai thác thông tin của các doanh nghiệp khu vực tư nhân Trong các hình thức này, tiếp xúc trực tiếp đóng vai trò quan trọng nhất trong việc ảnh hưởng đến các quyết định cho vay Ngoài ra, cần chú trọng thực hiện chính sách hỗ trợ khách hàng của ngân hàng sau cho vay, điều này vừa giúp cho các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt các doanh nghiệp còn yếu kém trong khâu quản trị tài chính, khai thác thị trường đồng
thời giúp khả năng bảo toàn được vốn kinh doanh của ngân hàng rất lớn
V ề phía doanh nghiệp, vấn đề trước hết là việc tuân thủ nghiêm túc chế độ
lập tài chính vừa giúp cho doanh nghiệp kiểm soát được thông tin vừa lấy lại uy
Trang 16tín của doanh nghiệp đối với ngân hàng Ngoài ra, để nâng cao năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp, cần chú trọng các liên kết kinh tế, tận dụng lợi thế từ liên kết trong kinh doanh, đồng thời cũng cần tạo cơ chế chính sách sáp nhập, mua bán doanh nghiệp một cách thuận lợi
V ề phía Nhà nước, hiện nay, để hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp nhỏ
và vừa, Nhà nước đã ban hành Quy chế bảo lãnh vay vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các ngân hàng thương mại, nhưng đối tượng vay vốn cũng chỉ hạn hẹp đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa (Quyết định 03/2011/QĐ-TTg) [21] Nên chăng, cũng cần mở rộng đối với cả các doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ để dần hỗ trợ và phát triển thành các loại hình doanh nghiệp có quy mô lớn hơn
Trên một cách tiếp cận khác, Báo cáo về tình hình doanh nghiệp và kiến nghị của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI, 2012) [28] đã đề xuất một loạt các giải pháp trong đó các giải pháp tập trung vào tiền tệ và tín dụng cho DNNVV Cụ thể, báo cáo khuyến nghị:
(1) Tiếp tục lộ trình giảm lãi suất một cách tích cực để giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp, đây là cơ sở để NHNN tiếp tục giảm lãi suất trong khi vẫn bảo đảm cho người gửi tiền có lãi suất thực dương và lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát
(2) Mở rộng nguồn vốn ưu đãi từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam và các NHTM Nhà nước nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp đầu tư hiện đại hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh trong các ngành nghề và lĩnh vực trọng điểm
(3) Triển khai mô hình cho vay tín chấp đối với doanh nghiệp cực nhỏ (dưới
10 lao động) có kế hoạch kinh doanh khả thi và có các tiêu chí định mức tín nhiệm tin cậy với sự hợp tác của các hiệp hội Mở rộng hình thức cho vay thế chấp bằng sản phẩm của các doanh nghiệp
(4) Rà xét, đánh giá để có biện pháp mở rộng phạm vi và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV của Ngân hàng phát triển Việt Nam và của các quỹ bảo lãnh tín dụng ở các địa phương
Tóm lại, qua những phân tích trên đây chúng ta có thể thấy được những nghiên cứu trong nước chưa xuất hiện một nghiên cứu tổng thể có tính chất bao quát về thực trạng nguồn vốn tín dụng dành cho đối tượng DNNVV trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn Điều này đòi hỏi có những nghiên cứu mang tính hệ thống hóa cao và tập trung chuyên sâu vào các vấn đề liên quan đến tín dụng dành cho DNNVV trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, đi từ thực trạng, ảnh
Trang 17hưởng, kinh nghiệm quốc tế cho đến những giải pháp cụ thể gắn liền với quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và hỗ trợ phát triển DNNVV trong điều kiện kinh tế
vĩ mô bất ổn như hiện nay
3 M ục tiêu nghiên cứu
3.1 V ề khía cạnh lý luận
- Làm rõ cơ sở lý luận về tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với DNNVV trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn Theo đó, nhấn mạnh vai trò của tín dụng ngân hàng đối với DNNVV, phân tích sự cần thiết phải mở rộng hoạt động này trong nền kinh tế khó khăn cũng như các yếu tố ảnh hưởng và một số chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng tín dụng ngân hàng cho DNNVV
- Đúc kết những bài học phù hợp nhất cho việc tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với DNNVV Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia Đài Loan, Hàn Quốc và Ireland, đặc biệt khi các quốc gia này ở trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn
3.2 Về khía cạnh thực tiễn
- Phân tích tác động của kinh tế vĩ mô bất ổn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNVV Việt Nam, các chính sách của chính phủ về tăng trưởng tín
dụng ngân hàng đối với DNNVV trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn
- Nghiên cứu định tính, định lượng và đánh giá thực trạng tăng trưởng tín dụng đối với DNNVV trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn tại Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy tín dụng ngân hàng dành cho DNNVV Việt Nam trong điều kiện kinh tễ vĩ mô mất ổn định
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu về tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với DNNVV trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn
Trang 18Đồng thời luận án đề xuất định hướng và giải pháp tăng trưởng tín dụng ngân hàng đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài phương pháp triết học biện chứng và duy vật lịch sử thường được áp dụng trong các công trình nghiên cứu nói chung, nghiên cứu sinh sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê để xử lý số liệu, kết hợp với đồ thị, bảng, biểu minh họa để làm tăng tính trực quan cho công trình
Để làm tăng tính thuyết phục cho các nhận định, nghiên cứu sinh đã đưa vào nghiên cứu của mình một số mô hình kinh tế lượng Cụ thể, để minh chứng cho khả năng tăng trưởng tín dụng đối với DNNVV, đề tài sử dụng mô hình kinh tế lượng nghiên cứu về tăng trưởng tín dụng gắn với những đặc điểm của đối tượng DNNVV Nhằm kiểm tra các giả thuyết về vốn tín dụng ngân hàng cho các DNNVV, tác giả xây dựng mô hình hồi quy giữa các biến phụ thuộc là mức độ vốn vay ngân hàng Các biến độc lập tác động tới tỷ trọng vốn vay ngân hàng của DNNVV trong mẫu bao gồm quy mô, khả năng sinh lời, tỷ lệ tài sản cố định hữu hình, tính thanh khoản,
tấm chắn thuế phi nợ, và các biến giả đại diện cho ngành nghề kinh doanh
6 Nh ững đóng góp mới của luận án
Trước hết, luận án đã làm rõ cơ sở khoa học về DNNVV và tín dụng ngân hàng dành cho các doanh nghiệp này Thông qua việc phân tích kỹ các cuộc khủng
hoảng trên thế giới, luận án đã đưa ra dấu hiệu của một nền kinh tế vĩ mô bất ổn, từ
đó gắn việc tăng trưởng tín dụng đối với DNNVV vào bối cảnh này Đồng thời, luận án đã nghiên cứu kinh nghiệm của Đài Loan, Hàn Quốc và Ireland về tăng trưởng tín dụng ngân hàng cho DNNVV khi các nước này cũng phải đối mặt với tình trạng kinh tế vĩ mô bất ổn nhằm rút ra một số bài học kinh nghiệm cho các NHTM và cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động ngân hàng của Việt Nam
Thông qua những phân tích thực tiễn, tác giả đã tập trung đánh giá một cách tổng thể thực trạng tăng trưởng tín dụng đối với đối tượng DNNVV trong thời gian qua theo nhiều cách tiếp cận, bao gồm cách tiếp cận định tính và định lượng Nghiên cứu định lượng về khả năng tăng trưởng tín dụng cho DNNVV Việt Nam khi nền kinh tế mất ổn định được sử dụng làm cơ sở để đưa ra những giải pháp phù hợp nhất với điều kiện hiện tại của Việt Nam Kết quả nghiên cứu về mặt định lượng cho thấy
hệ thống DNNVV phải đối mặt với rủi ro tài chính khá lớn trong bối cảnh kinh tế vĩ
mô bất ổn, khi lợi nhuận tạo ra giảm sút trong khi chi phí lãi vay tăng cao
Trang 19Trên cơ sở định hướng phát triển DNNVV tại Việt Nam, định hướng tăng trưởng tín dụng đối với DNNVV từ phía NHNN cũng như từ phía các NHTM và những tồn tại đã được chỉ ra, luận án đã xây dựng một hệ thống các giải pháp được chia thành hai nhóm: (i) Nhóm giải pháp mang tính chiến lược và (ii) Nhóm giải pháp
cụ thể cho việc tăng trưởng tín dụng cho DNNVV trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất
ổn Đây là hướng tiếp cận tương đối mới và gắn liền với thực tiễn của luận án
7 K ết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành ba chương:
- Chương 1: Luận cứ khoa học về tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với doanh nghi ệp nhỏ và vừa trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn
- Chương 2: Thực trạng tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn
- Chương 3: Giải pháp về tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với doanh nghi ệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn
Trang 20Chương 1 LUẬN CỨ KHOA HỌC VỀ TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG ĐIỀU KIỆN
KINH TẾ VĨ MÔ BẤT ỔN
1.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa và vai trò của nó trong nền kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Mặc dù nhiều người đồng ý rằng thị trường DNNVV có quy mô và tầm quan trọng đáng kể, tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều định nghĩa và cách phân loại khác nhau về thị trường này
Theo tiêu chí phân loại của Ngân hàng thế giới (World Bank), căn cứ vào quy mô có thể chia DNNVV thành ba loại: doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa Các tiêu chí để phân loại DNNVV của World Bank chủ yếu dựa vào số lượng lao động bình quân, tài sản và doanh thu hàng năm của doanh nghiệp Ngoài ra World Bank còn đưa thêm tiêu chí về quy mô vay trung bình để phân loại DNNVV (Bảng 1.1)
B ảng 1.1: Tiêu chí phân loại DNNVV của World Bank
Siêu nh ỏ <10 < $100,000 < $100,000
Quy mô vay trung bình
Siêu nh ỏ < $10,000
V ừa < $1 triệu (< $2 triệu đối với một số quốc gia tiên tiến)
Nguồn: Tổng hợp từ World Bank
Ngoài ra, tại mỗi quốc gia có nền kinh khác nhau, theo từng giai đoạn phát triển kinh tế thì quan niệm về DNNVV cũng khác nhau Chẳng hạn tại các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu, DNNVV là những doanh nghiệp có số lượng nhân viên dưới 250 người và doanh thu hàng năm là nhỏ hơn 50 triệu euro Còn tại Châu
Mĩ, cụ thể là nước Mĩ thì DNNVV là những doanh nghiệp có số lượng người lao động dưới 500 người (cho phần lớn hoạt động sản xuất và khai thác) và có doanh thu hàng năm là dưới 7 triệu đô la đối với đa số các ngành không liên quan tới sản xuất (dao động tới mức tối đa là 35.5 triệu đô la)
Trang 21Tại Châu Á, các DNNVV tại HongKong được phân loại theo ngành sản xuất
và số lượng nhân viên Theo đó, các DNNVV trong các ngành sản xuất có số nhân viên dưới 100 người và ngành phi sản xuất có số nhân viên dưới 50 người Bên cạnh đó, từ góc độ là bên cung cấp dịch vụ, các ngân hàng tại HongKong còn đưa ra việc phân loại dựa vào các tiêu chí như doanh thu hàng năm, mức độ tập trung tư bản, năng lực tín dụng (Kỉ yếu Hội thảo, 2006 “Tăng cường hỗ trợ và hợp tác vì
sự phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ APEC”)
B ảng 1.2: Tiêu chí phân loại DNNVV tại một số quốc gia
Nhân viên (người) Doanh thu hàng năm
Châu Mĩ
Hoa K ỳ <500 (cho phvà khai thác) ần lớn hoạt động sản xuất <7 triệu USD (đối với đa số các ngành không liên quan t ới sản xuất,
m ức tối đa là 35,5 triệu đô la)
Mexico <500 trong hoạt động sản xuất
<50 trong ho ạt động dịch vụ
Châu Phi
Châu Á
Thái Lan <200 (ngành sử dụng nhiều lao động)
<100 (ngành s ử dụng nhiều vốn) <200 triệu Bạt HongKong <100 (ngành sản xuất)
< 50 (ngành phi sản xuất)
Nguồn: IFC, 2009 [7]
Tại Thái Lan, việc phân loại các doanh nghiệp được đưa ra một cách chi tiết
và cụ thể hơn với sự tách biệt rõ ràng giữa các doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ Các thông số quan trọng được sử dụng là số lượng nhân công, tài sản cố định và ngành hàng kinh doanh Theo đó, các doanh nghiệp nhỏ thuộc ngành sản xuất có số lượng công nhân dưới 50 người, tài sản dưới 50 triệu bạt, các doanh nghiệp vừa thì có
số lượng công nhân từ 51-200 người và tài sản từ 50- 200 triệu bạt; đối với lĩnh vực bán buôn thì doanh nghiệp nhỏ có số lượng công nhân dưới 25 người, tài sản dưới 50 triệu bạt, doanh nghiệp vừa có số lượng công nhân từ 26-50 người và tài sản từ 50-
200 triệu bạt
Từ các tiêu chí phân loại DNNVV của World Bank và ở một số quốc gia trên thế giới, chúng ta thấy rằng DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu Tùy thuộc vào hoàn cảnh kinh tế của mỗi quốc gia thì việc áp dụng các tiêu chí để xác định DNNVV có khác nhau Tuy nhiên,
Trang 22phần lớn khi xác định DNNVV, các quốc gia đã dựa chủ yếu vào các tiêu chí sau:
Số lượng lao động thường xuyên; Số lượng vốn góp; Doanh thu hàng năm; Đặc điểm ngành nghề kinh doanh Đây là các tiêu chí cơ bản để xác định DNNVV tại mỗi quốc gia và cũng là những tiêu chí có tính định hướng để luận án làm rõ các tiêu chí cụ thể khi xác định DNNVV ở Việt Nam
Trong phạm vi của luận án, tác giả sử dụng định nghĩa DNNVV trong Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ làm cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu đề tài Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ về việc trợ giúp phát triển DNNVV Việt Nam, DNNVV lại được định nghĩa:
“DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp; siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn
v ốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghi ệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)
B ảng 1.3: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp
Doanh nghi ệp siêu nh ỏ Doanh nghi ệp nhỏ Doanh nghi ệp vừa
Số lao động Tổng
nguồn vốn Số lao động
Tổng nguồn vốn Số lao động
I- Nông, lâm
nghiệp và
thu ỷ sản
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
200 người
Từ trên 20 tỷ đồng đến 100
t ỷ đồng
Từ trên 200 người đến 300 người
II- Công
nghi ệp và
xây d ựng
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
200 người
Từ trên 20 tỷ đồng đến 100
t ỷ đồng
Từ trên 200 người đến 300 người
III- Thương
m ại và dịch
v ụ
10 người trở xuống
10 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến 50 người
Từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng
Từ trên 50 người đến 100 người
Nguồn: Tổng hợp từ Nghị định số 56/2009/NĐ-CP
Theo Nghị định trên, DNNVV phải đáp ứng các tiêu chí sau:
- Về mặt pháp lý: phải là cơ sở kinh doanh đã kinh doanh theo quy định của pháp luật
- Về quy mô: được phân thành 3 cấp : siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn
- Về vốn đăng ký: phụ thuộc vào quy mô và loại hình doanh nghiệp
- Về số lượng lao động trung bình hàng năm: phụ thuộc vào quy mô và loại hình doanh nghiệp
Trang 231.1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ngoài những đặc trưng vốn có của một doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, DNNVV còn có những đặc điểm riêng biệt xuất phát từ tính chất hoạt động như sau:
Th ứ nhất, doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh và ti ềm lực tài chính nhỏ
Với lượng vốn đầu tư giới hạn và số lượng lao động tối đa là 300 người thì quy mô của doanh nghiệp là tương đối nhỏ Điều này mang lại một số lợi thế cho DNNVV như khả năng dễ thành lập, dễ gia nhập thị trường, khả năng thu hồi vốn nhanh Những lợi thế này đã tạo điều kiện cho các DNNVV phát triển trong nhiều ngành nghề, trên nhiều địa bàn, lấp vào các khoảng trống mà các doanh nghiệp lớn để lại
Tuy nhiên, do quy mô vốn nhỏ nên DNNVV bị hạn chế trong khả năng tiến hành đầu tư vào mặt bằng, nhà xưởng, máy móc thiết bị và nguyên vật liệu Các DNNVV thường không đạt được lợi thế về quy mô như các doanh nghiệp lớn Hơn nữa, quy mô nhỏ và vấn đề minh bạch thông tin hạn chế cũng khiến cho các doanh nghiệp khó khăn trong việc tiếp cận với các nhà đầu tư để huy động vốn từ các ngân hàng cũng như từ thị trường chứng khoán Vì vậy, các DNNVV phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn phi chính thức, chiếm dụng từ đối tác và lợi nhuận giữ lại Đối với các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng, nguồn tài trợ này cũng không phải lúc nào cũng đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp do hạn chế
về thủ tục vay vốn đối với ngân hàng, phương án sản xuất kinh doanh chưa hoàn thiện, tài sản bảo đảm chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn của ngân hàng…
Th ứ hai, loại hình doanh nghiệp và ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh phong phú
DNNVV hoạt động dưới nhiều loại hình doanh nghiệp như hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần… trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau Nhờ quy mô nhỏ, có khả năng
tập dụng được nguồn lao động và nguyên vật liệu tại trong địa phương, dễ dàng đáp ứng được những thay đổi trong nhu cầu của thị trường nên DNNVV phát triển nhanh chóng, là nhân tố đóng góp vào ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
Th ứ ba, chiến lược sản xuất kinh doanh, trình độ khoa học kỹ thuật và năng
l ực cạnh tranh hạn chế
Trang 24Nhiều DNNVV thiếu một chiến lược kinh doanh rõ ràng, phù hợp với sứ mệnh, mục tiêu của doanh nghiệp mà đa phần chỉ xây dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh mang tính tạm thời, ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu biến động của thị trường Do đó, DNNVV thường có xu hướng đi chệnh ra sức mệnh và mục tiêu đề
ra ban đầu và thiếu sự điều chỉnh kịp thời và hợp lý
Trong thời đại khoa học kỹ thuật thay đổi nhanh chóng, đầu tư vào khoa học
kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tiết kiệm chi phí trở thành điều kiện cốt lõi để giúp bất kỳ một doanh nghiệp nào nâng cao năng lực cạnh tranh Đối với DNNVV, do quy mô vốn bị hạn chế nên việc đầu tư nâng cấp, đổi mới các máy móc thiết bị, quy trình sản xuất thường không được thường xuyên nên dẫn tới xu hướng rơi vào tình trạng công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý yếu kém Hệ quả là các DNNVV thường sử dụng công nghệ lạc hậu, chi phí sản xuất cao, thiếu kinh nghiệm và trình độ trong nắm bắt thông tin thị trường cũng như marketing sản phẩm, dịch vụ
Th ứ tư, hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa phụ thuộc vào biến động
c ủa môi trường kinh doanh
Quy mô vốn thấp, hoạt động sản xuất kinh doanh mang nặng tính thời vụ, thiếu chiến lược kinh doanh dài hạn, nguồn vốn thiếu đa dạng dẫn đến mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh và tính ổn định của DNNVV tương đối thấp Chính
vì vậy, những thay đổi trong môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường kinh doanh thường có những ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của DNNVV Tuy vậy, với quy
mô nhỏ, DNNVV cũng có những lợi thế nhất định khi dễ dàng chuyển hướng kinh doanh sản xuất, tăng giảm lao động, thậm chí di chuyển địa điểm sản xuất dễ dàng hơn các doanh nghiệp lớn
Th ứ năm, bộ máy điều hành gọn nhẹ, có tính linh hoạt cao những năng lực
qu ản trị chưa cao
Với số lượng lao động không nhiều, cơ cấu tổ chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý trong các DNNVV tương đối gọn, không có quá nhiều các khâu trung gian Điều này làm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; các quyết định, các chỉ tiêu đến với người lao động một cách nhanh chóng, tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp Áp dụng mô hình quản lý trực tiếp nên các quyết định thường đựa được đưa
ra nhanh chóng, nhạy bén với những thay đổi trong môi trường kinh doanh
Tuy nhiên, việc đưa ra các quyết định nhanh chóng kết hợp với việc thiếu nghiên cứu tình hình thị trường thường dẫn tới rủi ro cho doanh nghiệp khi các
Trang 25quyết định đưa ra thiếu tính chuẩn xác Đây là hạn chế xuất phát từ thực tế một bộ phận ban lãnh đạo DNNVV ít được đào tạo qua các trường lớp chính quy, thiếu
những kiến thức cơ bản về tài chính, luật pháp, quản trị kinh doanh…
1.1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với nền kinh tế
DNNVV có vai trò rất lớn trong quá trình tăng trưởng kinh tế của nhiều quốc gia hay các vùng miền, kể cả ở các quốc gia phát triển và đang phát triển Các DNNVV hoạt động trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân từ sản xuất công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ… đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của người tiêu dùng Ở những nền kinh tế có đặc điểm phát triển khác nhau vai trò của DNNVV được thể hiện ở các mức độ khác nhau Nhưng thực tế cho thấy tầm quan trọng của DNNVV ngày càng lớn khi mà phạm vi hoạt động ngày càng mở rộng thể hiện thông qua số lượng doanh nghiệp, hoạt động có mặt ở nhiều ngành nghề, lĩnh vực và tồn tại như một bộ phận không thể thiếu của nền kinh
tế mỗi quốc gia
Th ứ nhất, doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần giảm thất nghiệp Do các DNNVV tham gia kinh doanh ở tất cả các
ngành nghề, lĩnh vực của nền kinh tế với đa dạng các sản phẩm nên có thể đảm bảo
cơ hội việc làm cho nhiều đối tượng lao động ở nhiều cùng miền khác nhau Mặt khác, do đặc điểm sản xuất kinh doanh không yêu cầu trình độ cao nên có thể sử dụng được cả lao động ở các vùng sâu, vùng xa, vùng chưa kinh tế chưa phát triển Đặc biệt khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, trong khi các doanh nghiệp lớn thường phải sa thải nhân công để cắt giảm chi phí thì các DNNVV, với tính chất linh hoạt và năng động của mình, có thể thích ứng nhanh với sự biến động của thị trường, có thể đứng vững mà không phải cắt giảm nhân công, hoặc có thể nhanh chóng thu hút lại lực lượng lao động khi nền kinh tế đi vào chu kỳ phục hồi
Th ứ hai, doanh nghiệp nhỏ và vừa giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định
và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ở hầu hết các nền kinh tế, các DNNVV là những
nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định Vì vậy, DNNVV được xem như thanh giảm sốc cho nền kinh tế trước những biến động lớn Với lợi thế về vốn đầu
tư ít và nguồn lao động dồi dào, trong những năm qua, DNNVV phát triển ngày càng nhanh và chiếm tỉ trọng ngày càng lớn trong tổng số doanh nghiệp DNNVV cung cấp cho thị trường nhiều mặt hàng phong phú, đa dạng ở tất cả các lĩnh vực
Trang 26của nền kinh tế, tạo ra nhiều sự lựa chọn, đáp ứng được mọi nhu cầu của người tiêu dùng, từ đó thúc đẩy sức tiêu thụ của nền kinh tế Vì thế mức độ đóng góp của các DNNVV vào tổng sản lượng của nền kinh tế là rất lớn
Th ứ ba, doanh nghiệp nhỏ và vừa khai thác và phát huy các nguồn lực địa phương, góp phần chuyền dịch cơ cấu kinh tế Trong nền kinh tế bao giờ cũng có
những vùng sâu, vùng xa, là những vùng kém phát triển, có điều kiện tự nhiên không thuận lợi hoặc cơ sở hạ tầng chưa phát triển Nếu nền kinh tế chỉ tồn tại các doanh nghiệp lớn có xu hướng tập trung ở các thành phố, thị xã, các khu công nghiệp mà thiếu đi các doanh nghiệp nhỏ thì sẽ xảy ra tình trạng phát triển mất cân đối giữa các vùng miền, không tận dụng hết nguồn tài nguyên quốc gia, làm giảm hiệu quả hoạt động của nền kinh tế Trong khi đó, với quy mô vốn đầu tư nhỏ, bộ máy tổ chức gọn nhẹ, dễ khởi sự, các DNNVV có thể tham gia vào nhiều thị trường nhằm khai thác tiềm năng và thế mạnh về đất đai, tài nguyên và lao động của từng vùng, đặc biệt là các ngành nông – lâm – hải sản và ngành công nghiệp chế biến DNNVV cũng chính là chủ thể tác động tích cực nhất vào việc duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống như mây tre đan, gốm sứ, dệt Vì vậy, có thể nói DNNVV đóng vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông thôn góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn, đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại dịch vụ, tiểu thương phát triển góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Th ứ tư, doanh nghiệp nhỏ và vừa thúc đẩy nền kinh tế năng động Một nền
kinh tế đặt tỉ lệ quá lớn nguồn lực tài nguyên và lao động vào các doanh nghiệp lớn thì nền kinh tế sẽ chậm chạp do quy mô lớn dẫn tới bộ máy quản lý cồng kềnh với các quyết định kinh doanh chậm chạp Ngược lại, với một tỉ lệ thích hợp các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, dễ điều chỉnh hoạt động, nền kinh tế sẽ trở nên năng động, linh hoạt hơn, thích nghi được với những biến động thị trường bắt kịp xu hướng của nền kinh tế thế giới
1.1.2 Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trang 27Trong các hoạt động ngân hàng, cấp tín dụng là giao dịch tài sản giữa ngân hàng với bên đi vay (tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế), trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán Tài sản giao dịch trong hình thức cấp tín dụng chủ yếu dưới dạng tiền tệ Trong một số hình thức tín dụng như cho thuê tài chính thì tài sản trong giao dịch có thể là tài sản khác như tài sản cố định
Theo Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được Quốc hội Việt Nam ban hành ngày 29/6/2010, hoạt động cấp tín dụng được thực hiện thông qua các nghiệp vụ: cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác (mục 14, Điều 4, Chương 1)
Như vậy, tín dụng ngân hàng đối với DNNVV có thể được hiểu là việc thỏa thu ận giữa ngân hàng và DNNVV, theo đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho DNNVV s ử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, b ảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác
Nguồn tiền dùng để ngân hàng cấp tín dụng cho DNNVV đến từ hai nguồn
gồm: vốn tự có của ngân hàng và nhận tiền gửi của khách hàng Cụ thể:
- Vốn tự có gồm giá trị thực của vốn điều lệ của tổ chức tín dụng hoặc vốn được cấp của chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các quỹ dự trữ, một số tài sản nợ khác theo quy định của NHNN Việt Nam
- Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi,
kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy
đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận
1.1.2.2 Các phương thức tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Căn cứ vào hình thức cấp tín dụng
a Cho vay:
Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng giao hoặc cam kết giao cho DNNVV một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi
Các hình thức thường thấy trong hoạt động cho vay của ngân hàng đối với DNNVV bao gồm:
Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay phục vụ những khách hàng
là DNNVV có nhu cầu không thường xuyên, phát sinh từng lần riêng lẻ Mỗi khoản
Trang 28vay được lưu trữ thành các hồ sơ độc lập với sự kiểm soát tách biệt từng hồ sơ
Cho vay theo hạn mức: là hình thức cho vay theo đó ngân hàng kí một hợp
đồng hạn mức tín dụng với DNNVV trong đó quy định những điều kiện cho vay cơ bản như số tiền hạn mức, doanh số cho vay, lãi suất, thời gian cho vay tối đa cho từng lần giải ngân, thời gian duy trì hạn mức DNNVV chỉ cần trình phương án sử dụng tiền vay, cung cấp các chứng từ chứng minh phù hợp để đề nghị được ngân hàng giải ngân
Cho vay thấu chi: là hình thức cho vay theo đó ngân hàng cho phép người
vay chi vượt quá số dư tài khoản tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định (hạn mức thấu chi)
Cho vay gián tiếp: là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian
Các tổ chức này có thể nhận vài khâu của hoạt động cho vay từ ngân hàng hoặc đứng ra bảo lãnh cho các thành viên vay vốn Hình thức cho vay này thường áp dụng với những món vay nhỏ, người vay phân tán hoặc cách xa ngân hàng
b Chiết khấu:
Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán
c Tái chiết khấu:
Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán
d Bảo lãnh ngân hàng:
Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng theo thỏa thuận
e Bao thanh toán:
Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo theo hợp đồng mua, bán bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
f Cho thuê tài chính:
Là việc ngân hàng xuất tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê theo những thỏa thuận của hợp đồng cho thuê Sau thời gian nhất định, khách hàng phải trả đủ
Trang 29gốc và lãi cho ngân hàng Đây là phương thức vay tài sản thông qua hợp đồng cho thuê, kèm theo lời hứa đơn phương bán cho người thuê một giá nhất định sau thời hạn cho thuê (có tính đến số tiền thuê đã trả)
- Căn cứ vào thời hạn tín dụng
a Tín dụng ngắn hạn
Tín dụng ngắn hạn là các khoản cho vay có thời hạn không quá 12 tháng nhằm đáp ứng các nhu cầu về vốn ngắn hạn như bổ sung ngân quỹ, đảm bảo yêu cầu thanh toán đến hạn, bổ sung nhu cầu vốn lưu động cho sản xuất, kinh doanh hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân Căn cứ vào tính chất của việc cấp vốn và phương pháp cho vay của ngân hàng, các hình thức cụ thể của cho vay ngắn hạn bao gồm: chiết khấu chứng từ có giá, cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, thấu chi, bao thanh toán…
b Tín dụng trung và dài hạn
Tín dụng trung - dài hạn có thời hạn cho trên 12 tháng, tín dụng trung hạn có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng, tín dụng dài hạn có thời hạn trên 60 tháng Tín dụng trung - dài hạn cho doanh nghiệp chủ yếu phục vụ cho việc thực hiện các dự án đổi mới, mở rộng sản xuất - kinh doanh và đầu tư xây dựng cơ bản mới Vì thời hạn dài nên loại tín dụng này chứa đựng mức rủi ro cao, kể cả rủi ro cá biệt và rủi ro hệ thống Các hình thức cho vay trung - dài hạn bao gồm: cho vay theo dự án đầu tư, cho vay hợp vốn, cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, cho thuê tài chính…
- Căn cứ vào đảm bảo tín dụng
Căn cứ vào đảm bảo tín dụng, các khoản vay của DNNVV bao gồm: tín dụng có đảm bảo và tín dụng không có đảm bảo
a Cho vay có đảm bảo
Là việc khách hàng dùng tài sản bảo đảm của mình hoặc bên thứ ba làm bảo đảm cho nghĩa vụ vay vốn ở ngân hàng Cho vay có đảm bảo gồm các hình thức cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh bằng tài sản của người thứ ba
Đối với các DNNVV, cầm cố - thế chấp là các hình thức tương đối dễ áp dụng trên thực tế và được các DNNVV sử dụng thường xuyên Đây cũng là giải pháp đầu tiên của DNNVV đề cập tới khi nhu cầu về vốn nảy sinh
b Cho vay không có bảo đảm
Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các tổ chức trung gian như thu nợ, phát tiền vay… Tổ chức trung gian cũng có thể đứng ra tín chấp cho các thành viên vay, hoặc các thành viên trong nhóm bảo lãnh cho thành
Trang 30viên vay, nhất là trong trường hợp không có hoặc không đủ tài sản thế chấp (Tô Ngọc Hưng & Nguyễn Kim Anh, 2011) [13]
1.1.2.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất
Vai trò quan trọng nhất của tín dụng ngân hàng là cung ứng vốn một cách kịp thời cho các nhu cầu sản xuất kinh doanh của các DNNVV Trong quá trình sản xuất kinh doanh, một doanh nghiệp duy trì được hoạt động liên tục đòi hỏi vốn của doanh nghiệp phải đồng thời ở cả ba giai đoạn: dự trữ, sản xuất và lưu thông Hiện tượng thừa, thiếu vốn tạm thời luôn xảy ra ở các doanh nghiệp, khi đó tín dụng đã góp phần điều tiết các nguồn vốn nhằm tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp không bị gián đoạn Nhờ đó mà các doanh nghiệp có thể đẩy nhanh tốc độ sản xuất cũng như tốc độ tiêu thụ sản phẩm
- Giúp DNNVV nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Muốn tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng đòi hỏi DNNVV phải xây dựng được phương án sản xuất kinh doanh khả thi, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động, đem lại lợi nhuận để thực hiện tốt các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, đảm bảo hoàn trả gốc và lãi đúng hạn Do vậy, tín dụng ngân hàng thúc đẩy doanh nghiệp phải tìm cách sử dụng vốn có hiệu quả, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới trả được nợ và kinh doanh có lãi Trong quá trình cho vay ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi giải ngân buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả
- Tín dụng ngân hàng giúp hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho DNNVV
Nguồn vốn vay chính là công cụ đòn bẩy để doanh nghiệp tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ do hạn chế về vốn nên việc
sử dụng vốn tự có để sản xuất là khó khăn vì nguồn vốn hạn chế Nếu chỉ sử dụng nguồn vốn này thì giá vốn sẽ cao, sản phẩm khó được thị trường chấp nhận, hơn
nữa khó có khả năng đầu tư mở rộng sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm Do vậy, để có một cơ cấu vốn hiệu quả, kết cấu hợp lý là nguồn vốn tự có và vốn vay nhằm tối đa hoá lợi nhuận tại mức giá vốn bình quân rẻ nhất
- Tín d ụng ngân hàng góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả năng
c ạnh tranh của các DNNVV
Cạnh tranh là quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, muốn tồn tại và đứng vững đòi hỏi các doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh Đặc biệt đối với các DNNVV, do có một số hạn chế nhất định, việc chiếm lĩnh ưu thế trong cạnh
Trang 31tranh trước các doanh nghiệp lớn trong nước và nước ngoài là một vấn đề khó khăn
Xu hướng hiện nay của các doanh nghiệp này là tăng cường liên doanh, liên kết, tập trung vốn đầu tư và mở rộng sản xuất, trang bị kỹ thuật hiện đại để tăng sức cạnh tranh Tuy nhiên để có một lượng vốn đủ lớn đầu tư cho sự phát triển trong khi vốn
tự có lại hạn hẹp, khả năng tích luỹ thấp thì phải mất nhiều năm mới thực hiện được Và khi đó cơ hội đầu tư phát triển không còn nữa Như vậy để có thể đáp ứng kịp thời, tìm đến nguồn tín dụng ngân hàng là một điều phù hợp
1.2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VĨ MÔ BẤT ỔN
1.2.1 Cơ sở luận về nền kinh tế vĩ mô bất ổn
Các nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế vĩ mô thường không đưa ra định nghĩa chính xác cho khái niệm thế nào là một nền kinh tế vĩ mô bất ổn Các nhà nghiên
cứu khi sử dụng cụm từ kinh tế vĩ mô bất ổn thường nhằm mục đích miêu tả một môi trường kinh tế vĩ mô thiếu ổn định thể hiện qua các biến số cơ bản nhất đó là: lạm phát, chỉ số tăng trưởng, chi ngân sách…
Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy mối quan hệ giữa cân đối kinh
tế vĩ mô và tăng trưởng Các nghiên cứu này đều cho rằng ổn định vĩ mô là điều kiện cần cho tăng trưởng bền vững Cụ thể, một nền kinh tế bao gồm hai nhóm: cân
đối vĩ mô là cân đối bên trong (cân đối nội – internal balance) và cân đối bên ngoài
(cân đối ngoại – external balance)
Một nền kinh tế được gọi là có sự cân đối nội khi sản lượng thực của nền kinh tế đó đạt mức hoặc là gần đạt mức sản lượng tiềm năng đi kèm với lạm phát
thấp và không có xu hướng tăng Trong khi đó, một nền kinh tế được coi là có cân đối bên ngoại nếu cán cân vãng lai của nền kinh tế đó bền vững
Do vậy, mất cân đối nội là tình trạng lạm phát cao, lao động không toàn dụng, và sản lượng thực thấp hơn nhiều so với mức sản lượng tiềm năng Mất cân
đối nội có thể xảy ra khi mà tổng cầu vượt quá mức sản lượng tiềm năng, và lúc đó
l ạm phát có thể xảy ra Trong trường hợp này, nền kinh tế có thất nghiệp cao, tăng
trưởng chậm, thậm chí có thể rơi vào suy thoái Mất cân đối ngoại là tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai của một nền kinh tế là không bền vững Hơn thế nữa,
m ất cân đối ngoại thường phản ánh sự thiếu hụt nguồn lực ở trong nước hay là mất cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư
Trang 32M ất cân đối vĩ mô là mất cân đối nội và/hoặc mất cân đối ngoại Trong thực
tế, mất cân đối nội và mất cân đối ngoại có mối liên quan mật thiết với nhau trong tổng thể cân bằng của nền kinh tế (Trịnh Quang Long và cộng sự, 2009) [26] Khi cân đối vĩ mô bị phá vỡ thì nền kinh tế sẽ rơi vào khủng hoảng và suy thoái Để làm
rõ cơ sở lý luận về nền kinh tế vĩ mô bất ổn, luận án xem xét các nguyên nhân và hậu quả một số cuộc khủng hoảng trên giới
Thực tế cho thấy hầu hết các cuộc khủng hoảng trên thế giới đều bắt nguồn
từ sự mất một hay một số cân đối vĩ mô nào đó như: Cuộc khủng hoảng Đông Á năm 1997 - 1998 là một ví dụ về khủng hoảng do mất cân đối tài khoản vãng lai cùng với sự gia tăng luồng vốn ngắn hạn trong cán cân thanh toán quốc tế (BOP) Cuộc khủng hoảng nợ ở Hy Lạp hay một số quốc gia Châu Âu những năm gần đây
là ví dụ cho sự mất cân đối ngân sách và gia tăng nợ nước ngoài Các cuộc khủng hoảng tài chính này đã làm bộc lộ sự mất cân đối kinh tế vĩ mô và yếu kém trong nội tại các nền kinh tế và để lại những hậu quả nghiêm trọng, lâu dài về mặt kinh
tế, xã hội cho nhiều nước trên thế giới Tăng trưởng kinh tế sụt giảm trên phạm vi toàn cầu, đầu tư giảm sút, thương mại và du lịch đình trệ Nhiều nước rơi vào suy thoái kinh tế sâu sắc, khủng hoảng ngân sách nhà nước; gia tăng nợ công; thị trường chứng khoán sụt giảm mạnh; thị trường bất động sản sụp đổ; tiền tệ mất giá; làn sóng sáp nhập, phá sản hàng loạt các ngân hàng, công ty tài chính; lạm phát, thất nghiệp tăng cao, nhiều nước nghèo tiếp tục gia tăng nghèo đói (Vũ Ngọc Duy, 2011) [31] Xem xét một số cuộc khủng hoảng, có thể nhận thấy rõ mỗi cuộc khủng hoảng, các nước liên quan đều bị suy thoái kinh tế nghiêm trọng và hậu quả
là xuất hiện những bất ổn kinh tế vĩ mô
* Đại khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933
Đại khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 gây ra những dư chấn rất lớn đối với nền kinh tế toàn cầu, với sự suy giảm nghiêm trọng về sản lượng sản xuất của hàng loạt nước Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng ở hầu hết các quốc gia, có những nước
tỷ lệ thất nghiệp lên tới gần 1/3 lực lượng lao động Nhiều ngân hàng trên thế giới phải đối mặt với những khó khăn thanh khoản, nợ xấu gia tăng, thậm chí buộc phải tuyên bố phá sản
- Đối với nước Mỹ: Cuộc Đại khủng hoảng 1929 – 1933 khiến sản lượng chế tạo của Mỹ sụt giảm nghiêm trọng (năm 1932 sản lượng chỉ còn bằng 54% so với năm 1929) Hàng loạt doanh nghiệp phá sản hoặc ngưng trệ sản xuất khiến số lao
Trang 33động bị mất việc gia tăng (khoảng 12 đến 15 triệu lao động bị mất việc, chiếm 25 – 30% tổng số lao động) Dư chấn cuộc khủng hoảng này mãi cho đến năm 1940 mới dần dần đi vào ổn định khi Chiến tranh Thế giới thứ hai xảy ra, hàng chục triệu người
Mỹ lao động tại các nhà máy sản xuất dụng cụ chiến tranh hoặc trực tiếp cầm súng, tỷ
lệ thất nghiệp lúc này giảm xuống khoảng 15% và sau đó giảm xuống chỉ còn 10%
- Đối với các nước khác: Đại suy thoái kinh tế Mỹ nhanh chóng lan khắp thế giới, đặc biệt là các nước Châu Âu Nước Mỹ vốn là chủ nợ và nhà tài chính lớn nhất thế giới, nên một khi nước này không còn đủ nguồn lực tài chính cung ứng cho Châu
Âu, các nền kinh tế “lục địa già” bị ảnh hưởng nghiêm trọng Nặng nề nhất là các nước đối tác thương mại chiến lược của Mỹ hoặc mắc nợ Mỹ nhiều Cụ thể: Từ cuối năm 1929 đến đầu năm 1932, số thất nghiệp của nước Đức lên tới 25% lực lượng lao động, sản lượng sản xuất của hầu hết các ngành bị suy giảm nghiêm trọng Khủng hoảng đã làm cho ngành công nghiệp đóng tàu của Anh giảm tới 90% sản lượng, tỷ lệ thất nghiệp của công nhân lên tới 70% Tính đến cuối năm 1930, số người thất nghiệp của Anh tăng lên tới 2.5 triệu người, chiếm khoảng 20% tổng số lao động cả nước cùng năm Tương tự, Canada (một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Mỹ) cũng chịu tác động tiêu cực Sản lượng công nghiệp của nước này năm 1932 giảm tới 58% so với năm 1929 Tỷ lệ thất nghiệp năm 1933 lên tới 27% tổng lực lượng lao động (Nguyễn Văn Tiến, 2008) [16]
* Kh ủng hoảng nợ 1982 ở Mỹ Latinh
Cuộc khủng hoảng nợ quốc tế 1982, khởi đầu là Mexico, một nước mắc nợ lớn ở Mỹ Latinh, tác động một cách sâu sắc lên nền kinh tế - xã hội bên trong các quốc gia con nợ cũng như các quốc gia khác Cụ thể: Tỷ lệ lạm phát của Mexico là 80% Tình trạng lạm phát của Brazil có phần tệ hại hơn, từ 200% năm 1985 tăng lên 500% năm 1986 Nhưng Peru mới là nước có mức lạm phát cao nhất, lên đến khoảng 1700% vào năm 1989 Mức tăng GNP của Mexico từ +8% năm 1978 trở thành -5% năm 1983 (Giáo trình quan hệ kinh tế quốc tế, 2004)
* Kh ủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997
Nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 bắt nguồn
từ nền kinh tế vĩ mô yếu kém của Thái Lan, sự bất cập trong việc kiểm soát các dòng vốn quốc tế, tác động bất lợi từ những thay đổi của kinh tế thế giới, và sự tấn công ồ ạt của các thế lực đầu cơ quốc tế Khủng hoảng khu vực tài chính của Thái Lan lây lan rất nhanh sang nhiều nước trong khu vực và toàn cầu, gây ra sự bất ổn
Trang 34nghiêm trọng đến kinh tế vĩ mô của nhiều nước, bao gồm mất giá tiền tệ, sụp đổ thị trường chứng khoán, giảm giá tài sản ở nhiều nước Châu Á, hàng loạt doanh nghiệp ở các nước trong khu vực bị phá sản Những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất trong cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 là Indonesia, Malaysia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Nga, các nước Mỹ Latinh, và lan sang tận nước Mỹ (Nguyễn Xuân Thanh, 2002) [15]
Khủng hoảng tài chính Châu Á 1997còn khiến nợ công của nhiều quốc gia trong khu vực Châu Á tăng mạnh Do sử dụng biện pháp tăng cường vay nợ nước ngoài để bù đắp thâm hụt cán cân vãng lai có xu hướng ngày càng gia tăng giai đoạn trước khủng hoảng 1997, nên nợ nước ngoài của Thái Lan tăng lên rất nhanh Từ mức 35,990 triệu USD năm 1990, lên tới 89,000 triệu USD vào năm 1996, trong đó,
nợ ngắn hạn tăng rất mạnh (từ mức 24,113.3 triệu USD năm 1990 lên tới 45,390 triệu USD) Cho đến tháng 6/1997, nợ nước ngoài của Thái Lan gấp 1.5 lần so với dự trữ ngoại hối quốc gia Tính đến đầu tháng 2/1998, tổng số nợ nước ngoài của Indonesia
là 137.42 tỷ USD, trong đó, có 63.46 tỷ USD là nợ của Chính phủ Song nhiều ý kiến cho rằng do công tác thống kê nợ của nước này không chính xác, nên nợ nước ngoài bị định giá thấp Con số nợ nước ngoài thực tế của nước này phải lên tới 200
tỷ USD, bởi nhiều món nợ nước ngoài đã không được thống kê, báo cáo đầy đủ Theo thống kê của ADB, năm 1997, nợ nước ngoài ngắn hạn của Indonesia lên tới 34.66 tỷ USD, trong khi dự trữ ngoại hối chỉ có 20.34 tỷ USD, tức là nợ nước ngoài ngắn hạn bằng 1.7 lần so dự trữ ngoại hối (Nguyễn Xuân Thanh, 2002) [15] Hàn Quốc thậm chí lâm vào tình trạng nguy hiểm hơn, với khoản nợ ngắn hạn năm 1997 lên tới 70.18 tỷ USD trong khi dự trữ ngoại hối chỉ có 34.07 tỷ USD, tức là nợ ngắn hạn gấp 2.06 lần so dự trữ ngoại hối
Trang 35B ảng 1.4: Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của Argentina 1996 – 2002
Tăng trưởng GDP
thực tế (%) 5.50 8.10 3.90 - 3.40 - 0.50 - 4.90 - 10.90 Chỉ số CPI 0.16 0.53 0.92 -1.17 -0.94 -1.07 30.80 Thất nghiệp (%) 17.20 14.90 12.90 14.30 14.70 18.30 21.50 Cán cân thương mại
(%GDP) 0.02 -1.37 -1.66 -0.76 0.41
2.10 (T11) - Cán cân vãng lai
(%GDP) -2.50 -4.20 -4.90 -4.90 -3.10
-2.60 (Q3) - Cán cân vốn (Triệu
USD) 12,411 16,557 18,392 13,959 9,337
5,963 (Q3) -
Dự trữ ngoại hối
(Triệu USD) 19,404 24,402 24,876 26,373 25,154 14,556 10,492 Tương đương số tháng
nhập khẩu 9.80 9.20 10.20 12.40 12.0
10.90 (T12) - Tổng nợ nước ngoài
(Tỷ USD) 93.84 109.36 141.92 145.25 146.17 146.85 (T12) -
Tỷ lệ nợ nước
ngoài/GDP (%) 34.50 37.30 47.60 50.60 51.20
54.10 (T12) -
Tỷ lệ nợ nước
ngoài/xuất khẩu (%) 394 414 537 623 553 542 (T12) -
Ngu ồn: Latinh Focus, 1996-2002 và Argentina, Economic Data 1993-2002, INDEC, Mỹ
Khủng hoảng tài chính Argentina 2002 cũng khiến ngân sách nhà nước và nợ công của các quốc gia Mỹ Latinh gia tăng nghiêm trọng Khoản nợ nước ngoài của Argentina lên tới 146 tỷ USD (2001), bằng 54% GDP (trong đó nợ Chính phủ là
132 tỷ USD, bằng 47% GDP) Đến năm 2002, khoản nợ lên tới 240 tỷ USD, bằng 123% GDP Tỷ lệ này vượt quá cao so ngưỡng an toàn dưới 50% GDP Nợ nước ngoài gia tăng trong khi nền kinh tế bị khủng hoảng tàn phá, dẫn đến ngân sách chính phủ Argentina luôn trong trạng thái bội chi nặng nề: năm 2001 bằng 3.25% GDP, năm 2002 bằng 1.07% GDP (Lê Xuân Sang, 2002) [9]
* Kh ủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 – 2009
Cuộc khủng hoảng tài chính 2007 – 2009 là cuộc khủng hoảng gây ra những hậu quả cực kỳ nghiêm trọng về kinh tế, với sự đổ vỡ hàng loạt ngân hàng Tính tổng cộng trong 3 năm từ 2008 đến hết 2010, tổng số ngân hàng phá sản tại Mỹ lên tới con số 322 Tình trạng khan hiếm tín dụng, mất giá tiền tệ với quy mô lớn diễn
ra trên diện rộng ở hầu hết các nước Thị trường chứng khoán toàn cầu cùng giá cả bất động sản sụt giảm mạnh, tốc độ tăng trưởng GDP liên tục âm ở nhiều nước Hàng loạt các nước thuộc Liên minh Châu Âu như Đức, Pháp, Hy Lạp, Italy… đối
mặt với mức thâm hụt ngân sách nhà nước nghiêm trọng Chẳng hạn, mức thâm hụt
Trang 36ngân sách của Đức lên tới 6.3% GDP, Pháp 7.5% GDP… Tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát không ngừng gia tăng ở các nước Hy Lạp, Tây Ban Nha, Ailen,… kéo theo là làn song biểu tình gây bất ổn chính trị tại một số quốc gia ở khu vực này (Đinh Công Tuấn, 2010) [4]
T ừ những phân tích trên có thể rút ra, kinh tế vĩ mô bất ổn chính là việc miêu
t ả một môi trường kinh tế thiếu ổn định về mặt vĩ mô thể hiện qua sự chuyển biến theo chi ều hướng xấu của các biến số cơ bản nhất, bao gồm: lạm phát, chỉ số tăng trưởng, tỷ lệ thất nghiệp, nợ công Trong đó, sự chuyển biến theo chiều hướng xấu thường kéo dài với cường độ mạnh và liên tục trong vòng ít nhất hai năm
1.2.2 Tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn
1.2.2.1 Khái niệm tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn
Do đặc điểm và vai trò quan trọng của DNNVV đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, các ngân hàng đang dần coi DNNVV là đối tượng khách hàng tiềm năng của mình Từ đó, việc tăng trưởng tín dụng ngân hàng cho DNNVV về doanh số, dư nợ và sản phẩm tín dụng cũng được các ngân hàng tại mỗi quốc gia đặc biệt quan tâm
Từ cơ sở lý luận về DNNVV và tín dụng ngân hàng được làm rõ ở phần 1.1, tác giả đưa ra khái niệm về tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với DNNVV được dùng trong luận án như sau:
Tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với DNNVV là những hoạt động gia tăng tín dụng của ngân hàng dành cho các DNNVV nhằm thỏa mãn hơn nữa những nhu cầu của đối tượng khách hàng này
Kết hợp với phần cơ sở lý luận về bất ổn kinh tế vĩ mô được trình bày ở phần 1.2.1., khái niệm tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với DNNVV trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn trong luận án được hiểu như sau:
Tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với DNNVV trong điều kiện kinh tế vĩ
mô b ất ổn là những hoạt động gia tăng tín dụng của ngân hàng dành cho các DNNVV nh ằm thỏa mãn hơn nữa những nhu cầu của đối tượng khách hàng này trong th ời kỳ kinh tế xuất hiện các bất ổn về các yếu tố vĩ mô bao gồm: lạm phát, tỷ
l ệ thất nghiệp, chỉ số tăng trưởng, nợ công
Trang 371.2.2.2 Khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn
Bất chấp tầm quan trọng được thừa nhận của khu vực DNNVV, theo Công ty tài chính quốc tế IFC (2009), nhiều bằng chứng cho thấy khu vực này vẫn chưa được đáp ứng đầy đủ về các sản phẩm, dịch vụ tài chính nói chung và về tín dụng ngân hàng nói riêng, đặc biệt là khi kinh tế vĩ mô bất ổn Cụ thể, các cuộc khảo sát doanh nghiệp và các chương trình đánh giá môi trường đầu tư của Ngân hàng Thế giới cho thấy rằng tiếp cận tài chính là một trong những thách thức lớn nhất đối với
sự phát triển của khu vực DNNVV và tỷ lệ các DNNVV ở bất kỳ quốc gia nào đánh giá các trở ngại vay vốn là một trở ngại phát triển chính cao hơn gần một phần ba so với các công ty lớn, đặc biệt trong giai đoạn nền kinh tế toàn cầu phải đương đầu với nhiều khó khăn sau khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2008 (Hình 1.1)
Hình 1.1: T ỷ lệ trung bình các công ty coi khả năng tiếp cận nguồn vốn vay
là tr ở ngại chính đối với các hoạt động hiện tại
Ngu ồn: IFC, 2009 [7]
Nghiên cứu của Beck (2007) cũng chỉ ra rằng tỷ lệ các doanh nghiệp có quy
mô lớn sử dụng nguồn tín dụng ngân hàng cho các khoản đầu tư mới thường cao hơn 150% so với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ Sự khác biệt về việc tiếp cận tín dụng ngân hàng nói trên bắt nguồn từ phía cung (các ngân hàng) hay bắt nguồn từ phía cầu của các DNNVV Trước hết, xét về phía cấu, theo IFC (2009) [7], khu vực DNNVV đặc biệt cần nguồn tín dụng ngân hàng vì họ thiếu luồng tiền mặt luân chuyển để thực hiện các khoản đầu tư lớn, họ không có nhiều phương thức tiếp cận tài chính như các doanh nghiệp quy mô lớn và thường thiếu nhân sự giỏi để thực
Trang 38hiện các chức năng tài chính, đặc biệt là khi nền kinh tế rơi vào chu kỳ suy thoái Trên thực tế, khi nền kinh tế của một quốc gia gặp khó khăn, các khoản nợ dài hạn
của ngân hàng có thể giúp khu vực DNNVV đầu tư mở rộng sản xuất mà không mất
đi quyền sở hữu Ngoài ra, các khoản vay ngắn hạn và các khoản vay vốn hoạt động giúp các DNNVV phát triển đều đặn Không chỉ thế, bên cạnh tín dụng, các sản phẩm giao dịch và ký thác ngân hàng cũng sẽ giúp DNNVV hoạt động hiệu quả hơn
và tạo điều kiện cho họ thuê thêm dịch vụ bên ngoài để thực hiện các chức năng tài chính Rõ ràng, đối với các doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa, việc hỗ trợ tài chính qua ngân hàng là nguồn hỗ trợ bên ngoài quan trọng nhất Như vậy, có thể nói sự khác biệt về tiếp cận tín dụng ngân hàng giữa doanh nghiệp lớn và DNNVV bắt nguồn phần nhiều từ phía nguồn cung (các ngân hàng)
Vậy lý do gì đã khiến các ngân hàng hạn chế trong việc cung cấp tín dụng cho DNNVV so với doanh nghiệp lớn khi kinh tế một quốc gia bị bất ổn? Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD (2006), điều này bắt nguồn từ hồ sơ vay vốn tiềm ẩn rủi ro và sự bất cân xứng thông tin giữa DNNVV với ngân hàng Sẽ rất khó cho các doanh nghiệp nhỏ thuyết phục ngân hàng ủng hộ kế hoạch kinh doanh
của mình, đặc biệt là với các doanh nghiệp khởi sự và cần một sự nỗ lực đáng kể để thiết lập uy tín với ngân hàng khi kinh tế khó khăn Về phía ngân hàng, việc quản lý rủi ro đối với các khách hàng có quy mô nhỏ, với tần suất cao hơn và các giao dịch
có giá trị thấp hơn sẽ tăng thêm mức độ phức tạp, dẫn đến hai vấn đề chính là rủi ro tín dụng và chí phí phục vụ khách hàng lớn
Rủi ro tín dụng là rủi ro về doanh thu và tài sản bị mất do khách hàng trả nợ chậm hoặc không trả được các khoản vay hay các sản phẩm tín dụng khác Đây là một vấn đề quan trọng vì DNNVV thường không có khả năng cung cấp thông tin tài chính có thể xác minh được Do tình trạng thiếu thông tin, đa số các khoản vay ngân hàng đối với DNNVV đều yêu cầu có tài sản thế chấp, đặc biệt khi kinh tế trong giai đoạn suy thoái hoặc đình trệ Nhưng các doanh nghiệp này thường không đáp ứng được yêu cầu này dẫn đến khả năng tiếp cận khoản vay bị hạn chế Chi phí phục vụ khách hàng quá cao là do các ngân hàng không chắc chắn về mô hình hoạt động hiệu quả nhất để phục vụ khách hàng DNNVV Mặc dù khách hàng doanh nghiệp được phân loại theo các giao dịch có giá trị cao và thấp, các DNNVV thường đòi hỏi nhiều giao dịch hơn ở mức giá trị thấp hơn Tuy nhiên, khu vực này
có thể yêu cầu mức độ giao tiếp khách hàng cao hơn so với dịch vụ ngân hàng bán
Trang 39lẻ (khách hàng cá nhân) vì DNNVV có nhiều nhu cầu hơn và nhu cầu cũng đa dạng hơn Việc chi phí phục vụ cao hơn sẽ dẫn đến doanh thu thấp hơn
Như vậy, có thể thấy, khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của khu vực DNNVV còn thấp do những đặc điểm vốn có về quy mô, phương thức hoạt động của những doanh nghiệp này, đặc biệt trong giai đoạn kinh tế vĩ mô bất ổn Để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với DNNVV khi nền kinh tế gặp khó khăn cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp với ngân hàng, đồng thời có những chính sách hỗ trợ phù hợp từ phía chính phủ như các chương trình bảo lãnh tín dụng cho DNNVV
1.2.2.3 Sự cần thiết tăng trưởng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn
Với vai trò đặc biệt quan trọng của khu vực DNNVV trong quá trình vận động và phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia, để các doanh nghiệp này phát triển một cách hiệu quả, đóng góp nhiều hơn vào tăng trưởng và ổn định kinh tế, cần có
những chính sách hỗ trợ thích đáng từ phía Nhà nước, Chính phủ Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đã và đang dành nhiều ưu đãi cho khu vực DNNVV, cùng với
đó là sự quan tâm nhiều hơn của hệ thống ngân hàng tới phân khúc khách hàng tiềm năng này Theo đó, vấn đề tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với DNNVV đang được đề cao, đặc biệt là khi nền kinh tế vĩ mô vẫn còn tồn tại nhiều bất ổn do ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng như hiện nay
Theo phần 1.2.1, kinh tế vĩ mô bất ổn được thể hiện qua chiều hướng xấu của các biến số cơ bản nhất đó là: lạm phát, chỉ số tăng trưởng, tỷ lệ thất nghiệp, nợ công Trong đó, khi tốc độ tăng trưởng giảm sút cùng với thất nghiệp gia tăng, các chính phủ thường nới rộng chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa nhằm kích thích tăng trưởng, dẫn đến tăng cường hoạt động huy động vốn của các NHTM, tạo điều kiện tăng trưởng tín dụng ngân hàng của các NHTM đối với DNNVV
Tuy nhiên, khi tăng trưởng suy giảm đi kèm lạm phát ở mức cao, nguy hiểm, Chính phủ lúc này phải cân nhắc kĩ lưỡng giữa mục tiêu kiềm chế lạm phát,
ổn định kinh tế với mục tiêu tăng trưởng Các chính sách điều hành vĩ mô sẽ bị thắt chặt, lãi suất tăng, kìm hãm sự tăng trưởng tín dụng nói chung và tín dụng cho DNNVV nói riêng
Khi nền kinh tế trở nên bất ổn, khu vực DNNVV càng dễ bị tổn thương bởi
những lý do sau: (i) DNNVV sẽ khó có thể giảm quy mô hoạt động khi những doanh nghiệp này vốn đã có quy mô nhỏ; (ii) DNNVV thiếu đa dạng trong các
Trang 40hoạt động kinh tế; (iii) Cơ cấu tài chính yếu, quy mô vốn nhỏ; (iv) Không có hoặc xếp hạng tín nhiệm thấp; (v) Phụ thuộc nhiều vào nguồn tín dụng ngân hàng; (vi)
Ít lựa chọn về tài chính Trong hoàn cảnh đó, tăng trưởng tín dụng lại bị kìm hãm, doanh nghiệp không duy trì được nguồn vốn hoạt động, dẫn đến nhiều DNNVV rơi vào tình trạng đình trệ, thua lỗ thậm chí phá sản Ngoài ra, khi doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả, những khoản vay ngân hàng trước đây không được hoàn trả đúng hạn, dẫn đến nợ xấu gia tăng, ngân hàng không chỉ sụt giảm lợi nhuận mà còn lâm vào tình trạng thiếu thanh khoản, phải thực hiện thắt chặt tín dụng, chỉ cho vay những khoản vay có hiệu quả Tất cả những yêu tố trên cùng với những trở ngại bắt nguồn từ đặc điểm của chính DNNVV như thiếu minh bạch
về thông tin tài chính, thông tin hoạt động khiến DNNVV lại càng khó khăn trong việc tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng
Rõ ràng, bất ổn vĩ mô gây ra hậu quả tiêu cực đối với tất cả các chủ thể trong nền kinh tế Để khắc phục khó khăn, buộc Chính phủ, ngân hàng và doanh nghiệp phải phối hợp với nhau Một mặt, chính phủ và ngân hàng đề ra những chính sách
hỗ trợ doanh nghiệp phù hợp, như miễn-giảm-hoãn nộp thuế, gia hạn, cơ cấu lại nợ, hay ưu tiên cho những ngành sản xuất quan trọng; mặt khác, doanh nghiệp cũng phải chủ động, tích cực tìm cách khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh
Như vậy, trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn, khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của DNNVV ngày càng bị hạn chế do doanh nghiệp và ngân hàng đều phải đối
mặt với nhiều khó khăn hơn Tuy nhiên, DNNVV đã và đang đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế mỗi quốc gia Do vậy, các biện pháp hỗ trợ DNNVV trong giai đoạn này là vô cùng cần thiết, đặc biệt là tăng trưởng tín dụng ngân hàng (do mức độ phụ thuộc lớn) Trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn, tăng trưởng tín dụng đối với DNNVV không chỉ là việc cứu các doanh nghiệp này thoát khỏi phá sản mà còn tạo được công ăn việc làm, đẩy mạnh hoạt động sản xuất giúp nền kinh
tế đi vào ổn định
Không những vậy, tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với DNNVV trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn còn giúp các ngân hàng mở rộng được thị trường, thu được lợi nhuận Bởi khi nền kinh tế dần đi vào tình trạng ổn định, tình hình của doanh nghiệp tốt lên thì với tỷ lệ nợ, đặc biệt là vay ngân hàng còn khá thấp,
việc các DNNVV sẽ tiếp tục chuyển sang vay nợ ngân hàng để tận dụng hiệu quả đòn bẩy tài chính là hoàn toàn có khả năng Đây chính là nhu cầu tín dụng đối với ngân hàng nhằm tạo ra tăng trưởng tín dụng và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng