Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp Tiến hành thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu đo; các điểm tọa độ, độ cao Nhà nước trong khu đo; tư liệu bản đồ đ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐỖ NGỌC VIỆT
ỨNG DỤNG HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ TOÀN CẦU XÂY DỰNG LƯỚI ĐỊA CHÍNH CỤM 04 XÃ VEN BIỂN, HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Quản lý Đất đai
Người hướng dẫn khoa học : PGS TS Nguyễn Khắc Thời
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Đỗ Ngọc Việt
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ tận tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân, tập thể
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc PGS.TS Nguyễn Khắc Thời đã dành nhiều công sức, thời gian, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các Thầy, Cô giáo Khoa Quản
lý đất đai, Ban Quản lý đào tạo - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể Lãnh đạo Sở, cán bộ, công chức Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh Thanh Hóa; các cộng sự và Ban Giám đốc Công ty Cổ phần Tư vấn khảo sát Trắc địa Thanh Hà đã giúp đỡ, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Đỗ Ngọc Việt
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Khái quát về hệ thống định vị toàn cầu GPS 3
2.1.1 Khái niệm về GPS 3
2.1.2 Các thành phần của GPS 3
2.1.3 Các đại lượng đo 6
2.1.4 Nguyên lý định vị GPS 8
2.1.5 Các nguồn sai số trong định vị GPS 12
2.1.6 Ưu điểm của phương pháp định vị GPS 14
2.1.7 Tọa độ và hệ quy chiếu 14
2.2 Thiết kế lưới địa chính bằng công nghệ GPS 15
2.2.1 Khái niệm, nguyên tắc thiết kế lưới 15
2.2.2 Cơ sở toán học của lưới địa chính 15
2.2.3 Mật độ điểm khống chế 18
2.2.4 Lưới địa chính 19
2.2.5 Cơ sở pháp lý của việc xây dựng lưới 19
2.3 Ứng dụng công nghệ GPS trong trắc địa trên thế giới và Việt Nam 20
2.3.1 Trên thế giới 20
2.3.2 Tại Việt Nam 21
2.4 Đánh giá, nhận xét chung 23
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 24
3.1 Địa điểm nghiên cứu 24
3.2 Thời gian nghiên cứu 24
Trang 53.3 Đối tượng nghiên cứu 24
3.4 Nội dung nghiên cứu 24
3.5 Phương pháp nghiên cứu 24
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 24
3.5.2 Phương pháp thiết kế lưới 25
3.5.3 Phương pháp thi công lưới địa chính 25
3.5.4 Phương pháp xử lý số liệu đo 25
3.5.5 Phương pháp kiểm tra lưới 25
3.5.6 Phương pháp phân tích, so sánh 25
Phần 4 Kết quả và thảo luận 26
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của cụm 04 xã ven biển, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa 26
4.1.1 Đặc điểm tự nhiên 26
4.1.2 Đặc điểm kinh tế và xã hội 28
4.2 Xây dựng lưới địa chính cụm 04 xã ven biển, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa 29
4.2.1 Quy trình xây dựng lưới địa chính 29
4.2.2 Thiết kế lưới địa chính 30
4.2.3 Chọn điểm, chôn mốc địa chính 33
4.2.4 Tổ chức đo GPS 37
4.2.5 Đo đạc thực địa 40
4.3 Bình sai lưới 42
4.3.1 Nhập số liệu 43
4.3.2 Xử lý cạnh 46
4.3.3 Bình sai lưới 47
4.3.4 Sơ đồ lưới GPS và đánh giá độ chính xác kết quả đo lưới GPS 50
4.4 Kiểm tra lưới địa chính 52
4.4.1 Công tác chọn điểm, đúc mốc, chôn mốc, xây dựng tường vây, lập ghi chú điểm 53
4.4.2 Công tác đo ngắm 53
4.4.3 Tính toán, bình sai 55
4.4.4 Tính đồng bộ, hợp lý 55
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Kiến nghị 57
Tài liệu tham khảo 58
Phụ lục 60
Trang 6GPS Global Positioning System
Hệ thống định vị toàn cầu
HDOP Horizon Dilution of Precision
Độ mất chính xác theo phương ngang
M x , M y , M h Sai số theo phương x, y, h
M p Sai số vị trí điểm
PDOP Position Dilution of Precision
Độ mất chính xác vị trí vệ tinh theo 3D Ratio Tỉ số phương sai
Reference Variance
Độ chênh lệch tham khảo
Rms Sai số chiều dài cạnh
VDOP Vertiacal Dilution of Precision
Độ mất chính xác theo phương dọc
X, Y, h Tọa độ X, Y, độ cao thủy chuẩn tạm thời
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Số điểm thiết kế trên địa bàn khu đo 34
Bảng 4.2 Toạ độ các điểm gốc 34
Bảng 4.3 Thiết kế ca đo 39
Bảng 4.4 Chỉ tiêu kỹ thuật của máy đo GPS 41
Bảng 4.5 Số lượng điểm GPS đã đo 50
Bảng 4.6 Kết quả đánh giá độ chính xác sau bình sai 50
Bảng 4.7 So sánh kết quả đánh giá độ chính xác đạt được với quy định hiện hành 51
Bảng 4.8 Kết quả so sánh chỉ tiêu kỹ thuật của lưới địa chính cụm 04 xã với chỉ tiêu kỹ thuật của lưới địa chính được thành lập bằng công nghệ GNSS 52
Bảng 4.9 So sánh kết quả xử lý với kết quả đo kiểm tra 54
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Mô hình hình ảnh trái đất và vệ tinh GPS 3
Hình 1.2 Cấu trúc tín hiệu GPS 4
Hình 1.3 Các trạm điều khiển GPS 5
Hình 1.4 Các thành phần chính của GPS 6
Hình 1.5 Xác định hiệu số giữa các thời điểm 6
Hình 1.6 Kỹ thuật giải đa trị tại các máy thu 8
Hình 1.7 Kỹ thuật định vị tuyệt đối 9
Hình 1.8 Kỹ thuật định vị tương đối 10
Hình 4.1 Vị trí khu vực nghiên cứu 26
Hình 4.2 Quy cách mốc địa chính 35
Hình 4.3 Sơ đồ chọn điểm, chôn mốc 35
Hình 4.4 Lập lịch đo 37
Hình 4.5 Biểu thời gian và sai số tương ứng 38
Hình 4.6 Máy GPS 1 tần Trimble 4600LS 40
Hình 4.7 Chương trình Compass 43
Hình 4.8 Định dạng dữ liệu 44
Hình 4.9 Nhập dữ liệu 44
Hình 4.10 Kiểm tra, chỉnh sửa độ cao ăng ten 45
Hình 4.11 Kiểm tra sơ đồ lưới 46
Hình 4.12 Đặt thông số xử lý cạnh 46
Hình 4.13 Xử lý cạnh (Baselines) 47
Hình 4.14 Bình sai cạnh 3D 48
Hình 4.15 Kết quả bình sai lưới 49
Hình 4.16 Biên tập kết quả bình sai 49
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Đỗ Ngọc Việt
Tên luận văn: “Ứng dụng Hệ thống định vị toàn cầu xây dựng lưới địa chính cụm
04 xã ven biển, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa”
Ngành: Quản lý đất đai Mã số: 62.85.01.03 Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
1 Mục đích nghiên cứu:
Thiết kế và thi công xây dựng mạng lưới khống chế địa chính 4 xã ven biển làm
cơ sở phát triển lưới đo vẽ chi tiết phục vụ công tác thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ lớn
Tính toán bình sai và đánh giá độ chính xác của các kết quả đo toàn lưới
2 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Tiến hành thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu đo;
các điểm tọa độ, độ cao Nhà nước trong khu đo; tư liệu bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng sử dụng đất phục vụ cho công tác thiết kế lưới địa chính trên khu vực đo thuộc 4
xã ven biển
b Phương pháp thiết kế lưới
Căn cứ các loại tư liệu bản đồ và các điểm khống chế cấp cao hơn đã có trên khu vực đo, tiến hành khảo sát thực địa và thiết kế phương án tổ chức lưới khống chế địa chính phủ trùm trên diện tích 4 xã ven biển Trên cơ sở thiết kế sẽ lựa chọn phương án tối ưu để thi công đo ngoài thực địa
c Phương pháp thi công lưới địa chính
Phương pháp thi công xây dựng lưới địa chính phải đảm bảo tuân thủ theo quy định hiện hành của Bộ Tài nguyên và Môi trường, gồm các nội dung công việc: Thiết
kế lưới, chọn điểm, đổ, chôn mốc; đo đạc các yếu tố trong lưới bằng phương pháp đo GPS tĩnh
d Phương pháp xử lý số liệu đo
Sau khi đo GPS tiến hành trút số liệu bằng modul Data Transfer, số liệu sau khi trút có định dạng *.DAT
Việc xử lý số liệu đo được thực hiện bằng phần mềm Compass của hãng Huace X20 phát triển; Biên tập 7 bảng GPS sử dụng phần mềm DPSurvey 2.8
Trang 10đ Phương pháp kiểm tra lưới
Phương pháp này rất quan trọng, việc kiểm tra lưới được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 05/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 06 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, gồm các hạng mục công việc: kiểm tra kích thước mốc, quy cách mốc, công tác nghiệm thu kết quả đo,
e Phương pháp phân tích, so sánh
Trên cơ sở kết quả công tác ứng dụng công nghệ GPS để xây dựng lưới địa chính cho cụm 04 xã: Quảng Hải, Quảng Lưu, Quảng Lộc và Quảng Thái, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; tiến hành tổng hợp, phân tích, so sánh, đánh giá độ chính xác lưới GPS đã xây dựng với các quy định thành lập bản đồ địa chính được quy định tại Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 5 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
3 Kết quả và kết luận
- Đã thiết kế và tổ chức đo lưới địa chính bằng 6 máy thu GPS 1 tần Trimble 4600LS với 12 ca đo và gồm 21 điểm GPS cần xác định nối đến 3 điểm gốc; cạnh dài nhất là 2574,66 m (cạnh QX11 và QX18), ngắn nhất là 332,45 m (cạnh QX13 và QX15)
- Kết quả đo đạc được xử lý tính toán bằng phần mềm Compass của hãng Huace X20 Kết quả được biên tập thành 7 bảng chuẩn theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường bằng phần mềm DPSurvey 2.8 Kết quả đánh giá độ chính xác sau bình sai cho thấy:
+ Sai số vị trí điểm vị trí điểm yếu nhất đạt ± 0,6 cm;
+ Sai số khép tương đối tam giác: 1/151.116;
+ Sai số trung phương tương đối cạnh: 1/75626;
+ Sai số trung phương tuyệt đối cạnh dưới 400m: ± 0,010 m;
+Sai số trung phương phương vị: 3,52”;
Trang 11THESIS ABSTRACT Author: Do Ngoc Viet
Thesis title: "Application of Global Positioning System administration building
clusters grid 04 coastal communes, Quang Xuong district, Thanh Hoa province"
Sector: Land Management Code: 62.85.01.03 Training Facility Name: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
1 Purpose:
Design and construction control network 4 communal coastal land administration
as a basis for developing detailed grid mapping service of cadastral mapping large proportion The real cost adjustment and assess the accuracy of the measurement results throughout the grid
2 Research Methods:
a Methods of collecting secondary data
Collecting data on natural conditions, economic - of the measuring social; the point coordinates and elevation of the State in the measure; materials topographic maps, maps of land use in service for design work on the regional cadastral grid measured in 4 coastal communes
b Methods design mesh
Based on the type of map material and the higher-level control points have on the area measured, conducting field surveys and organizational design plan cadastral control network covering 4 communes on coastal areas Based on the design will choose the optimal scheme for measuring the field of construction
c Mesh construction method cadastral
Construction methods cadastral grid to ensure compliance with current regulations
of the Ministry of Natural Resources and Environment, including the content of work:
Design grid, select the point, pour, mold buried; measuring the elements in the grid with static GPS measurements
d Methods of measurement data processing
After venting GPS measurements conducted by module Data Transfer data and figures after venting * DAT format
The measured data processing is performed by software firm Compass Huace X20 development; Editorial 7 table used GPS coordinates from DPSurvey 2.8 software
Trang 12đ Methods testing grid
This method is very important, the test is performed grids under the provisions of Circular No 05/2009/TT - year BTNMT 01 May 06, 2009 of the Ministry of Natural Resources and Environment, including work items: review Check size mold, mold specifications, and acceptance of the results,
e Methods of analysis, comparison
Based on the results of applied work to develop GPS technology for cluster 04 mesh cadastral communes of Quang Hai, Quang Luu Quang Loc and Quang Thai, Quang Xuong district, Thanh Hoa province; conducted synthesis, analysis, comparison, evaluation precision GPS network was built with the regulations established cadastral maps are prescribed in Circular No 25/2014/TT - year BTNMT May 19 2014 of the Ministry of Natural Resources and Environment
3 Results and conclusions
- Designed and cadastral organizations measured by net 6 1 frequency 4600LS Trimble GPS receiver with 12 cases including 21 points and GPS measurements to determine the 3-point connection to the original 2574,66 m longest edge (QX11 and QX18 edge), the shortest is 332,45 m (QX13 and QX15 edge)
- The results of measurements are processed by software calculates its Compass Huace X20 Results are edited to a standard 7 tables prescribed by the Ministry of Natural Resources and Environment DPSurvey 2.8 software Evaluation results after adjustment accuracy shows:
+ Error location weakest point reached ± 0,6 cm;
+ Close relative error triangle: 1/151 116;
+ The relative error middle edge: 1/75626;
+ Absolute error the next medium under 400m: ± 0.010 m;
Mid-way + azimuth error: 3.52 ";
+ Ratio: reach between 1.6 - - 913.1
- The test results meet the requirements of accuracy according to the current regulations of the Ministry of Natural Resources and Environment
- Construction cadastral grid by global positioning technology to reach high accuracy, bring high economic efficiency should be able to apply global positioning technology in the construction of cadastral grid Quang Xuong district, province Thanh Hoa is feasible than the traditional method
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Điều 53, Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu
và thống nhất quản lý”; Trong số 15 nội dung quản lý nhà nước về đất đai được quy định tại Điều 22 Luật đất đai 2013, nhiệm vụ: “Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất” được đặt ở vị trí thứ 3
Hệ thống định vị toàn cầu GPS là hệ thống định vị, dẫn đường sử dụng các
vệ tinh nhân tạo được Bộ Quốc phòng Mỹ triển khai từ những năm đầu thập kỷ
70 Ban đầu, hệ thống này được dùng cho mục đích quân sự nhưng sau đó đã được thương mại hóa, từ năm 1980 hệ thống định vị toàn cầu GPS đã được sử dụng vào mục đích dân sự Ngày nay, trong nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế,
xã hội đã và đang áp dụng công nghệ GPS
Trong ngành trắc địa, công nghệ GPS đã mở ra thời kỳ mới, thay thế công nghệ truyền thống trong việc thành lập và xây dựng dựng mạng lưới tọa độ các cấp Đối với ngành trắc địa bản đồ thì đây là cuộc cách mạng thực sự cả về kỹ thuật, chất lượng cũng như hiệu quả kinh tế trên phạm vi toàn thế giới nói chung
và Việt Nam nói riêng
Hệ thống định vị toàn cầu GPS đã được công nhận và sử dụng rộng rãi, tin cậy, hiệu quả trong trắc địa bản đồ bởi tính ưu việt như: có thể xác định tọa độ của các điểm từ điểm gốc khác mà không cần thông hướng; tính tự động hóa trong đo đạc và xử lý kết quả đo; độ chính xác đo đạc ít phụ thuộc vào điều kiện thời tiết (có thể đo trong mọi điều kiện thời tiết); việc xác định tọa độ các điểm nhanh chóng, chính xác cao, ở bất kỳ vị trí nào trên trái đất; có thể thực hiện trong mọi điều kiện địa hình mà không cần tầm nhìn thông hướng giữa các điểm đo; tiết kiệm thời gian, chi phí thấp; đáp ứng yêu cầu thay thế một số dạng công việc mà phương pháp trắc địa truyền thống không thực hiện được như: đo hải đảo; đo địa hình đáy biển; đo mặt cắt các sông lớn, đặc biệt là đo khoảng cách dài
Trang 14Vùng ven biển huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa có rất nhiều lợi thế để phát triển kinh tế thông qua việc nâng cao công tác quản lý đất đai trên địa bàn
Tuy nhiên, hệ thống bản đồ giải thửa, bản đồ địa chính trước đây vừa thiếu, lại đo đạc đã lâu, công nghệ cũ, không đồng bộ và không được chỉnh lý biến động nên thiếu độ chính xác dẫn đến công tác quản lý đất đai trên địa bàn gặp rất nhiều khó khăn Do đó, nhu cầu bức thiết trong quản lý đất đai của các xã vùng ven biển là phải thành lập được BĐĐC có độ chính xác cao, muốn có được điều đó cần phải xây dựng lưới địa chính
Để mở rộng khả năng sử dụng công nghệ GPS, góp phần đưa công nghệ vào sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế trong đo đạc, tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài:
“Ứng dụng Hệ thống định vị toàn cầu xây dựng lưới địa chính cụm 04 xã ven biển, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội cụm 04 xã ven biển huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, gồm: xã Quảng Hải, xã Quảng Lưu, xã Quảng Lộc và xã Quảng Thái
Thiết kế, thi công, đo đạc các đại lượng đo trong lưới khống chế bằng thiết
bị máy GPS 1 tần số 4600LS của hãng Trimble theo quy định hiện hành; bình sai, đánh giá độ chính xác và kiểm tra lưới GPS đã thi công
vẽ và là tiền đề để xây dựng lưới không chế đo vẽ toàn huyện Quảng Xương
Trang 15PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ TOÀN CẦU GPS 2.1.1 Khái niệm về GPS
Tên tiếng Anh đầy đủ của GPS là Navigation Satellite Timing and Ranging Global Positioning System Đây là một hệ thống radio hàng hải dựa vào các vệ tinh để cung cấp thông tin vị trí 3 chiều và thời gian chính xác Hệ thống luôn sẵn sàng trên phạm vi toàn cầu và hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết
Hình 1.1 Mô hình hình ảnh trái đất và vệ tinh GPS
Nguồn: Introduction to GPS (2007)
2.1.2 Các thành phần của GPS
GPS gồm 3 đoạn: đoạn không gian, đoạn điều khiển và đoạn người sử dụng
2.1.2.1 Đoạn không gian (Space Segment )
Hệ thống ban đầu có 24 vệ tinh, trong đó có 3 vệ tinh dự trữ Hiện nay đã
có 31 vệ tinh bay xung quanh Trái đất trên 6 quỹ đạo gần tròn cách đều nhau, với
độ cao khoảng 20.200 km, góc nghiêng 550 so với mặt phẳng xích đạo của trái đất Chu kỳ quay của vệ tinh là 718 phút
- Chức năng chính của các vệ tinh là:
+ Nhận và lưu trữ dữ liệu được gửi lên từ các trạm điều khiển
+ Duy trì thời gian chính xác bởi đồng hồ nguyên tử gắn trên vệ tinh
Trang 16+ Truyền thông tin và dữ liệu cho người sử dụng theo hai tần số là L1 và L2
- Mỗi vệ tinh được trang bị máy phát tần số chuẩn nguyên tử chính xác cao
cỡ 10 -12 Máy phát này tạo ra các tín hiệu tần số cơ sở 10,23 MHz và từ đây tạo
ra các sóng tải tần số L1=1575,42 MHz và L2=1227,60 MHz Để giảm ảnh hưởng của tầng điện ly người ta sử dụng hai tần số
- Để phục vụ cho các mục đích và đối tượng khác nhau, các tín hiệu phát đi được điều biến mang theo các code riêng biệt đó là: C/A- Code, P-Code và Y- Code
+ C/A-Code (Coarse/Acquisition Code): là code thô được sử dụng rộng rãi
C/A Code có tính chất code tựa ngẫu nhiên Tín hiệu mang code này có tần số thấp (1.023 MHz) C/A Code chỉ điều biến sóng tải L1
+ P-Code (Precision Code): là code chính xác được sử dụng cho các mục đích quân sự của Mỹ và chỉ dùng cho các mục đích khác khi được phía Mỹ cho phép P-Code điều biến cả hai sóng tải L1, L2 và là code tựa ngẫu nhiên
+ Y-Code: là Code bí mật được phủ lên P-Code nhằm chống bắt chước, gọi
là kỹ thuật AS (Anti Spoosing), chỉ có vệ tinh thuộc các khối từ sau năm 1989 mới có khả năng này
Hình 1.2 Cấu trúc tín hiệu GPS
Nguồn: Introduction to GPS (2007)
Trang 172.1.2.2 Đoạn điều khiển (Control Segment)
Có 5 trạm điều khiển trên mặt đất: Hawaii (Thái Bình Dương), Colorado Springs (Căn cứ không quân Mỹ), Ascension Island (Đại Tây Dương), Diego Garcia (Ấn Độ Dương) và Kwajalein (Thái Bình Dương), trong đó có 1 trạm trung tâm đặt tại Colorado Springs
Nhiệm vụ của đoạn điều khiển là điều khiển toàn bộ hoạt động và chức năng của các vệ tinh trên cơ sở theo dõi chuyển động quỹ đạo của các vệ tinh và hoạt động của đồng hồ trên đó Tất cả các số liệu đo khoảng cách, sự thay đổi khoảng cách, các số liệu đo khí tượng ở mỗi trạm đều được truyền về trạm trung tâm Trạm trung tâm xử lý các số liệu được truyền từ các trạm theo dõi và số liệu
đo của chính nó để cho ra các ephemerit chính xác hoá của vệ tinh và số hiệu chỉnh cho các đồng hồ vệ tinh Các số liệu này được truyền trở lại cho các trạm theo dõi và từ đó truyền tiếp lên cho các vệ tinh cùng các lệnh điều khiển khác
Hình 1.3 Các trạm điều khiển GPS
Nguồn: Introduction to GPS (2007)
2.1.2.3 Đoạn sử dụng (User Segment)
Gồm các máy thu đặt trên mặt đất, bao gồm phần cứng và phần mềm
- Phần cứng là các máy đo có nhiệm vụ thu tín hiệu vệ tinh để khai thác, sử
dụng cho các mục đích, yêu cầu khác nhau của khách hàng
- Phần mềm có nhiệm vụ xử lý các thông tin để cung cấp tọa độ của máy thu
Trang 18Hình 1.4 Các thành phần chính của GPS
Nguồn: Introduction to GPS (2007)
2.1.3 Các đại lượng đo
Việc định vị bằng GPS thực hiện trên cơ sở sử dụng hai dạng đại lượng đo
cơ bản, đó là đo khoảng cách giả theo các code tựa ngẫu nhiên (C/A-code và code) và đo pha của sóng tải L1, L2 và tổ hợp L1/L2
P-2.1.3.1 Đo khoảng cách giả theo C/A-code và P-code
Code tựa ngẫu nhiên được phát đi từ vệ tinh cùng với sóng tải Máy thu GPS cũng tạo ra code tựa ngẫu nhiên đúng như vậy Bằng cách so sánh code thu
từ vệ tinh và code của chính máy thu tạo ra có thể xác định được khoảng thời gian lan truyền của tín hiệu code, từ đó xác định được khoảng cách từ vệ tinh đến máy thu (đến tâm anten của máy thu) Do có sự không đồng bộ giữa đồng hồ của
vệ tinh và máy thu, do ảnh hưởng của môi trường lan truyền tín hiệu nên khoảng cách tính theo khoảng thời gian đo được không phải là khoảng cách thực giữa vệ tinh và máy thu, đó là khoảng cách giả
Hình 1.5 Xác định hiệu số giữa các thời điểm
Nguồn: GPS Satellite Surveying (1995)
1 1 0 0 0 1 1 1 1 0 1 0 0 0 1 1
1 1 0 0 0 1 1 1 1 0 1 0 0 0 1 1
1 1 0 0 0 1 1 1 1 0 1 0 0 0 1 1
∆ t
Code chuyền từ vệ tinh
Code thu được
Trang 19Nếu ký hiệu tọa độ của vệ tinh là x s , y s , z s; tọa độ của điểm xét (máy thu) là
x,y,z; thời gian lan truyền tín hiệu từ vệ tinh đến điểm xét là t, sai số không đồng
bộ giữa đồng hồ trên vệ tinh và trong máy thu là ∆t, khoảng cách giả đo được là
R, ta có phương trình:
Trong đó, c là tốc độ lan truyền tín hiệu
Trong trường hợp sử dụng C/A-code, theo dự tính của các nhà thiết kế hệ thống GPS, kỹ thuật đo khoảng thời gian lan truyền tín hiệu chỉ có thể đảm bảo
độ chính xác đo khoảng cách tương ứng khoảng 30 m Nếu tính đến ảnh hưởng của điều kiện lan truyền tín hiệu, sai số đo khoảng cách theo C/A code sẽ ở mức
100 m là mức có thể chấp nhận được để cho khách hàng dân sự được khai thác
Song kỹ thuật xử lý tín hiệu code này đã được phát triển đến mức có thể đảm bảo
độ chính xác đo khoảng cách khoảng 3 m, tức là hầu như không thua kém so với trường hợp sử dụng P-code vốn không dành cho khách hàng đại trà Chính vì lý
do này mà trước đây Chính phủ Mỹ đã đưa ra giải pháp SA để hạn chế khả năng thực tế của C/A code Nhưng ngày nay do kỹ thuật đo GPS có thể khắc phục được nhiễu SA, Chính phủ Mỹ đã tuyên bố bỏ nhiễu SA trong trị đo GPS từ tháng 5 năm 2000
2.1.3.2 Đo pha sóng tải
Các sóng tải L1, L2 được sử dụng cho việc định vị với độ chính xác cao Với mục đích này người ta tiến hành đo hiệu số giữa pha của sóng tải do máy thu nhận được từ vệ tinh và pha của tín hiệu do chính máy thu tạo ra Hiệu số pha do máy thu đo được ta ký hiệu là Φ (0<Φ<2π)
Khi đó ta có thể viết:
Trong đó:
- R là khoảng cách giữa vệ tinh và máy thu;
- λ là bước sóng của sóng tải;
- N là số nguyên lần bước sóng λ chứa trong R, N còn được gọi là số
nguyên đa trị, thường không biết trước mà cần phải xác định trong thời gian đo;
- ∆t là sai số đồng bộ giữa đồng hồ của vệ tinh và máy thu
t c z z y
y x
x t
t c
R = ( + ∆ ) = ( s − )2 + ( s − )2 + ( s − )2 + ∆ (1.1)
)(
2
t c N
=
λπ
(1.2)
Trang 20Trong trường hợp đo pha theo sóng tải L1 có thể xác định khoảng cách giữa
vệ tinh và máy thu với độ chính xác cỡ cm, thậm chí nhỏ hơn Sóng tải L2 cho độ chính xác thấp hơn, nhưng tác dụng của nó là cùng với L1 tạo ra khả năng làm giảm đáng kể tầng điện ly và việc xác định số nguyên đa trị được đơn giản hơn
Hình 1.6 Kỹ thuật giải đa trị tại các máy thu
Nguồn: GPS Satellite Surveying (1995)
2.1.4 Nguyên lý định vị GPS
2.1.4.1 Định vị tuyệt đối (point positioning)
Là trường hợp sử dụng máy thu GPS để xác định ngay tọa độ của điểm quan sát trong hệ tọa độ WGS-84 Đó có thể là các thành phần tọa độ vuông góc không gian (X,Y,Z) hoặc các thành phần tọa độ trắc địa mặt cầu (B,L,H) Hệ thống tọa độ WGS-84 là hệ thống tọa độ cơ sở của GPS, tọa độ của vệ tinh và điểm quan sát đều lấy theo hệ thống tọa độ này
Việc đo GPS tuyệt đối được thực hiện trên cơ sở sử dụng đại lượng đo là khoảng cách giả từ vệ tinh đến máy thu theo nguyên tắc giao hội cạnh không gian
từ các điểm đã biết tọa độ là các vệ tinh
Nếu biết chính xác khoảng thời gian lan truyền tín hiệu code tựa ngẫu nhiên
từ vệ tinh đến máy thu, ta sẽ tính được khoảng cách chính xác giữa vệ tinh và máy thu Khi đó 3 khoảng cách được xác định đồng thời từ 3 vệ tinh đến máy thu
sẽ cho ta vị trí không gian đơn trị của máy thu Song trên thực tế cả đồng hồ trên
vệ tinh và đồng hồ trong máy thu đều có sai số, nên khoảng cách đo được không phải là khoảng cách chính xác Kết quả là chúng không thể cắt nhau tại một điểm, nghĩa là không thể xác định được vị trí của máy thu Để khắc phục tình
Trang 21trạng này cần sử dụng thêm một đại lượng đo nữa, đó là khoảng cách từ vệ tinh thứ 4, ta có hệ phương trình:
(XS1- X)2 +(YS1- Y)2 +(ZS1- Z)2 = (R1-c∆t)2 (XS2- X)2 +(YS2- Y)2 +(ZS2- Z)2 = (R2-c∆t)2 (XS3- X)2 +(YS3- Y)2 +(ZS3- Z)2= (R3-c∆t)2 (XS4- X)2 +(YS4- Y)2 +(ZS4- Z)2 = (R4-c∆t)2 Với khoảng cách giả đo đồng thời từ 4 vệ tinh đến máy thu chúng ta sẽ lập
được hệ phương trình dạng (1.3) với 4 ẩn số (X, Y, Z, ∆t) Giải hệ phương trình
trên chúng ta tìm được tọa độ tuyệt đối của máy thu và số hiệu chỉnh đồng hồ của máy thu
Trên thực tế với hệ thống vệ tinh hoạt động đầy đủ như hiện nay, số lượng
vệ tinh mà các máy thu quan sát được thường từ 6 - 8 vệ tinh, khi đó số lượng phương trình sẽ lớn 4 và nghiệm của phương trình sẽ tìm theo nguyên lý số bình phương nhỏ nhất
Hình 1.7 Kỹ thuật định vị tuyệt đối
Nguồn: GPS Satellite Surveying (1995)
2.1.4.2 Định vị tương đối (Relative Positioning)
Đo GPS tương đối là trường hợp sử dụng hai máy thu GPS đặt ở hai điểm quan sát khác nhau để xác định ra hiệu tọa độ vuông góc không gian (∆X, ∆Y,
∆Z) hay hiệu tọa độ trắc địa mặt cầu (∆B, ∆L, ∆H) giữa chúng trong hệ tọa độ WGS-84
Nguyên tắc đo GPS tương đối được thực hiện trên cơ sở sử dụng đại lượng
đo là pha của sóng tải Để đạt được độ chính xác cao và rất cao cho kết quả xác định hiệu tọa độ giữa hai điểm xét, người ta đã tạo ra và sử dụng các sai phân khác nhau cho pha sóng tải nhằm làm giảm ảnh hưởng đến các nguồn sai số khác
(1.3)
Trang 22nhau như: Sai số của đồng hồ vệ tinh cũng như của máy thu, sai số tọa độ vệ tinh, sai số số nguyên đa trị,
Ta ký hiệu Φrj(ti) là hiệu pha của sóng tải từ vệ tinh j đo được tại trạm r vào thời điểm ti, khi đó nếu hai trạm đo 1 và 2 ta quan sát đồng thời vệ tinh j vào thời điểm ti, ta sẽ có sai phân bậc một được biểu diễn như sau:
∆1Φj(ti)= Φ2j(ti)- Φ1j(ti) (1.4) Trong sai phân này hầu như không còn ảnh hưởng của sai số đồng hồ vệ tinh
Nếu hai trạm cùng tiến hành quan sát đồng thời hai vệ tinh j và k vào thời
điểm ti, ta có phân sai bậc hai:
∆2Φj,k(ti)= ∆1Φk(ti)- ∆1Φj(ti) (1.5) Qua công thức này ta thấy không còn ảnh hưởng của sai số đồng hồ vệ tinh
và máy thu
Nếu xét hai trạm cùng tiến hành quan sát đồng thời hai vệ tinh j và k vào
thời điểm ti và ti+1, ta sẽ có phân sai bậc ba:
∆3Φj,k = ∆2Φj,k(ti+1)- ∆2Φj,k(ti) (1.6) Sai phân này cho phép loại trừ sai số số nguyên đa trị
Hiện nay, hệ thống GPS có khoảng 32 vệ tinh hoạt động Do vậy, tại mỗi thời điểm ta có thể quan sát được số vệ tinh nhiều hơn 4 Bằng cách tổng hợp theo từng cặp vệ tinh sẽ có rất nhiều trị đo, mặt khác thời gian thu tín hiệu trong
đo tương đối thường khá dài vì vậy số lượng trị đo để xác định ra hiệu tọa độ giữa hai điểm là rất lớn, khi đó bài toán sẽ giải theo phương pháp số bình phương nhỏ nhất
Hình 1.8 Kỹ thuật định vị tương đối
Nguồn: GPS Satellite Surveying (1995)
Trang 23Định vị tương đối có các phương pháp đo cơ bản sau đây:
a Phương pháp đo tĩnh
Phương pháp đo tĩnh được sử dụng để xác định hiệu tọa độ (hay vị trí tương hỗ) giữa hai điểm xét với độ chính xác cao, nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác trắc địa Trong trường hợp này cần có ít nhất hai máy thu, một máy đặt ở điểm đã biết tọa độ còn máy kia đặt tại điểm cần xác định Cả hai máy thu đồng thời thu tín hiệu từ một số vệ tinh chung trong một khoảng thời gian nhất định, thường từ một đến hai ba giờ đồng hồ Số vệ tinh tối thiểu cho hai trạm quan sát là 5
Khoảng thời gian quan sát kéo dài là để cho đồ hình phân bố vệ tinh thay đổi từ
đó ta có thể xác định được số nguyên đa trị của sóng tải và đồng thời là để có nhiều trị đo nhằm đạt độ chính xác cao và ổn định kết quả quan sát
Đây là phương pháp đạt được độ chính xác cao nhất trong việc định vị tương đối bằng GPS, có thể cỡ centimet, thậm chí là milimet ở khoảng cách giữa hai điểm xét tới hàng chục và hàng trăm kilomet Nhược điểm của phương pháp
là thời gian đo phải kéo dài hàng giờ, do vậy năng suất đo không cao
b Phương pháp đo động
Phương pháp đo động cho phép xác định vị trí tương đối của hàng loạt điểm
so với điểm đã biết Phương pháp này cần có ít nhất hai máy thu để xác định số nguyên đa trị của tín hiệu vệ tinh, cần phải có một cạnh đáy đã biết được gối lên điểm đã có tọa độ Sau khi đã xác định số nguyên đa trị được giữ nguyên để tính khoảng cách từ vệ tinh đến máy thu cho các điểm đi tiếp sau trong suốt cả chu kỳ
đo Nhờ vậy, thời gian thu tín hiệu tại điểm đo không phải là một giờ đồng hồ như trong phương pháp đo tĩnh nữa mà chỉ còn một phút trong phương pháp này
2.1.4.3 Định vị vi phân (Differential GPS)
Phương pháp này dùng một máy thu đặt cố định tại điểm đã biết tọa độ và máy thu này có khả năng phát ra tín hiệu vô tuyến, đồng thời có máy di động khác đặt ở vị trí cần xác định tọa độ Cả máy cố định và máy di động cần đồng thời tiến hành thu tín hiệu từ các vệ tinh như nhau Nếu thông tin từ vệ tinh bị nhiễu thì kết quả xác định tọa độ của cả máy cố định và máy di động cũng đều bị sai lệch, độ sai lệch này được xác định trên cơ sở so sánh tọa độ tính ra theo tín hiệu thu được từ vệ tinh và tọa độ đã biết trước của máy cố định và có thể xem là như nhau cho cả máy cố định và máy di động Nó được máy cố định phát đi qua sóng vô tuyến để máy di động thu nhận mà hiệu chỉnh cho kết quả xác định tọa
độ của mình
Trang 242.1.5 Các nguồn sai số trong định vị GPS
2.1.5.1 Sai số của đồng hồ
Sai số đồng hồ gồm: đồng hồ trên vệ tinh, đồng hồ trong máy thu và sự không đồng bộ giữa chúng gây ra sai số của đồng hồ trong kết quả đo GPS Đặc biệt là trong định vị tuyệt đối sai số này có giá trị tương đối lớn
Các vệ tinh được trang bị đồng hồ nguyên tử có độ chính xác cao, tính đồng
bộ về thời gian giữa các đồng hồ vệ tinh được giữ trong khoảng 20 nano giây
Còn các máy thu GPS được trang bị đồng hồ thạch anh chất lượng cao (10-4s) đặt bên trong
Chúng ta biết rằng vận tốc truyền tín hiệu khoảng 3x108m/s, nếu sai số đồng hồ thạch anh là 10-4s thì sai số khoảng cách tương ứng là 30 m, nếu đồng hồ nguyên tử sai 10-7s thì khoảng cách sai 3 m
Với ảnh hưởng như trên, người ta đã sử dụng nguyên tắc định vị tương đối
để loại trừ ảnh hưởng của sai số đồng hồ
2.1.5.2 Sai số quỹ đạo vệ tinh
Vệ tinh chuyển động trên quỹ đạo xung quanh trái đất chịu nhiều sự tác động như ảnh hưởng của sự thay đổi trọng trường trái đất, ảnh hưởng của sức hút mặt Trăng, mặt Trời, các ảnh hưởng trên sẽ tác động tới quỹ đạo của vệ tinh, khi đó vệ tinh sẽ không chuyển động hoàn toàn tuân theo đúng 3 định luật Kepler Sai số quỹ đạo vệ tinh ảnh hưởng gần như trọn vẹn đến kết quả định vị tuyệt đối, song được khắc phục về cơ bản trong định vị tương đối hoặc vi phân
Để biết được vị trí của vệ tinh trên quỹ đạo thì người sử dụng có thể căn cứ vào lịch vệ tinh Tùy thuộc vào mức độ chính xác của thông tin, lịch vệ tinh được chia làm 3 loại là:
- Lịch vệ tinh dự báo (Almanac): Phục vụ cho lập lịch và xác định quang cảnh nhìn thấy của vệ tinh tại thời điểm quan sát, lịch vệ tinh này có sai số khoảng vài km
- Lịch vệ tinh quảng bá (Broadcast ephemeris): Được tạo lập dựa trên 5 trạm quan sát thuộc đoạn điều khiển của hệ thống GPS, hiện nay khi chế độ nhiễu SA đã được bỏ thì lịch vệ tinh quảng bá có sai số khoảng từ 2 - 5 m
- Lịch vệ tinh chính xác: Được lập dựa trên cơ sở các số liệu quan trắc trong mạng lưới giám sát và được tính toán nhờ một số tổ chức khoa học, loại lịch này cho sai số nhỏ hơn 0,5 m
Trang 252.1.5.3 Sai số ảnh hưởng của điều kiện khí tượng
Tín hiệu vệ tinh đến máy thu đi qua một quãng đường lớn hơn 20.000 km, trong đó có tầng điện ly từ độ cao 50 km tới độ cao 500 km và tầng đối lưu từ độ cao 50 km đến mặt đất Khi tín hiệu đi qua các tầng này có thể bị thay đổi (tán xạ) phụ thuộc vào mật độ điện tử tự do trong tầng điện ly và tình trạng hơi nước, nhiệt độ và các bụi khí quyển trong tầng đối lưu
Người ta ước tính rằng, do ảnh hưởng của tầng điện ly, khi định vị tuyệt đối
có thể bị sai số khoảng 12 m, còn ảnh hưởng của tầng đối lưu có thể gây sai số khoảng 3m
Các vệ tinh GPS phát tín hiệu ở tần số cao (sóng cực ngắn) do đó ảnh hưởng của tầng điện ly đã được giảm nhiều, tuy vậy cần lưu ý tới đặc tính của sóng cực ngắn là truyền thẳng và dễ bị che chắn
Ảnh hưởng của tầng điện ly tỷ lệ với bình phương tần số, vì thế khi sử dụng máy thu 2 tần sẽ khắc phục được ảnh hưởng này
Tuy vậy, ở khoảng cách ngắn (<10 km) tín hiệu tới 2 máy coi như đi trong cùng môi trường, sai số sẽ được loại trừ trong các công thức tính hiệu tọa độ, do vậy ta nên sử dụng máy một tần, trong khi đó nếu sử dụng máy hai tần có thể bị nhiễu, làm kết quả kém chính xác
Để khắc phục ảnh hưởng của tầng đối lưu, người ta quy định chỉ sử dụng tín hiệu vệ tinh có góc cao trên 15o (hoặc trên 10o)
2.1.5.4 Sai số do nhiễu tín hiệu
Ăng ten của máy thu không chỉ thu tín hiệu đi thẳng từ vệ tinh tới mà còn nhận cả các tín hiệu phản xạ từ mặt đất và môi trường xung quanh Sai số này gọi
là sai số do nhiễu tín hiệu Tín hiệu vệ tinh tới máy thu có thể bị nhiễu do một số nguyên nhân sau:
- Tín hiệu bị phản xạ từ các vật (kim loại, bê tông) gần máy thu
- Tín hiệu bị nhiễu do ảnh hưởng của các tín hiệu sóng điện từ khác
- Máy thu GPS đặt gần các đường dây tải điện cao áp
- Tín hiệu bị gián đoạn do các vật che chắn tín hiệu
Để khắc phục sai số nhiễu tín hiệu, khi thiết kế điểm đo cần bố trí xa các trạm phát sóng, các đường dây cao thế, không bố trí máy thu dưới các rặng cây
Trang 262.1.5.5 Sai số do người đo
Người đo có thể phạm các sai lầm như: đo chiều cao anten, dọi điểm định tâm không tốt, đôi khi ghi nhầm chế độ đo cao anten Để tránh các sai số này thì người đo GPS cần thận trọng trong định tâm và đo chiều cao anten
Cần chú ý là sai số do đo chiều cao anten không những ảnh hưởng tới độ cao của điểm đo mà còn ảnh hưởng tới vị trí mặt bằng Do đó, trong khi thu tín hiệu không nên đứng vây quanh máy thu, không che ô cho máy thu
2.1.6 Ưu điểm của phương pháp định vị GPS
2.1.6.1 Ưu điểm
- Các vệ tinh có thể quan trắc trên cùng một vùng lãnh thổ rộng lớn như quốc gia hay châu lục, trong khi phương pháp định vị truyền thống chỉ khống chế
ở một khu vực nhỏ hẹp
- Không đòi hỏi thông hướng trên mặt đất giữa các trạm đo
- Có thể định vị ở thời gian thực và ở thời điểm bất kỳ: trên mặt đất, trên biển và trong không gian cho đối tượng đứng yên hay di động
- Có thể đo 24h/ngày trong mọi điều kiện thời tiết; rút ngắn thời gian thi công, đem lại hiệu quả kinh tế cao
- Độ chính xác lưới cao, đồng đều và không phụ thuộc vào đồ hình của lưới nên thuận lợi cho công tác thiết kế lưới
- Công tác xử lý nội nghiệp hoàn toàn tự động theo các chương trình có sẵn nên kết quả có độ tin cậy cao
2.1.6.2 Nhược điểm
- Máy móc thiết bị đắt tiền, cán bộ thi công phải có trình độ và kinh nghiệm
- Công tác chọn điểm theo nguyên tắc khá nghiêm ngặt Do đó hệ thống này
sẽ bị hạn chế khi thi công ở khu vực rừng núi, thành phố, khu dân cư
2.1.7 Tọa độ và hệ quy chiếu
Hệ định vị GPS cho tọa độ vuông góc không gian 3 chiều X, Y, Z hoặc các thành phần tọa độ trắc địa mặt cầu B, L, H hoặc các gia số tọa độ trên trong hệ tọa độ toàn cầu WGS-84
Trang 272.2 THIẾT KẾ LƯỚI ĐỊA CHÍNH BẰNG CÔNG NGHỆ GPS 2.2.1 Khái niệm, nguyên tắc thiết kế lưới
2.2.1.1 Khái niệm về lưới GPS
Lưới GPS gồm các điểm được chôn ở các vị trí có nền đất vững chắc, ổn định, quang đãng, nằm ngoài chỉ giới quy hoạch công trình; đảm bảo khả năng tồn tại lâu dài trên thực địa; thuận lợi cho việc đo ngắm và phát triển lưới cấp thấp Các điểm được liên kết với nhau bởi các cạnh đo, nhờ các cạnh đo chúng ta
sẽ tính toán chính xác tọa độ, độ cao của các điểm trong một hệ thống tọa độ thống nhất
- Hệ thống lưới tọa độ cơ sở phải được xây dựng trên cơ sở các điểm tọa độ Nhà nước cấp cao hơn
- Lưới tọa độ cơ sở phải được nối vào ít nhất hai điểm cấp cao hơn gần khu
- Thường xuyên cập nhật, tiến hành nâng cao độ chính xác bằng công nghệ
và kỹ thuật đo tiên tiến
- Trong quá trình thiết kế cố gắng chọn phương án tối ưu, giá thành thấp,
dễ thi công, đồng thời đảm bảo độ chính xác trong công tác đo vẽ theo từng cấp hạng
2.2.2 Cơ sở toán học của lưới địa chính
2.3.2.1 Lựa chọn mặt chiếu
Việc thể hiện bề mặt trái đất lên mặt phẳng cần phải có một cơ sở toán học nhằm thể hiện chính xác và ít bị biến dạng khi khai triển
Trang 28Mặt Geoid trái đất có kích thước và hình dạng phức tạp không thể hiện nó bằng một mặt toán học được nên ta phải có một bề mặt chuẩn nào đó để so sánh
mà cơ sở đặt ra là phải có tính ổn định Trái đất chia làm hai phần: lục địa và đại dương Trong đó phần lục địa chiếm 1/3 diện tích trái đất, là nơi con người sinh sống; là phần có địa hình, địa vật và cấu tạo vật chất phức tạp cho nên không thể làm cơ sở để so sánh Vì thế có nhiều ý tưởng chọn mặt đại dương là mặt cơ sở
để so sánh, vì bề mặt đại dương trơn láng, chiếm đại đa số diện tích Trái đất
Tuy nhiên, mặt nước biển không ổn định mà có biến động rất nhiều Nhằm khắc phục tính không ổn định của mực nước biển người ta xây dựng các trạm nghiệm triều để đo mực nước biển, rồi lấy giá trị trung bình từng ngày so sánh người ta thấy giá trị sai lệch cao, sau đó lấy giá trị trung bình theo tháng nhưng vẫn chưa đạt yêu cầu, người ta tiếp tục so sánh giá trị trung bình theo từng năm
Người ta nhận thấy nếu lấy theo chu kì 17,67 năm thì chỉ số sai lệch chỉ từ vài
mm đến vài cm, thoả mãn được yêu cầu đặt ra
Khác mặt Geoid, một bề mặt khác đơn giản thể hiện được dưới dạng phương trình toán học để thể hiện một cách gần đúng bề mặt trái đất dùng làm cơ
sở so sánh mặt bằng đó là mặt Ellipsoid
Ellipsoid tròn xoay có phương trình toán học:
2 2
2 2
2
=++
b
Z a
Y a X
Ellipsoid toàn cầu là một Ellipsoid toán học tròn xoay xấp xỉ tốt nhất đối với phạm vi toàn thế giới Ellipsoid toàn cầu có trục quay trùng với trục quay Trái đất, trọng tâm trùng với trọng tâm trái đất Tuy nhiên đưa trọng tâm Ellipsoid trùng với trọng tâm của trái đất là không thể vì vậy đưa vào hai bề mặt xấp xỉ càng tốt
Ellipsoid toàn cầu chỉ tốt trên phạm vi toàn cầu, vì vậy mỗi quốc gia đều tìm một mặt Ellipsoid phù hợp với quốc gia đó gọi là Ellipsoid cục bộ Kích thước Ellipsoid có nhiều giá trị khác nhau
- Có hai phương án để chọn Ellipsoid cục bộ:
+ Xây dựng Ellipsoid mới phù hợp với lãnh thổ của mỗi quốc gia, tuy độ phù hợp cao nhưng chi phí quá cao
+ Sử dụng Ellipsoid có sẵn và định vị lại cho phù hợp với lãnh thổ của quốc gia mình, độ phù hợp ở mức độ tương đối nhưng chi phí thấp
Trang 29Để khai triển chính xác mặt Ellipsoid lên mặt phẳng thì cần một mặt trung gian để biểu diễn thành mặt phẳng Yêu cầu về mặt trung gian này càng gần với mặt Ellipsoid càng tốt để giảm sai số biến dạng và mặt cong này được gọi là mặt chiếu Có 3 mặt chiếu (hình trụ, hình phẳng, hình nón) và mỗi mặt chiếu sử dụng
3 phép chiếu (đứng, ngang, nghiêng) Không có phép chiếu nào tốt nhất, phép chiếu chỉ tốt với một khu vực cụ thể Mặt chiếu được sử dụng hiện nay là mặt trụ, phép chiếu được sử dụng là phép chiếu hình trụ ngang đồng góc đối xứng
2.2.2.2 Cơ sở toán học
Theo Thông tư số 973/2001/TT-TCĐC ngày 20 tháng 06 năm 2001 của Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) về việc hướng dẫn áp dụng hệ quy chiếu và hệ tọa độ Quốc gia VN-2000 (sau đây gọi tắt là hệ VN-2000) Hệ VN-2000 được áp dụng thống nhất để xây dựng hệ thống tọa độ các cấp hạng, hệ thống bản đồ địa chính, hệ thống bản đồ hành chính quốc gia và các loại bản đồ chuyên đề khác Hệ VN-2000 có các tham số chính sau đây:
Ellipsoid quy chiếu quốc gia là Ellipsoid WGS-84 toàn cầu với kích thước:
- Bán trục lớn: a= 6.378.137,0 m;
- Độ dẹt: f= 1:298,257223563;
- Tốc độ góc quay quanh trục: ω= 7292115,0x10-11rad/s;
- Hằng số trọng trường Trái đất: GM= 3986005 108 m3s-2
Vị trí Ellipsoid quy chiếu Quốc gia: Ellipsoid WGS-84 toàn cầu được định
vị lại cho phù hợp với lãnh thổ Việt Nam (có thể tịnh tiến, không xoay, không thu nhỏ) trên cơ sở sử dụng điểm GPS cạnh dài có độ cao thủy chuẩn phân bố đều trên toàn lãnh thổ
Điểm gốc tọa độ Quốc gia: điểm N00 đặt tại Viện nghiên cứu Địa chính, đường Hoàng Quốc Việt, Hà Nội (nay là Viện khoa học Đo đạc và Bản đồ - Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Hệ thống tọa độ phẳng: hệ tọa độ phẳng UTM Quốc tế, được thiết lập trên
cơ sở lưới chiếu hình trụ ngang đồng góc
Trang 30- Sử dụng lưới chiếu hình trụ ngang đồng góc với múi chiếu 60 có hệ số điều chỉnh tỷ lệ biến dạng chiều dài k0 = 0,9996 để thể hiện các bản đồ địa hình
cơ bản, bản đồ nền, bản đồ hành chính quốc gia tỷ lệ từ 1:500.000 đến 1:25.000
- Sử dụng lưới chiếu hình trụ ngang đồng góc với múi chiếu 30 có hệ số điều chỉnh tỷ lệ biến dạng chiều dài k0 = 0,9999 để thể hiện các bản đồ địa hình
25/2014/TT Để đo vẽ thành lập bản đồ địa chính bằng phương pháp đo vẽ trực tiếp thực địa, mật độ điểm khống chế tọa độ quy định như sau:
+ Bản đồ tỷ lệ 1:5000, 1:10000: Trung bình 500 ha có một điểm khống chế tọa độ có độ chính xác tương đương điểm địa chính trở lên;
+ Bản đồ tỷ lệ 1:500, 1:1000, 1:2000: Trung bình từ 100 ha đến 150 ha có một điểm khống chế tọa độ có độ chính xác tương đương điểm địa chính trở lên;
+ Bản đồ tỷ lệ 1:200: Trung bình 30 ha có một điểm khống chế tọa độ có độ chính xác tương đương điểm địa chính trở lên;
+ Trường hợp khu vực đo vẽ có địa hình dạng tuyến thì bình quân 1,5 km chiều dài được bố trí 01 điểm tọa độ có độ chính xác tương đương điểm địa chính trở lên;
Trường hợp đặc biệt, khi đo vẽ lập bản đồ địa chính mà diện tích khu đo nhỏ hơn 30 ha thì điểm tọa độ có độ chính xác tương đương điểm địa chính trở lên mật độ không quá 2 điểm
- Để đo vẽ thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000, 1:5000, 1:10000 bằng phương pháp ảnh hàng không kết hợp với đo vẽ trực tiếp thực địa thì trung bình
2500 ha có một điểm khống chế tọa độ có độ chính xác tương đương điểm địa chính trở lên
Trang 312.2.4 Lưới địa chính
Lưới địa chính được quy định tại Điều 9, Chương II, Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 5 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, như sau:
1 Lưới địa chính được xây dựng trên cơ sở lưới tọa độ và độ cao Quốc gia
để tăng dày mật độ điểm khống chế, làm cơ sở phát triển lưới khống chế đo vẽ và
đo vẽ chi tiết
2 Lưới địa chính được thiết kế trên bản đồ địa hình tỷ lệ lớn hoặc bản đồ địa chính Khi thiết kế lưới phải đảm bảo các điểm được phân bố đều trên khu
đo, trong đó ưu tiên tăng dày cho khu vực bị che khuất nhiều, địa hình phức tạp;
các điểm khống chế tọa độ từ địa chính cấp II (trước đây) trở lên, điểm độ cao Quốc gia từ hạng IV trở lên đã có trong khu đo phải được đưa vào lưới mới thiết kế
3 Lưới địa chính phải được đo nối tọa độ với ít nhất 03 điểm khống chế tọa
độ có độ chính xác tương đương điểm tọa độ Quốc gia hạng III trở lên, trường hợp đặc biệt được phép đo nối với 02 điểm nhưng phải quy định cụ thể trong thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình
Trường hợp lập lưới địa chính bằng công nghệ GPS phải đo nối độ cao với
ít nhất 02 điểm khống chế độ cao có độ chính xác tương đương điểm độ cao Quốc gia hạng IV trở lên
4 Khi lập lưới địa chính bằng công nghệ GPS phải xác định đồng thời tọa
độ và độ cao Trường hợp lập lưới địa chính bằng phương pháp khác thì không xác định độ cao điểm địa chính
5 Điểm tọa độ địa chính phải được chọn ở các vị trí có nền đất vững chắc,
ổn định, quang đãng, nằm ngoài chỉ giới quy hoạch công trình; đảm bảo khả năng tồn tại lâu dài trên thực địa; thuận lợi cho việc đo ngắm và phát triển lưới cấp thấp
6 Khi lập lưới bằng công nghệ GPS thì các điểm phải đảm bảo có góc mở lên bầu trời lớn hơn 1200; ở xa các trạm thu phát sóng tối thiểu 500 m ; xa các trạm biến thế, đường dây điện cao thế, trạm điện cao áp tối thiểu 50 m
2.2.5 Cơ sở pháp lý của việc xây dựng lưới
2.2.5.1 Luật và các văn bản dưới luật
- Luật Đất đai số 45/2013/QH13 được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26 ngày 11 tháng 2013 và có hiệu lực thi hành từ
Trang 32- Thông tư số 05/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 6 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc Hướng dẫn kiểm tra, thẩm định và nghiệm thu công trình, sản phẩm đo đạc và bản đồ
- Quyết định số 05/2007/QĐ-BTNMT ngày 27 tháng 02 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về sử dụng hệ thống tham số tính chuyển giữa Hệ tọa
độ quốc tế WGS-84 và hệ tọa độ quốc gia VN-2000
- Công văn số 1139/ĐĐBĐVNCNTĐ ngày 26 tháng 12 năm 2011 của Cục
Đo đạc và Bản đồ Việt Nam về việc sử dụng công nghệ GPS/GNSS
- Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 5 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về bản đồ địa chính
2.3 ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ GPS TRONG TRẮC ĐỊA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.3.1 Trên thế giới
Trong lĩnh vực thành lập lưới trắc địa, nhiều nước đã ứng dụng thành công công nghệ GPS để:
- Chêm dày lưới truyền thống đã xây dựng
- Bổ sung các số liệu GPS nhằm nâng cao độ chính xác của mạng lưới trắc địa hiện có
- Xây dựng hệ quy chiếu động để nghiên cứu khoa học (địa động, sóng thần…)
Trang 33Dưới đây sẽ giới thiệu một số thành quả của việc ứng dụng công nghệ GPS của một số nước, gồm:
2.3.1.1 Ở Liên bang Nga
Dựa trên việc áp dụng các phương pháp đo đạc sử dụng hệ thống định vị toàn cầu GLONASS và GPS, lưới trắc địa quốc gia GGS ở Nga hiện nay, bao gồm các cấu trúc trắc địa với độ chính xác khác nhau: Lưới thiên văn trắc địa cơ bản (FAGC) với khoảng cách giữa các điểm FAGC từ 600 km đến 800 km và sai
số vị trí tương đối của các điểm nhỏ hơn 2 cm về mặt bằng; lưới trắc địa độ chính xác cao (VGS) với khoảng cách giữa các điểm từ 150 km đến 300 km bao trùm toàn bộ lãnh thổ nước Nga và lưới trắc địa vệ tinh hạng 1 với khoảng cách trung bình từ 25 km đến 30 km (Bùi Thị Hồng Thắm, 2014)
2.3.1.2 Ở Singapore
Từ năm 1992 Singapore đã có chương trình ứng dụng công nghệ GPS để hiện đại hoá và tăng dày mạng lưới trắc địa của mình Chương trình này nhằm thành lập mạng lưới đo đạc tích hợp (ISN) gồm các điểm hạng C cấp I và Cấp II
Mạng lưới cấp I gồm 38 điểm và cấp II gồm khoảng 10.000 điểm (khoảng cách giữa các điểm khoảng 300 m) (Bùi Thị Hồng Thắm, 2014)
2.3.1.3 Ở Australia
Lưới GPS khu vực Australia (ARGN) được xây dựng bao gồm 15 trạm GNSS geodetic cung cấp khung quy chiếu cơ bản cho dữ liệu không gian cùng với lưới cơ sở theo hệ tọa độ địa tâm Từ năm 2007 đến năm 2012, chính phủ Liên bang Australia đã thiết lập gần 100 trạm GNSS CORS dọc theo các tuyến chủ yếu được phân bố trên toàn lãnh thổ thông qua chiến lược hợp tác nghiên cứu
cơ sở hạ tàng quốc gia Lưới GNSS CORS được triển khai với khoảng cách giữa các trạm liền kề khoảng 200 km Một số trạm được chọn đồng thời là các trạm quan trắc thủy triều Lưới nhằm phát triển và tăng cường hệ thống quy chiếu không gian quốc gia và hỗ trợ các lĩnh vực như nông nghiệp, khai thác mỏ,…
Bên cạnh đó, 58 trạm mới cấp Liên bang và 44 trạm cấp bang sẽ được thiết lập
để bổ sung cho lưới trắc địa quốc gia Australia (Bùi Thị Hồng Thắm, 2014)
2.3.2 Tại Việt Nam
Ở Việt Nam việc ứng dụng công nghệ GPS phục vụ lĩnh vực trắc địa gồm:
- Xây dựng lưới toạ độ Nhà nước bằng GPS
- Ứng dụng công nghệ GPS trong các lĩnh vực giao thông, thủy lợi, thủy
Trang 34điện (quan trắc biến dạng công trình)
- Ứng dụng công nghệ GPS trong xây dựng lưới địa chính cơ sở, lưới khống chế đo vẽ…
Các kết quả đã triển khai ở Việt Nam từ năm 1991 đến nay, như sau:
1 Từ tháng 12/1991 đến tháng 4/1993 đã hoàn thành việc xây dựng lưới toạ
độ Nhà nước bằng GPS tại khu vực Minh Hải, Sông Bé và Tây Nguyên với tổng
số 117 điểm và 91 điểm phương vị, các điểm GPS ở các khu vực trên tạo thành lưới tam giác dày đặc Xây dựng lưới trắc địa biển vào năm 1992 gồm 36 điểm trong đó có 18 điểm nằm trên quần đảo Trường Sa
2 Kết hợp loại máy GPS 2 tần số và 1 tần số đã xây dựng mạng lưới tọa độ trên quần đảo Trường Sa, đo nối mạng lưới này và phần lớn đảo chính với mạng lưới đất liền Các điểm GPS này tạo thành mạng lưới toạ độ biển Việt Nam gồm
36 điểm
3 Mạng lưới cạnh dài phủ trùm phần đất liền của lãnh thổ Việt Nam đã hoàn thành đầu năm 1994 gồm 23 điểm GPS Lưới này đã liên kết các lưới GPS, lưới tam giác và đường chuyền Nhà nước
4 Công nghệ GPS với máy thu 2 tần số đã được ứng dụng trong việc xây dựng mạng lưới toạ độ cấp “0” với 71 điểm phủ trùm cả nước
5 Công nghệ GPS đã được ứng dụng để đo các mạng lưới toạ độ quốc gia hạng III (địa chính cơ sở) phủ trùm cả nước với 12.631 điểm
6 Công nghệ GPS đã được ứng dụng để đo các mạng lưới trắc địa nhỏ các mạng lưới khu vực
7 Thiết lập các hệ thống trạm DGPS phục vu đo biển và biên giới gồm:
- 03 trạm tại: Điện Biên, Cao Bằng, Hà Giang phục vụ đo biên giới Việt - Trung;
- 03 điểm tại: Đồ Sơn, Vũng Tàu, Quảng Nam phục vụ công tác đo biển
8 Hiện nay, Cục Đo đạc Bản đồ - Bộ Quốc phòng đang củng cố và xây dựng 06 trạm (gồm 4 trạm tại: Phú Quốc, Đà Nẵng, Móng Cái, đảo Trường Sa lớn đã đi vào hoàn động; riêng trạm tại Cửa Lò và Cam Ranh đang xây dựng)
9 Triển khai công nghệ GPS trong xây dựng lưới địa chính trên phạm vi toàn quốc
Nguồn: Bùi Thị Hồng Thắm (2014)
Trang 352.4 ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CHUNG
Hệ thống định vị toàn cầu GPS do Mỹ nghiên cứu và thiết lập bắt đầu từ năm 70 của thế kỷ 20, trải qua gần 50 năm phát triển đã chứng minh được những đặc tính ưu việt của công nghệ này và được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực của đời sống, đặc biệt công nghệ GPS mở ra một thời kỳ mới đối với ngành trắc địa trên toàn thế giới, đã khắc phục được những hạn chế mà phương pháp đo đạc truyền thống gặp phải như: không đòi hỏi thông hướng trên mặt đất giữa các trạm đo; có thể định vị ở thời gian thực và ở thời điểm bất kỳ; có thể đo 24h/ngày trong mọi điều kiện thời tiết; độ chính xác lưới cao, đồng đều và không phụ thuộc vào đồ hình của lưới nên thuận lợi cho công tác thiết kế lưới
Tuy nhiên, việc ứng dụng đại trà công nghệ GPS trong lĩnh vực xây dựng lưới địa chính phục vụ công tác đo vẽ chi tiết còn gặp nhiều khó khăn do: máy móc thiết bị đắt tiền, cán bộ thi công phải có trình độ và kinh nghiệm; công tác chọn điểm theo nguyên tắc khá nghiêm ngặt
Ngoài ra, khu vực ven biển huyện Quảng Xương có địa hình chia cắt bởi hệ thống sông, ao, hồ, các gò đồi và hệ thống thực phủ phức tạp Do đó việc ứng dụng thành công công nghệ GPS trong xây dựng lưới địa chính cụm 04 xã ven biển huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa với độ chính xác cao sẽ là tiền đề để ứng dụng công nghệ trên trong việc xây dựng lưới khống chế đo vẽ toàn huyện Quảng Xương góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý, sử dụng đất tại cụm
04 xã trên là điều cần thiết mà luận văn hướng tới
Trang 36PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Cụm 04 xã ven biển huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, gồm: xã Quảng Hải, xã Quảng Lưu, xã Quảng Lộc và xã Quảng Thái
3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Luận văn được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 2015 đến tháng 5 năm 2016
3.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Sử dụng công nghệ GPS xây dựng lưới địa chính cụm 04 xã ven biển, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của cụm 04 xã ven biển huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, gồm: xã Quảng Hải, xã Quảng Lưu, xã Quảng Lộc và xã Quảng Thái
2 Xây dựng lưới địa chính, gồm: thiết kế lưới (chọn điểm, chôn mốc), thi công, đo đo đạc lưới khống chế bằng thiết bị máy GPS 1 tần số 4600LS của hãng Trimble theo quy định hiện hành
3 Bình sai lưới bằng chương trình Compass do hãng Huace X20 phát triển
từ đó đưa ra kết quả bình sai trong hệ tọa độ VN2000 và đánh giá độ chính xác của lưới
4 Kiểm tra các yếu tố lưới, so sánh kết quả đo lưới và đánh giá độ chính xác đã đạt được với quy phạm hiện hành để kết luận về độ chính xác của lưới GPS đã xây dựng
3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Tiến hành thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu đo; các điểm tọa độ và độ cao Nhà nước trong khu đo; tư liệu bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng sử dụng đất phục vụ cho công tác thiết kế lưới địa chính trên khu vực đo thuộc cụm 4 xã ven biển
Trang 373.5.2 Phương pháp thiết kế lưới
Căn cứ các loại tư liệu bản đồ và các điểm khống chế cấp cao hơn đã có trên khu vực đo, tiến hành khảo sát thực địa và thiết kế phương án tổ chức lưới khống chế địa chính phủ trùm trên diện tích 4 xã Trên cơ sở thiết kế sẽ lựa chọn phương án tối ưu để thi công đo ngoài thực địa
3.5.3 Phương pháp thi công lưới địa chính
Phương pháp thi công xây dựng lưới địa chính phải đảm bảo tuân thủ theo quy định hiện hành của Bộ Tài nguyên và Môi trường, gồm các nội dung công việc: Thiết kế lưới, chọn điểm, đổ, chôn mốc; đo đạc các yếu tố trong lưới bằng phương pháp đo GPS tĩnh
3.5.4 Phương pháp xử lý số liệu đo
Sau khi đo GPS tiến hành trút số liệu bằng modul Data Transfer, số liệu sau khi trút có định dạng *.DAT
Việc xử lý số liệu đo được thực hiện bằng phần mềm Compass của hãng Huace X20 phát triển; Biên tập 7 bảng GPS từ tọa độ sử dụng phần mềm DPSurvey 2.8
3.5.5 Phương pháp kiểm tra lưới
Phương pháp này rất quan trọng, việc kiểm tra lưới được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 05/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 06 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, gồm các hạng mục công việc: kiểm tra kích thước mốc, quy cách mốc, công tác nghiệm thu kết quả đo
3.5.6 Phương pháp phân tích, so sánh
Trên cơ sở kết quả công tác ứng dụng công nghệ GPS để xây dựng lưới địa chính cho cụm 04 xã: Quảng Hải, Quảng Lưu, Quảng Lộc và Quảng Thái, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; tiến hành tổng hợp, phân tích, so sánh, đánh giá
độ chính xác lưới GPS đã xây dựng với các quy định thành lập bản đồ địa chính được quy định tại Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 5 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Trang 38PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA CỤM 04 XÃ VEN BIỂN, HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA
Vị trí tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc giáp xã Quảng Giao, Quảng Đại, huyện Quảng Xương
- Phía Đông giáp Biển Đông
- Phía Tây Bắc giáp xã Quảng Nhân, Quảng Bình, huyện Quảng Xương
- Phía Tây Nam giáp xã Quảng Lĩnh, huyện Quảng Xương
- Phía Nam giáp xã Quảng Lợi, huyện Quảng Xương
Nguồn: UBND huyện Quảng Xương (2015)
Hình 4.1 Vị trí khu vực nghiên cứu
Trang 394.1.1.2 Địa hình, giao thông, thủy hệ
a Địa hình
Cụm 04 xã ven biển gồm: Quảng Hải, Quảng Lưu, Quảng Lộc và Quảng Thái, huyện Quảng Xương có địa hình thấp dần từ Tây sang Đông và chia thành hai dạng địa hình chính:
- Dạng địa hình đồng bằng: bên bờ trái hệ thống sông Rào, địa hình khá bằng phẳng; độ cao trùng bình từ 1,3 m đến 4,8 m so với mực nước biển với các thành tạo aluvi - biển Trong khu vực cũng có nhiều điểm trũng tạo thành các
hồ đầm nhỏ
- Dạng địa hình cồn cát ven biển: Độ cao trung bình so với mặt nước biển
từ 0,9 m đến 6,9 m đối với các thành tạo biển - gió phân bố thành dải dọc bờ biển
và song song với bờ biển
- Sông Rào theo chiều từ Bắc xuống Nam cắt ngang phần lãnh thổ cụm 04
xã và có chức năng thoát nước cho toàn bộ diện tích phần phía Đông
- Sông Chìm theo chiều từ Tây Bắc xuống phía Nam nối với sông Lý và sông Hồng Bình là nguồn cung cấp nước sản xuất nông nghiệp chính cho toàn vùng
- Hệ thống kênh lớn gồm: kênh Lĩnh Khê, kênh Nhân Bình, kênh 30, kênh Bắc, kênh B37…có nhiệm vụ cung cấp nước tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp cho toàn vùng
Ngoài ra trong vùng còn có nhiều ao, hồ lớn, nhỏ có nhiệm vụ tích trữ nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho dân cư trong vùng
4.1.1.3 Điều kiện tự nhiên của khu đo
a Khí tượng
Theo số liệu điều tra theo dõi khí tượng nhiều năm cho thấy, khí hậu của huyện chịu ảnh hưởng chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt;
Trang 40mùa hè nóng ẩm và mưa nhiều, mùa đông khô lạnh, mưa ít Mùa nóng từ tháng 4 tới tháng 10 và trùng vào mùa mưa, mùa lạnh từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau và trùng vào mùa khô
Nhiệt độ không khí trung bình năm đạt 23 - 240C, về mùa hè đạt 25 - 290C,
Mỗi năm trung bình có 10,6 ngày có sương mù, sương mù xuất hiện vào các tháng mùa đông, tháng 3 là tháng có nhiều ngày sương mù nhất trong năm (từ 3 - 9 ngày) Do ảnh hưởng của sương mù nên tầm nhìn bị hạn chế, trong năm
có 2,6 ngày có tầm nhìn xa dưới 1 km; 31,5 ngày có tầm nhìn xa 1 - 10 km và 330,9 ngày có tầm nhìn xa trên 10 km
Gió thổi theo 2 mùa rõ rệt: Gió đông bắc khô lạnh thổi về mùa đông, gió đông nam thổi về mùa hè kèm theo nóng ẩm và mưa nhiều Các tháng 4, 5 và tháng 6 thỉnh thoảng có xuất hiện gió khô nóng nhưng ít ảnh hưởng đến sản xuất
b Thực phủ Đặc điểm chung thực phủ của khu vực là cây bụi thấp (rừng phi lao chắn sóng ven biển, bụi dứa, bụi gai), một số cây nông nghiệp xen lẫn trong khu dân
cư (dừa, ổi…) và cây nông nghiệp ngắn ngày (lúa, ngô, đậu, lạc, khoai…), ngoài
ra còn có một số cây công nghiệp xen lẫn trong khu dân cư
4.1.2 Đặc điểm kinh tế và xã hội
a Đặc điểm về dân cư
- Xã Quảng Hải: gồm 10 thôn với 2.120 hộ và 8.424 nhân khẩu
- Xã Quảng Lưu: gồm 16 thôn với 1.905 hộ và 7.615 nhân khẩu
- Xã Quảng Lộc: gồm 08 thôn với 1.678 hộ và 6.682 nhân khẩu
- Xã Quảng Thái: gồm 10 thôn với 2.250 hộ và 8.982 nhân khẩu