1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ VNUA tăng cường thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề cho học viên của trung tâm giáo dục thường xuyên các huyện vùng cao tỉnh hà giang

121 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tăng cường thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề cho học viên của trung tâm giáo dục thường xuyên các huyện vùng cao tỉnh Hà Giang
Tác giả Bùi Thị Loan
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hữu Khánh
Trường học Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1. Mở đầu (14)
    • 1.1. Tính cấp thiết (14)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (15)
    • 1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (16)
    • 1.4. Nội dung nghiên cứu (16)
  • Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về gắn giáo dục với đào tạo nghề (17)
    • 2.1. Cơ sở lý luận và chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước về gắn giáo dục và đào tạo nghề (17)
      • 2.1.1. Một số khái niệm (17)
      • 2.1.2. Mục tiêu của thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề (24)
      • 2.1.3. Vai trò của thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề (25)
      • 2.1.4. Tăng cường thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề cho học viên ở trung tâm GDTX (25)
      • 2.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề (31)
    • 2.2. Cơ sở thực tiễn (32)
      • 2.2.1. Thực tiễn thực hiện gắn giáo dục và đào tạo nghề của một số nước trên thế giới (32)
      • 2.2.2. Thực tiễn thực hiện đề án gắn giáo dục và đào tạo nghề tại Việt Nam (39)
      • 2.2.3. Giới thiệu sơ lược về các Trung tâm giáo dục thường xuyên của các huyện vùng cao tỉnh Hà Giang (44)
  • Phần 3. Phương pháp nghiên cứu (48)
    • 3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (48)
      • 3.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội (48)
    • 3.2. Phương pháp nghiên cứu (53)
      • 3.2.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu và mẫu điều tra (53)
      • 3.2.2. Phương pháp thu thập thông tin và xử lý số liệu (53)
      • 3.2.3. Phương pháp xử lý số liệu (54)
      • 3.2.4. Phương pháp phân tích (54)
      • 3.2.5. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích (55)
  • Phần 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận (57)
    • 4.1. Thực trạng thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề ở các trung tâm giáo dục thường xuyên các huyện vùng cao tỉnh Hà Giang (57)
      • 4.1.1. Khái quát về đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Hà Giang (57)
      • 4.1.2. Thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề cho học viên của Trung tâm giáo dục thường xuyên các huyện vùng cao tỉnh Hà Giang (59)
      • 4.1.3. Đánh giá thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề tại trung tâm giáo dục thường xuyên các huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang (77)
    • 4.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện đề án gắn giáo dục với đào tạo nghề (83)
      • 4.2.1. Các yếu tố bên trong (83)
      • 4.2.2. Các yếu tố bên ngoài (87)
    • 4.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện đề án gắn giáo dục với dạy nghề cho học viên trung tâm giáo dục thường xuyên các huyện vùng cao tỉnh Hà Giang (90)
      • 4.3.1. Đối với địa phương (90)
      • 4.3.2. Đối với các trung tâm giáo dục thường xuyên (93)
  • Phần 5. Kết luận và kiến nghị (104)
    • 5.1. Kết luận (104)
    • 5.2. Kiến nghị (106)
  • Tài liệu tham khảo (110)
  • Phụ lục (113)
    • Hộp 4.1. Đặc điểm học sinh của trung tâm giáo dục thường xuyên (65)
    • Hộp 4.2. Hộp khó khăn của học sinh tiếp cận thiết bị đào tạo nghề (69)
    • Hộp 4.3. Hộp thực hiện các giải pháp đào tạo nghề (70)
    • Hộp 4.4. Sự phù hợp của nội dung chương trình đào tạo (71)
    • Hộp 4.5. Hộp giáo viên quan tâm nâng cao chất lượng đào tạo nghề (71)
    • Hộp 4.6. Hộp khó khăn của học sinh vừa học văn hóa vừa học nghề (85)
    • Hộp 4.7. Về thiết bị, vật tư thực hành (85)
    • Hộp 4.8. Hộp gắn dạy lý thuyết với thực hành (96)

Nội dung

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM BÙI THỊ LOAN TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN ĐỀ ÁN GẮN GIÁO DỤC VỚI ĐÀO TẠO NGHỀ CHO HỌC VIÊN CỦA TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CÁC HUYỆN VÙNG CAO TỈNH HÀ GIANG Mã

Cơ sở lý luận và thực tiễn về gắn giáo dục với đào tạo nghề

Cơ sở lý luận và chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước về gắn giáo dục và đào tạo nghề

Nghề là thuật ngữ để chỉ một hình thức lao động sản xuất nào đó trong xã hội

Quan điểm của Theo Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền (2006) cho rằng nghề là một dạng lao động vừa mang tính xã hội (thông qua sự phân công xã hội) vừa mang tính cá nhân (phản ánh nhu cầu của mỗi cá nhân) Trong khuôn khổ ấy, con người với vai trò là chủ thể hoạt động nghề nghiệp đòi hỏi phải thỏa mãn những nhu cầu xã hội và cá nhân nhất định Nói cách khác, nghề vừa liên kết quá trình phân công xã hội với mong muốn và mục tiêu cá nhân của người lao động.

Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất và tinh thần của con người ở mức độ có giới hạn, đồng thời là thành phần thiết yếu của xã hội do sự phân công lao động quy định Nhờ phân công lao động xã hội, nghề nghiệp được hình thành và duy trì, cho phép con người phát huy khả năng lao động để thu được các phương tiện cần thiết cho sự tồn tại và sự phát triển của bản thân và cộng đồng.

Theo tác giả Nguyễn Hùng (2014) thì: “ Những chuyên môn có những đặc điểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là nghề Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau

Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức mạnh vật chất sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người ”

Từ điển Tiếng Việt Hoàng Phê (1998) định nghĩa: “Nghề là công việc chuyên làm, theo sự phân công lao động của xã hội”

Những khái niệm trên cho thấy nghề nghiệp là một dạng lao động có tính xã hội và đồng thời mang tính cá nhân, thể hiện sự phân công xã hội cùng với nhu cầu bản thân Trong nghề nghiệp, con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi phải thỏa mãn những yêu cầu của xã hội và của bản thân, từ đó nghề nghiệp vừa đáp ứng nhu cầu xã hội vừa phục vụ mục tiêu cá nhân.

Mỗi nghề nghiệp đều chứa một hệ thống giá trị gồm kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề và truyền thống nghề, cùng với hiệu quả mà nghề mang lại cho người lao động và xã hội Nghề là nền tảng giúp con người xây dựng nghiệp—việc làm và sự nghiệp—đồng thời tạo cơ hội phát triển bản thân, ổn định kinh tế và đóng góp cho cộng đồng Vì vậy, nghề nghiệp không chỉ là nguồn thu nhập mà còn là khuôn khổ giáo dục thực tiễn, nơi truyền đạt kiến thức và kỹ năng qua các thế hệ, nâng cao chất lượng cuộc sống và khơi dậy sự tự tin trong mỗi người.

Nghề nghiệp là một dạng lao động đòi hỏi quá trình đào tạo chuyên biệt để có kiến thức chuyên môn, kỹ năng và kỹ xảo nhất định Ở một khía cạnh khác, nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà nhờ được đào tạo, con người có tri thức, kỹ năng và thái độ để làm ra các sản phẩm vật chất hoặc tinh thần đáp ứng nhu cầu của xã hội Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp, nơi con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra các giá trị vật chất như lương thực, công cụ lao động hoặc các giá trị tinh thần như sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ, nhằm phục vụ nhu cầu sinh tồn và phát triển của xã hội.

Trên toàn cầu hiện nay có khoảng 2.000 nghề nghiệp với hàng chục nghìn chuyên môn khác nhau Ở các nước Đông Âu và Liên Xô cũ trước đây, thống kê cho thấy có khoảng 15.000 chuyên môn, còn ở Mỹ con số này lên tới 40.000.

Bên cạnh khái niệm nghề cần quan tâm tới đặc điểm chuyên môn của nghề và phân loại nghề Đặc điểm chuyên môn của nghề gồm các yếu tố:

- Đối tượng lao động của nghề

- Công cụ và phương tiện lao động của nghề

- Tổ chức quá trình lao động sản xuất của nghề

- Các yêu cầu đặc trưng về tâm sinh lí của người hành nghề cũng như yêu cầu về đào tạo nghề

Phân loại nghề có ý nghĩa quan trọng trong tổ chức đào tạo nghề vì nó xác định mục tiêu, nội dung và chuẩn đầu ra cho người học; tuy nhiên, từ yêu cầu, mục đích sử dụng và các tiêu chí khác nhau nên quá trình phân loại nghề trở nên phức tạp và phong phú Chẳng hạn, theo tính chất nghề ta có nghề đơn giản và nghề kỹ thuật; theo phạm vi hoạt động, nghề được phân thành diện hẹp và diện rộng.

Phù hợp nghề nghiệp bắt nguồn từ nhận thức sâu sắc về nghề mình chọn, giúp người lao động hiểu rõ bản thân và hiểu nghề; tiếp đó là quá trình tự rèn luyện để tạo sự tương thích với các yêu cầu của nghề, làm nền tảng cho hiệu quả công việc; để sự phù hợp nghề có tính bền vững về chất lượng, người lao động phải khổ công học hỏi, không ngừng hoàn thiện những gì đã có và biến những đòi hỏi do nghề đặt ra thành đòi hỏi do chính mình đặt ra.

2.1.1.2 Khái niệm đào tạo nghề

Theo Luật Giáo dục Nghề nghiệp được Quốc hội khóa XI thông qua năm 2014, đào tạo nghề được định nghĩa là quá trình kết hợp giữa dạy và học nhằm trang bị cho người học những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp thiết yếu Quá trình này giúp người học có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo dựng việc làm sau khi hoàn thành khóa học.

Đào tạo nghề (hay dạy nghề) là một khái niệm đa diện được nhiều nhà nghiên cứu đề cập, nhấn mạnh rằng đây là hệ thống các hoạt động nhằm cung cấp kiến thức và kỹ năng cho học viên tại các cơ sở đào tạo nghề nghiệp Đây là công việc kết nối giữa mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình, cách thức tổ chức thực hiện và các vấn đề liên quan như tuyển sinh, tổ chức thực tập, thi tốt nghiệp, giám sát, đánh giá, kiểm tra, cùng với các quy trình đánh giá khác và các chính sách liên quan đến chuẩn mực và cấp bằng ở lĩnh vực đào tạo nghề nghiệp để đảm bảo chất lượng và sự công nhận của bằng cấp.

Theo Nguyễn Đình Luận (2015), dạy nghề là quy trình mà các doanh nghiệp sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập, nhằm hình thành các hành vi có kết quả đóng góp vào mục tiêu và mục đích của công ty Quá trình này kết nối giáo dục nghề nghiệp với hiệu quả làm việc và chiến lược phát triển của doanh nghiệp, giúp người học phát triển kỹ năng thiết yếu và thể hiện những hành vi phù hợp với mục tiêu kinh doanh.

Theo Nguyễn Hùng (2008) đưa ra khái niệm Dạy nghề là hoạt động đáp ứng bốn điều kiện sau:

Bài viết gợi ra những giải pháp cho người học, giúp họ xác định mục tiêu, đánh giá trình độ và lựa chọn lộ trình học tập phù hợp Đồng thời, nó nhấn mạnh việc phát triển tri thức, kỹ năng và thái độ để nâng cao năng lực cá nhân trong cả học tập và công việc Quá trình này tạo ra sự thay đổi trong hành vi học tập và cách vận dụng kiến thức vào thực tế Khi người học kiên trì thực hiện các bước hành động có mục tiêu, họ sẽ đạt được những mục tiêu chuyên biệt và nâng cao hiệu suất cá nhân.

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế ILO (2008), dạy nghề là quá trình cung cấp cho người học các kỹ năng thiết yếu để có thể thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan đến công việc nghề nghiệp được giao Quá trình này tập trung vào kiến thức và kỹ năng thực hành nhằm nâng cao khả năng làm việc, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và mở rộng cơ hội nghề nghiệp cho người học Dạy nghề giúp người học hình thành năng lực giải quyết công việc, thích nghi với sự đổi mới và tự tin thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn trong môi trường làm việc thực tế.

Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Thực tiễn thực hiện gắn giáo dục và đào tạo nghề của một số nước trên thế giới

Theo Cảnh Chí Hoàng và Trần Vĩnh Hoàng (2013), Nhật Bản đã hình thành một mối quan hệ khăng khít giữa đào tạo kỹ thuật ở cơ sở cấp 2 và đào tạo kỹ năng tại trường trung học phổ thông, nhằm tích hợp kiến thức kỹ thuật với kỹ năng thực hành ngay từ những năm đầu học Mô hình này mở đường liên thông giữa giáo dục phổ thông và hệ cao đẳng chuyên nghiệp, sau khi tốt nghiệp cấp phổ thông học sinh có lộ trình tiếp tục học tại các cao đẳng chuyên nghiệp một cách thuận lợi Việc liên kết chặt chẽ giữa đào tạo kỹ thuật ở cấp cơ sở, đào tạo kỹ năng ở THPT và liên thông lên cao đẳng chuyên nghiệp góp phần phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cao và đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.

Các loại trường kỹ thuật ở Nhật Bản gồm 3 nhóm chính: (1) trường kỹ thuật 3 năm dành cho học sinh tốt nghiệp Trung học cơ sở—hay Trung học kỹ thuật/Trung học chuyên nghiệp—kết hợp giáo dục phổ thông và dạy nghề; (2) trường cao đẳng kỹ thuật 5 năm; (3) trường đào tạo chuyên ngành như y tế cộng đồng, y tá, dược tá và chăm sóc người già, tùy từng ngành 2–3 năm Bên cạnh đó còn có các trường chuyên tu tư nhân đào tạo các nghề cụ thể như cắt tóc, cắm hoa, dạy ngoại ngữ, văn hóa đời sống và đầu bếp (thường 1–2 năm, nằm ngoài hệ thống giáo dục của nhà nước) Ngoài ra còn có Trung tâm huấn luyện nghề công lập do cấp quận/huyện/thành phố quản lý, là cơ sở đào tạo nghề mới, hoàn toàn miễn phí cho người muốn đổi nghề hoặc nghỉ hưu, nhằm giải quyết tình trạng thất nghiệp.

Ở Nhật Bản, hệ thống giáo dục hiện đại được xây trên nền giáo dục phổ cập 9 năm mang tính bắt buộc, gồm 6 năm tiểu học và 3 năm trung học cơ sở Trên thực tế, gần như 100% học sinh hoàn tất chương trình giáo dục phổ cập này Sau khi hoàn thành cấp hai, khoảng 95% học sinh tiếp tục học lên các cấp học cao hơn.

3 phổ thông hoặc chọn vào một trường trung học kỹ thuật, hay trường chuyên tu để học nghề cụ thể

Nhật Bản nhận thức sâu sắc về vai trò của giáo dục khoa học và kỹ thuật trong việc thúc đẩy sự phát triển của đất nước và nền công nghiệp Đến cuối năm 1957, chính phủ Nhật Bản đã áp dụng một chính sách quan trọng: bắt buộc giảng dạy môn kỹ thuật tại tất cả các trường cấp hai trên toàn quốc, có hiệu lực từ năm 1958.

Việc đưa chương trình đào tạo kỹ thuật vào các trường cấp 2 đã mở rộng cơ hội học nghề cho học sinh từ sớm Môn giáo dục hướng nghiệp-dạy nghề trước đây được dạy ở cấp 2 nay được chuyển sang các trường phổ thông trung học (cấp 3) và trở thành một môn học tự chọn, giúp học sinh có thêm lựa chọn trong lộ trình học tập Động thái này nhằm tăng cường kỹ năng thực hành, định hướng nghề nghiệp và chuẩn bị cho thị trường lao động, đồng thời liên thông chương trình giữa cấp 2 và cấp 3 trở nên mạch lạc hơn Nhờ sự điều chỉnh này, giáo dục hướng nghiệp có thể linh hoạt phù hợp với nhu cầu học tập ngày càng đa dạng của học sinh và gia đình.

Mục tiêu chủ yếu của môn đào tạo kỹ thuật ở trường cấp 2 là giúp học sinh nắm các kỹ năng cơ bản thông qua kinh nghiệm sản xuất, hiểu biết công nghệ hiện đại và phát triển những kiến thức, thái độ cần thiết để ứng dụng thiết kế và thực hành trong thực tế Thông qua kinh nghiệm sản xuất, môn học nuôi dưỡng kỹ năng thuyết trình, sáng tạo và tư duy giải quyết vấn đề, đồng thời nhận thức được mối quan hệ mật thiết giữa công nghệ và đời sống và khơi dậy sự quan tâm đến phát triển công nghệ cùng ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày Nội dung chủ yếu của môn công nghệ bao gồm thiết kế và đồ họa, chế biến gỗ và nghề kim loại, máy móc, điện tử và chăn nuôi trồng trọt Chương trình đào tạo công nghệ được phân phối hợp lý và phù hợp với mục tiêu giáo dục phổ thông.

105 giờ trong mỗi cấp lớp ở trường cấp 2 cơ sở

Vào năm 1960, chính phủ Nhật Bản bắt đầu tăng gấp đôi số lượng trường trung học kỹ thuật để đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Trong giai đoạn này, các trường kỹ thuật 5 năm được thành lập và gọi là trường Cao đẳng chuyên nghiệp dành cho học sinh đã tốt nghiệp cấp trung học cơ sở, nhằm tăng cường nguồn nhân lực cho nền kinh tế.

Để đáp ứng tình trạng thiếu hụt giáo viên kỹ thuật có tay nghề, các trường cao đẳng sư phạm kỹ thuật 3 năm được thành lập nhằm bổ sung nguồn lực này, và các trường cao đẳng này được liên kết với khoa Kỹ thuật Công nghệ tại các trường đại học công lập Nhật Bản; trong suốt thập niên 1960, mỗi trường cao đẳng nghề nhận khoảng 900 sinh viên mỗi năm và sau 3 năm đào tạo bổ sung, lực lượng giáo viên dạy nghề được tăng lên một cách nhanh chóng; ở cấp phổ thông trung học, Bộ Giáo dục điều chỉnh lại các lớp kỹ thuật để khuyến khích phát triển kỹ năng cơ bản và sự linh động trong ứng dụng; trong các môn học cơ bản, Bộ Giáo dục khuyến khích sử dụng máy vi tính cho các môn khoa học và toán học; tất cả các sinh viên học nghề đều phải học một môn công nghệ thông tin có liên quan đến chuyên ngành của họ như xử lý thông tin nông nghiệp và xử lý thông tin kinh tế gia đình; một nội dung chấn chỉnh quan trọng nhất của các lớp kỹ thuật ở cấp phổ thông trung học là giới thiệu các lớp giải quyết vấn đề phức hợp như cơ điện tử, ứng dụng cơ điện tử và nghiên cứu dự án độc lập.

Phương pháp giảng dạy kỹ thuật của Nhật Bản dựa trên thực nghiệm và phương pháp luận lập trình, từ đầu đã nhấn mạnh sự liên kết giữa lý thuyết và thực hành Các lớp kỹ thuật được chia thành lý thuyết và thực hành, trong đó lớp thực hành (thí nghiệm) thường có ít học viên hơn so với lớp lý thuyết Trung bình mỗi lớp học có khoảng 40 học viên, tạo điều kiện cho giảng viên tập trung giảng dạy và học viên thực hành hiệu quả.

Trong thời gian gần đây, các hoạt động đổi mới trong lĩnh vực lập trình đang tích cực kết hợp nhiều lĩnh vực kỹ thuật khác nhau với nội dung lý thuyết tương ứng, nhằm tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn Các dự án và nghiên cứu mới tập trung vào giao thoa giữa khoa học máy tính, kỹ thuật và toán học ứng dụng, giúp chuyển đổi các khái niệm lý thuyết thành giải pháp công nghệ có thể triển khai vào thực tế Sự hợp tác giữa các lĩnh vực này thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tối ưu hóa quy trình thiết kế, kiểm thử và triển khai hệ thống phức tạp, đồng thời mở rộng cơ hội ứng dụng công nghệ mới trong nhiều ngành.

Ở Việt Nam, sách giáo khoa dùng cho giáo dục bắt buộc và cho các trường phổ thông trung học được các hãng sách tư nhân biên soạn và phát hành, dưới sự kiểm định và chấp thuận của Bộ Giáo dục Tất cả sách giáo khoa bắt buộc và sách giảng dạy kỹ thuật đều được phát miễn phí cho học sinh.

Nhật Bản đã tăng cường hướng nghiệp và đào tạo nghề cho học sinh ở lứa tuổi trung học cơ sở và trung học phổ thông thông qua nhiều phương pháp linh hoạt, nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Các chiến lược này tập trung vào đa dạng hóa giáo dục nghề nghiệp, kết hợp giữa học lý thuyết tại trường và thực hành thực tế, đồng thời mở rộng hợp tác với doanh nghiệp để thúc đẩy các chương trình thực tập và học nghề Nhờ đó, hệ thống giáo dục nghề nghiệp Nhật Bản nâng cao khả năng thích ứng của học sinh với thị trường lao động và các yêu cầu đổi mới công nghệ, góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cho nền kinh tế.

Theo Trịnh Xuân Thắng (2014), sự phát triển giáo dục và đào tạo ở Đức được định hướng bởi một quan điểm xuyên suốt: chỉ có những người được giáo dục và đào tạo bài bản mới có thể đưa đất nước vào vị trí hàng đầu trong cuộc đua toàn cầu và đồng thời tham gia tích cực vào quá trình phát triển đó Ở Đức, phân luồng sớm học sinh phổ thông được thực hiện từ cấp trung học cơ sở nhằm trang bị cho học sinh đủ trình độ đáp ứng yêu cầu của trung học phổ thông và chuẩn bị cho trình độ nghề nghiệp Học sinh tốt nghiệp các trường trung học cơ sở có thể tiếp tục học theo các luồng ưu tiên: trung học phổ thông, trung học nghề (kết hợp giáo dục phổ thông với giáo dục nghề nghiệp) và giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò chủ yếu trong hệ thống giáo dục Đức.

Ở Đức, sự gắn kết giữa đào tạo nghề và phát triển kinh tế tạo nên một thị trường lao động năng động và đầy nhu cầu Nhu cầu lao động của các doanh nghiệp được đáp ứng thông qua ký kết hợp đồng đào tạo và bồi dưỡng nghề cho học sinh, người lao động Kế hoạch triển khai đào tạo nghề do các bang và địa phương xác định, tùy thuộc vào sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế và thị trường lao động Đức Để hệ thống nghề nghiệp vận hành hiệu quả, Đức duy trì một cơ sở hạ tầng thông tin rộng rãi về các lĩnh vực ngành nghề, phục vụ cho học tập và nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.

Trong hệ thống các trường đại học ở Đức, hai trụ cột phân biệt là đại học khoa học (hay đại học nghiên cứu) và đại học thực hành Các trường đại học thực hành gắn liền với thực tiễn, thời gian đào tạo thường từ 3 đến 4 năm, nghiên cứu tại đây đóng vai trò ít hơn và chủ yếu tập trung vào các nghiên cứu và triển khai theo hướng ứng dụng Hiện nay ở Đức có chính sách liên thông từ đại học thực hành sang đào tạo sau đại học tại các trường đại học tổng hợp nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi người dân Sở hữu tư nhân trong khu vực đại học thực hành mạnh hơn nhiều so với đại học tổng hợp.

Phương pháp nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Ngày đăng: 16/12/2022, 10:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ giáo dục và đào tạo (2007). Quyết định số 01/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02/01/2007 Về Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm giáo dục thường xuyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 01/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02/01/2007 Về Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm giáo dục thường xuyên
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2007
4. Cảnh Chí Hoàng, Trần Vĩnh Hoàng (2013). Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, tạp chí Phát triển và hội nhập, số 9-10/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Cảnh Chí Hoàng, Trần Vĩnh Hoàng
Nhà XB: tạp chí Phát triển và hội nhập
Năm: 2013
5. Chí Tâm (2014). Trường Trung cấp nghề Bắc Nghệ An nỗ lực vượt khó trong công tác tuyển sinh, Tạp chí Lao động và xã hội, số 9-2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường Trung cấp nghề Bắc Nghệ An nỗ lực vượt khó trong công tác tuyển sinh
Tác giả: Chí Tâm
Nhà XB: Tạp chí Lao động và xã hội
Năm: 2014
6. Chu Văn Cấp, Trần Ngọc Tình Trường (2014). Giáo dục-đào tạo với phát triển nguồn nhân lực của Hàn Quốc và những gợi mở cho Việt Nam, Tạp chí Phát triển và hội nhập, số 7-08/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục-đào tạo với phát triển nguồn nhân lực của Hàn Quốc và những gợi mở cho Việt Nam
Tác giả: Chu Văn Cấp, Trần Ngọc Tình Trường
Nhà XB: Tạp chí Phát triển và hội nhập
Năm: 2014
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2013
10. Đặng Nguyên Anh (2014). Tái cấu trúc nguồn nhân lực, chìa khóa để Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, Tạp chí xã hội học, số 4-2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái cấu trúc nguồn nhân lực, chìa khóa để Việt Nam phát triển nhanh và bền vững
Tác giả: Đặng Nguyên Anh
Nhà XB: Tạp chí xã hội học
Năm: 2014
13. Hoàng Phê (1998), Từ điển tiếng việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học, 1147tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học
Năm: 1998
14. Hội đồng nhân dân huyện Mèo Vạc (2014). Nghị quyết số 06/NQ-HĐND ngày 15/7/2014 về việc tiếp tục thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng an ninh 6 tháng cuối năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 06/NQ-HĐND ngày 15/7/2014 về việc tiếp tục thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng an ninh 6 tháng cuối năm 2014
Tác giả: Hội đồng nhân dân huyện Mèo Vạc
Năm: 2014
15. Hội đồng nhân dân huyện Mèo Vạc (2015). Nghị quyết số 14/NQ-HĐND ngày 27/12/2014 Về nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng-an ninh năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 14/NQ-HĐND ngày 27/12/2014 Về nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng-an ninh năm 2015
Tác giả: Hội đồng nhân dân huyện Mèo Vạc
Nhà XB: Hội đồng nhân dân huyện Mèo Vạc
Năm: 2015
16. Hội đồng nhân dân huyện Xín Mần (2014). Nghị quyết số 53/NQ-HĐND ngày 27/12/2014 Về nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 53/NQ-HĐND ngày 27/12/2014 Về nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh năm 2015
Tác giả: Hội đồng nhân dân huyện Xín Mần
Nhà XB: Hội đồng nhân dân huyện Xín Mần
Năm: 2014
17. Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Giang (2013). Nghị quyết số 99/2013/NQ-HĐND ngày 11/07/2013 Về chính sách hỗ trợ chi phí học nghề đối với học viên vừa học văn hóa, vừa học nghề tại trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Hà Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 99/2013/NQ-HĐND ngày 11/07/2013 Về chính sách hỗ trợ chi phí học nghề đối với học viên vừa học văn hóa, vừa học nghề tại trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Hà Giang
Tác giả: Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Giang
Năm: 2013
18. Huyện ủy Mèo Vạc (2014). Công văn số 2054-CV/HU ngày 31/7/2014 Về việc tăng cường lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm học 2014-2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 2054-CV/HU ngày 31/7/2014 Về việc tăng cường lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm học 2014-2015
Tác giả: Huyện ủy Mèo Vạc
Nhà XB: Huyện ủy Mèo Vạc
Năm: 2014
19. Kim Thúy (2013). Trường Trung cấp nghề miền núi Yên Thế: nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cầu đào tạo, Tạp chí Lao động và xã hội, số 6-2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường Trung cấp nghề miền núi Yên Thế: nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cầu đào tạo
Tác giả: Kim Thúy
Nhà XB: Tạp chí Lao động và xã hội
Năm: 2013
20. Nguyễn Đình Luận (2015). Sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 5-06/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị
Tác giả: Nguyễn Đình Luận
Nhà XB: Tạp chí Phát triển và Hội nhập
Năm: 2015
21. Nguyễn Hiền (2015). Trường cao đẳng nghề Hòa Bình-địa chỉ tin cậy, Tạp chí Lao động và xã hội, số 1-2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường cao đẳng nghề Hòa Bình-địa chỉ tin cậy
Tác giả: Nguyễn Hiền
Nhà XB: Tạp chí Lao động và xã hội
Năm: 2015
23. Nguyễn Hồng Minh (2012). Một số vấn đề đặt ra trong công tác tuyển sinh năm 2012 để triển khai chiến lược phát triển dạy nghề thời kì 2011-2015, Tạp chí Lao động và xã hội, số 8-2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đặt ra trong công tác tuyển sinh năm 2012 để triển khai chiến lược phát triển dạy nghề thời kì 2011-2015
Tác giả: Nguyễn Hồng Minh
Nhà XB: Tạp chí Lao động và xã hội
Năm: 2012
24. Nguyễn Hùng (2008). Sổ tay Tư vấn Hướng nghiệp và chọn nghề, Nhà xuất bản Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay Tư vấn Hướng nghiệp và chọn nghề
Tác giả: Nguyễn Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục
Năm: 2008
25. Nguyễn Hùng chủ biên (2008) Sổ tay Tư vấn Hướng nghiệp và chọn nghề" Nhà xuất bản Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay Tư vấn Hướng nghiệp và chọn nghề
Tác giả: Nguyễn Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục
Năm: 2008
26. Nguyễn Hữu (2014). Một số định hướng về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong thời gian tới, Tạp chí lao động và xã hội, số 8-2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số định hướng về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong thời gian tới
Tác giả: Nguyễn Hữu
Nhà XB: Tạp chí lao động và xã hội
Năm: 2014
27. Nguyễn Mai Hương (2011). Kinh nghiệm một số quốc gia Châu Á về phát triển nguồn nhân lực trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế - bài học cho Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, số 27-2011. tr 52-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm một số quốc gia Châu Á về phát triển nguồn nhân lực trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế - bài học cho Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Mai Hương
Nhà XB: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN
Năm: 2011

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w