Về công tác hậu thẩm định báo cáo ĐTM đối với cơ quan quản lý nhà nước từ năm 2015 đến nay được chú trọng hơn so với giai đoạn 2011-2015, đặc biệt công tác giám sát việc thực hiện xây dự
Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Tổng quan về đtm
Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là công cụ quản lý môi trường quan trọng, giúp xác định, phân tích và dự báo các tác động của hoạt động dự án lên môi trường tự nhiên và xã hội Vì phạm vi nghiên cứu của ĐTM rất rộng, hiện vẫn chưa có một định nghĩa chính thức hoàn chỉnh, dẫn đến việc có nhiều cách diễn giải khác nhau về khái niệm này ĐTM đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy phát triển bền vững bằng cách đảm bảo các dự án thực hiện một cách có trách nhiệm với môi trường.
Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là quá trình phân tích hệ thống các hậu quả về môi trường của các dự án, chính sách và chương trình Mục đích chính của ĐTM là cung cấp cho nhà quyết định một danh sách và sự tính toán các tác động tiềm năng của các phương án hành động khác nhau Quá trình này giúp đảm bảo các quyết định phát triển bền vững, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và thúc đẩy quản lý môi trường hiệu quả.
Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là kỹ thuật quan trọng giúp thu thập thông tin về ảnh hưởng của dự án đến môi trường từ chủ dự án và các nguồn khác Quá trình này nhằm cung cấp dữ liệu đầy đủ để hỗ trợ quyết định xem dự án có phù hợp với các tiêu chuẩn về môi trường hay không ĐTM đóng vai trò then chốt trong việc xem xét, đánh giá các tác động tiềm năng của dự án trước khi tiến hành thực hiện.
Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là quá trình thu thập dữ liệu về các ảnh hưởng, tác động của dự án đề xuất đối với môi trường Quá trình này bao gồm phân tích các thông tin thu thập được để đánh giá mức độ ảnh hưởng và đề xuất các giải pháp phù hợp Kết quả của ĐTM được gửi đến người ra quyết định nhằm hỗ trợ trong việc phê duyệt, điều chỉnh hoặc chấp thuận dự án đảm bảo tính bền vững và bảo vệ môi trường.
ĐTM (Đánh giá tác động môi trường) có nhiều cách hiểu khác nhau trên thế giới, mỗi quốc gia và tổ chức có quy định riêng, nhưng đều chia sẻ các yếu tố căn bản như đối tượng, phạm vi và mục tiêu đánh giá Từ năm 1983, Việt Nam bắt đầu nghiên cứu phương pháp luận ĐTM thông qua Chương trình nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên và môi trường Năm 1993, Luật Bảo vệ Môi trường chính thức định nghĩa ĐTM là quá trình phân tích, đánh giá, dự báo tác động của các dự án và hoạt động phát triển kinh tế - xã hội đến môi trường, đồng thời đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường phù hợp.
Khoản 20 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 và khoản 23 Điều 3 Luật BVMT 2014: “ĐTM là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó”
2.1.2 Vai trò của ĐTM trong quản lý môi trường
ĐTM là công cụ quan trọng trong quản lý môi trường, giúp giảm thiểu tác động tiêu cực của các dự án phát triển và đảm bảo sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường Nó được đưa vào trong Luật Bảo vệ Môi trường tại Việt Nam như một phần của quy trình xét duyệt dự án, giúp quy hoạch dự án thân thiện với môi trường và phòng ngừa hủy hoại môi trường ĐTM không chỉ là công cụ phân tích và báo cáo thông tin môi trường mà còn giúp phát hiện sớm các tác động có hại, từ đó điều chỉnh dự án để giảm thiểu hoặc loại bỏ các tác động tiêu cực, thậm chí loại bỏ dự án nếu tác động quá lớn Quá trình ĐTM có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các hoạt động phát triển bền vững, hỗ trợ đàm phán giữa các nhà phát triển và các tổ chức cộng đồng, tạo ra quyết định hợp lý hơn Được khởi xướng lần đầu tại Mỹ năm 1969 theo Luật Chính sách Môi trường Quốc gia (NEPA), ĐTM đã lan tỏa ra nhiều quốc gia, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ môi trường toàn cầu.
Trong những năm 1990, nhu cầu cấp bách về quản lý môi trường đã thúc đẩy sự phát triển của Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) Ở Việt Nam, ĐTM chính thức được áp dụng từ khi Luật Bảo vệ môi trường Quốc gia được ban hành vào cuối năm 1993, ban đầu chỉ quy định 23 loại dự án phải lập báo cáo ĐTM Hiện nay, số lượng dự án yêu cầu lập báo cáo ĐTM đã tăng lên đáng kể và gần như tất cả các dự án có quy mô đều bắt buộc thực hiện, cùng với đó là hướng dẫn cụ thể về công tác lập, thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM Báo cáo ĐTM của chủ dự án không những là cơ sở pháp lý giúp các cơ quan nhà nước quản lý về mặt môi trường hiệu quả hơn mà còn cung cấp các bài học giúp dự báo tác động môi trường, góp phần vào quy hoạch các dự án tương lai.
2.1.3 Căn cứ pháp lý thực hiện ĐTM
Các căn cứ pháp lý cơ bản quy định thực hiện và triển khai ĐTM tại Việt Nam từ trước đến nay bao gồm:
- Luật Bảo vệ môi trường năm 1993; ( hết hiệu lực )
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2005; ( hết hiệu lực )
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014; (thay thế cho luật BVMT năm 2005 )
- Nghị định 175-CP của Chính phủ ngày 18/10/1994 về hướng dẫn thi hành Luật BVMT;
Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, góp phần thúc đẩy các hoạt động bảo vệ môi trường tại Việt Nam Văn bản này đề cập đến các quy trình, trách nhiệm và các biện pháp cụ thể để đảm bảo tuân thủ luật bảo vệ môi trường hiệu quả Nghị định này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao ý thức và trách nhiệm của các cơ sở, doanh nghiệp trong việc giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường Việc thực hiện các quy định trong nghị định nhằm tạo ra môi trường sạch, an toàn và bền vững cho cộng đồng và phát triển kinh tế xanh.
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 2 năm 2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP;
- Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, ĐTM, cam kết bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường
- Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch BVMT, ĐMC, ĐTM và kế hoạch BVMT;
- Thông tư số 1420/1994/TT-BKHCNMT ngày 26 tháng 11 năm 1994 của Bộ khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn ĐTM đối với cơ sở đang hoạt động;
- Thông tư số 715/1995/TT-BKHCNMT ngày 03 tháng 4 năm 1995 của
Bộ khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn lập và thẩm định báo cáo ĐTM đối với các dự án đầu tư của nước ngoài;
- Thông tư số 1100/1997/TT-BKHCNMT ngày 20 tháng 8 năm 1997 của
Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn lập và thẩm định báo cáo ĐTM cho các dự án đầu tư, nhằm thay thế Thông tư số 715/MTg ngày 03/4/1995 Quy trình này giúp đảm bảo các dự án đầu tư tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả quản lý môi trường trong hoạt động đầu tư Việc hướng dẫn này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực lập và thẩm định các báo cáo ĐTM phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay.
- Thông tư số 490/1998/TT-BKHCNMT ngày 29 tháng 4 năm 1998 của Bộ khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn ĐTM đối với các dự án đầu tư;
Thông tư số 08/2006/TT-BTNMT ngày 08 tháng 9 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược (đánh giá ĐTM) và cam kết bảo vệ môi trường Văn bản này quy định các quy trình, tiêu chuẩn và yêu cầu pháp lý nhằm đảm bảo các dự án phát triển bền vững không gây tác động tiêu cực đến môi trường Thông tư hỗ trợ các tổ chức, doanh nghiệp và cơ quan chức năng thực hiện đúng quy định về đánh giá tác động môi trường trước khi triển khai các dự án lớn Việc áp dụng đúng các hướng dẫn trong Thông tư giúp nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo phát triển kinh tế bền vững.
Thông tư số 05/2008/TT-BTNMT ngày 08 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, ĐTM và cam kết bảo vệ môi trường thay thế Thông tư số 08/2006/TT-BTNMT Văn bản này quy định rõ các quy trình, thủ tục và tiêu chuẩn để thực hiện đánh giá môi trường chiến lược và ĐTM nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, đồng thời giúp các nhà đầu tư và cơ quan quản lý thực hiện cam kết bảo vệ môi trường một cách rõ ràng, minh bạch Thông tư cũng góp phần nâng cao nhận thức về trách nhiệm bảo vệ môi trường trong các dự án phát triển, đảm bảo phù hợp với quy định pháp luật và hướng tới phát triển bền vững.
Thông tư số 13/2009/TT-BTNMT ngày 18 tháng 8 năm 2009 quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thẩm định báo cáo ĐMC, ĐTM, thay thế cho Quyết định số 13/2006/QĐ-BTNMT, nhằm hướng dẫn rõ ràng các quy trình và trách nhiệm của Hội đồng trong việc xác định tính phù hợp của các báo cáo đánh giá tác động môi trường.
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
- Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày 18 tháng 7 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết một số điều của Nghị định 29/2011/NĐ-
CP ngày 18/4/2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, ĐTM, cam kết bảo vệ môi trường;
- Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29 tháng 5 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về ĐMC, ĐTM và kế hoạch BVMT;
- Thông tư số 38/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản;
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Tình hình nghiên cứu và thực hiện công tác ĐTM trên thế giới
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Đạo luật này quy định rõ những hoạt động lớn, quan trọng có thể gây tác động đáng kể tới môi trường bắt buộc phải thực hiện đánh giá tác động môi trường (ĐTM) Một số thuật ngữ liên quan đến quá trình tuân thủ chính sách môi trường của Mỹ đã được đưa ra để đảm bảo quy trình đúng quy định Trong số đó, ba thuật ngữ quan trọng nhất là…
Kiểm kê hiện trạng môi trường là hoạt động nhằm mô tả toàn diện về môi trường tồn tại trong vùng dự án hoặc khu vực có hoạt động môi trường diễn ra Quá trình này phải đánh giá các thành phần môi trường lý hóa như thổ nhưỡng, địa chất, địa hình, khí hậu, nước mặt, nước ngầm, chất lượng không khí và nước Ngoài ra, cần khảo sát môi trường sinh học bao gồm các loài động vật, thực vật, đa dạng sinh học, cùng khả năng phát triển và suy thoái của chúng Môi trường nhân văn cũng không thể bỏ qua, đề cập đến các điểm khảo cổ, di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, bảo tàng và thư viện Cuối cùng, xem xét các yếu tố môi trường kinh tế xã hội như xu hướng tăng dân số, phân bố dân cư, mức sống, hệ thống giáo dục, mạng lưới giao thông, cơ sở hạ tầng, cấp thoát nước, quản lý rác thải và các dịch vụ công cộng như công an, cứu hỏa, y tế nhằm đánh giá toàn diện tác động và tiềm năng phát triển của khu vực.
Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là quá trình xác định và đánh giá các ảnh hưởng tiềm năng của dự án, quy hoạch hoặc quy định pháp luật đến môi trường Mục tiêu chính của ĐTM là thúc đẩy việc xem xét các khía cạnh môi trường trong quá trình lập quy hoạch và ra quyết định, giúp lựa chọn các phương án phát triển thân thiện với môi trường hơn.
- Tường trình tác động môi trường hay báo cáo ĐTM của một dự án là văn bản chính yếu, tường trình tất cả kết quả của công tác ĐTM
Với sự ra đời của Đạo luật chính sách môi trường của Mỹ, mục tiêu và thủ tục thi hành ĐTM đã được xác định rõ ràng trong văn bản pháp luật Hệ thống pháp lý cùng các cơ quan quản lý, điều hành được thành lập để đảm bảo quá trình thực hiện ĐTM diễn ra nhanh chóng và hiệu quả Sau Mỹ, công tác ĐTM đã được áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia, trong đó Nhật Bản, Singapore và Hồng Kông là những nước đi đầu từ năm 1972, tiếp theo là Canada năm 1973 và Úc.
Trong giai đoạn từ năm 1974 đến 1979, nhiều quốc gia như Đức (1975), Pháp (1976), Philippin (1977), và Trung Quốc (1979) đã nhận thức rõ tầm quan trọng của Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) trong việc giải quyết các vấn đề môi trường Điều này cho thấy, không chỉ các nước lớn có nền công nghiệp phát triển mà ngay cả các quốc gia nhỏ, đang phát triển cũng đã bắt đầu áp dụng ĐTM để thúc đẩy phát triển bền vững Trong vòng 20 năm, ĐTM đã được nhiều quốc gia xem xét, áp dụng, tuy nhiên, yêu cầu và thủ tục thực hiện ĐTM thường khác nhau giữa các nước, phản ánh đặc thù pháp lý và môi trường của từng quốc gia.
- Loại dự án cần phải ĐTM
- Vai trò của cộng đồng trong ĐTM
- Các đặc trưng lược duyệt
Ngoài các quốc gia, các tổ chức quốc tế cũng rất quan tâm đến công tác ĐTM, điển hình như:
- Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) Chương trình phát triển quốc tế của Mỹ (USAID), Chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP)
Các ngân hàng lớn đã ban hành hướng dẫn cụ thể về công tác ĐTM để đánh giá tác động môi trường cho các dự án vay vốn, nhằm đảm bảo tính bền vững và phù hợp với quy định pháp luật Vì họ kiểm soát nguồn tài chính quan trọng, tiếng nói của các ngân hàng ngày càng có trọng lượng trong việc thúc đẩy quá trình thẩm định và phê duyệt dự án Để nâng cao năng lực về ĐTM, các tổ chức tài chính này thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo và hội thảo tại nhiều quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, nhằm phổ biến kiến thức và kỹ năng cần thiết cho các chủ dự án và các nhà quản lý.
Bảng 2.1 Lịch sử phát triển ĐTM trên thế giới và Việt Nam
Có yêu cầu cụ thể về tham vấn cộng đồng
Nguồn: Tổng cục Môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tập huấn triển khai Luật
BVMT 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành (tháng 6/2015 )
Hình 2.1 Quy trình ĐTM phổ biến trên thế giới
Tình hình nghiên cứu và thực hiện công tác đtm việt nam
2.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển ĐTM tại Việt Nam
2.3.1.1 Giai đoạn từ 27/12/1993 đến 01/7/2006 - ngày Luật BVMT 2005 có hiệu lực
Từ sau khi Luật Bảo vệ môi trường được ban hành năm 1993 đến trước khi Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi năm 2005 có hiệu lực, quá trình thực hiện ĐTM tại Việt Nam diễn ra chậm hơn so với các nước phát triển trên thế giới.
Giai đoạn lập báo cáo đầu tư, hay còn gọi là nghiên cứu tiền khả thi, tập trung vào việc sàng lọc các dự án để xác định dự án nào cần thực hiện Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) Quá trình sàng lọc dự án dựa trên các quy định pháp luật hiện hành, giúp lựa chọn các dự án phù hợp và đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường Đây là bước quan trọng để đánh giá sơ bộ tính khả thi của dự án và xác định các yêu cầu về môi trường trước khi tiến hành các bước tiếp theo trong quá trình lập báo cáo đầu tư.
Chuẩn bị Dự án Thông báo cho các cơ quan chức năng về Dự án
Sàng lọc (Screening) về mặt ĐTM Xác định phạm vi (Scoping) ĐTM của dự án Nghiên cứu ĐTM của dự án (nhiều nội dung)
Lập báo cáo ĐTM của dự án
Tham vấn cộng đồng về các vấn đề môi trường của dự án
Trình nộp cơ quan thẩm định ĐTM
Thẩm định báo cáo ĐTM của dự án
Giám sát và quan trắc môi trường sau đánh giá tác động môi trường (ĐTM) được quy định rõ ràng trong Thông tư số 490/1998/TT-BKHCNMT ngày 29/4/1998 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường Thông tư hướng dẫn chi tiết về việc lập và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư, đảm bảo tuân thủ các quy chuẩn môi trường do nhà nước đề ra.
- Giai đoạn lập dự án đầu tư (Nghiên cứu khả thi): quy định thực hiện ĐTM sơ bộ
- Giai đoạn thiết kế kỹ thuật: quy định lập báo cáo ĐTM chi tiết và trình thẩm định, phê duyệt
Việc thực hiện lập báo cáo ĐTM tại Việt Nam hiện đang chậm hơn so với các quốc gia khác trên thế giới, dẫn đến nhiều khó khăn và bất cập trong quá trình triển khai Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả của việc thực hiện ĐTM, gây ra những trở ngại trong quá trình đánh giá tác động môi trường và gây trì hoãn các dự án phát triển bền vững Các hạn chế này cần được khắc phục để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường và phù hợp với xu hướng toàn cầu.
Hầu hết các dự án chỉ lập báo cáo ĐTM sau khi đã hoàn thành thiết kế, dẫn đến việc nhiều dự án đã thi công nhiều năm mới thực hiện xong báo cáo và trình thẩm định Điều này gây khó khăn trong quá trình thẩm định vì yêu cầu thay đổi hoặc bổ sung biện pháp giảm thiểu, thiết kế phù hợp với yêu cầu bảo vệ môi trường thường làm phát sinh phần công việc phải làm lại, gây chậm trễ và tăng chi phí Thực tế, việc lập báo cáo ĐTM và thẩm định thường mang tính hình thức khi công trình đã hoàn thiện thiết kế và khó có thể thay đổi, làm giảm hiệu quả của quá trình kiểm soát và đảm bảo môi trường.
Do không có báo cáo ĐTM tại thời điểm Nhà nước phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi, phần lớn các dự án không dự trù được kinh phí để lập báo cáo ĐTM chi tiết và thực hiện các biện pháp giảm thiểu tác động môi trường Điều này gây khó khăn trong quá trình triển khai các bước đánh giá tác động môi trường đúng quy định Việc chuẩn bị nguồn vốn cho dự án cần được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo các yêu cầu về báo cáo ĐTM và các biện pháp giảm thiểu tác động môi trường được thực hiện đầy đủ, đảm bảo sự phát triển bền vững của dự án.
2.3.1.2 Giai đoạn từ 01/7/2006 đến 01/1/2015-ngày Luật BVMT 2014 có hiệu lực
Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 chính thức có hiệu lực thi hành, đánh dấu bước tiến quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường tại Việt Nam Việc tăng cường các hoạt động bảo vệ môi trường đã góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng cũng như các tổ chức, doanh nghiệp Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) trở thành công cụ then chốt trong việc lập kế hoạch phát triển bền vững, giúp hạn chế các tác động tiêu cực đến môi trường Nhờ đó, vai trò và ý nghĩa của ĐTM được nâng cao, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường.
Việc thực hiện ĐTM được yêu cầu chặt chẽ và rõ ràng hơn đối với các dự án đầu tư có nguy cơ tác động môi trường cao Điều này nhằm khắc phục những bất cập trong trình tự thực hiện so với tiêu chuẩn quốc tế, đảm bảo sự phù hợp và hiệu quả trong quản lý môi trường.
Trong giai đoạn quy hoạch và lập báo cáo đầu tư, Nhà nước chưa quy định bắt buộc phải thực hiện các bước kiểm tra môi trường như sàng lọc môi trường hay ĐTM sơ bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lập kế hoạch đầu tư.
Chủ dự án phải tuân thủ theo phân cấp của nhà nước dựa trên các quy định tại Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 về hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ Môi trường, Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/2/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP, cũng như Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường.
Luật BVMT 2014 quy định việc “sàng lọc dự án” để xác định xem dự án có cần lập báo cáo ĐTM và trình thẩm định hay không Nếu dự án thuộc diện bắt buộc lập báo cáo ĐTM, chủ dự án cần thực hiện các bước chuẩn bị như lập đề cương ĐTM và bố trí đội ngũ chuyên môn để thực hiện công tác lập báo cáo ĐTM ở các bước tiếp theo Điều này giúp đảm bảo dự án phù hợp với quy định về bảo vệ môi trường và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường trong quá trình triển khai.
Trong giai đoạn lập dự án đầu tư, các dự án nằm trong diện phải lập báo cáo ĐTM cần thực hiện ĐTM chi tiết để đánh giá tác động môi trường rõ ràng Sau đó, chủ dự án phải trình hồ sơ ĐTM để thẩm định và phê duyệt nhằm đảm bảo dự án đáp ứng các quy định về bảo vệ môi trường trước khi triển khai.
Sau khi báo cáo ĐTM được phê duyệt, chủ dự án phải tuân thủ nghiêm ngặt các cam kết đã đề ra trong báo cáo, đặc biệt là việc thực hiện các biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực trong quá trình thi công, quản lý vận hành và trong chương trình giám sát môi trường của dự án.
2.3.1.3 Giai đoạn từ ngày 01/1/2015 đến nay
Theo Điều 19 của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014, việc đánh giá tác động môi trường phải được thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị dự án và kết quả được thể hiện qua báo cáo đánh giá tác động môi trường Chi phí lập và thẩm định báo cáo này thuộc nguồn vốn đầu tư của dự án, do chủ dự án chịu trách nhiệm thực hiện.
Theo Điều 20 của Luật Bảo vệ Môi trường, chỉ những dự án không triển khai trong vòng 24 tháng hoặc thay đổi địa điểm dự án mới phải lập lại báo cáo ĐTM, nhằm tăng cường quản lý môi trường Ngoài ra, đối với các dự án có thay đổi về quy mô, công suất hoặc công nghệ gây tác động xấu đến môi trường, Chính phủ quy định rõ tại Khoản 4 Điều 19 rằng chủ dự án phải giải trình với cơ quan phê duyệt và có thể phải lập báo cáo ĐTM bổ sung khi cần thiết Tuy nhiên, quy định này dẫn đến hiện tượng lạm dụng yêu cầu báo cáo ĐTM hoặc ĐTM bổ sung, gây ra các hành vi trốn tránh trách nhiệm báo cáo hoặc thực hiện các biện pháp đối phó nhằm tránh các yêu cầu về bảo vệ môi trường.